Tài liệu “Huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển” này là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả viết về Đường Hồ Chí Minh trên biển trong năm 2011. Các bài viết trong tài liệu được sắp xếp và bố cục thành 3 phần với 3 chủ đề chính, đó là: Đường Hồ Chí Minh trên biển - kỳ công của dân tộc, huyền thoại đường trên biển, chân dung các thuyền trưởng tàu không số. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1PHẦN I:
Đường Hồ Chí Minh trên biển
- kỳ công của dân tộc
Đường Hồ Chí Minh trên biển mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí quyết tâm
thống nhất đất nước
Ngày 24/10/2011
Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tại Hải Phòng ngày 21-10, Chủ tịch nước
Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu khai
Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước,
Chính phủ, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng
thể Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường
Hồ Chí Minh trên biển, con đường huyền
thoại, một sáng tạo độc đáo của Đảng, quân
đội và nhân dân ta, con đường đã góp phần
quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc
ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước vàMặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửitới các vị đại biểu, các vị khách quý, cùngtoàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cảnước lời chúc mừng tốt đẹp nhất
Thưa đồng bào, đồng chí, và chiến sĩ cả nước!
Sau năm 1954, với âm mưu chia cắt lâudài đất nước ta, các thế lực cầm quyền của
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu khai mạc
Trang 2đế quốc Mỹ và tay sai đã ngang nhiên xóa
bỏ hiệp định Giơ-ne-vơ, đưa quân xâm
lược, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu
mới và căn cứ quân sự, làm bàn đạp tấn
công miền Bắc Trước tình hình đó, Đảng
ta đã xác định, con đường giải phóng miền
Nam là con đường cách mạng bạo lực, chủ
trương, nhanh chóng tổ chức chi viện sức
người, sức của, vũ khí từ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa cho chiến trường miền Nam
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và
Quân ủy Trung ương, cùng với việc tổ
chức Đoàn 559 mở tuyến vận tải trên bộ,
vượt qua dãy Trường Sơn; sau khi nghiên
cứu, thử nghiệm và chuẩn bị về mọi mặt,
ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết
định thành lập Đoàn Vận tải quân sự 759,
mở tuyến đường chiến lược quan trọng
Đường Hồ Chí Minh trên biển để vận
chuyển người và vũ khí đến các chiến
trường xa ở miền Nam, những nơi mà
đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn
chưa thể vươn tới Từ đây cho đến ngày
toàn thắng, trong suốt 14 năm (từ năm
1961 cho đến năm 1975), trên con đường
Hồ Chí Minh trên biển, cán bộ, chiến sĩ
Đoàn 759, Đoàn 125 Quân chủng Hải quân
trên những con tàu không số đã lập nên
những kỳ tích anh hùng
Những con tàu thô sơ, nhỏ bé, chở nặng
vũ khí đã bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo,
dũng cảm vượt qua mọi sóng to, gió lớn,
bão táp của biển cả, vượt qua sự ngăn chặn,
bao vây, lùng sục của lực lượng hải quân,
không quân hùng hậu với hệ thống quan sát,cảnh giới từ xa và vũ khí hiện đại của Mỹ,ngụy để đi đến các chiến trường Mỗichuyến đi là mỗi lần quyết tử, một cuộc đấutrí căng thẳng, vừa bình tĩnh mưu trí, quảcảm đánh lừa địch để đến đích an toàn, vừasẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy sinh,nhiều khi phải phá hủy cả con tàu để bảo vệ
bí mật đường vận chuyển Địch ngăn chặntuyến này, bến này, ta mở ra tuyến khác,bến khác Địch phát hiện ra cách thức vậnchuyển này, ta tìm ra phương thức vậnchuyển khác Hàng trăm lượt tầu đã ra khơi,
về đích; hàng ngàn tấn vũ khí, khí tài, hànghóa, thuốc chữa bệnh, hàng chục ngàn cán
bộ chiến sỹ đã từ hậu phương lớn được đưavào tiền tuyến lớn, đáp ứng kịp thời cho cácchiến trường Nam bộ, Nam Trung bộ, Khu
5, góp phần cùng quân và dân ta đánh thắngmọi chiến lược chiến tranh của kẻ địch, đưacuộc kháng chiến sống Mỹ, cứu nước vĩ đạicủa nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.Năm tháng sẽ qua đi, nhưng Đường HồChí Minh trên biển mãi mãi là niềm tự hàocủa quân đội ta, nhân dân ta, là biểu tượngsáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, của trí thông minh, lòng dũng cảm, ýchí sắt đá, quyết tâm giành độc lập, tự do,thống nhất đất nước của dân tộc ta
Đường Hồ Chí Minh trên biển, conđường vận tải bí mật, bất ngờ, có ưu thế vềthời gian, hiệu quả và khả năng vận chuyểnsâu vào các chiến trường xa, là một sángtạo độc đáo, đặc sắc, thể hiện tầm nhìn
Trang 3chiến lược, tài thao lược của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Ban lãnh đạo tối cao của
Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong nghệ
thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng, kế
thừa và phát huy truyền thống đánh giặc
anh hùng của ông cha ta trong thời đại mới
Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện
quyết tâm, ý chí “không có gì quý hơn độc
lập, tự do", khát vọng cháy bỏng dù có phải
đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành
cho được độc lập, tự do, thống nhất của dân
tộc ta, không một khó khăn, trở ngại nào,
không một kẻ thù nào có thể ngăn cản
được Đó cũng là biểu hiện sáng ngời của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân
dân ta, đặc biệt là của cán bộ, chiến sỹ
Đoàn 759, Đoàn 125, Hải quân nhân dân
Việt Nam anh hùng, ròng rã 14 năm đã bền
bỉ, mưu trí dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì
nghĩa lớn Trong đó, nhiều đồng chí cùng
với con tầu đã mãi mãi ở lại với biển cả, với
non sông đất nước, tô thắm thêm truyền
thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt
Nam anh hùng Tổ quốc mãi mãi ghi công,
đời đời ghi nhớ những hy sinh cao cả của
các đồng chí và biết bao đồng bào, chiến sỹ
đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do, thống
nhất đất nước
Đường Hồ Chí Minh trên biển còn là
biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết quân
-dân thắm thiết, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp
nhàng giữa những con tàu không số với
nhân dân những vùng bến, bãi nơi có con
tàu đến Sự chở che, chăm sóc nuôi dưỡng
với tình cảm yêu thương sâu sắc của nhândân các địa phương với cán bộ, chiến sỹ tàukhông số, tiếp thêm nghị lực, sức mạnh chocác chiến sĩ trong cuộc chiến đấu vô cùnggian khổ, ác liệt; là biểu tượng sáng ngời vềtinh thần đoàn kết quốc tế cao cả Để nhữngcon tàu không số giữ được bí mật, bất ngờ,vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm đến đích
an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,chúng ta nhận được sự giúp đỡ chí tình củacác nước xã hội chủ nghĩa anh em và bạn
bè quốc tế, nhất là của Liên Xô, TrungQuốc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãimãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, nhữngnghĩa cử cao đẹp đó
Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,
Ngày nay, đất nước ta đã hòa bình,thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổimới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dângiầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa
Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề rađường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốctrong kế hoạch 5 năm 2011 - 2015; chiếnlược 10 năm 2010 - 2020 với mục tiêu giữvững ổn định chính trị xã hội, độc lập, chủquyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, đưa đất n ước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020 Thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ,
Trang 4mục tiêu Đại hội XI của Đảng đề ra đòi hỏi
sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Những
bài học kinh nghiệm, những hy sinh cao cả
và chiến công oanh liệt của cán bộ, chiến sỹ
và nhân dân ta trên con đường Hồ Chí Minh
trên biển trong những năm tháng chiến
tranh ác liệt vẫn còn nguyên ý nghĩa đang
thôi thúc, nhắc nhở, động viên khích lệ
chúng ta hôm nay
Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong
chiến đấu, ý chí kiên cường quyết giành độc
lập tự do, thống nhất Tổ quốc cần được kế
thừa, phát huy, trở thành chủ nghĩa anh
hùng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thành
ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn,
thách thức, quyết tâm xây dựng đất nước ta
ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, trở
thành nước công nghiệp hiện đại, sánh vai
cùng các cường quốc năm châu, đem lại ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân Khí thế hào
hùng mỗi người làm việc bằng hai vì miền
Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả
để chiến thắng, cần được tiếp tục nuôi
dưỡng, phát huy, trở thành phong trào thi
đua yêu nước sâu rộng trong mọi lĩnh vực,
mọi tầng lớp nhân dân, ở mọi miền đất
nước trong thời kỳ mới Những phẩm chất
cao đẹp của cán bộ, chiến sỹ và đồng bào ta
trong những năm tháng kháng chiến gian
khổ sẵn sàng hy sinh tất cả vì lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự
nghiệp lớn của dân tộc ta cần được gìn giữ,
phát huy, truyền lại cho các thế hệ hôm nay
và mai sau, nhất là thế hệ trẻ; ngăn chặn,đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ,đảng viên và nhân dân ta Lòng dũng cảm,trí thông minh, sáng tạo của đồng bào,chiến sỹ ta để đánh thắng những kẻ thùhung bạo cần được phát huy mạnh mẽ trongthời kỳ cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại toàn cầu hóa, đất nước ta đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triểnkinh tế tri thức, hội nhập quốc tế Bối cảnhtình hình đó, yêu cầu nhiệm vụ phát triểnđất nước đòi hỏ i phải phát triển mạnh mẽgiáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, nângcao chất lượng nguồn nhân lực, phát huybản lĩnh và trí tuệ của con người Việt Nam,nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triểnnhanh, bền vững của đất nước Những bàihọc về đoàn kết quâ n dân, phối hợp, hợpđồng chặt chẽ giữa các lực lượng; đoàn kếtquốc tế, hợp tác và sử dụng có hiệu quả sựgiúp đỡ của bạn bè trên thế giới, tạo nênsức mạnh tổng hợp để làm nên chiến thắng,ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, cần phảiđược phát huy mạnh mẽ trong phát triểnkinh tế, văn hoá, xã hội, cũng như trongcủng cố quốc phòng an ninh của đất nước;gắn chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hộivới củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựngnền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xâydựng quân đội nhân dân cách mạng, chínhquy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứngđáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà
Trang 5nước và nhân dân ta Đó chính là những
việc làm có ý nghĩa to lớn và thiết thực để
chúng ta kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường
Hồ Chí Minh trên biển
Thưa đồng bào, đồng chí v à chiến sỹ cả
nước,
Kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ
Chí Minh trên biển, tự hào về những chiến
công oanh liệt, truyền thống vẻ vang của
nhân dân ta, quân đội ta, chúng ta quyết gìn
giữ và phát huy mạnh mẽ truyền thống đó
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong thời kỳ mới Hào khí của dân
tộc, vận hội mới của đất nước thôi thúc
chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách
thức, nỗ lực phấn đấu, xây dựng thành công
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,xứng đáng với những công lao to lớn, khátvọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả củacác thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vàng
vẻ vang, hào hùng của dân tộc
Tinh thần Đường Hồ Chí Minh trênbiển bất diệt!
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinhmuôn năm!
Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãitrong sự nghiệp của chúng ta!
Xin trân trọng cảm ơn./.
http://www.tapchicongsan.org.vn
Tạp chí Cộng sản Việt Nam
'Đường Hồ Chí Minh trên biển, kỳ công của dân tộc'
Ngày 23/10/2011
Khẳng định trong chiến tranh đường Hồ
Chí Minh trên biển góp phần quan trọng để
giải phóng miền Nam, TS Vũ Tang Bồng
(Viện Lịch sử quân sự VN) cho rằng rất cần
có một chuyên đề phát triển kinh tế biể n gắn
liền với Hải quân nhằm khai thác thế mạnh
của biển.
- Là người nghiên cứu lâu năm về lịch sử
quân sự Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tầm
quan trọng của đường Hồ Chí Minh trên biển?
- Nhiều tài liệu cho rằng đường Hồ Chí
Minh trên biển là sáng tạo c hiến lược của Đảng
và Nhà nước, còn tôi thấy rằng đây là một kỳ
công chiến lược của dân tộc trong lịch sử kháng Đại tá, TS Vũ Tang Bồng
Trang 6chiến chống Mỹ Bởi chúng ta có lãnh đạo, chỉ
huy giỏi, cán bộ chiến sĩ sẵn sàng hy sinh, nhân
dân bến bãi sẵn sàng giúp đỡ
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí
Minh trên biển đã trực tiếp và gián tiếp vận
chuyển hơn 96.000 tấn vũ khí đạn dược, hơn
170.000 lượt cán bộ, chiến sĩ chi viện cho chiến
trường miền Nam
Vào thời điểm 1959-1972 tuyến chi viện
chiến lược trên bộ mới vào được đến chiến
trường Trị - Thiên, Trung - Hạ Lào, Tây
Nguyên Việc vận chuyển bằng đường bộ vào
các chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ rất
khó khăn Đúng lúc này, đường Hồ Chí Minh
trên biển hình thành, giải quyết được những khó
khăn đó
Chính hiệu quả vận chuyển của tuyến
đường này đã tạo nên thế trận chiến tranh
nhân dân rộng khắp các vùng chiến lược ở
miền Nam, tạo nên sức mạnh chiến đấu và
chiến thắng của nhân dân ta Đặc biệt, sự
xuất hiện kịp thời của những vũ khí tương
đối hiện đại, có tính năng chiến đấu cao đã
làm thay đổi cách đánh của quân và dân ta,
thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và
địch Các loại ngoại tệ mạnh, thiết bị máy
móc y tế quý hiếm, hóa chất đặc biệt cũng
được chi viện kịp thời cho miền Nam Đây là
những cơ sở, là điều kiện để miền Nam có
thể đánh lớn, thắng lớn
- So với đường mòn Hồ Chí Minh vượt dãy
Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển có
lợi thế gì?
