1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển (124tr)

124 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Huyền Thoại Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu “Huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển” này là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả viết về Đường Hồ Chí Minh trên biển trong năm 2011. Các bài viết trong tài liệu được sắp xếp và bố cục thành 3 phần với 3 chủ đề chính, đó là: Đường Hồ Chí Minh trên biển - kỳ công của dân tộc, huyền thoại đường trên biển, chân dung các thuyền trưởng tàu không số. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

PHẦN I:

Đường Hồ Chí Minh trên biển

- kỳ công của dân tộc

Đường Hồ Chí Minh trên biển mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí quyết tâm

thống nhất đất nước

Ngày 24/10/2011

Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tại Hải Phòng ngày 21-10, Chủ tịch nước

Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu khai

Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước,

Chính phủ, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng

thể Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường

Hồ Chí Minh trên biển, con đường huyền

thoại, một sáng tạo độc đáo của Đảng, quân

đội và nhân dân ta, con đường đã góp phần

quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc

ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước vàMặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửitới các vị đại biểu, các vị khách quý, cùngtoàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cảnước lời chúc mừng tốt đẹp nhất

Thưa đồng bào, đồng chí, và chiến sĩ cả nước!

Sau năm 1954, với âm mưu chia cắt lâudài đất nước ta, các thế lực cầm quyền của

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu khai mạc

Trang 2

đế quốc Mỹ và tay sai đã ngang nhiên xóa

bỏ hiệp định Giơ-ne-vơ, đưa quân xâm

lược, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu

mới và căn cứ quân sự, làm bàn đạp tấn

công miền Bắc Trước tình hình đó, Đảng

ta đã xác định, con đường giải phóng miền

Nam là con đường cách mạng bạo lực, chủ

trương, nhanh chóng tổ chức chi viện sức

người, sức của, vũ khí từ miền Bắc xã hội

chủ nghĩa cho chiến trường miền Nam

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và

Quân ủy Trung ương, cùng với việc tổ

chức Đoàn 559 mở tuyến vận tải trên bộ,

vượt qua dãy Trường Sơn; sau khi nghiên

cứu, thử nghiệm và chuẩn bị về mọi mặt,

ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết

định thành lập Đoàn Vận tải quân sự 759,

mở tuyến đường chiến lược quan trọng

Đường Hồ Chí Minh trên biển để vận

chuyển người và vũ khí đến các chiến

trường xa ở miền Nam, những nơi mà

đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn

chưa thể vươn tới Từ đây cho đến ngày

toàn thắng, trong suốt 14 năm (từ năm

1961 cho đến năm 1975), trên con đường

Hồ Chí Minh trên biển, cán bộ, chiến sĩ

Đoàn 759, Đoàn 125 Quân chủng Hải quân

trên những con tàu không số đã lập nên

những kỳ tích anh hùng

Những con tàu thô sơ, nhỏ bé, chở nặng

vũ khí đã bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo,

dũng cảm vượt qua mọi sóng to, gió lớn,

bão táp của biển cả, vượt qua sự ngăn chặn,

bao vây, lùng sục của lực lượng hải quân,

không quân hùng hậu với hệ thống quan sát,cảnh giới từ xa và vũ khí hiện đại của Mỹ,ngụy để đi đến các chiến trường Mỗichuyến đi là mỗi lần quyết tử, một cuộc đấutrí căng thẳng, vừa bình tĩnh mưu trí, quảcảm đánh lừa địch để đến đích an toàn, vừasẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy sinh,nhiều khi phải phá hủy cả con tàu để bảo vệ

bí mật đường vận chuyển Địch ngăn chặntuyến này, bến này, ta mở ra tuyến khác,bến khác Địch phát hiện ra cách thức vậnchuyển này, ta tìm ra phương thức vậnchuyển khác Hàng trăm lượt tầu đã ra khơi,

về đích; hàng ngàn tấn vũ khí, khí tài, hànghóa, thuốc chữa bệnh, hàng chục ngàn cán

bộ chiến sỹ đã từ hậu phương lớn được đưavào tiền tuyến lớn, đáp ứng kịp thời cho cácchiến trường Nam bộ, Nam Trung bộ, Khu

5, góp phần cùng quân và dân ta đánh thắngmọi chiến lược chiến tranh của kẻ địch, đưacuộc kháng chiến sống Mỹ, cứu nước vĩ đạicủa nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.Năm tháng sẽ qua đi, nhưng Đường HồChí Minh trên biển mãi mãi là niềm tự hàocủa quân đội ta, nhân dân ta, là biểu tượngsáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, của trí thông minh, lòng dũng cảm, ýchí sắt đá, quyết tâm giành độc lập, tự do,thống nhất đất nước của dân tộc ta

Đường Hồ Chí Minh trên biển, conđường vận tải bí mật, bất ngờ, có ưu thế vềthời gian, hiệu quả và khả năng vận chuyểnsâu vào các chiến trường xa, là một sángtạo độc đáo, đặc sắc, thể hiện tầm nhìn

Trang 3

chiến lược, tài thao lược của Chủ tịch Hồ

Chí Minh và Ban lãnh đạo tối cao của

Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong nghệ

thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng, kế

thừa và phát huy truyền thống đánh giặc

anh hùng của ông cha ta trong thời đại mới

Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện

quyết tâm, ý chí “không có gì quý hơn độc

lập, tự do", khát vọng cháy bỏng dù có phải

đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành

cho được độc lập, tự do, thống nhất của dân

tộc ta, không một khó khăn, trở ngại nào,

không một kẻ thù nào có thể ngăn cản

được Đó cũng là biểu hiện sáng ngời của

chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân

dân ta, đặc biệt là của cán bộ, chiến sỹ

Đoàn 759, Đoàn 125, Hải quân nhân dân

Việt Nam anh hùng, ròng rã 14 năm đã bền

bỉ, mưu trí dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì

nghĩa lớn Trong đó, nhiều đồng chí cùng

với con tầu đã mãi mãi ở lại với biển cả, với

non sông đất nước, tô thắm thêm truyền

thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt

Nam anh hùng Tổ quốc mãi mãi ghi công,

đời đời ghi nhớ những hy sinh cao cả của

các đồng chí và biết bao đồng bào, chiến sỹ

đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do, thống

nhất đất nước

Đường Hồ Chí Minh trên biển còn là

biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết quân

-dân thắm thiết, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp

nhàng giữa những con tàu không số với

nhân dân những vùng bến, bãi nơi có con

tàu đến Sự chở che, chăm sóc nuôi dưỡng

với tình cảm yêu thương sâu sắc của nhândân các địa phương với cán bộ, chiến sỹ tàukhông số, tiếp thêm nghị lực, sức mạnh chocác chiến sĩ trong cuộc chiến đấu vô cùnggian khổ, ác liệt; là biểu tượng sáng ngời vềtinh thần đoàn kết quốc tế cao cả Để nhữngcon tàu không số giữ được bí mật, bất ngờ,vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm đến đích

an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,chúng ta nhận được sự giúp đỡ chí tình củacác nước xã hội chủ nghĩa anh em và bạn

bè quốc tế, nhất là của Liên Xô, TrungQuốc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãimãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, nhữngnghĩa cử cao đẹp đó

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Ngày nay, đất nước ta đã hòa bình,thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổimới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dângiầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề rađường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốctrong kế hoạch 5 năm 2011 - 2015; chiếnlược 10 năm 2010 - 2020 với mục tiêu giữvững ổn định chính trị xã hội, độc lập, chủquyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, đưa đất n ước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020 Thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ,

Trang 4

mục tiêu Đại hội XI của Đảng đề ra đòi hỏi

sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của

toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Những

bài học kinh nghiệm, những hy sinh cao cả

và chiến công oanh liệt của cán bộ, chiến sỹ

và nhân dân ta trên con đường Hồ Chí Minh

trên biển trong những năm tháng chiến

tranh ác liệt vẫn còn nguyên ý nghĩa đang

thôi thúc, nhắc nhở, động viên khích lệ

chúng ta hôm nay

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong

chiến đấu, ý chí kiên cường quyết giành độc

lập tự do, thống nhất Tổ quốc cần được kế

thừa, phát huy, trở thành chủ nghĩa anh

hùng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thành

ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn,

thách thức, quyết tâm xây dựng đất nước ta

ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, trở

thành nước công nghiệp hiện đại, sánh vai

cùng các cường quốc năm châu, đem lại ấm

no, hạnh phúc cho nhân dân Khí thế hào

hùng mỗi người làm việc bằng hai vì miền

Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả

để chiến thắng, cần được tiếp tục nuôi

dưỡng, phát huy, trở thành phong trào thi

đua yêu nước sâu rộng trong mọi lĩnh vực,

mọi tầng lớp nhân dân, ở mọi miền đất

nước trong thời kỳ mới Những phẩm chất

cao đẹp của cán bộ, chiến sỹ và đồng bào ta

trong những năm tháng kháng chiến gian

khổ sẵn sàng hy sinh tất cả vì lý tưởng độc

lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự

nghiệp lớn của dân tộc ta cần được gìn giữ,

phát huy, truyền lại cho các thế hệ hôm nay

và mai sau, nhất là thế hệ trẻ; ngăn chặn,đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ,đảng viên và nhân dân ta Lòng dũng cảm,trí thông minh, sáng tạo của đồng bào,chiến sỹ ta để đánh thắng những kẻ thùhung bạo cần được phát huy mạnh mẽ trongthời kỳ cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại toàn cầu hóa, đất nước ta đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triểnkinh tế tri thức, hội nhập quốc tế Bối cảnhtình hình đó, yêu cầu nhiệm vụ phát triểnđất nước đòi hỏ i phải phát triển mạnh mẽgiáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, nângcao chất lượng nguồn nhân lực, phát huybản lĩnh và trí tuệ của con người Việt Nam,nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triểnnhanh, bền vững của đất nước Những bàihọc về đoàn kết quâ n dân, phối hợp, hợpđồng chặt chẽ giữa các lực lượng; đoàn kếtquốc tế, hợp tác và sử dụng có hiệu quả sựgiúp đỡ của bạn bè trên thế giới, tạo nênsức mạnh tổng hợp để làm nên chiến thắng,ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, cần phảiđược phát huy mạnh mẽ trong phát triểnkinh tế, văn hoá, xã hội, cũng như trongcủng cố quốc phòng an ninh của đất nước;gắn chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hộivới củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựngnền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xâydựng quân đội nhân dân cách mạng, chínhquy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứngđáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà

Trang 5

nước và nhân dân ta Đó chính là những

việc làm có ý nghĩa to lớn và thiết thực để

chúng ta kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường

Hồ Chí Minh trên biển

Thưa đồng bào, đồng chí v à chiến sỹ cả

nước,

Kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ

Chí Minh trên biển, tự hào về những chiến

công oanh liệt, truyền thống vẻ vang của

nhân dân ta, quân đội ta, chúng ta quyết gìn

giữ và phát huy mạnh mẽ truyền thống đó

trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc trong thời kỳ mới Hào khí của dân

tộc, vận hội mới của đất nước thôi thúc

chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách

thức, nỗ lực phấn đấu, xây dựng thành công

nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,xứng đáng với những công lao to lớn, khátvọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả củacác thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vàng

vẻ vang, hào hùng của dân tộc

Tinh thần Đường Hồ Chí Minh trênbiển bất diệt!

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinhmuôn năm!

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãitrong sự nghiệp của chúng ta!

Xin trân trọng cảm ơn./.

http://www.tapchicongsan.org.vn

Tạp chí Cộng sản Việt Nam

'Đường Hồ Chí Minh trên biển, kỳ công của dân tộc'

Ngày 23/10/2011

Khẳng định trong chiến tranh đường Hồ

Chí Minh trên biển góp phần quan trọng để

giải phóng miền Nam, TS Vũ Tang Bồng

(Viện Lịch sử quân sự VN) cho rằng rất cần

có một chuyên đề phát triển kinh tế biể n gắn

liền với Hải quân nhằm khai thác thế mạnh

của biển.

- Là người nghiên cứu lâu năm về lịch sử

quân sự Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tầm

quan trọng của đường Hồ Chí Minh trên biển?

- Nhiều tài liệu cho rằng đường Hồ Chí

Minh trên biển là sáng tạo c hiến lược của Đảng

và Nhà nước, còn tôi thấy rằng đây là một kỳ

công chiến lược của dân tộc trong lịch sử kháng Đại tá, TS Vũ Tang Bồng

Trang 6

chiến chống Mỹ Bởi chúng ta có lãnh đạo, chỉ

huy giỏi, cán bộ chiến sĩ sẵn sàng hy sinh, nhân

dân bến bãi sẵn sàng giúp đỡ

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu

nước, tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí

Minh trên biển đã trực tiếp và gián tiếp vận

chuyển hơn 96.000 tấn vũ khí đạn dược, hơn

170.000 lượt cán bộ, chiến sĩ chi viện cho chiến

trường miền Nam

Vào thời điểm 1959-1972 tuyến chi viện

chiến lược trên bộ mới vào được đến chiến

trường Trị - Thiên, Trung - Hạ Lào, Tây

Nguyên Việc vận chuyển bằng đường bộ vào

các chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ rất

khó khăn Đúng lúc này, đường Hồ Chí Minh

trên biển hình thành, giải quyết được những khó

khăn đó

Chính hiệu quả vận chuyển của tuyến

đường này đã tạo nên thế trận chiến tranh

nhân dân rộng khắp các vùng chiến lược ở

miền Nam, tạo nên sức mạnh chiến đấu và

chiến thắng của nhân dân ta Đặc biệt, sự

xuất hiện kịp thời của những vũ khí tương

đối hiện đại, có tính năng chiến đấu cao đã

làm thay đổi cách đánh của quân và dân ta,

thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và

địch Các loại ngoại tệ mạnh, thiết bị máy

móc y tế quý hiếm, hóa chất đặc biệt cũng

được chi viện kịp thời cho miền Nam Đây là

những cơ sở, là điều kiện để miền Nam có

thể đánh lớn, thắng lớn

- So với đường mòn Hồ Chí Minh vượt dãy

Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển có

lợi thế gì?

- Ngoài cung cấp vũ khí cho chiếntrường xa, nơi mà đường bộ chưa vươntới, đường Hồ Chí Minh trên biển còn

có ưu thế hơn đường bộ là thời giannhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bịđồng bộ hơn do không nhầm lẫn, thấtlạc Việc vận chuyển đường bộ phảiqua nhiều cung, chặng, qua nhiều lựclượng, phương tiện, phải mất hàngtháng trời mới đến đích Vận chuyểnđường biển tuy gian nan nguy hiểm hơn

vì phải đối mặt với sóng gió, bão bùng,

và quân địch, nhưng nếu vượt qua đượcchỉ mất 5-6 ngày là vào đến chiếntrường Tây Nam Bộ

Hiệu quả của con đường Hồ ChíMinh trên biển cũng rất cao Như từtháng 10/1962 đến tháng 2/1965, với 88chuyến tàu, mỗi tàu 10-20 cán bộ, chiến

sĩ chở hàng vào Nam thì 93% đến đượcđích, đưa vào chiến trường gần 5.000tấn vũ khí Nếu khối lượng đó dùngngười gùi, mỗi người trung bình gùi 25

kg thì phải huy động tới 196.785 người

đi liên tục 6 tháng, mỗi tháng mỗingười tốn 21 kg gạo thì khi đến nơikhối lượng gạo tiêu thụ gấp 5 lần khốilượng hàng gùi được

Nếu sử dụng ôtô, trung bình mỗi xechở được 2,5 tấn thì phải huy động1.968 xe đi trong hai tháng, sử dụngkhoảng 4.000 tấn xăng dầu, chưa kể cácchi phí bảo đảm khác và tổn thất dọcđường Chỉ cần một phép tính nhỏ trên,

Trang 7

chúng ta cũng đã thấy được lợi thế to lớn của

đường Hồ Chí Minh trên biển như thế nào

- Trong mỗi cuộc chiến thì nhân dân đều có

vai trò rất quan trọng, vậy đối với con đường

Hồ Chí Minh trên biển, nhân dân đã đóng góp

như thế nào?