- Ngoài cung cấp vũ khí cho chiếntrường xa, nơi mà đường bộ chưa vươntới, đường Hồ Chí Minh trên biển còn
có ưu thế hơn đường bộ là thời giannhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bịđồng bộ hơn do không nhầm lẫn, thấtlạc Việc vận chuyển đường bộ phảiqua nhiều cung, chặng, qua nhiều lựclượng, phương tiện, phải mất hàngtháng trời mới đến đích Vận chuyểnđường biển tuy gian nan nguy hiểm hơn
vì phải đối mặt với sóng gió, bão bùng,
và quân địch, nhưng nếu vượt qua đượcchỉ mất 5-6 ngày là vào đến chiếntrường Tây Nam Bộ
Hiệu quả của con đường Hồ ChíMinh trên biển cũng rất cao Như từtháng 10/1962 đến tháng 2/1965, với 88chuyến tàu, mỗi tàu 10-20 cán bộ, chiến
sĩ chở hàng vào Nam thì 93% đến đượcđích, đưa vào chiến trường gần 5.000tấn vũ khí Nếu khối lượng đó dùngngười gùi, mỗi người trung bình gùi 25
kg thì phải huy động tới 196.785 người
đi liên tục 6 tháng, mỗi tháng mỗingười tốn 21 kg gạo thì khi đến nơikhối lượng gạo tiêu thụ gấp 5 lần khốilượng hàng gùi được
Nếu sử dụng ôtô, trung bình mỗi xechở được 2,5 tấn thì phải huy động1.968 xe đi trong hai tháng, sử dụngkhoảng 4.000 tấn xăng dầu, chưa kể cácchi phí bảo đảm khác và tổn thất dọcđường Chỉ cần một phép tính nhỏ trên,
Trang 7chúng ta cũng đã thấy được lợi thế to lớn của
đường Hồ Chí Minh trên biển như thế nào
- Trong mỗi cuộc chiến thì nhân dân đều có
vai trò rất quan trọng, vậy đối với con đường
Hồ Chí Minh trên biển, nhân dân đã đóng góp
như thế nào?
- Ngoài cán bộ, chiến sĩ, những người trực
tiếp tham gia vận chuyển vũ khí thì sự hy sinh,
giúp đỡ của nhân dân đã làm nên con đường
huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển Ở vùng bến
đi (Đồ Sơn, Hải Phòng), khi Bộ Quốc phòng
chuẩn bị lập bến bãi đã thuyết phục người dân
di dời Nơi mở bến là một vạn chài, nơi dân cư
sinh sống nghìn đời, nơi thờ cúng tổ tiên, nhưng
bà con vẫn sẵn sàng ra đi mà không cần biết nhà
mình sẽ được sử dụng làm gì Điều đó cho thấy
người dân tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng
Còn ở những bến tiếp nhận, khi hàng chục
tấn vũ khí được vận chuyển từ Bắc vào, những
người dân ở đó lại được huy động để bốc dỡ
Họ cần mẫn làm và tuyệt đối giữ bí mật Nếu
không có người dân, cán bộ, chiến sĩ làm sao có
thể bốc dỡ vũ khí xong ngay trong đêm?
Hoặc khi đối mặt với kẻ thù mà không thể
thắng, các chiến sĩ tàu không số cho nổ tàu để
bảo đảm bí mật và hàng hóa không rơi vào tay
địch Lúc này các chiến sĩ hầu hết đều bị
thương, có khi lại gặp sự truy quét của kẻ thù
trên cạn, nhân dân đã che chở, cưu mang
Nhiều lúc dân tìm cách đưa thủy thủ bị
thương nhờ bác sĩ của ngụy chăm sóc Khi tàu
mắc cạn thì dân phao tin đó là tàu cá, từ đó đem
thuyền con ra chở vũ khí vào bờ Hay lúc đốt
tàu, chính người dân đã phao tin tàu chở dầu
mắc cạn, ra ứng cứu rồi vô tình đốt Cókhoảng hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thamgia đoàn tàu không số, người hy sinhkhoảng 100 Trong khi đó số người hysinh tại các bến nhận lên tới 1.000 Đó
là dân quân, du kích, những người vậnchuyển vũ khí, bảo vệ tàu Từ đó ta cóthể thấy rằng, chiến sĩ và nhân dân cóquan hệ máu thịt với nhau Nếu không
có nhân dân sẽ không có bất kỳ một kỳtích nào trên biển và trong mọi cuộcchiến
- Trong chiến tranh, cha ông đã biết khai thác lợi thế của biển Còn trong thời bình, ông đánh giá thế nào
về việc khai thác những thế mạnh của biển trong phát triển kinh tế, bảo vệ quốc phòng an ninh?
- Cha ông ta có truyền thống thôngthạo thủy chiến, giỏi du thuyền vào bậcnhất Đông Nam Á, từng đánh thắngmọi kẻ thù xâm lược bằng đường biểnvới lực lượng thủy quân hùng hậu Vàothời Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thủy chiếnViệt Nam phát triển mạnh nhất châu Álúc bấy giờ
Sau khi hòa bình thống nhất đấtnước, trong khoảng 20 năm vận tảibiển, kinh tế biển thiếu sự quan tâm cầnthiết nên bị chững lại, thậm chí kémphát triển Gần đây, vấn đề này đã đượcquan tâm hơn Cùng với việc phát triểnkinh tế biển, lực lượng hải quân cũngđược tăng cường vì xây dựng phải đi
Trang 8liền với bảo vệ Tôi cho rằng Bộ Quốc phòng
cần có một chuyên đề phát triển kinh tế biển
gắn liền với Hải quân
- Trước đây do đảm bảo bí mật, đường Hồ
Chí Minh trên biển, đoàn tàu không số không
được công khai khiến nhân dân và thế hệ trẻ
không biết đến hoặc biết rất ít Ông đề xuất gì
để con đường này trở thành bài học giáo dục
lòng yêu nước trong thế hệ trẻ?
- Trước đây lịch sử không nói nhiều đến
đoàn tàu không số, những tư liệu ban đầu chỉ
xuất hiện trong các cuốn sách của nhà văn Hồ
Phương, Nguyên Ngọc, Đình Kính nên thông
tin có một số chưa hoàn toàn chính xác Tôi cho
rằng, Bộ Tư lệnh Hải Quân, Bộ Quốc phòng
phát hành tư liệu chính thống về đường Hồ Chí
Minh trên biển là việc làm cần thiết
Hiện nay chúng ta cũng đã chú ý hơn đến
việc tuyên truyền về đường Hồ Chí Minh trên
biển Tại các bến nhận đang xây đài tưởng
niệm, di tích tham quan để giới thiệuvới nhân dân và du khách về nhữngchiến công của đoàn tàu không số Tôinghĩ ở bến xuất phát Đồ Sơn cũng cầntriển khai công việc này
Ngoài ra, việc tri ân những người
có công, bao gồm cán bộ chiến sĩ tàukhông số, những thân nhân của liệt sĩ
đã hy sinh tại các bến tiếp nhận cần tiếptục thực hiện Rất nhiều cựu binh tàukhông số hiện không được hưởng chế
độ đi B chỉ vì họ hoạt động bí mật,không có quản lý hành chính Hay cónhững người bán cả gia tài đưa tiền chocon mua tàu vận chuyển vũ khí, nhưngvẫn không được đền đáp xứng đáng
Hoàng Thùy thực hiện
http://vnexpress.net
Tin nhanh Việt Nam
Đường Hồ Chí Minh trên biển - biểu tượng sáng ngời về ý chí
giải phóng dân tộc
Ngày 21/10/2011
Đường Hồ Chí Minh trên biển
là nơi hội tụ sức mạnh của chiến
tranh nhân dân trong cuộc đấu trí,
đấu lực với kẻ thù; là nơi tỏa sáng
chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
lòng quả cảm, trí thông minh và
quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của
dân tộc Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường HồChí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2011),Báo CAND đã có cuộc phỏng vấn Phó Đô đốc,Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên TW Đảng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủngHải Quân
PV: Xin đồng chí cho biết ý nghĩa lịch sử của đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng
Trang 9chiến chống Mỹ, giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:
Cách đây tròn 50 năm, dưới sự lãnh
đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ,
Đoàn 759, nay là Lữ đoàn 125 Hải
quân nhân dân Việt Nam được thành
lập với nhiệm vụ mở tuyến vận tải
quân sự chiến lược Bắc - Nam bằng
đường biển, tổ chức đưa người và vũ
khí chi viện miền Nam Từ đây, con
đường mang tên Hồ Chí Minh trên
biển được hình thành, nối l iền hậu
phương lớn miền Bắc với tiền tuyến
lớn miền Nam Đó thực sự là một kỳ
tích vĩ đại trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, là sản phẩm của
ý chí sắt đá, tinh thần quả cảm và sức
sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta Tuyến vận tải quân sự
chiến lược này đã góp phần phát huy
sức mạnh của miền Bắc XHCN - nhân
tố quyết định nhất, kết hợp với sức
mạnh tại chỗ của cách mạng miền
Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp to
lớn của toàn dân tộc, đưa cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng
lợi hoàn t oàn
PV: Phó Đô đốc có thể cho biết về
sự đóng góp của đường Hồ Chí Minh
trên biển trong các giai đoạn của
cuộc kháng chiến chống Mỹ?
Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:
Việc mở thông con đường vận tải trên
biển tiếp thêm sức mạnh cho cả dân tộc đánh Mỹ,tạo nên những chuyển biến quan trọng trong sựphát triển cục diện cách mạng nước ta Nếu nhưnhững chuyến hàng của những năm 1962-1965góp phần giúp quân và dân miền Nam đánh thắngchiến lược "Chiến tranh đặc biệt" thì sự tiếp tếcủa những năm tiếp theo góp phần làm phá sảnchiến lược "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóachiến tranh" của Mỹ - ngụy
Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổidậy mùa xuân năm 1975, thực hiện chỉ lệnh "thầntốc, đại thần tốc" của Đại tướng Tổng tư lệnh VõNguyên Giáp, đường Hồ Chí Minh trên biển đãvận chuyển nhanh nhiều vũ khí hạng nặng vàhàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vào miền Tây,kịp thời hiệp chi viện chiến trường
Số lượng vũ khí và hàng hóa vận chuyểnbằng đường Hồ Chí Minh trên biển so với sốlượng vận chuyển của đường Hồ Ch í Minh trên
bộ ít hơn, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn khivùng ven biển miền Trung, Tây Nam Bộ vận tảitrên bộ chưa vươn tới Vận tải trên biển tuy giannan, nguy hiểm hơn, nhưng lại có ưu thế về tốc
độ, thời gian Nếu vận chuyển đường bộ mấthàng mấy tháng trời mới tới nơi thì vận chuyểnđường biển chỉ cần hơn 1 tuần Chi phí cho mỗichuyến vận chuyển trên biển đỡ tốn kém hơnnhiều so với vận tải đường bộ Ngoài ra, vận tảiđường biển còn đảm đương một sứ mệnh cực kỳquan trọng là vận chuyển những "hàng h óa đặcbiệt" có tính sống còn đối với cuộc kháng chiến -
đó là các loại vũ khí trang bị lớn, đặc chủng vànhững cán bộ cao cấp của Đảng, những chuyêngia đặc biệt bổ sung cho chiến trường
Trang 10PV: Vai trò của nhân dân và
những chiến sỹ làm nên huyền thoại
đường Hồ Chí Minh trên biển có già
trị lịch sử như thế nào?
Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến:
Trong suốt những năm chống Mỹ,
đường Hồ Chí Minh trên biển luôn
nhận được sự hỗ trợ tích cực của các
cấp ủy Đảng, nhân dân và các lực
lượng nơi có bến bãi tiếp nhận hàng
Chỉ có nhân dân, con đường mới được
khai thông, chỉ có nhân dân, con
đường mới giữ được bí mật trong
khoảng thời gian dài, những chuyến
hàng mới có thể được giải phóng
nhanh gọn và những con tàu không số
mới có thể liên tục vào Nam, ra Bắc
Nói tới đường Hồ Chí Minh trên
biển còn phải nhắc tới các thế hệ cán
bộ, chiến sĩ của đoàn tàu không số
luôn luôn trung thành vô hạn với
Đảng, với nhân dân, nêu cao ý chí
quật cường, tinh thần mưu trí, sáng
tạo, sẵn sàng xả thân chiến đấu hi sinh
để hoàn thành xuất sắc mọ i nhiệm vụ
được Trung ương, Bác Hồ và quân đội giao phó
PV: Thưa Phó Đô đốc, Hải quân nhân dân Việt Nam đã và đang làm gì để phát huy truyền thống vẻ vang của đường Hồ Chí Minh trên biển?
Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến: Đường Hồ
Chí Minh trên biển là nét độ c đáo của chiến lượcvận tải quân sự trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, có giá trị thực tế vô cùng to lớn.Điều chúng tôi luôn suy nghĩ là làm sao biếnnhững giá trị lịch sử truyền thống thành sứcmạnh của hiện tại, biến những bài học kinhnghiệm của ngày hôm qua thành một phần quantrọng trong quá trình hoạt động và phát triển củaHải quân nhân dân Việt Nam hôm nay Trongnhững năm qua, phát huy truyền thống đường HồChí Minh trên biển, Hải quân nhân dân Việt Nam
đã và đang cùng toàn Đảng, toàn quâ n và toàndân, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên biển và góp phầnxây dựng đất nước ngày càng phát triển
PV: Xin trân trọng cảm ơn Phó Đô đốc!
G.Nguyên - D.Hải (thực hiện)
cand.com.vn Báo Công an nhân dân
Đường Hồ Chí Minh trên biển – Tuyến vận tải chiến lược huyền thoại
Ngày 14/09/2011
Tuyến vận tải chiến lược trên biển hoạt động liên tục trong suốt 14 năm (1961 1975), với hành trình hàng vạn hải lý, bằng nhiều phương án đi và đến; đã góp phần chi viện kịp thời sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, làm nên chiến thắng 30 -4-
-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trang 11Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi,
nhưng hai miền Nam - Bắc còn bị chia cắt ,
nhân dân miền Nam còn phải chịu sự đàn áp
dã man của kẻ thù Vì miền Nam, toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết đánh
bại quân xâm lược, thu non sông về một
mối, Bắc - Nam sum họp một nhà Để thực
hiện ý nguyện đó, Đảng ta chủ trương nối
liền hậu phươ ng lớn miền Bắc với chiến
trường miền Nam bằng những tuyến đường
vận tải chiến lược
Trước hết, mở đường vì miền Nam ruột
thịt là mệnh lệnh của cả nước nhằm cung
cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật thúc đẩy Cách
mạng miền Nam phát triển Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ 15 (khoá II, 1-1959),
dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ra Nghị quyết lịch sử; trong đó, xác định:
“Kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa
bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ
sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước”1 Nghị quyết Trung ương 15 đã
thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng
thành phong trào Đồng khởi, đưa Cách
mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn tiến
công tiêu diệt địch Tiếp đó, ngày
24-1-1961, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định
“đẩy mạnh đấu tranh vũ trang
lên song song với đấu tranh chính trị, tiến
công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân
sự”2; đồng thời, “tích cực tiêu diệt sinh lực
địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm
tan rã chính quyền và lực lượng địch tr ên
một phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lênlàm chủ rừng núi, giành lại toàn bộđồng bằng” Để thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ này, Đảng ta chỉ đạo mở những tuyếnđường huyết mạch nối liền hậu phương vớitiền tuyến nhằm bổ sung lực lượng, vũ khí,trang bị và các nhu cầu bảo đảm khác choCách mạng miền Nam Thực hiện Chỉ thị của
Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trực tiếpchỉ đạo các cơ quan, đơn vị tích cực nghiêncứu mở đường; đến giữa năm 1959, tuyếnvận tải chiến lược trên bộ được khai thông,kịp thời chi viện cho các vùng căn cứ miềnrừng Nhưng, đối với Chiến trường miềnĐông Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ thìtuyến đường này không vươn tới được.Trong khi đó, cuộc đấu tranh ở đây đangdiễn ra quyết liệt từng giây, từng phút và yêucầu chi viện sức người, sức c ủa, nhất là vũkhí để chiến đấu, trở thành yêu cầu cấp thiết,quyết định đến sinh mệnh đồng bào và chiến
sĩ Trước tình hình đó, tháng 7 -1959, BộChính trị, Tổng Quân ủy Trung ương quyếtđịnh tổ chức đường vận tải quân sự trên biểnnhằm chi viện cho các tỉnh vùng duyên hảimiền Trung và Đồng bằng Nam Bộ
Để thiết lập tuyến đường vận tải chiến
lược trên biển, ta đã nhiều lần tổ chức các đoàn vượt biển thăm dò và khai thông tuyến vận tải độc đáo đi thẳng vào nơi địch mạnh nhưng lại rất sơ hở, thiếu phòng bị Đây là
nhiệm vụ hết sức quan trọng, đòi hỏi phảinghiên cứu kỹ quy luật của thiên nhiên, hải
đồ, nhất là hoạt động của địch làm cơ sở đểTrung ương chỉ đạo công tác vận chuyển
Trang 12quân sự đường biển Thực hiện chủ trương
của Bộ Chính trị, tháng 7-1959, Bộ Quốc
phòng giao nhiệm vụ vinh dự và thiêng
liêng này cho Tổng cục Hậu cần Đơn vị
được mang biệt danh Đoàn 759 với 38 chiến
sĩ và 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ, được giao
nhiệm vụ chở 5 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc
men cho tỉnh Quảng Nam (Khu V), với yêu
cầu phải bảo đảm tuyệt đối bí mật Chuyến
vượt biển đầu tiên của Đoàn 759 tuy chưa
thành công, song đã để lại cho chúng ta
nhiều bài học quý giá Rút kinh nghiệm
chuyến hàng đầu tiên, Bộ Quốc phòng đã
kịp thời chỉ đạo tạm ngừng hoạt động, tập
trung nghiên cứu tìm phư ơng thức vận
chuyển mới, trên cơ sở tổ chức chặt chẽ,
tính toán, lựa chọn nhiều phương án cho
mỗi hành trình Mặt khác, Trung ương Đảng
chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ vừa chuẩn bị
bến bãi, vừa tổ chức tàu, thuyền vượt biển
ra Bắc nhận vũ khí nhằm thăm dò, nghiên
cứu, xác định tuyến đường Đây là một
quyết định đúng đắn, sáng tạo và khoa học
Theo đó, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc
Liêu, Bà Rịa (là những địa phương có kinh
nghiệm vượt biển ra Bắc chở vũ khí từ
những năm kháng chiến chống thực dân
Pháp) gấp rút chuẩn bị lực lượng, tàu,
thuyền ra Bắc nhận vũ khí Từ giữa năm
1961 cho đến giữa năm 1962, 6 chiếc
thuyền đột phá ra Bắc chỉ có một chiếc phải
quay trở về vì lý do kỹ thuật Chuyến đi của
những người con Nam Bộ thành đồng, “đi
trước, về sau” đã nắm bắt được quy luật,
biết rõ hơn tình hình trên biển, cung cấp
những luận cứ khoa học giúp Trung ươngphân tích, đánh giá tình hình, xây dựngtuyến vận tải chiến lược - Đường Hồ ChíMinh trên biển Tháng 4-1962, Quân ủyTrung ương quyết định cử đồng chí BôngVăn Dĩa trở về bằng chính chiếc tàu nămtrước anh đã vượt biển ra Bắc Lần trở vềnày, tàu anh chưa vận chuyển vũ khí, mà ra
đi với mục đích tiếp tục thăm dò, xây dựngphương án Ngày 18-4-1962, tàu anh vào tớicửa Bồ Đề, thuộc Cà Mau và tháng 7 -1962,anh trở ra Bắc trực tiếp báo cáo với Trungương6
Sau khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá
kỹ tình hình các chuyến đi thăm dò haichiều Nam - Bắc, Bắc - Nam và chỉ đạo chặtchẽ công tác chuẩn bị tàu, thuyền, xây dựngphương án, Quân ủy Trung ương, trực tiếp
là đồng chí Bí thư thứ Nhất Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Lê Duẩn đã lựa chọnBông Văn Dĩa phụ trách chiếc tàu đầu tiênchở vũ khí vào Nam” Đêm 12-10-1962,chiếc tàu “Phương Đông 1” gồm 10 thủythủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng LêVăn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chởhơn 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (HảiPhòng) đi về phương Nam Đến sáng ngày19-10-1962, tàu vào tới Chùm Gọng (VàmLũng, Tân An) an toàn Tàu “Phương Đông1” đã đi vào lịch sử, chính thức khai thôngtuyến vận tải quân sự đường biển - Tuyếnvận tải chiến lược - Đường Hồ Chí Minhtrên biển - bước phát triển mới của nghệthuật chiến tranh nhân dân Việt Nam thờiđại Hồ Chí Minh Sau chuyến đi thành công
Trang 13của tàu “Phương Đông 1”, ba chiếc tàu khác
cũng đã cập bến Cà Mau an toàn; cùng với
các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình
thành các cụm bến đón nhận những chuyến
hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ
Chí Minh trên biển
Sau các chuyến tàu thăm dò là những
chiến công thầm lặng nối liền những chiến
công đã viết nên huyền thoại biển Để các
chuyến hàng như “dòng máu chảy về tim”,
Bộ Chính trị tiếp tục chỉ đạo Bộ Quốc
phòng, trực tiếp là Quân chủng Hải quân kịp
thời tổ chức rút kinh nghiệm qua mỗi
chuyến đi; đẩy mạnh việc cải tiến phương
tiện, đổi mới phương thức, xây dựng lực
lượng và nguyên tắ c vận chuyển Nhờ đó,
Đường Hồ Chí Minh trên biển vận hành
ngày càng chủ động, hiệu quả hơn Có lẽ
trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, chưa
có con đường vận tải chiến lược nào được
bảo mật, ngụy trang độc đáo và thành công
đến thế Mặc dù, lúc đầu chỉ là những chiến
thuyền thô sơ, trọng tải nhỏ, với lộ trình
bám dọc bờ biển, rồi nhanh chóng phát
triển, có hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải
lớn không những chỉ hoạt động ở vùng biển
của ta mà còn vươn ra hải phận quốc tế
Những con tàu không số đều chở nặ ng vũ
khí, trang bị, được nguỵ trang và nghi trang
khéo léo, lúc hợp pháp lúc bất hợp pháp
Cùng với đó là phương thức vận chuyển
cũng được phát triển ngày càng linh hoạt,
sáng tạo: lúc biển xa, khi biển gần và sự
nhạy bén trong việc lựa chọn bến bãi, lợi
dụng địa hình, thuỷ triều, thời tiết , đã giúp
chúng ta vượt qua những phòng tuyếnnghiêm ngặt của kẻ thù, cung cấp kịp thời
vũ khí, trang bị cho tuyến lửa miền Nam
Và “nếu tính từ chuyến tàu (Phương Đông1) đầu tiên đến chuyến tàu thứ 148 vào bếnVũng Rô (ngày 15-2-1965), ta đã có 87chuyến tàu xuất bến đều tới đích, chỉ riêng
có một chuyến (ngày 10 -10-1963) phải quayvề”7 Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trícăng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiênnhiên, với mọi khó khăn, thử thách, dườngnhư vượt qua mọi giới hạn chịu đựng củacon người Nhưng, các chiến sĩ của nhữngcon tàu không số đã khéo léo nghi binh, lừađịch, táo bạo, bất ngờ, đi trong lòng địch,càng đi, càng tỉnh táo, quyết đoán
Sự tồn tại của Đường Hồ Chí Minh trênbiển và những chuyến vư ợt biển thành côngcủa các chuyến tàu không số là kết quả củatrình độ chỉ huy, hiệp đồng tác chiến chặtchẽ giữa lực lượng bốc dỡ, vũ trang chiếnđấu, cứu thương, thông tin vô tuyến điện
và các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹthuật, hậu cần, hệ thống bến bãi, kho tiếpnhận, bảo quản, phân phối hàng Tất cả cáclực lượng hoạt động trong sự điều hànhthống nhất từ Trung ương Trên tất cả,Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyếnđường của “thế trận lòng dân” trong thế trậnchiến tranh nhân dân phát triển Dựa vàodân, có sự chở che, giúp đỡ, hỗ trợ hết lòngcủa nhân dân, tuyến vận tải chiến lược trênbiển đã vượt qua mọi khó khăn, thử tháchkhốc liệt, gian nan, vất vả, vượt qua mọi sựphong toả của địch, hoàn thành xuất sắc
Trang 14nhiệm vụ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước
nhanh chóng đi đến thắng lợi
Đối đầu với Hải quân Mỹ, nguỵ, một
lực lượng mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí,
trang bị, nhưng bằng ý chí, sức mạnh tinh
thần, sự nỗ lực, can trường, lòng quả cảm
và được nhân dân chở che, trong suốt 14
năm liên tục (1961-1975), những chiến sĩ
bình dị của Đường Hồ Chí Minh trên biển
huyền thoại đã vận hành “1.789 chuyến tàu
không số, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí
trang bị và 80 nghìn lượt cán bộ, vượt qua
hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 400 quả
thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến
đấu 300 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần
máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và
bắn cháy nhiều tàu, xuồng địch”9, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ Đặc biệt, trong
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa X uân
1975, thực hiện chỉ thị “thần tốc”, “đại thần
tốc” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ
Nguyên Giáp, Đường Hồ Chí Minh trên
biển đã thần tốc vận chuyển “130 lượt với
143 chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng
nặng gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa
18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải lý
để kịp tham gia chiến đấu”, hiệp đồng tác
chiến với cánh quân đường bộ Những
chiến công của tuyến đường huyền thoại
trên biển chính là những kỳ tích lịch sử,
được làm nên bởi trí tuệ, lòng yêu nước,
sức mạnh của ý chí “Không có gì quý hơn
Đó là việc bắt buộc phải cho nổ Tàu 143 ởVũng Rô (2-1965); có hàng chục chuyến tàuxuất bến phải quay về Trong số 168 con tàu
đã ra đi từ năm 1966 đến năm 1972, có 8con tàu đã phải phá hủy để xóa dấu vếtnhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối của tuyếnđường huyết mạch Trong quá trình thựchiện nhiệm vụ đặc biệt này, “đã có 117 cán
bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình trên biển”11.Những chiến sĩ: Phan Vinh, Huỳnh NgọcTrạch, Nguyễn Chánh Tâm, và bao đồngchí khác đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòngbiển bao la, sâu thẳm Trong chặng vượtbiển cuối cùng, các anh đã không thể cùngđồng đội đi trọn quãng đường, ở lại với biểnkhơi, với sóng gió Chính các anh cùngđồng đội đã dệt nên huyền thoại bằng tuổithanh xuân, nhiệt huyết của mình cho ngàytoàn thắng Tên tuổi các anh là những bài ca
đi cùng năm tháng; các anh mãi mãi lànhững người lính Hải quân trên những contàu đi về phía vầng dương, nhắn nhủ thế hệtrẻ hôm nay tự soi mình và ngẫm về nghĩa
vụ, trách nhiệm, tình yêu đối với quê hương,đất nước và biển đảo của Tổ quốc Tổ quốc
và nhân dân đời đời ghi nhớ và tri ân cácanh, những chiến sĩ đã làm nên kỳ tíchĐường Hồ Chí Minh trên biển
Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
http://biengioilanhtho.gov.vn
Trang 15PHẦN II:
Huyền thoại đường trên biển
Kỳ 1: 50 năm con đường bí ẩn
Ngày 15-09-2011
Nhà thơ Ngô Minh ở Huế vừa gửi đến Báo Thanh Niên loạt bài về đường Hồ Chí Minh trên biển với nhiều thông tin, tư liệu mới được tác giả khai thác qua ông Vĩnh Mẫn, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn tàu không số D759 xưa , cùng nhiều nguồn
tư liệu khác.