- Ngoài cán bộ, chiến sĩ, những người trực

tiếp tham gia vận chuyển vũ khí thì sự hy sinh,

giúp đỡ của nhân dân đã làm nên con đường

huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển Ở vùng bến

đi (Đồ Sơn, Hải Phòng), khi Bộ Quốc phòng

chuẩn bị lập bến bãi đã thuyết phục người dân

di dời Nơi mở bến là một vạn chài, nơi dân cư

sinh sống nghìn đời, nơi thờ cúng tổ tiên, nhưng

bà con vẫn sẵn sàng ra đi mà không cần biết nhà

mình sẽ được sử dụng làm gì Điều đó cho thấy

người dân tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng

Còn ở những bến tiếp nhận, khi hàng chục

tấn vũ khí được vận chuyển từ Bắc vào, những

người dân ở đó lại được huy động để bốc dỡ

Họ cần mẫn làm và tuyệt đối giữ bí mật Nếu

không có người dân, cán bộ, chiến sĩ làm sao có

thể bốc dỡ vũ khí xong ngay trong đêm?

Hoặc khi đối mặt với kẻ thù mà không thể

thắng, các chiến sĩ tàu không số cho nổ tàu để

bảo đảm bí mật và hàng hóa không rơi vào tay

địch Lúc này các chiến sĩ hầu hết đều bị

thương, có khi lại gặp sự truy quét của kẻ thù

trên cạn, nhân dân đã che chở, cưu mang

Nhiều lúc dân tìm cách đưa thủy thủ bị

thương nhờ bác sĩ của ngụy chăm sóc Khi tàu

mắc cạn thì dân phao tin đó là tàu cá, từ đó đem

thuyền con ra chở vũ khí vào bờ Hay lúc đốt

tàu, chính người dân đã phao tin tàu chở dầu

mắc cạn, ra ứng cứu rồi vô tình đốt Cókhoảng hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thamgia đoàn tàu không số, người hy sinhkhoảng 100 Trong khi đó số người hysinh tại các bến nhận lên tới 1.000 Đó

là dân quân, du kích, những người vậnchuyển vũ khí, bảo vệ tàu Từ đó ta cóthể thấy rằng, chiến sĩ và nhân dân cóquan hệ máu thịt với nhau Nếu không

có nhân dân sẽ không có bất kỳ một kỳtích nào trên biển và trong mọi cuộcchiến

- Trong chiến tranh, cha ông đã biết khai thác lợi thế của biển Còn trong thời bình, ông đánh giá thế nào

về việc khai thác những thế mạnh của biển trong phát triển kinh tế, bảo vệ quốc phòng an ninh?

- Cha ông ta có truyền thống thôngthạo thủy chiến, giỏi du thuyền vào bậcnhất Đông Nam Á, từng đánh thắngmọi kẻ thù xâm lược bằng đường biểnvới lực lượng thủy quân hùng hậu Vàothời Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thủy chiếnViệt Nam phát triển mạnh nhất châu Álúc bấy giờ

Sau khi hòa bình thống nhất đấtnước, trong khoảng 20 năm vận tảibiển, kinh tế biển thiếu sự quan tâm cầnthiết nên bị chững lại, thậm chí kémphát triển Gần đây, vấn đề này đã đượcquan tâm hơn Cùng với việc phát triểnkinh tế biển, lực lượng hải quân cũngđược tăng cường vì xây dựng phải đi

Trang 8

liền với bảo vệ Tôi cho rằng Bộ Quốc phòng

cần có một chuyên đề phát triển kinh tế biển

gắn liền với Hải quân

- Trước đây do đảm bảo bí mật, đường Hồ

Chí Minh trên biển, đoàn tàu không số không

được công khai khiến nhân dân và thế hệ trẻ

không biết đến hoặc biết rất ít Ông đề xuất gì

để con đường này trở thành bài học giáo dục

lòng yêu nước trong thế hệ trẻ?

- Trước đây lịch sử không nói nhiều đến

đoàn tàu không số, những tư liệu ban đầu chỉ

xuất hiện trong các cuốn sách của nhà văn Hồ

Phương, Nguyên Ngọc, Đình Kính nên thông

tin có một số chưa hoàn toàn chính xác Tôi cho

rằng, Bộ Tư lệnh Hải Quân, Bộ Quốc phòng

phát hành tư liệu chính thống về đường Hồ Chí

Minh trên biển là việc làm cần thiết

Hiện nay chúng ta cũng đã chú ý hơn đến

việc tuyên truyền về đường Hồ Chí Minh trên

biển Tại các bến nhận đang xây đài tưởng

niệm, di tích tham quan để giới thiệuvới nhân dân và du khách về nhữngchiến công của đoàn tàu không số Tôinghĩ ở bến xuất phát Đồ Sơn cũng cầntriển khai công việc này

Ngoài ra, việc tri ân những người

có công, bao gồm cán bộ chiến sĩ tàukhông số, những thân nhân của liệt sĩ

đã hy sinh tại các bến tiếp nhận cần tiếptục thực hiện Rất nhiều cựu binh tàukhông số hiện không được hưởng chế

độ đi B chỉ vì họ hoạt động bí mật,không có quản lý hành chính Hay cónhững người bán cả gia tài đưa tiền chocon mua tàu vận chuyển vũ khí, nhưngvẫn không được đền đáp xứng đáng

Hoàng Thùy thực hiện

http://vnexpress.net

Tin nhanh Việt Nam

Đường Hồ Chí Minh trên biển - biểu tượng sáng ngời về ý chí

giải phóng dân tộc

Ngày 21/10/2011

Đường Hồ Chí Minh trên biển

là nơi hội tụ sức mạnh của chiến

tranh nhân dân trong cuộc đấu trí,

đấu lực với kẻ thù; là nơi tỏa sáng

chủ nghĩa anh hùng cách mạng,

lòng quả cảm, trí thông minh và

quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của

dân tộc Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường HồChí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2011),Báo CAND đã có cuộc phỏng vấn Phó Đô đốc,Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên TW Đảng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủngHải Quân

PV: Xin đồng chí cho biết ý nghĩa lịch sử của đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng

Trang 9

chiến chống Mỹ, giải phóng miền

Nam, thống nhất đất nước.

Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:

Cách đây tròn 50 năm, dưới sự lãnh

đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ,

Đoàn 759, nay là Lữ đoàn 125 Hải

quân nhân dân Việt Nam được thành

lập với nhiệm vụ mở tuyến vận tải

quân sự chiến lược Bắc - Nam bằng

đường biển, tổ chức đưa người và vũ

khí chi viện miền Nam Từ đây, con

đường mang tên Hồ Chí Minh trên

biển được hình thành, nối l iền hậu

phương lớn miền Bắc với tiền tuyến

lớn miền Nam Đó thực sự là một kỳ

tích vĩ đại trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước, là sản phẩm của

ý chí sắt đá, tinh thần quả cảm và sức

sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và

toàn dân ta Tuyến vận tải quân sự

chiến lược này đã góp phần phát huy

sức mạnh của miền Bắc XHCN - nhân

tố quyết định nhất, kết hợp với sức

mạnh tại chỗ của cách mạng miền

Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp to

lớn của toàn dân tộc, đưa cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng

lợi hoàn t oàn

PV: Phó Đô đốc có thể cho biết về

sự đóng góp của đường Hồ Chí Minh

trên biển trong các giai đoạn của

cuộc kháng chiến chống Mỹ?

Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:

Việc mở thông con đường vận tải trên

biển tiếp thêm sức mạnh cho cả dân tộc đánh Mỹ,tạo nên những chuyển biến quan trọng trong sựphát triển cục diện cách mạng nước ta Nếu nhưnhững chuyến hàng của những năm 1962-1965góp phần giúp quân và dân miền Nam đánh thắngchiến lược "Chiến tranh đặc biệt" thì sự tiếp tếcủa những năm tiếp theo góp phần làm phá sảnchiến lược "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóachiến tranh" của Mỹ - ngụy

Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổidậy mùa xuân năm 1975, thực hiện chỉ lệnh "thầntốc, đại thần tốc" của Đại tướng Tổng tư lệnh VõNguyên Giáp, đường Hồ Chí Minh trên biển đãvận chuyển nhanh nhiều vũ khí hạng nặng vàhàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vào miền Tây,kịp thời hiệp chi viện chiến trường

Số lượng vũ khí và hàng hóa vận chuyểnbằng đường Hồ Chí Minh trên biển so với sốlượng vận chuyển của đường Hồ Ch í Minh trên

bộ ít hơn, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn khivùng ven biển miền Trung, Tây Nam Bộ vận tảitrên bộ chưa vươn tới Vận tải trên biển tuy giannan, nguy hiểm hơn, nhưng lại có ưu thế về tốc

độ, thời gian Nếu vận chuyển đường bộ mấthàng mấy tháng trời mới tới nơi thì vận chuyểnđường biển chỉ cần hơn 1 tuần Chi phí cho mỗichuyến vận chuyển trên biển đỡ tốn kém hơnnhiều so với vận tải đường bộ Ngoài ra, vận tảiđường biển còn đảm đương một sứ mệnh cực kỳquan trọng là vận chuyển những "hàng h óa đặcbiệt" có tính sống còn đối với cuộc kháng chiến -

đó là các loại vũ khí trang bị lớn, đặc chủng vànhững cán bộ cao cấp của Đảng, những chuyêngia đặc biệt bổ sung cho chiến trường

Trang 10

PV: Vai trò của nhân dân và

những chiến sỹ làm nên huyền thoại

đường Hồ Chí Minh trên biển có già

trị lịch sử như thế nào?

Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:

Trong suốt những năm chống Mỹ,

đường Hồ Chí Minh trên biển luôn

nhận được sự hỗ trợ tích cực của các

cấp ủy Đảng, nhân dân và các lực

lượng nơi có bến bãi tiếp nhận hàng

Chỉ có nhân dân, con đường mới được

khai thông, chỉ có nhân dân, con

đường mới giữ được bí mật trong

khoảng thời gian dài, những chuyến

hàng mới có thể được giải phóng

nhanh gọn và những con tàu không số

mới có thể liên tục vào Nam, ra Bắc

Nói tới đường Hồ Chí Minh trên

biển còn phải nhắc tới các thế hệ cán

bộ, chiến sĩ của đoàn tàu không số

luôn luôn trung thành vô hạn với

Đảng, với nhân dân, nêu cao ý chí

quật cường, tinh thần mưu trí, sáng

tạo, sẵn sàng xả thân chiến đấu hi sinh

để hoàn thành xuất sắc mọ i nhiệm vụ

được Trung ương, Bác Hồ và quân đội giao phó

PV: Thưa Phó Đô đốc, Hải quân nhân dân Việt Nam đã và đang làm gì để phát huy truyền thống vẻ vang của đường Hồ Chí Minh trên biển?

Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến: Đường Hồ

Chí Minh trên biển là nét độ c đáo của chiến lượcvận tải quân sự trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước, có giá trị thực tế vô cùng to lớn.Điều chúng tôi luôn suy nghĩ là làm sao biếnnhững giá trị lịch sử truyền thống thành sứcmạnh của hiện tại, biến những bài học kinhnghiệm của ngày hôm qua thành một phần quantrọng trong quá trình hoạt động và phát triển củaHải quân nhân dân Việt Nam hôm nay Trongnhững năm qua, phát huy truyền thống đường HồChí Minh trên biển, Hải quân nhân dân Việt Nam

đã và đang cùng toàn Đảng, toàn quâ n và toàndân, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên biển và góp phầnxây dựng đất nước ngày càng phát triển

PV: Xin trân trọng cảm ơn Phó Đô đốc!

G.Nguyên - D.Hải (thực hiện)

cand.com.vn Báo Công an nhân dân

Đường Hồ Chí Minh trên biển – Tuyến vận tải chiến lược huyền thoại

Ngày 14/09/2011

Tuyến vận tải chiến lược trên biển hoạt động liên tục trong suốt 14 năm (1961 1975), với hành trình hàng vạn hải lý, bằng nhiều phương án đi và đến; đã góp phần chi viện kịp thời sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, làm nên chiến thắng 30 -4-

-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trang 11

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi,

nhưng hai miền Nam - Bắc còn bị chia cắt ,

nhân dân miền Nam còn phải chịu sự đàn áp

dã man của kẻ thù Vì miền Nam, toàn

Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết đánh

bại quân xâm lược, thu non sông về một

mối, Bắc - Nam sum họp một nhà Để thực

hiện ý nguyện đó, Đảng ta chủ trương nối

liền hậu phươ ng lớn miền Bắc với chiến

trường miền Nam bằng những tuyến đường

vận tải chiến lược

Trước hết, mở đường vì miền Nam ruột

thịt là mệnh lệnh của cả nước nhằm cung

cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật thúc đẩy Cách

mạng miền Nam phát triển Hội nghị Trung

ương Đảng lần thứ 15 (khoá II, 1-1959),

dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ra Nghị quyết lịch sử; trong đó, xác định:

“Kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa

bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ

sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong

cả nước”1 Nghị quyết Trung ương 15 đã

thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng

thành phong trào Đồng khởi, đưa Cách

mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn tiến

công tiêu diệt địch Tiếp đó, ngày

24-1-1961, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định

“đẩy mạnh đấu tranh vũ trang

lên song song với đấu tranh chính trị, tiến

công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân

sự”2; đồng thời, “tích cực tiêu diệt sinh lực

địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm

tan rã chính quyền và lực lượng địch tr ên

một phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lênlàm chủ rừng núi, giành lại toàn bộđồng bằng” Để thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ này, Đảng ta chỉ đạo mở những tuyếnđường huyết mạch nối liền hậu phương vớitiền tuyến nhằm bổ sung lực lượng, vũ khí,trang bị và các nhu cầu bảo đảm khác choCách mạng miền Nam Thực hiện Chỉ thị của

Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trực tiếpchỉ đạo các cơ quan, đơn vị tích cực nghiêncứu mở đường; đến giữa năm 1959, tuyếnvận tải chiến lược trên bộ được khai thông,kịp thời chi viện cho các vùng căn cứ miềnrừng Nhưng, đối với Chiến trường miềnĐông Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ thìtuyến đường này không vươn tới được.Trong khi đó, cuộc đấu tranh ở đây đangdiễn ra quyết liệt từng giây, từng phút và yêucầu chi viện sức người, sức c ủa, nhất là vũkhí để chiến đấu, trở thành yêu cầu cấp thiết,quyết định đến sinh mệnh đồng bào và chiến

sĩ Trước tình hình đó, tháng 7 -1959, BộChính trị, Tổng Quân ủy Trung ương quyếtđịnh tổ chức đường vận tải quân sự trên biểnnhằm chi viện cho các tỉnh vùng duyên hảimiền Trung và Đồng bằng Nam Bộ

Để thiết lập tuyến đường vận tải chiến

lược trên biển, ta đã nhiều lần tổ chức các đoàn vượt biển thăm dò và khai thông tuyến vận tải độc đáo đi thẳng vào nơi địch mạnh nhưng lại rất sơ hở, thiếu phòng bị Đây là

nhiệm vụ hết sức quan trọng, đòi hỏi phảinghiên cứu kỹ quy luật của thiên nhiên, hải

đồ, nhất là hoạt động của địch làm cơ sở đểTrung ương chỉ đạo công tác vận chuyển

Trang 12

quân sự đường biển Thực hiện chủ trương

của Bộ Chính trị, tháng 7-1959, Bộ Quốc

phòng giao nhiệm vụ vinh dự và thiêng

liêng này cho Tổng cục Hậu cần Đơn vị

được mang biệt danh Đoàn 759 với 38 chiến

sĩ và 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ, được giao

nhiệm vụ chở 5 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc

men cho tỉnh Quảng Nam (Khu V), với yêu

cầu phải bảo đảm tuyệt đối bí mật Chuyến

vượt biển đầu tiên của Đoàn 759 tuy chưa

thành công, song đã để lại cho chúng ta

nhiều bài học quý giá Rút kinh nghiệm

chuyến hàng đầu tiên, Bộ Quốc phòng đã

kịp thời chỉ đạo tạm ngừng hoạt động, tập

trung nghiên cứu tìm phư ơng thức vận

chuyển mới, trên cơ sở tổ chức chặt chẽ,

tính toán, lựa chọn nhiều phương án cho

mỗi hành trình Mặt khác, Trung ương Đảng

chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ vừa chuẩn bị

bến bãi, vừa tổ chức tàu, thuyền vượt biển

ra Bắc nhận vũ khí nhằm thăm dò, nghiên

cứu, xác định tuyến đường Đây là một

quyết định đúng đắn, sáng tạo và khoa học

Theo đó, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc

Liêu, Bà Rịa (là những địa phương có kinh

nghiệm vượt biển ra Bắc chở vũ khí từ

những năm kháng chiến chống thực dân

Pháp) gấp rút chuẩn bị lực lượng, tàu,

thuyền ra Bắc nhận vũ khí Từ giữa năm

1961 cho đến giữa năm 1962, 6 chiếc

thuyền đột phá ra Bắc chỉ có một chiếc phải

quay trở về vì lý do kỹ thuật Chuyến đi của

những người con Nam Bộ thành đồng, “đi

trước, về sau” đã nắm bắt được quy luật,

biết rõ hơn tình hình trên biển, cung cấp

những luận cứ khoa học giúp Trung ươngphân tích, đánh giá tình hình, xây dựngtuyến vận tải chiến lược - Đường Hồ ChíMinh trên biển Tháng 4-1962, Quân ủyTrung ương quyết định cử đồng chí BôngVăn Dĩa trở về bằng chính chiếc tàu nămtrước anh đã vượt biển ra Bắc Lần trở vềnày, tàu anh chưa vận chuyển vũ khí, mà ra