Loạt bài hé mở nhiều chi tiết còn ít biết
đến về con đường huyền thoại và những
con tàu không số một thời oanh liệt trên
biển Đông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
dân tộc ta đã lập nên 2 kỳ tích Đó là
đường Hồ Chí Minh Trường Sơn và
đường Hồ Chí Minh trên biển Đông
Đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn thì
sách báo, phim ảnh đã nói nhiều Còn
đường Hồ Chí Minh trên biển thì luôn
trong vòng bí mật cho đến 20 năm sau
1975 Mãi đến năm 2000 mới có vài cuốn
sách mỏng của Nguyên Ngọc, Nguyễn Tư
Đương nói tới con đường huyền thoại này
Cuối năm 2010 sang đầu 2011, trong
thời gian xây lăng mộ Phùng Quán ở Huế,
tôi có cơ may quen biết ông Vĩnh Mẫn,
người bạn trinh sát thuở thiếu niên với
Phùng Quán ở Huế năm 1946, nguyên
Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn tàu không
số D759 Ông Vĩnh Mẫn đã cho tôi đọc
rất nhiều tài liệu, thư từ về những người
thuyền trưởng và những con tàu không số,đặc biệt là cuốn Lịch sử đường Hồ ChíMinh trên biển mới biên soạn, chuẩn bịđưa in
Đọc những tài liệu đó, tô i xúc động vàrất kinh ngạc Dù đã nghe kể về nhữngcon tàu không số, nhưng tôi vẫn thấy quá
ư kỳ lạ, vượt qua sự tưởng tượng thôngthường của con người, mang nhiều nét cổtích, huyền thoại Từ đó tôi bị hút theonhững chuyến tàu
Tập thể thủy thủ tàu 41 ( Phương Đông 1) - con
tàu đầu tiên cập cảng Cà Mau - Ảnh tư liệu của
ông Vinh Mẫn
Trang 16Chưa từng có trong lịch sử hàng hải
Đường Hồ Chí Minh trên biển là con
đường vận tải chiến lược lớn, tồn tại suốt
14 năm ròng Nó được tổ chức vô cùng bí
mật và chặt chẽ từ việc đóng tàu, lựa chọn
thủy thủ, thuyền trưởng, tàu vượt biển, đến
bến bãi đổ hàng, người bốc hàng, dư ới sự
chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương
và Trung ương Cục miền Nam Nói là tàu
không số, nhưng thật ra mỗi con tàu đều
mang một số hiệu đăng ký tại chỉ huy sở
Từ tàu buồm, tàu gỗ nhỏ, đến tàu sắt trọng
tải trên 50 tấn, 100 tấn, 200 tấn, từ đi gần
bờ đến đi xa bờ trên hải phận quốc tế
Đi trên những con tàu không số là
những cảm tử quân Vượt biển Đông vào
Nam là đi vào nơi tử địa, vượt qua vòng vây
dày đặc tàu chiến và máy bay địch Tàu
nhỏ chỉ 50 - 100 tấn mà dám vượt tuyến
biển ba bốn ngàn hải lý để vận tải vũ khí
chi viện cho miền Nam suốt 14 năm trời là
chuyện chưa từng có trong lịch sử hàng hải
thế giới Họ là những người anh hùng đích
thực Từ chỗ miền Nam phải đánh giặc
bằng hầm chông, súng kíp, súng ngựa trời,
nhờ có những chuyến hàng từ tàu không số
mà bộ đội chủ lực, dân quân của ta có
nhiều loại vũ khí hiện đại như DKZ, B40,
B41, đại liên 6,7 li, AK47, thuốc nổ TNT,
súng phòng không 12,7 li, cả thủy lôi sừng
chạm của Liên Xô mỗi quả nặng đến 1.070
kg Chính những quả thủy lôi này đã đánh
chìm tàu vận tải quân sự Baton Rouge
Victory của hải quân Mỹ trên sông Lòng
Tàu ngày 23.8.1966, mang theo cả trămthiết giáp M113, 3 máy bay chiến đấu và rấtnhiều hàng
“Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”
Thực hiện Nghị quyết 15 của BộChính trị, ngày 1 9.5.1959, “Đoàn quân sựđặc biệt” (Đoàn 559) được thành lập Đó
là khởi nguồn của đường Trường Sơnlịch sử Tháng 7.1959, Bộ Tổng tư lệnhthành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, chiviện cho miền Nam bằng đường biển.Tiểu đoàn được mang tên “Tập đoànđánh cá Sông Gianh” Tiểu đoàn 603chuyến ra quân đầu tiên vận chuyển 5 tấn
vũ khí và thuốc men vào Nam Nơi đổhàng là bến Hồ Chuối ở chân đèo HảiVân Con tàu ra đi và mất tích cùng 5thủy thủ do thuyền trưởng Nguyễn Bắcchỉ huy Sau thất bại này, Quân ủy thànhlập đơn vị vận tải thủy mới với mật danh
là Đoàn 759 (tức tháng 7.1959) Đoàn
759 đi tìm người gốc Nam Bộ và Liênkhu 5 có kinh nghiệm đi biển ở các bộ,điều động về Đồng thời Quân ủy chỉ thịcho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạocác tỉnh ven biển miền Trung và Nam Bộchuẩn bị bến bãi và tổ chức tàu thuyềnvượt biển ra Bắc nhận vũ khí Đến tháng8.1961, đã có 5 chiếc thuyền vượt biển từmiền Nam ra Bắc Bến Tre 2 thuyền, CàMau, Trà Vinh và Bà Rịa 1 Đó là nhữngchiếc thuyền gỗ thô sơ, giả thuyền đánh
cá Việc vượt biển ra Bắc thành công củanhững con thuyền miền Nam đã tạo ra
Trang 17hướng mới vận chuyển vũ khí bằng
đường biển
Để chuẩn bị thật kỹ phương án mới,
các thủy thủ trên thuyền Cà Mau được đưa
xuống thuyền trở lại miền Nam để nghiên
cứu tình hình hoạt động của địch trên biển,
tìm bến bãi để “xuống hàng” Con tàu trinh
sát rời bến Nhật Lệ đêm 10.4.1962 Sau 4
tháng vào Nam trinh sát các bến đỗ Phú
Quốc, đảo Thổ Chu, Hòn Chuối, Hòn Ông,
Hòn Bà cuối cùng khẳng định Vàm Lũng
(rạch Kiến Vàng, Tân An, Cà Ma u) là địa
điểm làm bến tốt nhất, rừng đước mênh
mông đảm bảo cho việc cất giấu tàu tốt, bốc
dỡ hàng kín đáo
Tất cả số thủy thủ miền Nam ra đều bổ
sung vào Đoàn 759, tổng cộng có 38 người,
trong đó có 20 người vừa từ miền Nam ra
Ông Đoàn Hồng Phước, Tham mưu trưởng
Sư đoàn 330, được bổ nhiệm làm đoàn
trưởng Từ đây, ngày 23.10 trở thành dấumốc lịch sử, là ngày truyền thống của Đoàn
759 - đoàn tàu không số
Sau hơn một năm chuẩn bị, ta bí mậtđóng mới được 4 tàu gỗ hai đáy, trọng tải
30 tấn trở lên Và 22 giờ ngày 11.10.1962,chiếc tàu gỗ đầu tiên được gọi là “PhươngĐông 1” cùng với 13 chiến sĩ do thuyềntrưởng Lê Văn Một và chính trị viên BôngVăn Dĩa chỉ huy, chở hơn 30 tấn hàng hóarời bến Vạ Sét, Đồ Sơn lên đường đi CàMau Sau 9 ngày đêm vượt biển, tà uPhương Đông 1 đã vào đến bến Vàm Lũng,
Cà Mau Ngày 19.10, ông Phạm ThếBường, Bí thư Khu ủy Khu 9, điện choQuân ủy Trung ương: “Tàu Lê Văn Một -Bông Văn Dĩa đã về đến nơi an toàn ”.Nhận được điện báo, Đại tướng Võ NguyênGiáp mắt nhòa lệ: “Thôi ch o nghỉ họp để ănmừng thắng lợi đầu tiên này ”
Kỳ 2: Những chuyến tàu tuyệt mật
Ngày 17-09-2011
Trước khi xảy ra vụ lộ tàu 143 tháng 2.1965 ở Vũng Rô, Phú Yên, đường Hồ Chí Minh
ở trong vòng tuyệt đối bí mật với đối phương Mặc dù Mỹ có khi nghi ngờ, nhưng không có bất cứ bằng chứng nào về những con tàu chở vũ khí vào Nam
Mực gỗ, cá gỗ ngụy trang
Để giữ bí mật tuyệt đối, từ Quân
ủy T.Ư đến các thủy thủ tàu phải lo
nhiều việc, cứ như họ là những
người hoạt động tình báo giữa lòng
địch vậy Theo ông Vĩnh Mẫn (Phan
Thắng), nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn 125(tức 759), trong Quân ủy T.Ư cũng chỉ có một sốlãnh đạo cao cấp biết Ngay các hang đá ở ThủyNguyên, mà TP Hải Phòng đã khoanh vùng giaocho Đoàn 759 sử dụng, chính quyền địa phươngcũng không hề biết trong đó đang diễn ra việc gì
Trang 18Thật ra đó là sở chỉ huy của Đoàn
759 Đó là hầm máy móc thông tin,
chỉ huy các chuyến biển, ngày đêm
theo dõi số phận các con tàu đang
lênh đênh trên biển xa
Xưởng I, III Hải Phòng là nơi
đóng những con tàu không số hai
đáy (đáy dưới để vũ khí, đáy trên để
lưới, câu, ngư cụ để nghi trang) cho
Đoàn 759 Những người thợ đóng
tàu được chọn rất kỹ, nhưng chính
họ cũng không hề biết những con tàu
mình được giao đóng trong thời gian
gấp rút và có cấu trúc khác lạ đó
dùng để làm gì, đi đâu
Đối với từng thủy thủ trước khi
nhận nhiệm vụ đi tàu không số phải
tâm niệm “sống để bụng, chết mang
theo”, không được hé răng với cha
mẹ, vợ con công việc hay lịch trình
của mình Trước lúc xuống tàu rời
bến, phải gửi lại tất cả quần áo, tư
trang, sổ sách, chứng minh thư
Nghĩa là tất cả những thứ liên quan
đến địa chỉ, tên tuổi đều không được
mang theo Trước khi xuống tàu thủy
thủ tập trung ở một địa điểm bí mật
gọi là “Z10” (Đồ Sơn) để tập huấn
Được chụp ảnh chung và ảnh riêng
lưu trong hồ sơ do Quân ủy T.Ư quản
lý Anh em được trang bị quần áo bà
ba đen, nâu vải đã sờn, như dân đánh
cá miền Nam, giấy tờ, căn cước giả
Con tàu cũng không mang số hiệu
nào, nên mới gọi là “tàu không số” Nhưng để nghitrang, thời kỳ vận chuyển ven bờ, tà u có đủ cácbiển số của tàu đánh cá các tỉnh Trung Bộ, Nam Bộ
để đi qua tỉnh nào thì gắn biển số giả ấy vào Trêntàu có lưới, câu và cả cá gỗ ! Anh em đẽo từng con
cá, mực ống lớn và nhuộm màu rất giống cá, mựckhô mang theo trên tàu Để khi tàu hay máy baytrinh sát địch nhòm tới thì phơi cá, mực gỗ ra bongtàu để chúng tin là tàu đánh cá Máy tàu phải làmáy Mỹ, máy Nhật để khi bị địch bao vây, bắtsống, thì ném vũ khí xuống biển, phi tang tất cảnhững gì liên quan đến miền Bắc Trong chuyếnvượt biển đầu tiên, trên tàu C41 - Phương Đông 1,thủy thủ Võ Tấn Thành có bí mật giấu một tấm ảnhBác Hồ trong ngực áo Khi tàu vào vĩ độ 18 bắc,gần đảo Cù Lao Thu, thì có một chiếc tàu sơn màuquân sự chạy theo rất nhanh đúng vệt nước lái củatàu ta Anh em nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu.Đạn chống tăng được nạp kíp nổ và đại liên đượcđặt vào vị trí Ba Thành thấy tình thế nguy hiểmquá, liền lấy ảnh Bác Hồ trong ngực ra vo tròn lạirồi cho vào miệng nuốt chửng Khi chiếc tàu lạ đếngần thì mọi người thở phào vì đó là một chiếc tàuchở hàng của nước ngoài đi về phía Singapore AnhThành lại xuýt xoa tiếc tấm ảnh Bác
Mỗi chiếc tàu không số tùy theo tải trọng khi rabiển đều có gắn một khối thuốc nổ từ 500 kg đến 1,5tấn để khi bị địch vây, tình thế cam go nhất thì điểmhỏa cho nổ tàu để phi tang Các tàu không số, nhất làloại tàu sắt cao tốc, đều trang bị một số cờ hiệu củacác nước, có cả cờ của chính quyền Sài Gòn, để khi
đi trên hải phận quốc tế, nếu máy bay Mỹ phát hiệnthì kéo lên để đánh lừa chúng
Trang 19Có lần trên một chuyến tàu
không số chở hàng vào Cà Mau, khi
trở ra, anh em thấy thuyền nhẹ quá,
sóng lắc, nên nhổ rất nhiều cây dừa
nước chất xuống khoang cho đằm
Khi ra bến miền Bắc, thủy thủ vô ý
ném những cây dừa nước lên bờ
Dừa nước là thứ cây rất dễ sống, nên
nó nhanh chóng mọc thành một đám
lớn Bà con ngư dân bàn tán: “Dừa
nước là cây miền Nam, ai đưa ra
trồng ở đây?” Đoàn 759 phải cử
người đi nhổ và phi tang hết số dừa
nước trên và họp rút kinh nghiệm
Nỗi oan của vợ thuyền trưởng
Cũng về chuyện giữ bí mật, xin
kể về thuyền trưởng lừng danh Hồ
Đức Thắng (Ba Thắng), sinh năm
1922, quê ở xã Hiệp Hòa, Cầu
Ngang, Trà Vinh, được phong anh
hùng ngày 1.1.1967 Năm 1961, Ba
Thắng là một trong 6 người, được
Tỉnh ủy Trà Vinh đặt tên theo khẩu
hiệu: Đoàn, Kết, Đấu , Tranh, Thắng,
Lợi 6 người vượt biển ra Bắc xin
Hòn Khói, Vũng Rô Anh Ba
Thắng đã kể câu chuyện éo le của
gia đình với nhà văn Nguyên Ngọc
trong sách Có một con đường mòn trên biển Đông.Trích lược như sau:
“Năm 1961, lệnh rút 6 anh em chúng tôi vượtbiển ra Bắc là lệnh trực tiếp của tỉnh ủy, hết sức
bí mật Ngay trong tỉnh ủy cũng chỉ có một haiđồng chí biết, còn huyện ủy, chi ủy không biết tôi
đi đâu, làm gì Vợ tôi lúc đó là đảng viên, tôicũng không dám hé răng tâm sự chút gì Tôi raBắc rồi đi tàu bí mật trở về đúng bến Trà Vinhnày Tới bến xuống hàng, giấu x ong tàu là rút vàorừng nghỉ, tuần sau lại giong tàu ra Bắc đi chuyếnkhác Nhớ nhà, nhớ vợ con lắm mà không dámgặp Ngày tôi ra đi vợ chồng mới có một mặt con
Vợ tôi là chi ủy viên, hoạt động bí mật trong ấpchiến lược Nhưng tuyệt đối không dám nghĩ đế nthư từ liên lạc, nói gì đến việc về thăm, gặp mặt Đến chuyến thứ 9, cuối năm 1964, tàu tôi lại vềbến Trà Vinh Lần này đồng chí phụ trách bến gọitôi lên hỏi: “Có muốn gặp vợ không?” Tôi trảlời: “Không dám nghĩ tới chuyện đó đâu Tùy tổchức thôi!”
Ai dè các anh thương, bố trí cho vợ chồng tôigặp nhau thật Công phu lắm Một chị giao liên vềtận làng tôi, nói với vợ tôi là trên rút đi công tácđặc biệt Phải giả đi buôn ở Cần Thơ Giao liêndẫn đi vòng vo mấy ngày, cuối cùng mới quay lạibến Anh em bố trí vợ chồng tôi một “căn lều hạnhphúc” trong rừng kín Ở với nhau hai ngày, vợ tôilại vòng lên Cần Thơ mua ít hàng trước khi trở vềnhà Còn tôi vài ngày sau xuống tàu Từ đó chođến hết chiến tranh tôi đi chục chuyến nữa, nhưngkhông về Trà Vin h, nên không biết gì về tình hình
vợ con cả Tôi không biết sau hai ngày chungsống, vợ tôi có mang Chửa với ai hay chửa
Trang 20hoang? Vợ tôi không thể khai thật.
Bụng càng ngày càng to Thế là bố
mẹ chồng khinh bỉ và đau khổ Chi
bộ kiểm điểm Cuối cùng vợ tôi nói
liều: Đi buôn Cần Thơ, lỡ dan díu
với một người! Chi bộ quyết định kỷ
luật đình chỉ công tác, khai trừ Đảng
Vợ tôi sinh được một cháu gái,
nhưng cha mẹ tôi không cho lấy họ
tôi Vợ tôi đau khổ, không thanh
minh được cùng ai suốt 10 năm trời,
cho đến ngày giải phóng miền Nam, tôi trở về ”.Nếu anh Hồ Đức Thắng - trong những chuyếntàu chở hàng về Nam sau đó - không may hy sinhthì ai sẽ “minh oan” cho vợ anh? Đó là sự hy sinh
âm thầm mà vô cùng lớn của những chiến sĩ tàukhông số
Kỳ 3: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và tàu không số
Ngày 19-09-2011
Tên tuổi liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã được cả thế giới biết đến Nhưng một điều có lẽ nhiều người chưa biết, là bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng chữa bệnh cho các chiến sĩ tàu không số, theo tư liệu Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển và Lữ đoàn Tàu vận tải quân sự hải quân (1961-2011).
Nửa đêm ngày 27.2.1968, tàu C43B rời cảng
A3 (Hải Khẩu, Trung Quốc) chở 37 tấn vũ khí vô
bến Ba Làng An, Quảng Ngãi Trước đó, ngày
14.3.1967, trong chuyến chở hàng vào Sa Kỳ
(Quảng Ngãi) thì đụng độ địch, các chiến sĩ tàu
C43B đã chiến đấu anh dũng và buộc phải hủy tàu
để giữ bí mật, sau đó họ theo đường Trường Sơn
về đơn vị Bây giờ cũng đội đó nhậntàu mới, cũng mang tên C43B trở lạiQuảng Ngãi
Khoảng 14 giờ ngày 29.2, mộtmáy bay địch lượn mấy vòng phíatrên tàu rồi bay đi Anh em nghĩ chắcchúng chưa phát hiện ra Ngờ đâu,đêm đến, tàu vào cách bờ 12 hải lýthì gặp 6 tàu đối phương đang hình
14 chiến sĩ tàu C43B điều trị tại Bệnh xá Đặng Thùy Trâm
Trang 21thành thế bao vây Địch nổ súng bắn tới tấp Trên
không trực thăng quần đảo, bắn rốc - két xuống tàu
C43B Thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng ra lệnh
cho anh em tập trung hỏa lực vừa bắn trả vừa cơ
động nhanh vào bờ Các loại súng ĐKZ, súng
phòng không 12,7 ly, AK 47 nổ giòn giã Một máy
bay lên thẳng trúng đạn rơi xuống biển Một chiếc
khác bị thương lao vào bờ Một tàu chiến địch tiến
gần tàu ta bị trúng đạn ĐKZ bốc cháy Thấy bị
chống trả dữ dội, đối phương giãn ra
Lợi dụng thời cơ, thuyền trưởng cho tàu chạy
lên hướng bắc Ngay lập tức 2 tàu địch lao tới đánh
chặn Tàu C43B quay ngoắt 180 độ, chạy về hướng
nam Vẫn bị tàu chiến và máy bay địch chặn lại
Không thể mở vòng vây, tàu C43B vừa tránh đạn,
vừa bắn trả và tăng tốc chạy vào gần bờ Suốt mấy
tiếng đồng hồ đánh nhau với đối phương đông đảo,
tàu C43B bị đạn địch găm thủng nhiều chỗ Chiến
sĩ Vũ Văn Ruệ và y tá Võ Nho Tòng hy sinh, nhiều
người bị thương nặng Vũ Văn Ruệ quê ở Tiền Hải,
Thái Bình Trước chuyến đi, anh được nghỉ phép 15
ngày để cưới vợ Mới cưới được ba ngày, nghe tin
đội tàu sắp xuất bến, anh đã ra đơn vị nằng nặc xin
đi chuyến này cho bằng được…
Chỉ huy tàu quyết định cho mọi người khẩn
trương bơi lên bờ và hủy tàu Thuyền trưởng
Thắng phân công chính trị viên Trần Quốc Tuấn
đưa thương binh, liệt sĩ vào bờ, hai thuyền phó
Thơm và Đức cùng thuyền trưởng hủy tài liệu
Sau đó thuyền phó Thơm điểm hỏa ở khoang lái,
máy trưởng Tài giật nụ xòe giây cháy chậm Phạm
Văn Rai vừa nhảy xuống biển thì trúng đạn địch
hy sinh Mười mấy phút sau, một khối lửa bùng
lên kèm theo tiếng nổ lớn, con tàu C43B tan ra
từng mảnh Ba chiến sĩ hy sinh đượcchuyển vào bờ Còn 14 người thì 12
là thương binh Các anh được dukích và bà con xã Phổ Thiện cấpcứu, bảo vệ, đưa vào hầm bí mậttừng gia đình che giấu, tránh được
sự truy lùng rất gắt gao của địch
Hơn một tuần sau, du kích địaphương vừa chiến đấu vừa nghibinh, đưa 14 chiến sĩ tàu không sốC43B vượt quốc lộ 1A lên vùng căn
cứ Ba Tơ Các thương binh đượcanh em du kích cáng lên bệnh xá,nhưng hai đêm liền đều gặp phụckích phải quay lại, đêm thứ ba mớithoát được Hơn một ngày rưỡixuyên rừng, vào chiều tối hôm sau
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm
Trang 22các anh mới được đưa vào điều trị tại trạm xá dân
y huyện Đức Phổ, ở giữa khu rừng thưa, cây cối
loang lổ, khô héo vì địch rải chất độc hóa học
Đây chính là bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy
Trâm Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26.11.1942 tại
Huế, lớn lên ở Hà Nội Tốt nghiệp trường Đại học Y
khoa Hà Nội năm 1966, vào bộ đội, là một bác sĩ
quân y tại chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi
Khám thấy anh em bị thương nặng và kiệt sức, bác sĩ
Trâm quyết định các thủy thủ phải chữa trị ở bệnh xá
một tháng Ở đây thuốc men, dụng cụ cấp cứu thiếu
thốn, ăn uống chủ yếu bằng củ mì (sắn) Mấy ngày
sau, ba người của trạm xá phải đi ba bốn ngày đường
xuống đồng bằng nhờ cơ sở mua gạo và thuốc mang
về cứu chữa cho thương binh
Thuyền trưởng tàu C43B Nguyễn Đức Thắng kể
với nhà văn Nguyên Ngọc: “Riêng tôi, thật ra đến
lúc đó, có dịp trôi dạt vô đó, tôi mới hiểu Thì ra giữa
chiến tranh, một vùng đất quá ác liệt Nhưng một
cái bệnh xá huyện thì không thể lánh đi đâu được cả,
đơn giản chỉ vì nó là một cái bện h xá Nó phải có
mặt ở đó bất cứ lúc nào, trụ bám ở đó, vì thương
binh, vì những người dân bị thương, cả bị bệnh nữa,
bất cứ lúc nào Mà Đức Phổ lúc bấy giờ là một trong
những huyện ác liệt nhất ở chiến trường Khu 5 Sư
đoàn không vận số 1 Mỹ quần nát ở đó, rồi lữ 196
Mỹ, sư dù 101 Mỹ, có thời gian cả sư 25 Anh Cả Đỏ
Mỹ cũng ra đó Rồi Rồng Xanh, Bạch Mã Nam
Triều Tiên… B52 dầm nát một vùng bán sơn địa
ngang dọc chỉ vài chục cây số Thế mà trên cái
vùng đất ghê gớm, suốt hàng chục năm trời vẫn trụ
bám một cái bệnh xá huyện nhỏ nhoi, gan lì, bất
khuất Chỉ huy bệnh xá ấy là một cô gái, một cô bác
sĩ trẻ người Hà Nội
2 giờ chiều hôm ấy 14 anh emthủy thủ xơ xác mới đến được bệnh xácủa chị Trâm Chị không nói gì nhưngbiết chúng tôi là dân đường mòn bímật biển Đông Chị bảo: Các anh phải
ở lại đây đã, chưa được đi đâu hết.Phải chữa cho lành các vết thương.Rồi bồi dưỡng cho lại sức để còn leoTrường Sơn Bệnh xá đói, chị Trâm
và các nhân viên của chị cũng đói.Nhưng chúng tôi vẫn được nuôi rấtchu đáo”
Sau một tháng điều trị, vếtthương đã dần khỏi, anh em C43Bđược lệnh gấp rút lên đường vượtTrường Sơn ra Bắc Trước khi anh
em lên đường, bác sĩ Trâm và anh emtrong trạm xá Đức Phổ đã khâunhững mảnh dù của Mỹ thành ba lô,túi xách, ruột tượng và chuẩn bị áoquần, gạo, muối, thuốc men cho cácthủy thủ đi đường Ngày chia tay, chịTrâm nắn nót ghi vào cuốn sổ nhỏcủa Lưu Công Hào ngoài những dònglưu bút là địa chỉ của người em gáiĐặng Phương Trâm, địa chỉ gia đình
để anh lính trẻ khi về đến Hà Nội sẽghé thăm Chia tay anh em, ngày10.4.1968, bác sĩ Trâm ghi nhật ký:
“Vậy là chiều nay các anh lên đường
để lại cho mọi người một nỗi nhớmênh mông giữa khu rừng vắng vẻ.Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đâycòn ghi lại bóng dáng các anh: những
Trang 23con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp,
những câu thơ thắm thiết yêu thương ”
Sau ba tháng vượt Trường Sơn, những người
lính đã về đến hậu phương, nhưng công việc của
những người lính tàu không số luôn bímật nên anh Lưu Công Hào không thểđến thăm gia đình chị Trâm
Kỳ 4: Người thay đổi gương mặt và
những chuyến tàu công khai
Ngày 20-09-2011
Hoạt động của những đoàn tàu
không số là bí mật, nhưng có một thời
kỳ các tàu ta vào Nam, ra Bắc công khai
trên biển Nghĩ ra hành trình công khai
ấy là Tư Mau, người phải phẫu thuật
gương mặt để tiếp tục đi chở vũ khí
Hạm đội 7 tung quân
Từ năm 1962 - 1965, những thủy thủ
tàu không số đã thực hiện thành công 90
chuyến chở 4.919,636 tấn vũ khí, quân
trang, thuốc men vào chi viện cho chiến
trường Sau vụ tàu 143 của thuyền
trường Lê Văn Thiêm và chính trị viên
Phan Văn Bảng chở 63 tấn vũ khí cập
bến Vũng Rô bị địch phát hiện ngày
15.2.1965, con đường bí mật trên biển
Đông đã bị lộ Từ đó, Hạm đội 7 Mỹ
tung 40% lực lượng tàu chiến, cùng máy
bay và tàu của hải quân chính quyền Sài
Gòn phong tỏa biển Đông rất gắt gao
Mỹ điều khu trục hạm Higbec D806,
Alaele D666 và 40 tàu chiến khác vào
vùng biển miền Nam làm nhiệm vụ
“chống Việt Cộng thâm nhập” Ở miền
Bắc, Mỹ leo thang bắn phá bằng không quânrất quyết liệt
Tháng 7.1967, ta tổ chức 5 tàu đưa hàngvào Khu 5 Cả 5 tàu đều bị địch phát hiện; 3tàu phải quay ra, 2 tàu bị đánh phá, tổn thấtlớn Quý 4/1971, ta tổ chức 11 tàu trọng tải 50,
100, 200 tấn vượt biển vào Nam, nhưng tất cảđều bị ngăn chặn, phải quay lại Năm 1972, ta
tổ chức 12 chuyến tàu, nhưng 11 chuyến phảiquay lại Tình hình hết sức khó khăn Chiếntrường thì luôn thiếu súng ống, đạn dược Các
sư đoàn, trung đoàn liên tục điện về Trungương Cục miền Nam xin vũ khí
Trước tình thế khó khăn đó, Tư Mau (tứcPhan Văn Nhờ) đề nghị Khu ủy Khu 9 báo cáoQuân ủy Trung ương cho chuyển hướng “vậntải công khai” Quân khu 9 cử ngay Tư Mau raBắc để bàn với Quân ủy Trung ương vềphương thức vận tải hợp pháp này Tư Mau làmột con người mưu trí, gan cóc tí a, nhiều kinhnghiệm đi biển và có những sáng tạo hết sứctáo bạo, nguyên Đoàn trưởng Đoàn vận tải 962của Quân khu 9 Tư Mau nhờ bà Võ Thị Đảnh(cơ sở của ta) đứng tên mua một chiếc thuyền
Trang 24đánh cá, lắp máy Nhật 33 mã lực, với
mã số đăng ký là 3308KG Sau một
thời gian chuẩn bị, ngày 11.3.1971,
thuyền do Bí thư Chi bộ Tư Mau lái,
Tám Sơn làm thuyền trưởng cùng 3
chiến sĩ rời cảng Rạch Giá ra Bắc Trưa
ngày 30.3, tàu cập bến Đồ Sơn Sau khi
nghe Tư Mau báo cáo, Cục Tác chiến,
Bộ Tư lệnh Hải quân trình bày đề án,
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Quân
ủy đồng ý cho Quân khu 9 sử dụng
phương thức vận chuyển “công khai”
Bộ Tư lệnh cung cấp mọi chi phí cho
công tác này Trước mắt gửi cho quân
khu 20.000 đô la Mỹ và 2 triệu tiền Sài
Gòn; đồng thời cho đóng 10 thuyền ở
miền Bắc theo kiểu thuyền đánh cá
Nam Bộ Giao cho hải quân lo bến bãi
ở miền Bắc, chọn các đồng chí là người
miền Nam lớn tuổi, có kinh nghiệm đi
biển ở Đoàn 125 tăng cường cho đội
thuyền Quân khu 9 Quân ủy không
đồng ý chọn đảo Nam Du làm điểm
trung chuyển hàng vì ở đó dân qua lại
làm ăn nhiều, dễ bị lộ Giao cho Bộ Tư
lệnh Hải quân chọn 5 điểm ở quần đảo
phía vịnh Thái Lan và Malaysia, cho
tàu chở hàng từ Bắc vào đó, rồi Quân
khu 9 đưa thuyền hợp pháp ra chuyển
vào bờ” Ngày 28.4.1971, thuyền đánh
cá do Tư Mau làm chính trị viên cùng 4
thuyền viên rời vịnh Hạ Long mang
theo vũ khí vào chiến trường Đoàn 125
cử tàu V605 do thuyền trưởng Nguyễn
Đình Phồn chỉ huy đi hộ tống Đội thuyềnqua đảo Hải Nam, rồi đến Hoàng Sa thì đượclệnh quay lại để chuẩn bị thêm Ngày 27.6tiếp tục ra biển, lần này không có tàu hộtống Ngày 7.7, đội thuyền đã cập cảng RạchGiá an toàn Sau đó bằng phương thức địchkhông ngờ tới này, anh em còn đi nhiềuchuyến thành công nữa
Để hoạt động công khai, cuối tháng7.1972, Tư Mau trong vai một nhà tư sản đếnmua căn nhà số 27/20 đường Âu Dương Lân,phường Rạch Ông, quận 8, Sài Gòn Lấy danhnghĩa là một gia đình chủ tàu đánh cá, Tư Mauxin giấy phép thành lập Công ty Việt Long,chuyên chở hàng thuê đi miền Trung, mua bánthuyền đi biển, máy cũ và cây cảnh Đoàn 371
đã mua các thuyền SG66, SG67, SG158,SG159 để vận chuyển vũ khí và mua 3 thuyềnvận tải VT235, VT254, 2674KG để đi làmkinh tế kết hợp nghi trang che mắt địch Công
ty còn mướn thợ đóng 2 chiếc tàu ở Biên Hòatrọng tải 120 tấn, 500 mã lực có gắn máy lạnh.Công ty có 10 kho cất giấu vũ khí, hàng hóa ởngay Sài Gòn Thời gian này Công ty ViệtLong (tức Đoàn 371) thường xuyên tổ chứcmỗi chuyến 2 thuyền, có lần 3 thuyền ra vịnh
Hạ Long nhận vũ khí, mỗi lần từ 15 đến 27 tấn
về bến an toàn Bến giao hàng cũng được điềuchỉnh Ngoài bến Đông Cùn, Đoàn 371 mởthêm Bến Hố, Cà Mau, Trà Vinh Cơ sở củađoàn mở rộng từ Rạch Giá đến duyên hải TràVinh, Vũng Tàu, Sài Gòn và Long Hải (BàRịa) Đoàn 125 ở Bắc có nhiệm vụ tiếp đóncác đội công tác, sửa chữa tàu thuyền, chuyển
Trang 25giao hàng và hộ tống thuyền của đoàn
qua các vùng biển phức tạp
“Thay đổi hẳn gương mặt tôi”
Sau vụ phản bội của Ba Tam (tức
Nguyễn Văn Rớt, một cán bộ của văn
phòng công ty, vốn là em trai của một
cán bộ Tỉnh đội Bến Tre), Đoàn 371 bị
tổn thất nặng nề 100 cán bộ và công
nhân bị bắt, văn phòng ở Sài Gòn và một
số thuyền bị địch tịch thu May thuyền
vẫn còn lại 5 chiếc, trong đó 4 chiếc
đang ở miền Bắc với 23 người, trong đó
có 3 cán bộ chỉ huy là Tư Mau, Mười
Thượng, Mười Khanh; một thuyền ở Bến
Hố không bị lộ, lực lượng ở các bến vẫn
còn đầy đủ Quân khu 9 điện cho biết,
bọn phản bội đã cung cấp cho địch nhân
dạng Tư Mau Vì thế Tư Mau đề nghị:
“Thay đổi hẳn gương mặt tôi” Theo nhà
văn Nguyên Ngọc thì Tư Mau phải đi
phẫu thuật chỉnh hình ở Bệnh viện 108
Mổ chân mày từ cong, dài, làm cho
thẳng và ngắn lại Mũi bạnh ra, miệng
cũng rộng hơn Khi vết mổ đã lành, Tư
Mau về gặp đồng chí Lê Đức Anh ở Bộ tổngtham mưu Tư Mau hỏi: “Anh coi tôi có kháckhông?” Ông Lê Đức Anh lắc đầu: “Mình vẫnnhận ra mà! Chưa được đâu” Thế là Tư Maulại vào Bệnh viện 108, cắt sườn non độn chomũi cao lên Bứng hết cả da đầu, xoay ngượcmái tóc từ trước ra sau Đốt má cho đầy tànhương Đốt cả đầu ngón tay để làm biến dạngdấu vân tay Lần này về Bộ tổng tham mưu,ông Lê Đức Anh không nhận ra được, Tư Maulên đường về Nam theo đường Trường Sơn Một thời gian sau ở Sài Gòn xuất hiện một nhà
tư sản mới, chủ vựa cá Sáu Thuận Và nhữngđoàn thuyền hợp pháp lại ra Bắc chở vũ khívào cho Quân khu 9 cho đến năm 1975 Bằng phương thức hoạt động công khainày, từ đầu năm 1972 đến cuối năm 1973,Đoàn 371 đã thực hiện 37 chuyến ra Bắc, chở
600 tấn vũ khí, hàng hóa, thuốc chữa bệnh vàochiến trường Nam Bộ an toàn, bí mật Đặcbiệt, đoàn còn chở những cán bộ cao cấp làđồng chí Sáu Nam (Lê Đức Anh) ra Bắc vàSáu Dân (Võ Văn Kiệt) từ Bắc vào Nam tuyệtđối an toàn
Kỳ 5: Những vị khách đặc biệt
Ngày 21-09-2011
14 năm hoạt động (từ 1961 - 1975), trên các chuyến đi “xẻ dọc biển Đông” của những con tàu không số còn có hàng ngàn vị khách, đó là các sĩ quan quân đội đi chiến trường; cán bộ các bộ, ngành, hội đoàn đi xây dựng vùng giải phóng.