đi với mục đích tiếp tục thăm dò, xây dựngphương án Ngày 18-4-1962, tàu anh vào tớicửa Bồ Đề, thuộc Cà Mau và tháng 7 -1962,anh trở ra Bắc trực tiếp báo cáo với Trungương6

Sau khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá

kỹ tình hình các chuyến đi thăm dò haichiều Nam - Bắc, Bắc - Nam và chỉ đạo chặtchẽ công tác chuẩn bị tàu, thuyền, xây dựngphương án, Quân ủy Trung ương, trực tiếp

là đồng chí Bí thư thứ Nhất Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Lê Duẩn đã lựa chọnBông Văn Dĩa phụ trách chiếc tàu đầu tiênchở vũ khí vào Nam” Đêm 12-10-1962,chiếc tàu “Phương Đông 1” gồm 10 thủythủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng LêVăn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chởhơn 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (HảiPhòng) đi về phương Nam Đến sáng ngày19-10-1962, tàu vào tới Chùm Gọng (VàmLũng, Tân An) an toàn Tàu “Phương Đông1” đã đi vào lịch sử, chính thức khai thôngtuyến vận tải quân sự đường biển - Tuyếnvận tải chiến lược - Đường Hồ Chí Minhtrên biển - bước phát triển mới của nghệthuật chiến tranh nhân dân Việt Nam thờiđại Hồ Chí Minh Sau chuyến đi thành công

Trang 13

của tàu “Phương Đông 1”, ba chiếc tàu khác

cũng đã cập bến Cà Mau an toàn; cùng với

các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình

thành các cụm bến đón nhận những chuyến

hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ

Chí Minh trên biển

Sau các chuyến tàu thăm dò là những

chiến công thầm lặng nối liền những chiến

công đã viết nên huyền thoại biển Để các

chuyến hàng như “dòng máu chảy về tim”,

Bộ Chính trị tiếp tục chỉ đạo Bộ Quốc

phòng, trực tiếp là Quân chủng Hải quân kịp

thời tổ chức rút kinh nghiệm qua mỗi

chuyến đi; đẩy mạnh việc cải tiến phương

tiện, đổi mới phương thức, xây dựng lực

lượng và nguyên tắ c vận chuyển Nhờ đó,

Đường Hồ Chí Minh trên biển vận hành

ngày càng chủ động, hiệu quả hơn Có lẽ

trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, chưa

có con đường vận tải chiến lược nào được

bảo mật, ngụy trang độc đáo và thành công

đến thế Mặc dù, lúc đầu chỉ là những chiến

thuyền thô sơ, trọng tải nhỏ, với lộ trình

bám dọc bờ biển, rồi nhanh chóng phát

triển, có hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải

lớn không những chỉ hoạt động ở vùng biển

của ta mà còn vươn ra hải phận quốc tế

Những con tàu không số đều chở nặ ng vũ

khí, trang bị, được nguỵ trang và nghi trang

khéo léo, lúc hợp pháp lúc bất hợp pháp

Cùng với đó là phương thức vận chuyển

cũng được phát triển ngày càng linh hoạt,

sáng tạo: lúc biển xa, khi biển gần và sự

nhạy bén trong việc lựa chọn bến bãi, lợi

dụng địa hình, thuỷ triều, thời tiết , đã giúp

chúng ta vượt qua những phòng tuyếnnghiêm ngặt của kẻ thù, cung cấp kịp thời

vũ khí, trang bị cho tuyến lửa miền Nam

Và “nếu tính từ chuyến tàu (Phương Đông1) đầu tiên đến chuyến tàu thứ 148 vào bếnVũng Rô (ngày 15-2-1965), ta đã có 87chuyến tàu xuất bến đều tới đích, chỉ riêng

có một chuyến (ngày 10 -10-1963) phải quayvề”7 Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trícăng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiênnhiên, với mọi khó khăn, thử thách, dườngnhư vượt qua mọi giới hạn chịu đựng củacon người Nhưng, các chiến sĩ của nhữngcon tàu không số đã khéo léo nghi binh, lừađịch, táo bạo, bất ngờ, đi trong lòng địch,càng đi, càng tỉnh táo, quyết đoán

Sự tồn tại của Đường Hồ Chí Minh trênbiển và những chuyến vư ợt biển thành côngcủa các chuyến tàu không số là kết quả củatrình độ chỉ huy, hiệp đồng tác chiến chặtchẽ giữa lực lượng bốc dỡ, vũ trang chiếnđấu, cứu thương, thông tin vô tuyến điện

và các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹthuật, hậu cần, hệ thống bến bãi, kho tiếpnhận, bảo quản, phân phối hàng Tất cả cáclực lượng hoạt động trong sự điều hànhthống nhất từ Trung ương Trên tất cả,Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyếnđường của “thế trận lòng dân” trong thế trậnchiến tranh nhân dân phát triển Dựa vàodân, có sự chở che, giúp đỡ, hỗ trợ hết lòngcủa nhân dân, tuyến vận tải chiến lược trênbiển đã vượt qua mọi khó khăn, thử tháchkhốc liệt, gian nan, vất vả, vượt qua mọi sựphong toả của địch, hoàn thành xuất sắc

Trang 14

nhiệm vụ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giải

phóng miền Nam, thống nhất đất nước

nhanh chóng đi đến thắng lợi

Đối đầu với Hải quân Mỹ, nguỵ, một

lực lượng mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí,

trang bị, nhưng bằng ý chí, sức mạnh tinh

thần, sự nỗ lực, can trường, lòng quả cảm

và được nhân dân chở che, trong suốt 14

năm liên tục (1961-1975), những chiến sĩ

bình dị của Đường Hồ Chí Minh trên biển

huyền thoại đã vận hành “1.789 chuyến tàu

không số, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí

trang bị và 80 nghìn lượt cán bộ, vượt qua

hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 400 quả

thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến

đấu 300 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần

máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và

bắn cháy nhiều tàu, xuồng địch”9, hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ Đặc biệt, trong

cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa X uân

1975, thực hiện chỉ thị “thần tốc”, “đại thần

tốc” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ

Nguyên Giáp, Đường Hồ Chí Minh trên

biển đã thần tốc vận chuyển “130 lượt với

143 chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng

nặng gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa

18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải lý

để kịp tham gia chiến đấu”, hiệp đồng tác

chiến với cánh quân đường bộ Những

chiến công của tuyến đường huyền thoại

trên biển chính là những kỳ tích lịch sử,

được làm nên bởi trí tuệ, lòng yêu nước,

sức mạnh của ý chí “Không có gì quý hơn

Đó là việc bắt buộc phải cho nổ Tàu 143 ởVũng Rô (2-1965); có hàng chục chuyến tàuxuất bến phải quay về Trong số 168 con tàu

đã ra đi từ năm 1966 đến năm 1972, có 8con tàu đã phải phá hủy để xóa dấu vếtnhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối của tuyếnđường huyết mạch Trong quá trình thựchiện nhiệm vụ đặc biệt này, “đã có 117 cán

bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình trên biển”11.Những chiến sĩ: Phan Vinh, Huỳnh NgọcTrạch, Nguyễn Chánh Tâm, và bao đồngchí khác đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòngbiển bao la, sâu thẳm Trong chặng vượtbiển cuối cùng, các anh đã không thể cùngđồng đội đi trọn quãng đường, ở lại với biểnkhơi, với sóng gió Chính các anh cùngđồng đội đã dệt nên huyền thoại bằng tuổithanh xuân, nhiệt huyết của mình cho ngàytoàn thắng Tên tuổi các anh là những bài ca

đi cùng năm tháng; các anh mãi mãi lànhững người lính Hải quân trên những contàu đi về phía vầng dương, nhắn nhủ thế hệtrẻ hôm nay tự soi mình và ngẫm về nghĩa

vụ, trách nhiệm, tình yêu đối với quê hương,đất nước và biển đảo của Tổ quốc Tổ quốc

và nhân dân đời đời ghi nhớ và tri ân cácanh, những chiến sĩ đã làm nên kỳ tíchĐường Hồ Chí Minh trên biển

Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

http://biengioilanhtho.gov.vn

Trang 15

PHẦN II:

Huyền thoại đường trên biển

Kỳ 1: 50 năm con đường bí ẩn

Ngày 15-09-2011

Nhà thơ Ngô Minh ở Huế vừa gửi đến Báo Thanh Niên loạt bài về đường Hồ Chí Minh trên biển với nhiều thông tin, tư liệu mới được tác giả khai thác qua ông Vĩnh Mẫn, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn tàu không số D759 xưa , cùng nhiều nguồn

tư liệu khác.

Loạt bài hé mở nhiều chi tiết còn ít biết

đến về con đường huyền thoại và những

con tàu không số một thời oanh liệt trên

biển Đông

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,

dân tộc ta đã lập nên 2 kỳ tích Đó là

đường Hồ Chí Minh Trường Sơn và

đường Hồ Chí Minh trên biển Đông

Đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn thì

sách báo, phim ảnh đã nói nhiều Còn

đường Hồ Chí Minh trên biển thì luôn

trong vòng bí mật cho đến 20 năm sau

1975 Mãi đến năm 2000 mới có vài cuốn

sách mỏng của Nguyên Ngọc, Nguyễn Tư

Đương nói tới con đường huyền thoại này

Cuối năm 2010 sang đầu 2011, trong

thời gian xây lăng mộ Phùng Quán ở Huế,

tôi có cơ may quen biết ông Vĩnh Mẫn,

người bạn trinh sát thuở thiếu niên với

Phùng Quán ở Huế năm 1946, nguyên

Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn tàu không

số D759 Ông Vĩnh Mẫn đã cho tôi đọc

rất nhiều tài liệu, thư từ về những người

thuyền trưởng và những con tàu không số,đặc biệt là cuốn Lịch sử đường Hồ ChíMinh trên biển mới biên soạn, chuẩn bịđưa in

Đọc những tài liệu đó, tô i xúc động vàrất kinh ngạc Dù đã nghe kể về nhữngcon tàu không số, nhưng tôi vẫn thấy quá

ư kỳ lạ, vượt qua sự tưởng tượng thôngthường của con người, mang nhiều nét cổtích, huyền thoại Từ đó tôi bị hút theonhững chuyến tàu

Tập thể thủy thủ tàu 41 ( Phương Đông 1) - con

tàu đầu tiên cập cảng Cà Mau - Ảnh tư liệu của

ông Vinh Mẫn

Trang 16

Chưa từng có trong lịch sử hàng hải

Đường Hồ Chí Minh trên biển là con

đường vận tải chiến lược lớn, tồn tại suốt

14 năm ròng Nó được tổ chức vô cùng bí

mật và chặt chẽ từ việc đóng tàu, lựa chọn

thủy thủ, thuyền trưởng, tàu vượt biển, đến

bến bãi đổ hàng, người bốc hàng, dư ới sự

chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương

và Trung ương Cục miền Nam Nói là tàu

không số, nhưng thật ra mỗi con tàu đều

mang một số hiệu đăng ký tại chỉ huy sở

Từ tàu buồm, tàu gỗ nhỏ, đến tàu sắt trọng

tải trên 50 tấn, 100 tấn, 200 tấn, từ đi gần

bờ đến đi xa bờ trên hải phận quốc tế

Đi trên những con tàu không số là

những cảm tử quân Vượt biển Đông vào

Nam là đi vào nơi tử địa, vượt qua vòng vây

dày đặc tàu chiến và máy bay địch Tàu

nhỏ chỉ 50 - 100 tấn mà dám vượt tuyến

biển ba bốn ngàn hải lý để vận tải vũ khí

chi viện cho miền Nam suốt 14 năm trời là

chuyện chưa từng có trong lịch sử hàng hải

thế giới Họ là những người anh hùng đích

thực Từ chỗ miền Nam phải đánh giặc

bằng hầm chông, súng kíp, súng ngựa trời,

nhờ có những chuyến hàng từ tàu không số

mà bộ đội chủ lực, dân quân của ta có

nhiều loại vũ khí hiện đại như DKZ, B40,

B41, đại liên 6,7 li, AK47, thuốc nổ TNT,

súng phòng không 12,7 li, cả thủy lôi sừng

chạm của Liên Xô mỗi quả nặng đến 1.070

kg Chính những quả thủy lôi này đã đánh

chìm tàu vận tải quân sự Baton Rouge

Victory của hải quân Mỹ trên sông Lòng

Tàu ngày 23.8.1966, mang theo cả trămthiết giáp M113, 3 máy bay chiến đấu và rấtnhiều hàng

“Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”

Thực hiện Nghị quyết 15 của BộChính trị, ngày 1 9.5.1959, “Đoàn quân sựđặc biệt” (Đoàn 559) được thành lập Đó

là khởi nguồn của đường Trường Sơnlịch sử Tháng 7.1959, Bộ Tổng tư lệnhthành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, chiviện cho miền Nam bằng đường biển.Tiểu đoàn được mang tên “Tập đoànđánh cá Sông Gianh” Tiểu đoàn 603chuyến ra quân đầu tiên vận chuyển 5 tấn

vũ khí và thuốc men vào Nam Nơi đổhàng là bến Hồ Chuối ở chân đèo HảiVân Con tàu ra đi và mất tích cùng 5thủy thủ do thuyền trưởng Nguyễn Bắcchỉ huy Sau thất bại này, Quân ủy thànhlập đơn vị vận tải thủy mới với mật danh

là Đoàn 759 (tức tháng 7.1959) Đoàn

759 đi tìm người gốc Nam Bộ và Liênkhu 5 có kinh nghiệm đi biển ở các bộ,điều động về Đồng thời Quân ủy chỉ thịcho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạocác tỉnh ven biển miền Trung và Nam Bộchuẩn bị bến bãi và tổ chức tàu thuyềnvượt biển ra Bắc nhận vũ khí Đến tháng8.1961, đã có 5 chiếc thuyền vượt biển từmiền Nam ra Bắc Bến Tre 2 thuyền, CàMau, Trà Vinh và Bà Rịa 1 Đó là nhữngchiếc thuyền gỗ thô sơ, giả thuyền đánh

cá Việc vượt biển ra Bắc thành công củanhững con thuyền miền Nam đã tạo ra

Trang 17

hướng mới vận chuyển vũ khí bằng

đường biển

Để chuẩn bị thật kỹ phương án mới,

các thủy thủ trên thuyền Cà Mau được đưa

xuống thuyền trở lại miền Nam để nghiên

cứu tình hình hoạt động của địch trên biển,

tìm bến bãi để “xuống hàng” Con tàu trinh

sát rời bến Nhật Lệ đêm 10.4.1962 Sau 4

tháng vào Nam trinh sát các bến đỗ Phú

Quốc, đảo Thổ Chu, Hòn Chuối, Hòn Ông,

Hòn Bà cuối cùng khẳng định Vàm Lũng

(rạch Kiến Vàng, Tân An, Cà Ma u) là địa

điểm làm bến tốt nhất, rừng đước mênh

mông đảm bảo cho việc cất giấu tàu tốt, bốc

dỡ hàng kín đáo

Tất cả số thủy thủ miền Nam ra đều bổ

sung vào Đoàn 759, tổng cộng có 38 người,

trong đó có 20 người vừa từ miền Nam ra

Ông Đoàn Hồng Phước, Tham mưu trưởng

Sư đoàn 330, được bổ nhiệm làm đoàn

trưởng Từ đây, ngày 23.10 trở thành dấumốc lịch sử, là ngày truyền thống của Đoàn

759 - đoàn tàu không số

Sau hơn một năm chuẩn bị, ta bí mậtđóng mới được 4 tàu gỗ hai đáy, trọng tải

30 tấn trở lên Và 22 giờ ngày 11.10.1962,chiếc tàu gỗ đầu tiên được gọi là “PhươngĐông 1” cùng với 13 chiến sĩ do thuyềntrưởng Lê Văn Một và chính trị viên BôngVăn Dĩa chỉ huy, chở hơn 30 tấn hàng hóarời bến Vạ Sét, Đồ Sơn lên đường đi CàMau Sau 9 ngày đêm vượt biển, tà uPhương Đông 1 đã vào đến bến Vàm Lũng,