Trong số hàng ngàn người đó, có
những vị khách rất đặc biệt: Võ Văn
Kiệt, Lê Đức Anh và bà Nguyễn Thụy
Nga (tức Bảy Vân, người vợ miền Nam của ông
Lê Duẩn) Ngoài ra còn có bác sĩ Bảy Thủ, Bộtrưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời miền Nam
Trang 26Việt Nam; Nguyễn Thiện Thành, giáo
sư - bác sĩ Bệnh viện Thống Nhất
Các vị khách đặc biệt này đi vào Nam
bằng tàu không số, trong thời gian
biển Đông bị tàu chiến, máy bay Hạm
đội 7 của Mỹ và hải quân Sài Gòn
phong tỏa dữ dội nhất
Có lẽ người phụ nữ Việt Nam
vào Nam bằng tàu không số sớm nhất
là bà Nguyễn Thụy Nga, lên đường
vào ngày 5.1.1965
Chuyến tàu không số ấy mang bí
danh 69 do thuyền trưởng Nguyễn
Hữu Phước quê ở Long Thạnh, Bạc
Liêu chỉ huy Đi cùng bà Nguyễn
Thụy Nga còn có 4 đại tá quân đội và
nhiều tấn vũ khí chi viện cho chiến
trường miền Nam Lịch trình là 7
ngày, nhưng lệnh từ trung ương là nếu
Hạm đội 7 Mỹ chặn đường thì phải
quay lại Đã 3 lần chỉ huy sở gọi lại,
nhưng may chỉ phải dừng ở đảo Hải
Nam một lần Sau chuyến đi nhiều
sóng gió, tàu đã cập bến an toàn
Theo ấn phẩm Lịch sử đường Hồ
Chí Minh trên biển sắp xuất bản, ngày
9.7.1973, tàu chở ông Sáu Dân (Võ
Văn Kiệt), lúc đó là Bí thư Khu ủy
Quân khu 9, từ miền Bắc trở lại Nam
Bộ Sau khi được tàu của Đoàn 125
chở từ Hải Phòng sang đảo Hải Nam,
ông Sáu Dân chuyển sang chiếc thuyền
đánh cá SG159 của Đoàn 371 do Thôi
Văn Nam làm thuyền trưởng Vì chở
“khách đặc biệt” nên trong chuyến này có cả TưMau, Đoàn trưởng 371, cùng đi Tới vùng biểnCam Ranh thì thuyền bị rò nước phải ghé vào Cà
Ná để sửa chữa Trong vai một thương gia ở miềnNam, ông Sáu Dân cùng “đội thuyền đánh cá” cóđầy đủ giấy tờ hợp lệ, nên sau khi sửa xong, contàu tiếp tục hành trình về cập bến Vàm Hố ở CàMau an toàn
Cuối tháng 11.1973, Đoàn 371 được giaonhiệm vụ chở ông Sáu Nam (tức Lê Đức Anh),lúc đó là Tư lệnh Quân khu 9, từ Nam Bộ ra
miền Bắc công tác Đây là một chuyến đi vôcùng gian khổ và trắc trở, suýt không thành
Để an toàn, Đoàn 371 đã bố trí hai con tàucùng đi, do Đoàn trưởng Tư Mau trực tiếp chỉhuy, ông Lê Đức Anh đóng vai người phụ bếp.Thuyền SG159 chở ông Lê Đức Anh và Tư Mau
do thuyền trưởng Thôi Văn Nam điều khiển.Thuyền SG158 làm nhiệm vụ hộ tống do NguyễnSơn làm thuyền trưởng cùng với 5 thuyền viên
18 giờ ngày 26.11, hai thuyền rời bến Vàm Hố(Cà Mau) ra khơi Đêm đến, gặp sóng gió lớn,
Ông Lê Đức Anh tại Lộc Ninh (thứ hai từ phải sang)
Trang 27thuyền SG159 bị sự cố nước tràn vào
nhiều Để đảm bảo an toàn, Tư Mau
báo cáo và đề nghị ông Lê Đức Anh
chuyển sang tàu SG158 Còn Đoàn
trưởng Tư Mau ở lại thuyền cùng anh
em vừa bơm vừa tát nước ra Trưa
ngày 27.11, khi thuyền ở ngoài khơi
tỉnh Trà Vinh, mọi người thấm mệt,
nước vào ngày càng nhiều Không thể
khắc phục được, Đoàn trưở ng Tư Mau
đành ra hiệu cho tàu của Nguyễn Sơn
cập mạn để mọi người chuyển qua
thuyền SG158 Còn thuyền SG159
không người lái, nước vào đầy, chìm
dần xuống biển Thuyền SG158 cũng
bị rò nước, nhưng ít hơn Người thì
đông mà thuyền chỉ có một chiếc Chi
bộ hội ý quyết định 5 người ở lại,
những anh em khác tiếp tục đưa ông
Lê Đức Anh ra Bắc Thế là phải ghé
vào bãi ngang Long Hải (Vũng Tàu)
để sửa chữa thuyền và đưa bớt người
371 ở Sài Gòn Nhằm tìm ra tung tích của TưMau và Sáu Nam, địch tra tấn anh em rất dã man.Không ai dặn trước, tất cả đều khai là Tư Mau vàSáu Nam đi về miền Tây Nam Bộ để đánh lừa sựtruy tìm của địch Sau đó, khi biết là thuyền của
ta ra Bắc, địch cho tàu hải quân chặn bắt thuyềnchở “đầu sỏ Việt Cộng”, nhưng đã muộn Lúc đó,ngày 6.12.1973, thuyền chở ông Sáu Nam đã đếnngang Nha Trang, cách đất liền 170 hải lý 17 giờngày 8.12, SG158 tới cảng Hậu Thủy, Hải Nam,Trung Quốc Ngày 11.12, tàu của hải quân đưaông Sáu Nam và Tư Mau về miền Bắc Việt Namtrong sự vui mừng, xúc động của mọi người.Trước đó, không bắt được liên lạc, nên mọingười cứ nghĩ sau vụ phản bội của Ba Tam,thuyền chở Sáu Nam cũng đã bị bắt
Kỳ 6: Hoàng thân trên tàu không số
Ngày 22-09-2011
Ông là chắt nội của vua Hiệp Hòa, vị
vua thứ 6 triều Nguyễn Bố ông là hoàng
thân Bửu Trác, một vị đại thần, Thống
chế nhất phẩm triều đình…
Ngày 15.2.1965, tàu 143 chở 63 tấn vũ
khí vào Vũng Rô bị lộ Cùng thời gian, còn
có 5 tàu trên biển Đông nhưng chỉ có 3 đưa
được hàng vào Bạc Liêu; còn tàu sắt 176,tàu gỗ 401 trên đường đi đến ngoài khơiTrà Vinh và Bạc Liêu thì bị địch phát hiện,cho tàu chiến và máy bay bám rất sát, nên
Sở chỉ huy đã lệnh cho quay trở lại miềnBắc Cả đi và về mất 2 tháng lênh đênh tr ênvùng biển quốc tế, và trong chiếc tàu sắt
Trang 28176 ấy có một người nguyên là hoàng thân
triều Nguyễn tên Vĩnh Mẫn
Lý lịch gốc của ông vẫn ghi rõ tên Phan
Thắng (tức Vĩnh Mẫn), sinh năm 1931, chắt
nội của vua Hiệp Hòa, vị vua thứ 6 triều
Nguyễn Bố ông là hoàng thân Bửu Trác,
một vị đại thần, Thống chế nhất phẩm triều
đình, con của hoàng tử trưởng Ưng Bác,
được coi là người kế vị ngôi vua, lại là một
người kháng Pháp Ông Bửu Trác đã đòi
phế truất Bảo Đại khi vua Khải Định vừa
trút hơi thở cuối cùng Vì thế ông bị bắt, bị
tước hết chức tước, tôn tịch, bị đày lên nhà
tù Lao Bảo Sau đó ông được ân xá Triều
đình Huế mời ông ra tham chính, nhưng
ông từ chối và đứng ra lập Hội An Nam
Phật học
Ông Bửu Trác đã hướng cả nhà mình
theo Việt Minh Các con ông như Vĩnh Tập,
Công Tằng Tôn Nữ Băng Tâm, Vĩnh Mẫn
đều theo Việt Minh rất sớm Chị Băng Tâm
hoạt động trong đường dây của Thành ủy
Huế, trên đường công tác lên chiến khu bị
địch bắn, hy sinh năm 1951 Vĩnh Tập ở
trung đội 9, đơn vị đặc biệt của tiểu đoàn
Tiếp phòng quân Thuận Hóa Đêm 2.1.1946,
trung đội trưởng Nguyễn Mạnh Giao và
chính trị viên Vĩnh Tập đã dẫn phân đội 9
gồm 17 chiến sĩ tấn công quân Pháp cố thủ
trong nhà hàng Chaffanjon (số 5 đường Hà
Nội, TP Huế bây giờ) Cuộc chiến đấu
không cân sức diễn ra vô cùng ác liệt
Trung đội cảm tử quân Vệ quốc đoàn
đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, cuối
cùng các anh bị quân Pháp phun xăng thiêucháy Năm 1992, khi đào móng xây nhàtrên đường Hà Nội, người ta đã tìm thấy 17
bộ hài cốt cùng các kỷ vật trung đội cảm tửquân 9, trong đó có khẩu ru-lô và con daogăm của anh Vĩnh Tập thường mang khichiến đấu Còn Vĩnh Mẫn mới 14 tuổi đã đitheo Việt Minh ở trong đội trinh sát thiếuniên Giải phóng quân, với hơn 20 đồng đội,hằng ngày chạy liên lạc đưa mật lệnh, tintức chỉ huy khắp các đơn vị của Vệ quốcđoàn Vĩnh Mẫn là bạn thân của PhùngQuán trong đội trinh sát thiếu niên ấy Cuộcchiến đấu của họ đã được Phùng Quán táihiện lại một cách bi hùng trong tiểu thuyếtnổi tiếng Tuổi thơ dữ dội
Năm 1948, Vĩnh Mẫn được đặt l ại tên
là Phan Thắng và được kết nạp vào ĐảngCộng sản Học xong khóa V trường lụcquân Trần Quốc Toản, ông được giữ lạitrường dạy học Năm 1951, được phâncông Nam tiến, đi bộ 8 tháng vào miềnĐông Nam Bộ, được anh Ba Trà (Trần VănTrà) và Bảy Thuận (Nguyễn Đức Thuận,tác giả cuốn Bất khuất nổi tiếng) giao làmđại đội phó, sau đó làm chính trị viêntrưởng đại đội Đại đội này hoạt động cả ởchiến trường Campuchia, sau đó về SaĐéc Năm 1954 Phan Thắng tập kết ra Bắc,trở lại trường Lục quân học khóa 10, s au
đó vì có kinh nghiệm ở miền Nam nênđược ở trong Ban Công tác đặc biệt: Ban
đi B Tháng 2.1965, ông đi tàu không sốvào Nam Bộ công tác, nhưng tàu phải quay
Trang 29lại và được Tổng cục Chính trị phân công
làm Trưởng ban tuyên huấn D125 Sau
1975, ông về Huế và được phân công làm
Trưởng ban C-K (tức Lào - Campuchia)
Bình Trị Thiên, cũng là một nhiệm vụ
chính trị đặc biệt bấy giờ Năm 1989 ông
nghỉ hưu, về lại ngôi nhà bên sông Hương
của bố mẹ để lại
Vĩnh Mẫn tủm tỉm cười bảo tôi: “Anh
không viết văn viết báo như chú Cái nghề
của anh là cây bút chì và cây kéo Bút chì để
gạch đít và đánh dấu Kéo để cắt tất cả các tài
liệu, bài báo có liên quan đến những vấn đề
mà mình quan tâm Cắt rồi để riêng từng chủ
đề vào từng bì một Thế là cứ đụng đến cái gì
cũng có thể có tư liệu để suy ngẫm, bàn
luận ” Cứ cây bút chì và cây kéo nhỏ, ông
đã đi với D125, với các chiến sĩ tàu không số
suốt bao năm sóng gió cuộc đời Và bây giờ
vẫn thế Trong ông luôn ăm ắp chuyện những
chuyến tàu vượt biển Đông Đầy ắp những
tên bến bãi , kho đổ hàng Ông còn bảo tôi :
“Viết về đoàn tàu không số mà không viết về
những bến bãi thầm lặng ấy thì chỉ mới được
một nửa, vì không có chỗ dựa là lòng dân thìchiến sĩ trên tàu anh dũng mấy cũng vô ích”.Khi tôi báo tin đang viết về ông trongdịp kỷ niệm 50 năm tàu không số, ông giãynảy : “Đừng viết về mình Mình chỉ là người
đi nghiên cứu, chỉ là người “ăn theo”anh emthôi mà! Phải viết về các chiến sĩ và các bếnbãi tiếp nhận hàng ” Nhưng tôi vẫn viết, vìông là một nhân chứng sống Ông đã từngbao lần đứng trước anh em cảm tử quân sắp
xẻ dọc biển Đông đi cứu nước, nói với họnhững điều gan ruột trước khi họ đi vào chốnhiểm nguy Ông chia sẻ chứ không hề răn dạyhay thao thao sách vở Khi đã nghỉ hưu gầnhai chục năm, trải qua bao biến động, ôngvẫn không quên đồng đội, ông là người bôn
ba kết nối để có được Hội truyền thốngđường Hồ Chí Minh trên biển NguyễnHoàng Phát, Nguyễn Văn Lắm, một thời làChính ủy Đoàn 125 tìm về Huế gặp ông; HồĐắc Thạnh, thuyền trường tàu không số xưa,thư từ tâm huyết với ông Ông thuộc từngchuyến tàu, thuộc hoàn cảnh gia đình từngthủy thủ, nên đã cùng với anh em bằng mọicách để đưa con đường mòn trên biển vớinhững con người trên những chuyến tàukhông số ra công khai
Vĩnh Mẫn thuộc lịch sử Đoàn tàu không
số đến nỗi, đã 81 tuổi rồi, thế mà tháng4.2011 vừa rồi, có nhà báo Đức HellmutKapfenberger sang Việt Nam muốn viết vềĐoàn tàu không số thời chống Mỹ, gửi yêucầu đến muốn phỏng vấn lãnh đạo Lữ đoàn
125 Anh em đã gửi 7 câu hỏi của nhà báo
Ông Vĩnh Mẫn (cuối bên phải) với anh em
thuyền trưởng tàu không số
Trang 30Đức vào Huế cho ông Ông điện bảo anh em :
“Mình không viết, mình sẽ nói kỹ về từng
vấn đề qua điện thoại, bố trí máy ghi âm rồi
ghi ra làm tư liệu mà trả lời cho họ ” Thếrồi ông nói rành rọt, suốt cả buổi sáng vềđoàn tàu không số
Kỳ 7: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, linh hồn của đoàn tàu
Ngày 23-09-2011
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là người ra lệnh mở đường vận tải trên biển từ năm 1959 mà sau này thường gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển” Trong suốt 14 năm, những con tàu không số luôn là mối quan tâm lớn của vị tướng thiên tài.