Cà Mau Ngày 19.10, ông Phạm ThếBường, Bí thư Khu ủy Khu 9, điện choQuân ủy Trung ương: “Tàu Lê Văn Một -Bông Văn Dĩa đã về đến nơi an toàn ”.Nhận được điện báo, Đại tướng Võ NguyênGiáp mắt nhòa lệ: “Thôi ch o nghỉ họp để ănmừng thắng lợi đầu tiên này ”

Kỳ 2: Những chuyến tàu tuyệt mật

Ngày 17-09-2011

Trước khi xảy ra vụ lộ tàu 143 tháng 2.1965 ở Vũng Rô, Phú Yên, đường Hồ Chí Minh

ở trong vòng tuyệt đối bí mật với đối phương Mặc dù Mỹ có khi nghi ngờ, nhưng không có bất cứ bằng chứng nào về những con tàu chở vũ khí vào Nam

Mực gỗ, cá gỗ ngụy trang

Để giữ bí mật tuyệt đối, từ Quân

ủy T.Ư đến các thủy thủ tàu phải lo

nhiều việc, cứ như họ là những

người hoạt động tình báo giữa lòng

địch vậy Theo ông Vĩnh Mẫn (Phan

Thắng), nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn 125(tức 759), trong Quân ủy T.Ư cũng chỉ có một sốlãnh đạo cao cấp biết Ngay các hang đá ở ThủyNguyên, mà TP Hải Phòng đã khoanh vùng giaocho Đoàn 759 sử dụng, chính quyền địa phươngcũng không hề biết trong đó đang diễn ra việc gì

Trang 18

Thật ra đó là sở chỉ huy của Đoàn

759 Đó là hầm máy móc thông tin,

chỉ huy các chuyến biển, ngày đêm

theo dõi số phận các con tàu đang

lênh đênh trên biển xa

Xưởng I, III Hải Phòng là nơi

đóng những con tàu không số hai

đáy (đáy dưới để vũ khí, đáy trên để

lưới, câu, ngư cụ để nghi trang) cho

Đoàn 759 Những người thợ đóng

tàu được chọn rất kỹ, nhưng chính

họ cũng không hề biết những con tàu

mình được giao đóng trong thời gian

gấp rút và có cấu trúc khác lạ đó

dùng để làm gì, đi đâu

Đối với từng thủy thủ trước khi

nhận nhiệm vụ đi tàu không số phải

tâm niệm “sống để bụng, chết mang

theo”, không được hé răng với cha

mẹ, vợ con công việc hay lịch trình

của mình Trước lúc xuống tàu rời

bến, phải gửi lại tất cả quần áo, tư

trang, sổ sách, chứng minh thư

Nghĩa là tất cả những thứ liên quan

đến địa chỉ, tên tuổi đều không được

mang theo Trước khi xuống tàu thủy

thủ tập trung ở một địa điểm bí mật

gọi là “Z10” (Đồ Sơn) để tập huấn

Được chụp ảnh chung và ảnh riêng

lưu trong hồ sơ do Quân ủy T.Ư quản

lý Anh em được trang bị quần áo bà

ba đen, nâu vải đã sờn, như dân đánh

cá miền Nam, giấy tờ, căn cước giả

Con tàu cũng không mang số hiệu

nào, nên mới gọi là “tàu không số” Nhưng để nghitrang, thời kỳ vận chuyển ven bờ, tà u có đủ cácbiển số của tàu đánh cá các tỉnh Trung Bộ, Nam Bộ

để đi qua tỉnh nào thì gắn biển số giả ấy vào Trêntàu có lưới, câu và cả cá gỗ ! Anh em đẽo từng con

cá, mực ống lớn và nhuộm màu rất giống cá, mựckhô mang theo trên tàu Để khi tàu hay máy baytrinh sát địch nhòm tới thì phơi cá, mực gỗ ra bongtàu để chúng tin là tàu đánh cá Máy tàu phải làmáy Mỹ, máy Nhật để khi bị địch bao vây, bắtsống, thì ném vũ khí xuống biển, phi tang tất cảnhững gì liên quan đến miền Bắc Trong chuyếnvượt biển đầu tiên, trên tàu C41 - Phương Đông 1,thủy thủ Võ Tấn Thành có bí mật giấu một tấm ảnhBác Hồ trong ngực áo Khi tàu vào vĩ độ 18 bắc,gần đảo Cù Lao Thu, thì có một chiếc tàu sơn màuquân sự chạy theo rất nhanh đúng vệt nước lái củatàu ta Anh em nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu.Đạn chống tăng được nạp kíp nổ và đại liên đượcđặt vào vị trí Ba Thành thấy tình thế nguy hiểmquá, liền lấy ảnh Bác Hồ trong ngực ra vo tròn lạirồi cho vào miệng nuốt chửng Khi chiếc tàu lạ đếngần thì mọi người thở phào vì đó là một chiếc tàuchở hàng của nước ngoài đi về phía Singapore AnhThành lại xuýt xoa tiếc tấm ảnh Bác

Mỗi chiếc tàu không số tùy theo tải trọng khi rabiển đều có gắn một khối thuốc nổ từ 500 kg đến 1,5tấn để khi bị địch vây, tình thế cam go nhất thì điểmhỏa cho nổ tàu để phi tang Các tàu không số, nhất làloại tàu sắt cao tốc, đều trang bị một số cờ hiệu củacác nước, có cả cờ của chính quyền Sài Gòn, để khi

đi trên hải phận quốc tế, nếu máy bay Mỹ phát hiệnthì kéo lên để đánh lừa chúng

Trang 19

Có lần trên một chuyến tàu

không số chở hàng vào Cà Mau, khi

trở ra, anh em thấy thuyền nhẹ quá,

sóng lắc, nên nhổ rất nhiều cây dừa

nước chất xuống khoang cho đằm

Khi ra bến miền Bắc, thủy thủ vô ý

ném những cây dừa nước lên bờ

Dừa nước là thứ cây rất dễ sống, nên

nó nhanh chóng mọc thành một đám

lớn Bà con ngư dân bàn tán: “Dừa

nước là cây miền Nam, ai đưa ra

trồng ở đây?” Đoàn 759 phải cử

người đi nhổ và phi tang hết số dừa

nước trên và họp rút kinh nghiệm

Nỗi oan của vợ thuyền trưởng

Cũng về chuyện giữ bí mật, xin

kể về thuyền trưởng lừng danh Hồ

Đức Thắng (Ba Thắng), sinh năm

1922, quê ở xã Hiệp Hòa, Cầu

Ngang, Trà Vinh, được phong anh

hùng ngày 1.1.1967 Năm 1961, Ba

Thắng là một trong 6 người, được

Tỉnh ủy Trà Vinh đặt tên theo khẩu

hiệu: Đoàn, Kết, Đấu , Tranh, Thắng,

Lợi 6 người vượt biển ra Bắc xin

Hòn Khói, Vũng Rô Anh Ba

Thắng đã kể câu chuyện éo le của

gia đình với nhà văn Nguyên Ngọc

trong sách Có một con đường mòn trên biển Đông.Trích lược như sau:

“Năm 1961, lệnh rút 6 anh em chúng tôi vượtbiển ra Bắc là lệnh trực tiếp của tỉnh ủy, hết sức

bí mật Ngay trong tỉnh ủy cũng chỉ có một haiđồng chí biết, còn huyện ủy, chi ủy không biết tôi

đi đâu, làm gì Vợ tôi lúc đó là đảng viên, tôicũng không dám hé răng tâm sự chút gì Tôi raBắc rồi đi tàu bí mật trở về đúng bến Trà Vinhnày Tới bến xuống hàng, giấu x ong tàu là rút vàorừng nghỉ, tuần sau lại giong tàu ra Bắc đi chuyếnkhác Nhớ nhà, nhớ vợ con lắm mà không dámgặp Ngày tôi ra đi vợ chồng mới có một mặt con

Vợ tôi là chi ủy viên, hoạt động bí mật trong ấpchiến lược Nhưng tuyệt đối không dám nghĩ đế nthư từ liên lạc, nói gì đến việc về thăm, gặp mặt Đến chuyến thứ 9, cuối năm 1964, tàu tôi lại vềbến Trà Vinh Lần này đồng chí phụ trách bến gọitôi lên hỏi: “Có muốn gặp vợ không?” Tôi trảlời: “Không dám nghĩ tới chuyện đó đâu Tùy tổchức thôi!”

Ai dè các anh thương, bố trí cho vợ chồng tôigặp nhau thật Công phu lắm Một chị giao liên vềtận làng tôi, nói với vợ tôi là trên rút đi công tácđặc biệt Phải giả đi buôn ở Cần Thơ Giao liêndẫn đi vòng vo mấy ngày, cuối cùng mới quay lạibến Anh em bố trí vợ chồng tôi một “căn lều hạnhphúc” trong rừng kín Ở với nhau hai ngày, vợ tôilại vòng lên Cần Thơ mua ít hàng trước khi trở vềnhà Còn tôi vài ngày sau xuống tàu Từ đó chođến hết chiến tranh tôi đi chục chuyến nữa, nhưngkhông về Trà Vin h, nên không biết gì về tình hình

vợ con cả Tôi không biết sau hai ngày chungsống, vợ tôi có mang Chửa với ai hay chửa

Trang 20

hoang? Vợ tôi không thể khai thật.

Bụng càng ngày càng to Thế là bố

mẹ chồng khinh bỉ và đau khổ Chi

bộ kiểm điểm Cuối cùng vợ tôi nói

liều: Đi buôn Cần Thơ, lỡ dan díu

với một người! Chi bộ quyết định kỷ

luật đình chỉ công tác, khai trừ Đảng

Vợ tôi sinh được một cháu gái,

nhưng cha mẹ tôi không cho lấy họ

tôi Vợ tôi đau khổ, không thanh

minh được cùng ai suốt 10 năm trời,

cho đến ngày giải phóng miền Nam, tôi trở về ”.Nếu anh Hồ Đức Thắng - trong những chuyếntàu chở hàng về Nam sau đó - không may hy sinhthì ai sẽ “minh oan” cho vợ anh? Đó là sự hy sinh

âm thầm mà vô cùng lớn của những chiến sĩ tàukhông số

Kỳ 3: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và tàu không số

Ngày 19-09-2011

Tên tuổi liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã được cả thế giới biết đến Nhưng một điều có lẽ nhiều người chưa biết, là bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng chữa bệnh cho các chiến sĩ tàu không số, theo tư liệu Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển và Lữ đoàn Tàu vận tải quân sự hải quân (1961-2011).

Nửa đêm ngày 27.2.1968, tàu C43B rời cảng

A3 (Hải Khẩu, Trung Quốc) chở 37 tấn vũ khí vô

bến Ba Làng An, Quảng Ngãi Trước đó, ngày

14.3.1967, trong chuyến chở hàng vào Sa Kỳ

(Quảng Ngãi) thì đụng độ địch, các chiến sĩ tàu

C43B đã chiến đấu anh dũng và buộc phải hủy tàu

để giữ bí mật, sau đó họ theo đường Trường Sơn

về đơn vị Bây giờ cũng đội đó nhậntàu mới, cũng mang tên C43B trở lạiQuảng Ngãi

Khoảng 14 giờ ngày 29.2, mộtmáy bay địch lượn mấy vòng phíatrên tàu rồi bay đi Anh em nghĩ chắcchúng chưa phát hiện ra Ngờ đâu,đêm đến, tàu vào cách bờ 12 hải lýthì gặp 6 tàu đối phương đang hình

14 chiến sĩ tàu C43B điều trị tại Bệnh xá Đặng Thùy Trâm

Trang 21

thành thế bao vây Địch nổ súng bắn tới tấp Trên

không trực thăng quần đảo, bắn rốc - két xuống tàu

C43B Thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng ra lệnh

cho anh em tập trung hỏa lực vừa bắn trả vừa cơ

động nhanh vào bờ Các loại súng ĐKZ, súng

phòng không 12,7 ly, AK 47 nổ giòn giã Một máy

bay lên thẳng trúng đạn rơi xuống biển Một chiếc

khác bị thương lao vào bờ Một tàu chiến địch tiến

gần tàu ta bị trúng đạn ĐKZ bốc cháy Thấy bị

chống trả dữ dội, đối phương giãn ra

Lợi dụng thời cơ, thuyền trưởng cho tàu chạy

lên hướng bắc Ngay lập tức 2 tàu địch lao tới đánh

chặn Tàu C43B quay ngoắt 180 độ, chạy về hướng

nam Vẫn bị tàu chiến và máy bay địch chặn lại

Không thể mở vòng vây, tàu C43B vừa tránh đạn,

vừa bắn trả và tăng tốc chạy vào gần bờ Suốt mấy

tiếng đồng hồ đánh nhau với đối phương đông đảo,

tàu C43B bị đạn địch găm thủng nhiều chỗ Chiến

sĩ Vũ Văn Ruệ và y tá Võ Nho Tòng hy sinh, nhiều

người bị thương nặng Vũ Văn Ruệ quê ở Tiền Hải,

Thái Bình Trước chuyến đi, anh được nghỉ phép 15

ngày để cưới vợ Mới cưới được ba ngày, nghe tin

đội tàu sắp xuất bến, anh đã ra đơn vị nằng nặc xin

đi chuyến này cho bằng được…

Chỉ huy tàu quyết định cho mọi người khẩn

trương bơi lên bờ và hủy tàu Thuyền trưởng

Thắng phân công chính trị viên Trần Quốc Tuấn

đưa thương binh, liệt sĩ vào bờ, hai thuyền phó

Thơm và Đức cùng thuyền trưởng hủy tài liệu

Sau đó thuyền phó Thơm điểm hỏa ở khoang lái,

máy trưởng Tài giật nụ xòe giây cháy chậm Phạm

Văn Rai vừa nhảy xuống biển thì trúng đạn địch

hy sinh Mười mấy phút sau, một khối lửa bùng

lên kèm theo tiếng nổ lớn, con tàu C43B tan ra

từng mảnh Ba chiến sĩ hy sinh đượcchuyển vào bờ Còn 14 người thì 12

là thương binh Các anh được dukích và bà con xã Phổ Thiện cấpcứu, bảo vệ, đưa vào hầm bí mậttừng gia đình che giấu, tránh được

sự truy lùng rất gắt gao của địch

Hơn một tuần sau, du kích địaphương vừa chiến đấu vừa nghibinh, đưa 14 chiến sĩ tàu không sốC43B vượt quốc lộ 1A lên vùng căn

cứ Ba Tơ Các thương binh đượcanh em du kích cáng lên bệnh xá,nhưng hai đêm liền đều gặp phụckích phải quay lại, đêm thứ ba mớithoát được Hơn một ngày rưỡixuyên rừng, vào chiều tối hôm sau

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm

Trang 22

các anh mới được đưa vào điều trị tại trạm xá dân

y huyện Đức Phổ, ở giữa khu rừng thưa, cây cối

loang lổ, khô héo vì địch rải chất độc hóa học

Đây chính là bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy

Trâm Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26.11.1942 tại

Huế, lớn lên ở Hà Nội Tốt nghiệp trường Đại học Y

khoa Hà Nội năm 1966, vào bộ đội, là một bác sĩ

quân y tại chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi

Khám thấy anh em bị thương nặng và kiệt sức, bác sĩ

Trâm quyết định các thủy thủ phải chữa trị ở bệnh xá

một tháng Ở đây thuốc men, dụng cụ cấp cứu thiếu

thốn, ăn uống chủ yếu bằng củ mì (sắn) Mấy ngày

sau, ba người của trạm xá phải đi ba bốn ngày đường

xuống đồng bằng nhờ cơ sở mua gạo và thuốc mang

về cứu chữa cho thương binh

Thuyền trưởng tàu C43B Nguyễn Đức Thắng kể

với nhà văn Nguyên Ngọc: “Riêng tôi, thật ra đến

lúc đó, có dịp trôi dạt vô đó, tôi mới hiểu Thì ra giữa

chiến tranh, một vùng đất quá ác liệt Nhưng một

cái bệnh xá huyện thì không thể lánh đi đâu được cả,

đơn giản chỉ vì nó là một cái bện h xá Nó phải có

mặt ở đó bất cứ lúc nào, trụ bám ở đó, vì thương

binh, vì những người dân bị thương, cả bị bệnh nữa,

bất cứ lúc nào Mà Đức Phổ lúc bấy giờ là một trong

những huyện ác liệt nhất ở chiến trường Khu 5 Sư

đoàn không vận số 1 Mỹ quần nát ở đó, rồi lữ 196

Mỹ, sư dù 101 Mỹ, có thời gian cả sư 25 Anh Cả Đỏ

Mỹ cũng ra đó Rồi Rồng Xanh, Bạch Mã Nam

Triều Tiên… B52 dầm nát một vùng bán sơn địa

ngang dọc chỉ vài chục cây số Thế mà trên cái

vùng đất ghê gớm, suốt hàng chục năm trời vẫn trụ

bám một cái bệnh xá huyện nhỏ nhoi, gan lì, bất

khuất Chỉ huy bệnh xá ấy là một cô gái, một cô bác

sĩ trẻ người Hà Nội

2 giờ chiều hôm ấy 14 anh emthủy thủ xơ xác mới đến được bệnh xácủa chị Trâm Chị không nói gì nhưngbiết chúng tôi là dân đường mòn bímật biển Đông Chị bảo: Các anh phải

ở lại đây đã, chưa được đi đâu hết.Phải chữa cho lành các vết thương.Rồi bồi dưỡng cho lại sức để còn leoTrường Sơn Bệnh xá đói, chị Trâm

và các nhân viên của chị cũng đói.Nhưng chúng tôi vẫn được nuôi rấtchu đáo”

Sau một tháng điều trị, vếtthương đã dần khỏi, anh em C43Bđược lệnh gấp rút lên đường vượtTrường Sơn ra Bắc Trước khi anh

em lên đường, bác sĩ Trâm và anh emtrong trạm xá Đức Phổ đã khâunhững mảnh dù của Mỹ thành ba lô,túi xách, ruột tượng và chuẩn bị áoquần, gạo, muối, thuốc men cho cácthủy thủ đi đường Ngày chia tay, chịTrâm nắn nót ghi vào cuốn sổ nhỏcủa Lưu Công Hào ngoài những dònglưu bút là địa chỉ của người em gáiĐặng Phương Trâm, địa chỉ gia đình

để anh lính trẻ khi về đến Hà Nội sẽghé thăm Chia tay anh em, ngày10.4.1968, bác sĩ Trâm ghi nhật ký:

“Vậy là chiều nay các anh lên đường

để lại cho mọi người một nỗi nhớmênh mông giữa khu rừng vắng vẻ.Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đâycòn ghi lại bóng dáng các anh: những

Trang 23

con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp,

những câu thơ thắm thiết yêu thương ”

Sau ba tháng vượt Trường Sơn, những người

lính đã về đến hậu phương, nhưng công việc của

những người lính tàu không số luôn bímật nên anh Lưu Công Hào không thểđến thăm gia đình chị Trâm

Kỳ 4: Người thay đổi gương mặt và

những chuyến tàu công khai

Ngày 20-09-2011

Hoạt động của những đoàn tàu

không số là bí mật, nhưng có một thời

kỳ các tàu ta vào Nam, ra Bắc công khai

trên biển Nghĩ ra hành trình công khai

ấy là Tư Mau, người phải phẫu thuật

gương mặt để tiếp tục đi chở vũ khí

Hạm đội 7 tung quân

Từ năm 1962 - 1965, những thủy thủ

tàu không số đã thực hiện thành công 90

chuyến chở 4.919,636 tấn vũ khí, quân

trang, thuốc men vào chi viện cho chiến

trường Sau vụ tàu 143 của thuyền

trường Lê Văn Thiêm và chính trị viên

Phan Văn Bảng chở 63 tấn vũ khí cập

bến Vũng Rô bị địch phát hiện ngày

15.2.1965, con đường bí mật trên biển

Đông đã bị lộ Từ đó, Hạm đội 7 Mỹ

tung 40% lực lượng tàu chiến, cùng máy

bay và tàu của hải quân chính quyền Sài

Gòn phong tỏa biển Đông rất gắt gao

Mỹ điều khu trục hạm Higbec D806,

Alaele D666 và 40 tàu chiến khác vào

vùng biển miền Nam làm nhiệm vụ

“chống Việt Cộng thâm nhập” Ở miền

Bắc, Mỹ leo thang bắn phá bằng không quânrất quyết liệt

Tháng 7.1967, ta tổ chức 5 tàu đưa hàngvào Khu 5 Cả 5 tàu đều bị địch phát hiện; 3tàu phải quay ra, 2 tàu bị đánh phá, tổn thấtlớn Quý 4/1971, ta tổ chức 11 tàu trọng tải 50,

100, 200 tấn vượt biển vào Nam, nhưng tất cảđều bị ngăn chặn, phải quay lại Năm 1972, ta

tổ chức 12 chuyến tàu, nhưng 11 chuyến phảiquay lại Tình hình hết sức khó khăn Chiếntrường thì luôn thiếu súng ống, đạn dược Các

sư đoàn, trung đoàn liên tục điện về Trungương Cục miền Nam xin vũ khí

Trước tình thế khó khăn đó, Tư Mau (tứcPhan Văn Nhờ) đề nghị Khu ủy Khu 9 báo cáoQuân ủy Trung ương cho chuyển hướng “vậntải công khai” Quân khu 9 cử ngay Tư Mau raBắc để bàn với Quân ủy Trung ương vềphương thức vận tải hợp pháp này Tư Mau làmột con người mưu trí, gan cóc tí a, nhiều kinhnghiệm đi biển và có những sáng tạo hết sứctáo bạo, nguyên Đoàn trưởng Đoàn vận tải 962của Quân khu 9 Tư Mau nhờ bà Võ Thị Đảnh(cơ sở của ta) đứng tên mua một chiếc thuyền

Trang 24

đánh cá, lắp máy Nhật 33 mã lực, với

mã số đăng ký là 3308KG Sau một

thời gian chuẩn bị, ngày 11.3.1971,

thuyền do Bí thư Chi bộ Tư Mau lái,

Tám Sơn làm thuyền trưởng cùng 3

chiến sĩ rời cảng Rạch Giá ra Bắc Trưa

ngày 30.3, tàu cập bến Đồ Sơn Sau khi

nghe Tư Mau báo cáo, Cục Tác chiến,

Bộ Tư lệnh Hải quân trình bày đề án,

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Quân

ủy đồng ý cho Quân khu 9 sử dụng

phương thức vận chuyển “công khai”

Bộ Tư lệnh cung cấp mọi chi phí cho

công tác này Trước mắt gửi cho quân

khu 20.000 đô la Mỹ và 2 triệu tiền Sài

Gòn; đồng thời cho đóng 10 thuyền ở

miền Bắc theo kiểu thuyền đánh cá

Nam Bộ Giao cho hải quân lo bến bãi

ở miền Bắc, chọn các đồng chí là người

miền Nam lớn tuổi, có kinh nghiệm đi

biển ở Đoàn 125 tăng cường cho đội

thuyền Quân khu 9 Quân ủy không

đồng ý chọn đảo Nam Du làm điểm

trung chuyển hàng vì ở đó dân qua lại

làm ăn nhiều, dễ bị lộ Giao cho Bộ Tư

lệnh Hải quân chọn 5 điểm ở quần đảo

phía vịnh Thái Lan và Malaysia, cho

tàu chở hàng từ Bắc vào đó, rồi Quân

khu 9 đưa thuyền hợp pháp ra chuyển

vào bờ” Ngày 28.4.1971, thuyền đánh

cá do Tư Mau làm chính trị viên cùng 4

thuyền viên rời vịnh Hạ Long mang

theo vũ khí vào chiến trường Đoàn 125

cử tàu V605 do thuyền trưởng Nguyễn

Đình Phồn chỉ huy đi hộ tống Đội thuyềnqua đảo Hải Nam, rồi đến Hoàng Sa thì đượclệnh quay lại để chuẩn bị thêm Ngày 27.6tiếp tục ra biển, lần này không có tàu hộtống Ngày 7.7, đội thuyền đã cập cảng RạchGiá an toàn Sau đó bằng phương thức địchkhông ngờ tới này, anh em còn đi nhiềuchuyến thành công nữa

Để hoạt động công khai, cuối tháng7.1972, Tư Mau trong vai một nhà tư sản đếnmua căn nhà số 27/20 đường Âu Dương Lân,phường Rạch Ông, quận 8, Sài Gòn Lấy danhnghĩa là một gia đình chủ tàu đánh cá, Tư Mauxin giấy phép thành lập Công ty Việt Long,chuyên chở hàng thuê đi miền Trung, mua bánthuyền đi biển, máy cũ và cây cảnh Đoàn 371

đã mua các thuyền SG66, SG67, SG158,SG159 để vận chuyển vũ khí và mua 3 thuyềnvận tải VT235, VT254, 2674KG để đi làmkinh tế kết hợp nghi trang che mắt địch Công

ty còn mướn thợ đóng 2 chiếc tàu ở Biên Hòatrọng tải 120 tấn, 500 mã lực có gắn máy lạnh.Công ty có 10 kho cất giấu vũ khí, hàng hóa ởngay Sài Gòn Thời gian này Công ty ViệtLong (tức Đoàn 371) thường xuyên tổ chứcmỗi chuyến 2 thuyền, có lần 3 thuyền ra vịnh

Hạ Long nhận vũ khí, mỗi lần từ 15 đến 27 tấn

về bến an toàn Bến giao hàng cũng được điềuchỉnh Ngoài bến Đông Cùn, Đoàn 371 mởthêm Bến Hố, Cà Mau, Trà Vinh Cơ sở củađoàn mở rộng từ Rạch Giá đến duyên hải TràVinh, Vũng Tàu, Sài Gòn và Long Hải (BàRịa) Đoàn 125 ở Bắc có nhiệm vụ tiếp đóncác đội công tác, sửa chữa tàu thuyền, chuyển

Trang 25

giao hàng và hộ tống thuyền của đoàn

qua các vùng biển phức tạp

“Thay đổi hẳn gương mặt tôi”

Sau vụ phản bội của Ba Tam (tức

Nguyễn Văn Rớt, một cán bộ của văn

phòng công ty, vốn là em trai của một

cán bộ Tỉnh đội Bến Tre), Đoàn 371 bị

tổn thất nặng nề 100 cán bộ và công

nhân bị bắt, văn phòng ở Sài Gòn và một

số thuyền bị địch tịch thu May thuyền

vẫn còn lại 5 chiếc, trong đó 4 chiếc

đang ở miền Bắc với 23 người, trong đó

có 3 cán bộ chỉ huy là Tư Mau, Mười

Thượng, Mười Khanh; một thuyền ở Bến

Hố không bị lộ, lực lượng ở các bến vẫn

còn đầy đủ Quân khu 9 điện cho biết,

bọn phản bội đã cung cấp cho địch nhân

dạng Tư Mau Vì thế Tư Mau đề nghị:

“Thay đổi hẳn gương mặt tôi” Theo nhà

văn Nguyên Ngọc thì Tư Mau phải đi

phẫu thuật chỉnh hình ở Bệnh viện 108

Mổ chân mày từ cong, dài, làm cho

thẳng và ngắn lại Mũi bạnh ra, miệng

cũng rộng hơn Khi vết mổ đã lành, Tư

Mau về gặp đồng chí Lê Đức Anh ở Bộ tổngtham mưu Tư Mau hỏi: “Anh coi tôi có kháckhông?” Ông Lê Đức Anh lắc đầu: “Mình vẫnnhận ra mà! Chưa được đâu” Thế là Tư Maulại vào Bệnh viện 108, cắt sườn non độn chomũi cao lên Bứng hết cả da đầu, xoay ngượcmái tóc từ trước ra sau Đốt má cho đầy tànhương Đốt cả đầu ngón tay để làm biến dạngdấu vân tay Lần này về Bộ tổng tham mưu,ông Lê Đức Anh không nhận ra được, Tư Maulên đường về Nam theo đường Trường Sơn Một thời gian sau ở Sài Gòn xuất hiện một nhà

tư sản mới, chủ vựa cá Sáu Thuận Và nhữngđoàn thuyền hợp pháp lại ra Bắc chở vũ khívào cho Quân khu 9 cho đến năm 1975 Bằng phương thức hoạt động công khainày, từ đầu năm 1972 đến cuối năm 1973,Đoàn 371 đã thực hiện 37 chuyến ra Bắc, chở

600 tấn vũ khí, hàng hóa, thuốc chữa bệnh vàochiến trường Nam Bộ an toàn, bí mật Đặcbiệt, đoàn còn chở những cán bộ cao cấp làđồng chí Sáu Nam (Lê Đức Anh) ra Bắc vàSáu Dân (Võ Văn Kiệt) từ Bắc vào Nam tuyệtđối an toàn

Kỳ 5: Những vị khách đặc biệt

Ngày 21-09-2011

14 năm hoạt động (từ 1961 - 1975), trên các chuyến đi “xẻ dọc biển Đông” của những con tàu không số còn có hàng ngàn vị khách, đó là các sĩ quan quân đội đi chiến trường; cán bộ các bộ, ngành, hội đoàn đi xây dựng vùng giải phóng.

Trong số hàng ngàn người đó, có

những vị khách rất đặc biệt: Võ Văn

Kiệt, Lê Đức Anh và bà Nguyễn Thụy

Nga (tức Bảy Vân, người vợ miền Nam của ông

Lê Duẩn) Ngoài ra còn có bác sĩ Bảy Thủ, Bộtrưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời miền Nam

Trang 26

Việt Nam; Nguyễn Thiện Thành, giáo

sư - bác sĩ Bệnh viện Thống Nhất

Các vị khách đặc biệt này đi vào Nam

bằng tàu không số, trong thời gian

biển Đông bị tàu chiến, máy bay Hạm

đội 7 của Mỹ và hải quân Sài Gòn

phong tỏa dữ dội nhất

Có lẽ người phụ nữ Việt Nam

vào Nam bằng tàu không số sớm nhất

là bà Nguyễn Thụy Nga, lên đường

vào ngày 5.1.1965

Chuyến tàu không số ấy mang bí

danh 69 do thuyền trưởng Nguyễn

Hữu Phước quê ở Long Thạnh, Bạc

Liêu chỉ huy Đi cùng bà Nguyễn

Thụy Nga còn có 4 đại tá quân đội và

nhiều tấn vũ khí chi viện cho chiến

trường miền Nam Lịch trình là 7

ngày, nhưng lệnh từ trung ương là nếu

Hạm đội 7 Mỹ chặn đường thì phải

quay lại Đã 3 lần chỉ huy sở gọi lại,

nhưng may chỉ phải dừng ở đảo Hải

Nam một lần Sau chuyến đi nhiều

sóng gió, tàu đã cập bến an toàn

Theo ấn phẩm Lịch sử đường Hồ

Chí Minh trên biển sắp xuất bản, ngày

9.7.1973, tàu chở ông Sáu Dân (Võ

Văn Kiệt), lúc đó là Bí thư Khu ủy

Quân khu 9, từ miền Bắc trở lại Nam

Bộ Sau khi được tàu của Đoàn 125

chở từ Hải Phòng sang đảo Hải Nam,

ông Sáu Dân chuyển sang chiếc thuyền

đánh cá SG159 của Đoàn 371 do Thôi

Văn Nam làm thuyền trưởng Vì chở

“khách đặc biệt” nên trong chuyến này có cả TưMau, Đoàn trưởng 371, cùng đi Tới vùng biểnCam Ranh thì thuyền bị rò nước phải ghé vào Cà

Ná để sửa chữa Trong vai một thương gia ở miềnNam, ông Sáu Dân cùng “đội thuyền đánh cá” cóđầy đủ giấy tờ hợp lệ, nên sau khi sửa xong, contàu tiếp tục hành trình về cập bến Vàm Hố ở CàMau an toàn

Cuối tháng 11.1973, Đoàn 371 được giaonhiệm vụ chở ông Sáu Nam (tức Lê Đức Anh),lúc đó là Tư lệnh Quân khu 9, từ Nam Bộ ra

miền Bắc công tác Đây là một chuyến đi vôcùng gian khổ và trắc trở, suýt không thành

Để an toàn, Đoàn 371 đã bố trí hai con tàucùng đi, do Đoàn trưởng Tư Mau trực tiếp chỉhuy, ông Lê Đức Anh đóng vai người phụ bếp.Thuyền SG159 chở ông Lê Đức Anh và Tư Mau

do thuyền trưởng Thôi Văn Nam điều khiển.Thuyền SG158 làm nhiệm vụ hộ tống do NguyễnSơn làm thuyền trưởng cùng với 5 thuyền viên

18 giờ ngày 26.11, hai thuyền rời bến Vàm Hố(Cà Mau) ra khơi Đêm đến, gặp sóng gió lớn,

Ông Lê Đức Anh tại Lộc Ninh (thứ hai từ phải sang)

Trang 27

thuyền SG159 bị sự cố nước tràn vào

nhiều Để đảm bảo an toàn, Tư Mau

báo cáo và đề nghị ông Lê Đức Anh

chuyển sang tàu SG158 Còn Đoàn

trưởng Tư Mau ở lại thuyền cùng anh

em vừa bơm vừa tát nước ra Trưa

ngày 27.11, khi thuyền ở ngoài khơi

tỉnh Trà Vinh, mọi người thấm mệt,

nước vào ngày càng nhiều Không thể

khắc phục được, Đoàn trưở ng Tư Mau

đành ra hiệu cho tàu của Nguyễn Sơn

cập mạn để mọi người chuyển qua

thuyền SG158 Còn thuyền SG159

không người lái, nước vào đầy, chìm

dần xuống biển Thuyền SG158 cũng

bị rò nước, nhưng ít hơn Người thì

đông mà thuyền chỉ có một chiếc Chi

bộ hội ý quyết định 5 người ở lại,

những anh em khác tiếp tục đưa ông

Lê Đức Anh ra Bắc Thế là phải ghé

vào bãi ngang Long Hải (Vũng Tàu)

để sửa chữa thuyền và đưa bớt người

371 ở Sài Gòn Nhằm tìm ra tung tích của TưMau và Sáu Nam, địch tra tấn anh em rất dã man.Không ai dặn trước, tất cả đều khai là Tư Mau vàSáu Nam đi về miền Tây Nam Bộ để đánh lừa sựtruy tìm của địch Sau đó, khi biết là thuyền của

ta ra Bắc, địch cho tàu hải quân chặn bắt thuyềnchở “đầu sỏ Việt Cộng”, nhưng đã muộn Lúc đó,ngày 6.12.1973, thuyền chở ông Sáu Nam đã đếnngang Nha Trang, cách đất liền 170 hải lý 17 giờngày 8.12, SG158 tới cảng Hậu Thủy, Hải Nam,Trung Quốc Ngày 11.12, tàu của hải quân đưaông Sáu Nam và Tư Mau về miền Bắc Việt Namtrong sự vui mừng, xúc động của mọi người.Trước đó, không bắt được liên lạc, nên mọingười cứ nghĩ sau vụ phản bội của Ba Tam,thuyền chở Sáu Nam cũng đã bị bắt

Kỳ 6: Hoàng thân trên tàu không số

Ngày 22-09-2011

Ông là chắt nội của vua Hiệp Hòa, vị

vua thứ 6 triều Nguyễn Bố ông là hoàng

thân Bửu Trác, một vị đại thần, Thống

chế nhất phẩm triều đình…

Ngày 15.2.1965, tàu 143 chở 63 tấn vũ

khí vào Vũng Rô bị lộ Cùng thời gian, còn

có 5 tàu trên biển Đông nhưng chỉ có 3 đưa

được hàng vào Bạc Liêu; còn tàu sắt 176,tàu gỗ 401 trên đường đi đến ngoài khơiTrà Vinh và Bạc Liêu thì bị địch phát hiện,cho tàu chiến và máy bay bám rất sát, nên

Sở chỉ huy đã lệnh cho quay trở lại miềnBắc Cả đi và về mất 2 tháng lênh đênh tr ênvùng biển quốc tế, và trong chiếc tàu sắt

Trang 28

176 ấy có một người nguyên là hoàng thân

triều Nguyễn tên Vĩnh Mẫn

Lý lịch gốc của ông vẫn ghi rõ tên Phan

Thắng (tức Vĩnh Mẫn), sinh năm 1931, chắt

nội của vua Hiệp Hòa, vị vua thứ 6 triều

Nguyễn Bố ông là hoàng thân Bửu Trác,

một vị đại thần, Thống chế nhất phẩm triều

đình, con của hoàng tử trưởng Ưng Bác,

được coi là người kế vị ngôi vua, lại là một

người kháng Pháp Ông Bửu Trác đã đòi

phế truất Bảo Đại khi vua Khải Định vừa

trút hơi thở cuối cùng Vì thế ông bị bắt, bị

tước hết chức tước, tôn tịch, bị đày lên nhà

tù Lao Bảo Sau đó ông được ân xá Triều

đình Huế mời ông ra tham chính, nhưng

ông từ chối và đứng ra lập Hội An Nam

Phật học

Ông Bửu Trác đã hướng cả nhà mình

theo Việt Minh Các con ông như Vĩnh Tập,

Công Tằng Tôn Nữ Băng Tâm, Vĩnh Mẫn

đều theo Việt Minh rất sớm Chị Băng Tâm

hoạt động trong đường dây của Thành ủy

Huế, trên đường công tác lên chiến khu bị

địch bắn, hy sinh năm 1951 Vĩnh Tập ở

trung đội 9, đơn vị đặc biệt của tiểu đoàn

Tiếp phòng quân Thuận Hóa Đêm 2.1.1946,

trung đội trưởng Nguyễn Mạnh Giao và

chính trị viên Vĩnh Tập đã dẫn phân đội 9

gồm 17 chiến sĩ tấn công quân Pháp cố thủ

trong nhà hàng Chaffanjon (số 5 đường Hà

Nội, TP Huế bây giờ) Cuộc chiến đấu

không cân sức diễn ra vô cùng ác liệt

Trung đội cảm tử quân Vệ quốc đoàn

đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, cuối

cùng các anh bị quân Pháp phun xăng thiêucháy Năm 1992, khi đào móng xây nhàtrên đường Hà Nội, người ta đã tìm thấy 17

bộ hài cốt cùng các kỷ vật trung đội cảm tửquân 9, trong đó có khẩu ru-lô và con daogăm của anh Vĩnh Tập thường mang khichiến đấu Còn Vĩnh Mẫn mới 14 tuổi đã đitheo Việt Minh ở trong đội trinh sát thiếuniên Giải phóng quân, với hơn 20 đồng đội,hằng ngày chạy liên lạc đưa mật lệnh, tintức chỉ huy khắp các đơn vị của Vệ quốcđoàn Vĩnh Mẫn là bạn thân của PhùngQuán trong đội trinh sát thiếu niên ấy Cuộcchiến đấu của họ đã được Phùng Quán táihiện lại một cách bi hùng trong tiểu thuyếtnổi tiếng Tuổi thơ dữ dội

Năm 1948, Vĩnh Mẫn được đặt l ại tên

là Phan Thắng và được kết nạp vào ĐảngCộng sản Học xong khóa V trường lụcquân Trần Quốc Toản, ông được giữ lạitrường dạy học Năm 1951, được phâncông Nam tiến, đi bộ 8 tháng vào miềnĐông Nam Bộ, được anh Ba Trà (Trần VănTrà) và Bảy Thuận (Nguyễn Đức Thuận,tác giả cuốn Bất khuất nổi tiếng) giao làmđại đội phó, sau đó làm chính trị viêntrưởng đại đội Đại đội này hoạt động cả ởchiến trường Campuchia, sau đó về SaĐéc Năm 1954 Phan Thắng tập kết ra Bắc,trở lại trường Lục quân học khóa 10, s au

đó vì có kinh nghiệm ở miền Nam nênđược ở trong Ban Công tác đặc biệt: Ban

đi B Tháng 2.1965, ông đi tàu không sốvào Nam Bộ công tác, nhưng tàu phải quay

Trang 29

lại và được Tổng cục Chính trị phân công

làm Trưởng ban tuyên huấn D125 Sau

1975, ông về Huế và được phân công làm

Trưởng ban C-K (tức Lào - Campuchia)

Bình Trị Thiên, cũng là một nhiệm vụ

chính trị đặc biệt bấy giờ Năm 1989 ông

nghỉ hưu, về lại ngôi nhà bên sông Hương

của bố mẹ để lại

Vĩnh Mẫn tủm tỉm cười bảo tôi: “Anh

không viết văn viết báo như chú Cái nghề

của anh là cây bút chì và cây kéo Bút chì để

gạch đít và đánh dấu Kéo để cắt tất cả các tài

liệu, bài báo có liên quan đến những vấn đề

mà mình quan tâm Cắt rồi để riêng từng chủ

đề vào từng bì một Thế là cứ đụng đến cái gì

cũng có thể có tư liệu để suy ngẫm, bàn

luận ” Cứ cây bút chì và cây kéo nhỏ, ông

đã đi với D125, với các chiến sĩ tàu không số

suốt bao năm sóng gió cuộc đời Và bây giờ

vẫn thế Trong ông luôn ăm ắp chuyện những

chuyến tàu vượt biển Đông Đầy ắp những

tên bến bãi , kho đổ hàng Ông còn bảo tôi :

“Viết về đoàn tàu không số mà không viết về

những bến bãi thầm lặng ấy thì chỉ mới được

một nửa, vì không có chỗ dựa là lòng dân thìchiến sĩ trên tàu anh dũng mấy cũng vô ích”.Khi tôi báo tin đang viết về ông trongdịp kỷ niệm 50 năm tàu không số, ông giãynảy : “Đừng viết về mình Mình chỉ là người

đi nghiên cứu, chỉ là người “ăn theo”anh emthôi mà! Phải viết về các chiến sĩ và các bếnbãi tiếp nhận hàng ” Nhưng tôi vẫn viết, vìông là một nhân chứng sống Ông đã từngbao lần đứng trước anh em cảm tử quân sắp

xẻ dọc biển Đông đi cứu nước, nói với họnhững điều gan ruột trước khi họ đi vào chốnhiểm nguy Ông chia sẻ chứ không hề răn dạyhay thao thao sách vở Khi đã nghỉ hưu gầnhai chục năm, trải qua bao biến động, ôngvẫn không quên đồng đội, ông là người bôn

ba kết nối để có được Hội truyền thốngđường Hồ Chí Minh trên biển NguyễnHoàng Phát, Nguyễn Văn Lắm, một thời làChính ủy Đoàn 125 tìm về Huế gặp ông; HồĐắc Thạnh, thuyền trường tàu không số xưa,thư từ tâm huyết với ông Ông thuộc từngchuyến tàu, thuộc hoàn cảnh gia đình từngthủy thủ, nên đã cùng với anh em bằng mọicách để đưa con đường mòn trên biển vớinhững con người trên những chuyến tàukhông số ra công khai

Vĩnh Mẫn thuộc lịch sử Đoàn tàu không

số đến nỗi, đã 81 tuổi rồi, thế mà tháng4.2011 vừa rồi, có nhà báo Đức HellmutKapfenberger sang Việt Nam muốn viết vềĐoàn tàu không số thời chống Mỹ, gửi yêucầu đến muốn phỏng vấn lãnh đạo Lữ đoàn

125 Anh em đã gửi 7 câu hỏi của nhà báo

Ông Vĩnh Mẫn (cuối bên phải) với anh em

thuyền trưởng tàu không số

Trang 30

Đức vào Huế cho ông Ông điện bảo anh em :

“Mình không viết, mình sẽ nói kỹ về từng

vấn đề qua điện thoại, bố trí máy ghi âm rồi

ghi ra làm tư liệu mà trả lời cho họ ” Thếrồi ông nói rành rọt, suốt cả buổi sáng vềđoàn tàu không số

Kỳ 7: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, linh hồn của đoàn tàu

Ngày 23-09-2011

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là người ra lệnh mở đường vận tải trên biển từ năm 1959 mà sau này thường gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển” Trong suốt 14 năm, những con tàu không số luôn là mối quan tâm lớn của vị tướng thiên tài.

Tháng 7.1959, Đại tướng, Bí thư Quân

ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho

Bộ Tổng tham mưu thành lập tiểu đoàn Vận

tải thủy 603 làm nhiệm vụ chi viện vũ khí

cho miền Nam, mang tên “Tập đoàn đánh

cá Sông Gianh” Đại tướng dặn đi dặn lại:

“Việc mở đường không được ai biết

Không để lọt vào tay địch một người, một

hiện vật Một mẩu thuốc lá cũng có thể tạo

nên một tang chứng làm hỏng việc lớn ”

Sau vụ tàu vận tải 603 chở 5 tấn vũ khí

vào Hố Chuối dưới chân đèo Hải Vân không

thành, 6 thủy thủ bị địch bắt, phải đổ toàn bộ

vũ khí xuống biển, Đại tướng rất băn khoăn

Đại tướng thay mặt Quân ủy Trung ương chỉ

thị cho Bộ Tổng tham mưu ngưng ngay hoạt

động của “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”,

tìm cách thức vận chuyển mới Đại tướng

nói: “Đường thủy có nhiều khả năng thực

hiện Có thể dùng biện pháp từ trong miền

Nam ra lấy hàng và từ miền Bắc đưa hàng

vào gặp nhau chuyển hàng giữa đường”

Trung tướng Trần Văn Trà, lúc đó là Phó

tổng Tham mưu trưởng được Đại tướng Võ

Nguyên Giáp phân công trực tiếp mở tuyếnvận tải chiến lược Bắc - Nam trên biển.Thế là các tỉnh Nam Bộ, Khu 7, Khu 8khẩn trương tổ chức lực lượng và phươngtiện ra Bắc nhận vũ khí Bến Tre tổ chứcđược 3 đội thuyền ra Bắc, và 2 thuyền đãcập bến Kỳ Anh, Hà Tĩnh vào tháng8.1961 Quân ủy Trung ương chỉ đạo BếnTre không đưa đội thuyền thứ hai ra nữa mà

ở lại để chuẩn bị bến bãi, kho tàng, sẵn sàngđón tàu chở vũ khí vào Các thuyền đầuđóng giả thuyền đánh cá miền Nam vớigiấy tờ, căn cước đàng hoàng Bạc Liêu -

Cà Mau cũng thành lập được 2 đội thuyền,nhưng chỉ một thuyền của Bông Văn Dĩa rađược Bắc, cập cảng Nhật Lệ Trà Vinh cũnglập được một đội thuyền vượt biển, nhưnglạc sang Macau, rồi Trung Quốc, nhờ Đại

sứ quán ta mới về được miền Bắc Bà Rịacũng có thuyền vượt biển, bị lạc vào đảoHải Nam, Trung Quốc, cuối cùng cũng vềđược miền Bắc Ra đến miền Bắc, số cán bộchiến sĩ miền Nam này chính là lực lượng

Trang 31

nòng cốt để Bộ Tổng tư lệnh xây dựng

Đoàn tàu không số - Đoàn 759

Để chắc ăn, Đại tướng đã chỉ thị cho

Bông Văn Dĩa phải trở về thăm dò tình hình

địch và bến bãi ở Khu 9, Cà Mau, rồi ra lại

báo cáo tình hình địch Trung tuần tháng

8.1962, Quân ủy Trung ương họp thông qua

Nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược

trên biển chi viện cho cách mạng miền Nam

Sau khi nghe Trung tướng Trần Văn Trà báo

cáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi: “Liệu

có thể đảm bảo thành công 50% những

chuyến đi không?” Tướng Trần Văn Trà trả

lời: “Đạt 100% thì khó chứ 50% thì tôi chắc

được” Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói

thêm: “Chỉ cần nửa số chuyến đi vào được

bến cũng đã là thắng lợi to rồi!” Thế là nghị

quyết chính thức được thông qua

Và 22 giờ ngày 11.10.1962, chiếc tàu gỗ

đầu tiên được gọi là “Phương Đông 1” cùng

với 13 chiến sĩ do thuyền trưởng Lê Văn Một

và chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, chở

hơn 30 tấn vũ khí rời bến Vạ Sét, Đồ Sơn lên

đường đi Cà Mau Tàu từ Hải Phòng ra hải

phận quốc tế theo tuyến Hồng Kông - Sài

Gòn, Hồng Kông - Thái Lan, đến ngoài khơi

Cà Mau thì chuyển hướng chạy thẳng vào

bến ở các cửa sông theo kế hoạch Tàu không

mang số mà chuẩn bị sẵn rất nhiều biển số

các tàu đánh cá của ngư dân vùng biển miền

Trung và Nam Bộ

Theo kế hoạch tàu sẽ đi 5 ngày Tàu mới

đi 1 ngày, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã sốt

ruột hỏi: “Có tin gì chưa?” Hôm sau lại hỏi:

“Tàu đã đến nơi chưa?” Sau 9 ngày vượtbiển, tàu Phương Đông 1 đã vào đến bếnVàm Lũng, Cà Mau trước sự vui mừng khônxiết của mọi người Ngày 19.10, Bí thư Khu

ủy Khu 9 Phạm Thế Bường điện cho Quân

ủy Trung ương: Tàu đã về đến nơi an toàn Nhận được điện báo, Đại tướng Võ NguyênGiáp mắt nhòa lệ, nói: “ Tính ra theo đườngbiển, tàu chở 30 tấn vũ khí đủ trang bị chomột tiểu đoàn, chỉ đi trong 9 ngày với mộttiểu đội, lợi hơn gấp bao nhiêu lần đường bộ,bằng 1.500 người gùi cõng trên đườngTrường Sơn A trong 5 tháng ” Đó là sựđánh giá, tổng kết rất chính xác

Trong vòng 2 tháng tiếp theo, Đoàn 759

đã thực hiện được 4 chuyến tàu không số vềbến an toàn, đưa được 111 tấn vũ khí vào cungcấp cho Khu 9 Số vũ khí này có thể trang bịcho 2 trung đoàn chủ lực Nếu đi đường bộ,theo cách tính của Đại tướng thì phải mất5.550 người gùi cõng trong 5 tháng Trong lúc

đó, mãi cuối năm 1964, đường Trường Sơnmới vươn đến vùng ba biên giới, chủ yếu chiviện cho Tây Nguyên và vùng giáp ranh Liênkhu 5, chưa thể vào Nam Bộ được

Vì thế, sau khi nghe đề án vận chuyển vũkhí bằng đường biển cho Khu 5, Đại tướng VõNguyên Giáp đã khẳng định : “Đường biển làcon đường duy nhất có thể chi viện cho đồngbằng sông Cửu Long, nên phải giữ cho được

bí mật con đường đó Phải kiểm tra thật kỹ,nắm chắc từng chuyến đi vào Khu 5 Không

để một sai sót nhỏ khiến kẻ địch nghi ngờ ”.Theo chỉ đạo của Đại tướng, Đoàn 759 đã tiến

Trang 32

hành rất nhiều chuyến tàu vào bến Ray (Bà

Rịa), bến Lộ Giao (bãi ngang) Bình Định

Ngày 29.11.1964, tàu 56 do thuyền

trưởng Lê Quốc Thân chỉ huy đã chở 44 tấn

vũ khí cập bến Sông Ray an toàn Số vũ khí

này đã trang bị cho 2 trung đoàn bộ đội chủ

lực để lập nên chiến thắng Bình Giã vang dội

Còn tàu 401 giữa đêm 31.10.1964 bắt được

tín hiệu bến Lộ Giao Đúng lúc đó thì máy

tàu bị hỏng, địa hình trống trải, không có cây

cối che chắn, tàu phải dỡ hàng ngay bờ cát

Tuy hàng được đưa vào chỗ thu giấu thành

công, anh em đã đốt tàu để phi tang, nhưng

khi nghe báo cáo tình hình tàu 401, Đại tướng

đã chỉ thị ngay: “Không sử dụng bến Lộ Giaonữa Phải theo dõi chặt tình hình địch ởquanh khu vực đó và kết luận xem chúng cóphát hiện ra ý đồ của ta không Tìm cách đưahàng vào bến mới ở Phú Yên” Sau khi ngheCục Tác chiến và Bộ tư lệnh Hải quân chọnVũng Rô làm bến đỗ, vì đây sẽ là chỗ khôngngờ nhất đối với Mỹ và quân đội Sài Gòn,Đại tướng ngẫm nghĩ một lúc rồi quyết:

“Đồng ý vào Vũng Rô” Vậy là thuyềntrưởng Hồ Đắc Thạnh (hiện sống ở Tuy Hòa,Phú Yên) đã chỉ huy 3 chuyến tàu vào bếnVũng Rô thành công với 180 tấn vũ khí chochiến trường Khu 5

Kỳ 8: Những anh hùng chưa được tuyên dương

Ngày 26-09-2011

Trên biển không có chỗ ẩn nấp, không có đồng đội ứng cứu, không có nhân dân che chở Thế nên, những người vượt ba bốn ngàn hải lý trên biển Đông để chở vũ khí chi viện cho miền Nam đều xứng đáng là những anh hùng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng

nói: “Chi viện vũ khí cho Nam Bộ duy

nhất chỉ có đường biển” Trên mặt trận

Khu 9, Khu 8, Khu 7 và một phần Khu 5, hầu hết bộđội ta chiến đấu bằng vũ khí do các con tàu không sốchuyển vào Từ năm 1962-1972, đã có gần 200chuyến tàu không số vào Nam, vận chuyển được gần7.000 tấn vũ khí, hàng ngàn lượt cán bộ công tác Chođến năm 2004, có 8 thuyền trưởng được Nhà nướcphong danh hiệu anh hùng Đó là các liệt sĩ NguyễnPhan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, các thuyền trưởng vàtài công Đặng Văn Thanh, Hồ Đức Thắng, Vũ Huy

Lễ, Vũ Phi Trừ, Nguyễn Văn Cúng, Nguyễn ChánhTâm Hiện vẫn còn hàng chục thuyền trưởng lừngdanh, nhiều chiến sĩ các bến bãi đổ hàng vẫn chưađược xét phong tặng danh hiệu gì Họ đang mỗi ngàymỗi già đi, nhiều người đã mất

Má Mười Rìu và con trai Lê Hà

Trang 33

Như má Nguyễn Thị Mười (Mười

Rìu), một tiểu thương ở khu phố Hải

Tân, thị trấn Phước Hải, huyện Long

Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Chồng

má là Lê Văn Rìu đã hy sinh ở Chiến

khu D, không tìm thấy xác Để đưa con

trai và 5 đồng đội bí mật vượt biển ra

Bắc tiếp nhận vũ khí, má đã bán hết tài

sản của gia đình được 8 lượng vàng,

rồi vay bà con không biết bao nhiêu

lượng nữa, giúp cách mạng mua gỗ

đóng thuyền, mua máy chạy ghe, 6 tấn

gạo, 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo nâu,

làm 6 giấy căn cước Chuyến ghe đầu

tiên bí mật vượt biển ra Bắc có 6 chiến

sĩ là Nguyễn Sơn, Thôi Văn Nam, Trần

Văn Phủ, Nguyễn Văn Thanh (tự

Nhung), Võ An Ninh (tự Liễu) và con

trai duy nhất của má là anh Lê Hà

Chuyến tàu đầu tiên về bến Lộc An

ngày 10.3.1963, đem theo 19 tấn vũ

khí Má Mười cùng bà con chuyển vũ

khí từ tàu vào kho Vàm Láng cất giấu

an toàn Từ năm 1963 - 1965, má

Mười tổ chức đón và chuyển trên 50

tấn vũ khí của 3 lượt đoàn tàu không

số, trong đó có chuyến vũ khí chi viện

cho chiến dịch Bình Giã

Con trai Lê Hà của má Mười Rìu là một thuyềntrưởng gan góc Anh đã cùng với các thuyền trưởngvùng đất đỏ Bà Rịa như Nguyễn Sơn, Thôi Văn Namchỉ huy mười mấy chuyến tàu không số cập bến thànhcông Lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 -2011) của Lữ đoàn 125 viết: “ Ngày 12.4.1972,thuyền trưởng Lê Hà và Chính trị viên Nguyễn VănHiệu chỉ huy tàu V645 xuyên qua quần đảo Trường

Sa đi xuống phía Nam chở hàng cho Quân khu 9.Sáng 24.4, khi tàu đang chuyển hướng vào bờ thì gặptàu khu trục của hải quân địch phát hiện, yêu cầudừng máy nếu không sẽ bắn Lê Hà cho tàu chuyểnhướng ra hải phận quốc tế hướng Malaysia và treo cờphản đối 8 giờ 30 phút, tàu địch nổ súng, tất cả cáchỏa lực trên tàu bắn thẳng vào tàu V645 Anh em vừalái tàu cơ động vừa chiến đấu bắn trả Ba đồng chí hysinh, một số bị thương Xích lái bị đứt Khoang chứahàng trúng đạn Nước tràn vào tàu Lê Hà cùng anh

em vừa tát nước vừa bắn trả địch Do mất lái nên contàu chạy vòng tròn Lê Hà và Nguyễn Văn Hiệu quyếtđịnh hủy tàu Lệnh cho mọi người rời tàu trong 30phút Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu ở lại điểm hỏa

Đó là lúc 10 giờ ngày 24.4.1972, một tiếng nổ làmrung chuyển biển trời Chính trị viên Nguyễn VănHiệu và 6 chiến sĩ ta đã anh dũng hy sinh Số còn lại,trong đó có thuyền trưởng Lê Hà bị địch bắt về giam

ở nhà tù Phú Quốc và được trao trả theo Hiệp địnhParis năm 1973”

Loạt bài Huyền thoại đường trên biển sử dụng nguồn tài liệu Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển và Lữ đoàn tàu vận tải quân sự 125 Hải quân do N XB Quân đội Nhân dân sắp xuất bản; sách Có một con đường mòn trên biển Đông của Nguyên Ngọc (NXB Trẻ, 2000), Thuyền

trưởng tàu không số đầu tiên trên biển Đông (Nhật ký Lê Văn Một) (NXB Trẻ, 2006 ), tư liệu cá

nhân ông Phan Thắng (Vĩnh Mẫn) và một số ít t ư liệu của Xuân Ba, Lê Đức Dục, Mã Thiện Đồng

Trang 34

Thế nhưng, theo nhà văn Mã

Thiện Đồng, sau khi được trao trả về

đơn vị, người thuyền trưởng can

trường Lê Hà lại bị khai trừ Đảng, mất

hết cả chế độ quân ngũ , chế độ thương

bệnh binh, về quê nuôi má Mười Rìu

sống qua ngày Tương tự, thủy thủ Lê

Văn Khung đi cùng tàu với thuyền

trưởng Phan Vinh anh hùng trên tàu

235 vào bến Hòn Hèo, Nha Trang

Anh bị địch bắt giam tù ở Phú Quốc

Sau khi trao trả trở về, anh không được

công nhận là thủy thủ D125 nữa

Hay anh Lê Văn Một, người

thuyền trưởng chỉ huy con tàu Phương

Đông I đầu tiên mang hàng về Cà Mau

từ 65 năm trước Anh là người có học,

rất giỏi đi biển Anh từng mang tên Tây

Abel René, là cựu thủy thủ thuộc hải

quân Pháp, lấy vợ Thái Lan tên là

Khiểu Cachi Trong kháng chiến chống

Pháp, anh được chọn vào lực lượng vận

tải vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ, là

thuyền trưởng con tàu không số đầu tiên

cập bến Vàm Lũng, Cà Mau năm 1962

Rồi anh lại làm thuyền trưởn g tàu mang

bí số 41 mở đường đưa vũ khí vào

Đông Nam Bộ cập bến Lộc An, Bà

Rịa Đó là những chiến công mang tính

“mở đường” Lê Văn Một đi tàu không

số mà ghi nhật ký hẳn hoi, sau này Nhà

xuất bản Trẻ in thành sách Anh đã

chiến đấu như một anh hùng giữa biển

khơi đầy bất trắc, nguy hiểm, được

đồng đội yêu mến và kính trọng Lê Văn Một mất năm

1982 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Độclập hạng ba, còn danh hiệu anh hùng thì chưa

Hay Hồ Đắc Thạnh, chỉ riêng việc mở đường đưatàu vào Vũng Rô thành công tới 3 chuyến liền đã xứngdanh anh hùng rồi Ông Thạnh bây giờ đã già, viết thưcho Phan Thanh (Vĩnh Mẫn), ông tâm sự: “Từ đó đếnnay đã 47 năm rồi còn gì Biết bao nhiêu thay đổi Lụcxới lại những vấn đề đó quá khó khăn…” Ngoàinhững người kể trên, còn có hàng chục thuyền trưởng,máy trưởng, chính trị viên tàu không số như NguyễnSơn, Đinh Đạt, Phan Văn Xã, Nguyễn Hữu Phước,Nguyễn Văn Đức, Phan Văn Sạn, Huỳnh Văn Sao,Phạn Nhạn, Dương Văn Lộc, Nguyễn Minh Quang,Thôi Văn Nam, Nguyễn Văn Bé, Dươn g Tấn Kịch,

Võ Hán Chiến công trên biển Đông của mỗi người

có thể viết thành một chương trong bộ sách đồ sộ vềnhững thủy thủ tàu không số Mới đây ông Vĩnh Mẫn

đã cùng đồng đội tàu không số trong Hội Truyền thốngđường Hồ Chí Minh trên biển đã bàn bạc, lập mộtdanh sách đề nghị Lữ đoàn 125, Bộ Tư lệnh Hải quân

đề đạt lên trên xét tặng danh hiệu anh hùng cho cácchiến sĩ tàu không số Vừa qua, Ban Bí thư Trungương Đảng cũng đã ra chỉ thị về việc kỷ niệm 50 nămđường Hồ Chí Minh trên biển vào ngày 23.10 2011sắp tới, với tầm quốc gia như kỷ niệm 50 năm đườngTrường Sơn (năm 2009) Chủ tịch nước đã có chỉ thịcho Lữ đoàn 125 kê khai lập danh sách và bản thànhtích để xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng

vũ trang cho thủy thủ tàu không số Cầu mong nhữngcon người can trường trên biển Đông năm xưa sẽ cóniềm an ủi vào cuối đời

http://www.thanhnien.com.vn/

Báo Thanh niên

Trang 35

Cho đến nay, đã có nhiều bài báo,

phóng sự tài liệu về đồng chí Lê Văn Một,

người thuyền trưởng của chiếc “tàu không

số” đầu tiên mang tên Phương Đông 1.

Nhưng cuộc đời cách mạng của ông còn có

nhiều bí mật, bất ngờ khiến chúng ta đi từ

ngạc nhiên đến khâm phục.

Bắt đầu từ “con đường xuyên Tây”

Lê Văn Một sinh năm 1921, thuộc dòng

dõi gia tộc thủ khoa yêu nước Nguyễn Hữu

Huân đất Tiền Giang Từ lúc lọt lòng, ông

có tên Pháp là Abel René Abel René là

con thứ 11 trong một gia đình giáo học

quốc tịch Pháp có 13 anh em Cha l à Đốc

học Lê Văn Giỏi nổi tiếng đất Mỹ Tho

(Tiền Giang) Cậu bé Abel René từ nhỏ đã

tỏ ra thông minh, sáng dạ, chăm chỉ học tập,

được bố mẹ cho học ở nhiều trường như

Trường Tiểu học Mỹ Tho, Trường Lê Bá

Cang - Sài Gòn rồi ra Hà Nội học ở

Trường Thăng Long

Đến tuổi trưởng thành, Abel René vào

lính thủy, làm “nghĩa vụ” với mẫu quốc

Pháp, là hoa tiêu trên tàu Lamotte Picquet

-tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương

Cách mạng Tháng Tám 1945 là mộtbước ngoặt mới đến với Abel René Luồnggió mới thổi vào đời ông Abel René bừngtỉnh: La france ce n’est pas ma Ptrie! (NướcPháp không phải là quốc mẫu của tôi!) Ôngcùng bạn bè tìm đường theo cách mạng

Thuyền trưởng Lê Văn Một

Trang 36

kháng chiến Abel René đổi tên thành Lê

Văn Một

Tháng 12-1946, cuộc kháng chiến toàn

quốc bùng nổ Lực lượng vũ trang Nam Bộ

“thuốc súng kém, chân đi không” đành phải

lùi dần về Đồng Tháp Mười và rừng U

Minh Ban sưu tầm vũ khí ở nước ngoài

được thành lập Lê Văn Một và 12 người

nữa được đồng chí Năm Phúc (tức nhà lão

thành cách mạng Dương Quang Đông)

chọn vào lực lượng vận tải vũ khí, lên

đường sang Băng Cốc (Thái Lan) bằng ghe

buồm để tìm mua vũ khí và tổ chức con

đường xuyên Tây, vận chuyển vũ khí từ

Thái Lan về Nam Bộ

Lê Văn Một được giao trọng trách

mang theo 25kg vàng, bỏ trong ruột tượng,

ngày đêm cột chặt quanh mình Số vàng

này là kỳ tích của “Tuần lễ vàng” vì lòng

yêu nước của nhân dân quyên góp để mua

vũ khí

Chuyến đầu tiên, Lê Văn Một tổ chức

10 xe bò, 10 voi và lực lượng 70 người, vận

chuyển bằng đường bộ qua Cam-pu-chia về

nước Súng theo voi, đạn đeo lưng người

Trải qua 16 ngày vượt núi, qua sông, địch

luôn luôn ngăn đường, chặn lối, đơn vị vừa

hành quân vừa tác chiến 11 trận trên đất

Cam-pu-chia Đầu tháng 1-1948, đoàn về

đến Nam Bộ với 11 người hy sinh và mất

tích Thấy vận chuyển đường bộ gian khổ ,

hiệu quả thấp, Lê Văn Một tính cách

chuyển sang vận chuyển bằng đường biển

Tuy nhiên, gian khổ, hy sinh vẫn không hề

nhỏ Có lần đoàn vận tải do “cặp đôi” LêVăn Một - Bông Văn Dĩa chỉ huy gặp gióbão, phải ghé vào đảo Phú Quốc để tránh.Gần một tháng nằm tại đây, cả đoàn phảiđào củ chuối rừng ăn cầm hơi Cứ nhưvậy, suốt mấy năm liền, đi đi, về về trênVịnh Thái Lan, đơn vị đã vận chuyển đượchàng trăm tấn vũ khí, hàng hóa về Nam Bộ.Những chiến công thầm lặng đó đã tạo tiền

đề cho ý tưởng vĩ đại m ở con đường HồChí Minh trên Biển Đông

Đến mở đường huyền thoại Hồ Chí

Minh trên biển

Năm 1960, phong trào cách mạng ởmiền Nam phát triển mạnh mẽ, mở đầu làphong trào Đồng Khởi ở Bến Tre rồi lanrộng khắp các tỉnh Nam Bộ Nhu cầu vũkhí cho chiến trường miền Nam rất lớn.Con đường Trường Sơn đang hình thành.Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đãchỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ chuẩn

bị bến bãi và đưa thuyền ra Bắc để nhận vũkhí, đồng thời nghiên cứu con đường vậnchuyển chiến lược trên biển để sử dụng lâudài Từ cuối năm 1961, đầu năm 1962, lầnlượt 6 thuyền gỗ của các tỉnh Bến Tre, CàMau, Bà Rịa, Trà Vinh (trong đó thuyền gỗ

Cà Mau do Bông Văn Dĩa phụ trách) đã rađến miền Bắc an toàn Con đường vậnchuyển trên biển Đông khẳng định là “cóthể đưa vũ khí vào được”

Lê Văn Một lúc đó đang tập kết ngoàiBắc, làm Cảng trưởng cảng Cẩm Phả, đượcđiều chuyển ngay về Đoàn 759 - Bộ Quốc

Trang 37

phòng (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải

quân) chuẩn bị làm nhiệm vụ đặc biệt này,

nhiệm vụ mở đường đưa vũ khí từ Bắc vào

Nam trên những “con tàu không số” Phải

nói rằng cấp trên đã khéo chọn, khéo sắp

xếp một “cặp bài trùng”, Lê Văn Một

-Thuyền trưởng, Bông Văn Dĩa - Chính trị

viên, cùng chung chuyến mở đường, cũng

như họ đã từng kề vai sát cánh trên Vịnh

Thái Lan thời chống Pháp đưa vũ khí về

Nam Bộ Họ đã biết tính nết nhau, tôn trọng

nhau, đoàn kết yêu thương nhau, chèo lái

“con tàu không số” đầu tiên vượt biển Đông

mở đường tiếp viện quan trọng đưa vũ khí

vào miền Nam đánh Mỹ

Ngày 11-10-1961, tại Bến K15, Đồ

Sơn, Hải Phòng (Bến K15 vừa được Bộ

Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng Di

tích cấp quốc gia), con tàu gỗ Phương Đông

1 lặng lẽ nhổ neo ra khơi, hướng về phía

Nam, chở 30 tấn vũ khí, mang theo cả

niềm tin, tình thương của Đảng, của Bác

Hồ, của nhân dân miền Bắc tới đồng bào

miền Nam Chuyến đi mở đường đã thành

công Một lần nữa hai người chỉ huy Lê

Văn Một - Bông Văn Dĩa lại ghi tên mình

vào trang sử vẻ vang của dân tộc

“Người đi lo một, người chờ tin lo

mười”

Phó thủ tướng Phạm Hùng ngày đó đã

căn dặn 12 thành viên con tàu gỗ Phương

Đông 1 trước giờ xuất phát: “Đây là chuyến

đi đầu tiên, nên cực kỳ quan trọng, một việc

hệ trọng và lâu dài, do vậy nếu gặp địch

phải khôn khéo, mưu trí, trường hợp xấuphải hủy hàng, hủy tàu để giữ bí mật conđường, các đồng chí nên nhớ, người đi lomột, người ở lại chờ tin, lo mười ”

Ông Sáu Lai, một trong hai người cònlại của tàu Phương Đông 1, hiện sống tạiCần Thơ, kể lại: “Có lần gặp tàu địch bámtheo hướng chạy của ta, chúng nã pháo dữdội Anh em nhanh trí xổ cả buồm lái vàmũi cho thuyền căng gió lướt trên ngọnsóng Chỉ huy tàu phát lệnh chiến đấu.Toàn tàu xác định, khi cần dùng tốc độvượt lên, để tàu địch phía sau, rồi cho nổbom phá áp tàu giặc, dùng tiểu liên, lựuđạn đánh địch, người lái thì cứ cho tàuchạy thoát Nếu không thoát thì cho nổ 3trái bom còn lại, quyết không để tàu và vũkhí rơi vào tay giặc Một và Dĩa dự kiến,nếu địch bắt cả tàu thì lợi dụng trời tối cắtdây cho anh em bơi vào bờ, còn Một vàDĩa ở lại dùng bom thủ tiêu tàu Một nóivới Dĩa: Nếu phải thủ tiêu để một mình tôithôi! Anh cùng anh em may ra còn sốngsót về Trung ương báo cáo ”

Có lúc, gặp giông bão, tàu nhỏ, chởđầy hàng rất nguy hiểm, không vào bờ, dễ

“chết ở ngoài khơi”, vào bờ dễ “làm mồicho giặc”, Thuyền trưởng Một và Chính trịviên Dĩa phải tính toán cân nhắc đến mứccăng thẳng

Người đi trên biển thì như vậy, người ởnhà chờ tin thì sao? Trung tướng Đồng VănCống, nguyên Cục phó Cục Tác chiến,người trực tiếp theo dõi diễn biến của “con

Trang 38

tàu không số” đầu tiên, kể lại: “Theo kế

hoạch dự kiến đi 5 ngày thì đến Sáng nào

đến giờ giao ban Đại tướng Võ Nguyên

Giáp cũng hỏi: “Thế nào rồi? Có tin tức gì

không?” Tôi sốt ruột lắc đầu, rồi ngày thứ

sáu, thứ bảy, thứ tám cũng không tin tức gì!

Sáng ngày 19-10-1962, tức ngày thứ chín,

Quân ủy Trung ương đang giao ban Tôi

bước vào Đại tướng ngẩng đầu nhìn tôi

đăm đăm Lần này tôi gật đầu, mặt tươi

sáng Đại tướng đứng dậy ôm chầm lấy tôi,

Đại tướng khóc Mừng quá, không sao kể

xiết ”

Chuyến đi thắng lợi, tàu Phương Đông

1 đã cập bến Vàm Lũng - Cà Mau an toàn

sau 9 ngày lênh đênh trên Biển Đông

Một năm sau, Lê Văn Một lại được cử

làm thuyền trưởng tàu gỗ 41, đưa vũ khí vào

miền Đông Nam Bộ, mở bến Lộc An (Bà Rịa

- Vũng Tàu) ngay trước đồn Phước Hải, đêm

3-10-1963 Đây là một chuyến đi gian khổ bởi

tàu bị mắc cạn ngay trước đồn địch Lê Văn

Một đã ứng xử rất linh hoạt, thông minh, bảo

đảm đưa hàng tới bến an toàn Hai chuyến đi

này đều ghi những dấu ấn đặc biệt trong hành

trình vận chuyển vũ khí bằng đường biển của

những “con tàu không số” Đây là những

chuyến mở đường, vào bến mới, đầy khó khăn

và thử thách Bằng kinh nghiệm đi biển, bản

lĩnh dày dạn, đặc biệt là tinh thần quả cảm

“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Thuyền

trưởng Lê Văn Một đã xử trí rất thông minh

nhiều tình huống phức tạp trong hiểm nguy và

hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Lê Văn Một mất năm 1982 Chiến côngcủa ông đã được ghi trong Lịch sử Hải quânnhân dân Việt Nam, được đánh giá caotrong tập chuyên khảo mang tên “Đường

Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu”

do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nộixuất bản năm 1993 Ba năm sau ngày ôngmất, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp vớigia đình tổ chức cuộc họp mặt, đánh giácông lao đóng góp của ông trong sự nghiệpchống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là thành tíchđóng góp cho việc mở đường, vào nhữngbến mới trên con đường Hồ Chí Minh trênbiển Ông được Nhà nước công nhận liệt sĩ

và truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba

vì những đóng góp của ông vào sự nghiệpcách mạng của Đảng và của dân tộc

Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến c ônganh hùng của tập thể tàu Phương Đông 1

mà người chèo lái con tàu đó là Thuyềntrưởng Lê Văn Một và Chính trị viên BôngVăn Dĩa, những con người đã dũng cảm đitiên phong, “khai sơn phá thạch” một conđường, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước, mởđường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồkính yêu sẽ mãi đi vào lịch sử đấu tranh anhdũng kiên cường của dân tộc ta, trở thànhhuyền thoại mãi mãi không bao giờ nhạtphai trong tâm trí chúng ta, làm rạng rỡthêm truyền thống anh hùng của Hải quânnhân dân Việt Nam

Trang 39

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Ngày 07-10-2011

Đại tá Trần Văn Tú – cán bộ Ban

liên lạc truyền thống “Đường Hồ Chí

Minh trên biển” giới thiệu với chúng

tôi một cách trân trọng và cảm phục

về một người thuyền trưởng đã tham

gia chở vũ khí vào miền Nam từ

những ngày đầu trên con đường biển

mang tên Bác Người đã chỉ huy

chuyến tàu sắt đầu tiên, có 10 chuyến

đi thành công, một con số thật đáng

nể phục trong những năm tháng khó

khăn, ác liệt bởi sự phong tỏa gắt gao

của kẻ thù Theo lời giới thiệu, chúng

tôi tìm đến phường Đằng Hải, quận

Hải An, thành phố Hải Phòng gặp

ông Ông là Nguyễn Ngọc Ảnh,

Thuyền trưởng của những con tàu

không số năm xưa.

Làng Lũng những ngày đầu tháng

Tám, đúng tiết ngâu, mưa bay lất phất

Những hạt mưa gợi lại bao ký ức xa

xưa, trong không gian thoáng đãng còn

phảng phất hương thơm của làng hoa

lâu đời Ông ngồi đó, đối diện với tôi, ở

tuổi 80, ông không được khỏe lắm,

ngoại trừ đôi mắt sáng và minh mẫn

Ông là đồng hương của Nguyễn

Phan Vinh, Nguyễn Tương và Nguyễn

Văn Hiệu những người con ưu tú đất

Quảng Nam anh hùng đã ra đi cùng

những huyền thoại về Đoàn tàu không

số vượt sóng gió ra khơi trong những đêm đen,bão gió, đưa vũ khí về miền Nam Đó cũng lànhững ngày tháng có ý nghĩa nhất trong cuộcđời ông Ông tự hào về điều đó 10 chuyến đi là

10 chuyến an toàn, 10 chuyến thành công

Nguyễn Ngọc Ảnh tập kết ra Bắc năm

1954, làm cán bộ trong ngành đường sắt, tuyếnđường Hà Nội - Lào Cai; sau đó chuyển về Nhàmáy dệt Nam Định, rồi học lớp Sơ cấp Hàng hải

và được điều về làm Thuyền trưởng tàu đánh cácủa Xí nghiệp đánh cá Hạ Long Trước yêu cầuvận chuyển đường biển chi viện cho chiếntrường miền Nam, đầu năm 1962 ông và một sốanh em trong Xí nghiệp đã nhập ngũ vào Đoàn

759 - tiền thân Đoàn 125 sau này

Chuyến đầu tiên ông tham gia chở vũ khívào miền Nam là chuyến tàu sắt, do Xưởngđóng tàu III đóng Đây là lần đầu tiên thửnghiệm con tàu do ta đóng và cũng là lần thửnghiệm cho một tuyến đi mới của đơn vị

- Khi nhận con tàu sắt còn nguyên mùi sơnmới, anh em rất phấn khởi, nhưng không khỏi

lo lắng vì chưa kịp tìm hiểu kỹ các tính năngcủa tàu đã nhận lệnh lên đường Trước đó, năm

1962 ta đã sử dụng các tàu gỗ gắn máy chở vũkhí vào miền Nam, loại tàu này chỉ đi sát bờ,không ra biển xa được An toàn đấy nhưng hiệuquả vận chuyển thấp Trước yêu cầu phát triểncủa cách mạng miền Nam, phải có những contàu vận chuyển tốt hơn, trọng tải lớn hơn và đibiển trong mọi thời tiết Con tàu này có trọng

Trang 40

tải 50 tấn, lắp máy của Cộng hòa Dân

chủ Đức - loại máy tốt nhất lúc bấy giờ

Tàu chịu được sóng cấp 7, cấp 8, mớn

nước nông, có thể ra vào dễ dàng các

kênh rạch ở Đồng bằng Nam Bộ

Ngày 17-3-1963, từ bến K20-Hải

Phòng chúng tôi lên đường Đồng chí

Đạt - Phân đội trưởng tàu tuần tiễu

được điều sang là m Thuyền trưởng, tôi

là Thuyền phó, đồng chí Nguyễn Văn

Tiến nguyên là thành viên của đội tàu

Bến Tre ra Bắc hai năm trước làm

Chính trị viên

Buổi chiều mùa đông hôm đó trời u

ám, mây vần vũ xám xịt, sóng gió cấp 7,

cấp 8 Tàu ra khơi Phải đi vào những

ngày sóng như vậy, nguy hiểm đấy,

nhưng mới an toàn vì ít chạm tàu địch

Ông Ảnh ít cười khi nói chuyện, có

một nỗi buồn nào đó phảng phất trong đôi

mắt mở to đau đáu kia Sự suy tư hay

những ký ức xưa hiện về trong buổi trò

chuyện này? Lặng im một lát, ông kể tiếp:

- Trong đêm tối mịt mùng, càng ra

khơi sóng mỗi lúc càng to Gió thổi ràn

rạt Mặt biển tím sẫm Thiết bị quan sát

chỉ có 1 la bàn lái chính, 1 la bàn chuẩn ở

trên cao để quan sát trăng sao, núi non

Chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm đi biển

Tàu đi về hướng đảo Hải Nam, vượt qua

Đông Nam quần đảo Hoàng Sa, Trường

Sa… hướng về phía Nam Qua mấy ngày

đêm vật lộn với sóng gió, tuy rất mệt

nhưng ban chỉ huy tàu vừa phải bảo đảm

công tác chỉ huy, vừa phải quan sát chi tiết những

vị trí, nhận dạng trên đường, làm tiền đề chonhững chuyến sau Sóng gió quần dữ, anh emthủy thủ mệt nhoài vì say sóng Bụng đói, thèmmột chút cháo nóng mà nồi cháo cứ đổ nước vào,mỗi lần tàu nghiêng lại hất tung cả bếp, cả cháo

ra Phải đi biển mới biết nấu ăn trên tàu khi sónglớn cực đến mức nào, không kiên nhẫn chắckhông làm nổi Anh Trần Lộc, người QuảngNam, có sáng kiến nắm chặt hai quai nồi và nhấclên mỗi khi tàu lắc mạnh Vậy mà mấy tiếng saucũng được nồi cháo cầm hơi Vượt qua đảo CùLao Thu, tàu hướng thẳng vào c ửa Ba Động Khibắt được tín hiệu, chuẩn bị vào bến thì bất ngờđược tin báo địch tổ chức càn quét, vây hãm khuvực này, chúng tôi chuyển hướng sang bến BátSát, nay là cửa Hàm Luông (Trà Vinh)

Vòng vèo mãi theo con thuyền nhỏ dẫnđường lặng lẽ, mập mờ phía trước, chúng tôi chotàu vòng xuống bến, đó là đêm 23 rạng ngày 24 -3-1963 Đang chạy, bỗng tàu khựng lại! Tàu bịsục cạn Mọi cố gắng của chúng tôi đều bất thành.Chi bộ hội ý chớp nhoáng quyết định cho anh em

Cảnh quay tàu không số bị địch phát hiện, tấn công

trong phim "Đường Hồ Chí Minh trên biển - Đoàn

tàu không số" (đạo diễn Xuân Cường).

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w