Tháng 7.1959, Đại tướng, Bí thư Quân
ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho
Bộ Tổng tham mưu thành lập tiểu đoàn Vận
tải thủy 603 làm nhiệm vụ chi viện vũ khí
cho miền Nam, mang tên “Tập đoàn đánh
cá Sông Gianh” Đại tướng dặn đi dặn lại:
“Việc mở đường không được ai biết
Không để lọt vào tay địch một người, một
hiện vật Một mẩu thuốc lá cũng có thể tạo
nên một tang chứng làm hỏng việc lớn ”
Sau vụ tàu vận tải 603 chở 5 tấn vũ khí
vào Hố Chuối dưới chân đèo Hải Vân không
thành, 6 thủy thủ bị địch bắt, phải đổ toàn bộ
vũ khí xuống biển, Đại tướng rất băn khoăn
Đại tướng thay mặt Quân ủy Trung ương chỉ
thị cho Bộ Tổng tham mưu ngưng ngay hoạt
động của “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”,
tìm cách thức vận chuyển mới Đại tướng
nói: “Đường thủy có nhiều khả năng thực
hiện Có thể dùng biện pháp từ trong miền
Nam ra lấy hàng và từ miền Bắc đưa hàng
vào gặp nhau chuyển hàng giữa đường”
Trung tướng Trần Văn Trà, lúc đó là Phó
tổng Tham mưu trưởng được Đại tướng Võ
Nguyên Giáp phân công trực tiếp mở tuyếnvận tải chiến lược Bắc - Nam trên biển.Thế là các tỉnh Nam Bộ, Khu 7, Khu 8khẩn trương tổ chức lực lượng và phươngtiện ra Bắc nhận vũ khí Bến Tre tổ chứcđược 3 đội thuyền ra Bắc, và 2 thuyền đãcập bến Kỳ Anh, Hà Tĩnh vào tháng8.1961 Quân ủy Trung ương chỉ đạo BếnTre không đưa đội thuyền thứ hai ra nữa mà
ở lại để chuẩn bị bến bãi, kho tàng, sẵn sàngđón tàu chở vũ khí vào Các thuyền đầuđóng giả thuyền đánh cá miền Nam vớigiấy tờ, căn cước đàng hoàng Bạc Liêu -
Cà Mau cũng thành lập được 2 đội thuyền,nhưng chỉ một thuyền của Bông Văn Dĩa rađược Bắc, cập cảng Nhật Lệ Trà Vinh cũnglập được một đội thuyền vượt biển, nhưnglạc sang Macau, rồi Trung Quốc, nhờ Đại
sứ quán ta mới về được miền Bắc Bà Rịacũng có thuyền vượt biển, bị lạc vào đảoHải Nam, Trung Quốc, cuối cùng cũng vềđược miền Bắc Ra đến miền Bắc, số cán bộchiến sĩ miền Nam này chính là lực lượng
Trang 31nòng cốt để Bộ Tổng tư lệnh xây dựng
Đoàn tàu không số - Đoàn 759
Để chắc ăn, Đại tướng đã chỉ thị cho
Bông Văn Dĩa phải trở về thăm dò tình hình
địch và bến bãi ở Khu 9, Cà Mau, rồi ra lại
báo cáo tình hình địch Trung tuần tháng
8.1962, Quân ủy Trung ương họp thông qua
Nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược
trên biển chi viện cho cách mạng miền Nam
Sau khi nghe Trung tướng Trần Văn Trà báo
cáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi: “Liệu
có thể đảm bảo thành công 50% những
chuyến đi không?” Tướng Trần Văn Trà trả
lời: “Đạt 100% thì khó chứ 50% thì tôi chắc
được” Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói
thêm: “Chỉ cần nửa số chuyến đi vào được
bến cũng đã là thắng lợi to rồi!” Thế là nghị
quyết chính thức được thông qua
Và 22 giờ ngày 11.10.1962, chiếc tàu gỗ
đầu tiên được gọi là “Phương Đông 1” cùng
với 13 chiến sĩ do thuyền trưởng Lê Văn Một
và chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, chở
hơn 30 tấn vũ khí rời bến Vạ Sét, Đồ Sơn lên
đường đi Cà Mau Tàu từ Hải Phòng ra hải
phận quốc tế theo tuyến Hồng Kông - Sài
Gòn, Hồng Kông - Thái Lan, đến ngoài khơi
Cà Mau thì chuyển hướng chạy thẳng vào
bến ở các cửa sông theo kế hoạch Tàu không
mang số mà chuẩn bị sẵn rất nhiều biển số
các tàu đánh cá của ngư dân vùng biển miền
Trung và Nam Bộ
Theo kế hoạch tàu sẽ đi 5 ngày Tàu mới
đi 1 ngày, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã sốt
ruột hỏi: “Có tin gì chưa?” Hôm sau lại hỏi:
“Tàu đã đến nơi chưa?” Sau 9 ngày vượtbiển, tàu Phương Đông 1 đã vào đến bếnVàm Lũng, Cà Mau trước sự vui mừng khônxiết của mọi người Ngày 19.10, Bí thư Khu
ủy Khu 9 Phạm Thế Bường điện cho Quân
ủy Trung ương: Tàu đã về đến nơi an toàn Nhận được điện báo, Đại tướng Võ NguyênGiáp mắt nhòa lệ, nói: “ Tính ra theo đườngbiển, tàu chở 30 tấn vũ khí đủ trang bị chomột tiểu đoàn, chỉ đi trong 9 ngày với mộttiểu đội, lợi hơn gấp bao nhiêu lần đường bộ,bằng 1.500 người gùi cõng trên đườngTrường Sơn A trong 5 tháng ” Đó là sựđánh giá, tổng kết rất chính xác
Trong vòng 2 tháng tiếp theo, Đoàn 759
đã thực hiện được 4 chuyến tàu không số vềbến an toàn, đưa được 111 tấn vũ khí vào cungcấp cho Khu 9 Số vũ khí này có thể trang bịcho 2 trung đoàn chủ lực Nếu đi đường bộ,theo cách tính của Đại tướng thì phải mất5.550 người gùi cõng trong 5 tháng Trong lúc
đó, mãi cuối năm 1964, đường Trường Sơnmới vươn đến vùng ba biên giới, chủ yếu chiviện cho Tây Nguyên và vùng giáp ranh Liênkhu 5, chưa thể vào Nam Bộ được
Vì thế, sau khi nghe đề án vận chuyển vũkhí bằng đường biển cho Khu 5, Đại tướng VõNguyên Giáp đã khẳng định : “Đường biển làcon đường duy nhất có thể chi viện cho đồngbằng sông Cửu Long, nên phải giữ cho được
bí mật con đường đó Phải kiểm tra thật kỹ,nắm chắc từng chuyến đi vào Khu 5 Không
để một sai sót nhỏ khiến kẻ địch nghi ngờ ”.Theo chỉ đạo của Đại tướng, Đoàn 759 đã tiến
Trang 32hành rất nhiều chuyến tàu vào bến Ray (Bà
Rịa), bến Lộ Giao (bãi ngang) Bình Định
Ngày 29.11.1964, tàu 56 do thuyền
trưởng Lê Quốc Thân chỉ huy đã chở 44 tấn
vũ khí cập bến Sông Ray an toàn Số vũ khí
này đã trang bị cho 2 trung đoàn bộ đội chủ
lực để lập nên chiến thắng Bình Giã vang dội
Còn tàu 401 giữa đêm 31.10.1964 bắt được
tín hiệu bến Lộ Giao Đúng lúc đó thì máy
tàu bị hỏng, địa hình trống trải, không có cây
cối che chắn, tàu phải dỡ hàng ngay bờ cát
Tuy hàng được đưa vào chỗ thu giấu thành
công, anh em đã đốt tàu để phi tang, nhưng
khi nghe báo cáo tình hình tàu 401, Đại tướng
đã chỉ thị ngay: “Không sử dụng bến Lộ Giaonữa Phải theo dõi chặt tình hình địch ởquanh khu vực đó và kết luận xem chúng cóphát hiện ra ý đồ của ta không Tìm cách đưahàng vào bến mới ở Phú Yên” Sau khi ngheCục Tác chiến và Bộ tư lệnh Hải quân chọnVũng Rô làm bến đỗ, vì đây sẽ là chỗ khôngngờ nhất đối với Mỹ và quân đội Sài Gòn,Đại tướng ngẫm nghĩ một lúc rồi quyết:
“Đồng ý vào Vũng Rô” Vậy là thuyềntrưởng Hồ Đắc Thạnh (hiện sống ở Tuy Hòa,Phú Yên) đã chỉ huy 3 chuyến tàu vào bếnVũng Rô thành công với 180 tấn vũ khí chochiến trường Khu 5
Kỳ 8: Những anh hùng chưa được tuyên dương
Ngày 26-09-2011
Trên biển không có chỗ ẩn nấp, không có đồng đội ứng cứu, không có nhân dân che chở Thế nên, những người vượt ba bốn ngàn hải lý trên biển Đông để chở vũ khí chi viện cho miền Nam đều xứng đáng là những anh hùng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng
nói: “Chi viện vũ khí cho Nam Bộ duy
nhất chỉ có đường biển” Trên mặt trận
Khu 9, Khu 8, Khu 7 và một phần Khu 5, hầu hết bộđội ta chiến đấu bằng vũ khí do các con tàu không sốchuyển vào Từ năm 1962-1972, đã có gần 200chuyến tàu không số vào Nam, vận chuyển được gần7.000 tấn vũ khí, hàng ngàn lượt cán bộ công tác Chođến năm 2004, có 8 thuyền trưởng được Nhà nướcphong danh hiệu anh hùng Đó là các liệt sĩ NguyễnPhan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, các thuyền trưởng vàtài công Đặng Văn Thanh, Hồ Đức Thắng, Vũ Huy
Lễ, Vũ Phi Trừ, Nguyễn Văn Cúng, Nguyễn ChánhTâm Hiện vẫn còn hàng chục thuyền trưởng lừngdanh, nhiều chiến sĩ các bến bãi đổ hàng vẫn chưađược xét phong tặng danh hiệu gì Họ đang mỗi ngàymỗi già đi, nhiều người đã mất
Má Mười Rìu và con trai Lê Hà
Trang 33Như má Nguyễn Thị Mười (Mười
Rìu), một tiểu thương ở khu phố Hải
Tân, thị trấn Phước Hải, huyện Long
Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Chồng
má là Lê Văn Rìu đã hy sinh ở Chiến
khu D, không tìm thấy xác Để đưa con
trai và 5 đồng đội bí mật vượt biển ra
Bắc tiếp nhận vũ khí, má đã bán hết tài
sản của gia đình được 8 lượng vàng,
rồi vay bà con không biết bao nhiêu
lượng nữa, giúp cách mạng mua gỗ
đóng thuyền, mua máy chạy ghe, 6 tấn
gạo, 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo nâu,
làm 6 giấy căn cước Chuyến ghe đầu
tiên bí mật vượt biển ra Bắc có 6 chiến
sĩ là Nguyễn Sơn, Thôi Văn Nam, Trần
Văn Phủ, Nguyễn Văn Thanh (tự
Nhung), Võ An Ninh (tự Liễu) và con
trai duy nhất của má là anh Lê Hà
Chuyến tàu đầu tiên về bến Lộc An
ngày 10.3.1963, đem theo 19 tấn vũ
khí Má Mười cùng bà con chuyển vũ
khí từ tàu vào kho Vàm Láng cất giấu
an toàn Từ năm 1963 - 1965, má
Mười tổ chức đón và chuyển trên 50
tấn vũ khí của 3 lượt đoàn tàu không
số, trong đó có chuyến vũ khí chi viện
cho chiến dịch Bình Giã
Con trai Lê Hà của má Mười Rìu là một thuyềntrưởng gan góc Anh đã cùng với các thuyền trưởngvùng đất đỏ Bà Rịa như Nguyễn Sơn, Thôi Văn Namchỉ huy mười mấy chuyến tàu không số cập bến thànhcông Lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 -2011) của Lữ đoàn 125 viết: “ Ngày 12.4.1972,thuyền trưởng Lê Hà và Chính trị viên Nguyễn VănHiệu chỉ huy tàu V645 xuyên qua quần đảo Trường
Sa đi xuống phía Nam chở hàng cho Quân khu 9.Sáng 24.4, khi tàu đang chuyển hướng vào bờ thì gặptàu khu trục của hải quân địch phát hiện, yêu cầudừng máy nếu không sẽ bắn Lê Hà cho tàu chuyểnhướng ra hải phận quốc tế hướng Malaysia và treo cờphản đối 8 giờ 30 phút, tàu địch nổ súng, tất cả cáchỏa lực trên tàu bắn thẳng vào tàu V645 Anh em vừalái tàu cơ động vừa chiến đấu bắn trả Ba đồng chí hysinh, một số bị thương Xích lái bị đứt Khoang chứahàng trúng đạn Nước tràn vào tàu Lê Hà cùng anh
em vừa tát nước vừa bắn trả địch Do mất lái nên contàu chạy vòng tròn Lê Hà và Nguyễn Văn Hiệu quyếtđịnh hủy tàu Lệnh cho mọi người rời tàu trong 30phút Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu ở lại điểm hỏa
Đó là lúc 10 giờ ngày 24.4.1972, một tiếng nổ làmrung chuyển biển trời Chính trị viên Nguyễn VănHiệu và 6 chiến sĩ ta đã anh dũng hy sinh Số còn lại,trong đó có thuyền trưởng Lê Hà bị địch bắt về giam
ở nhà tù Phú Quốc và được trao trả theo Hiệp địnhParis năm 1973”
Loạt bài Huyền thoại đường trên biển sử dụng nguồn tài liệu Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển và Lữ đoàn tàu vận tải quân sự 125 Hải quân do N XB Quân đội Nhân dân sắp xuất bản; sách Có một con đường mòn trên biển Đông của Nguyên Ngọc (NXB Trẻ, 2000), Thuyền
trưởng tàu không số đầu tiên trên biển Đông (Nhật ký Lê Văn Một) (NXB Trẻ, 2006 ), tư liệu cá
nhân ông Phan Thắng (Vĩnh Mẫn) và một số ít t ư liệu của Xuân Ba, Lê Đức Dục, Mã Thiện Đồng
Trang 34Thế nhưng, theo nhà văn Mã
Thiện Đồng, sau khi được trao trả về
đơn vị, người thuyền trưởng can
trường Lê Hà lại bị khai trừ Đảng, mất
hết cả chế độ quân ngũ , chế độ thương
bệnh binh, về quê nuôi má Mười Rìu
sống qua ngày Tương tự, thủy thủ Lê
Văn Khung đi cùng tàu với thuyền
trưởng Phan Vinh anh hùng trên tàu
235 vào bến Hòn Hèo, Nha Trang
Anh bị địch bắt giam tù ở Phú Quốc
Sau khi trao trả trở về, anh không được
công nhận là thủy thủ D125 nữa
Hay anh Lê Văn Một, người
thuyền trưởng chỉ huy con tàu Phương
Đông I đầu tiên mang hàng về Cà Mau
từ 65 năm trước Anh là người có học,
rất giỏi đi biển Anh từng mang tên Tây
Abel René, là cựu thủy thủ thuộc hải
quân Pháp, lấy vợ Thái Lan tên là
Khiểu Cachi Trong kháng chiến chống
Pháp, anh được chọn vào lực lượng vận
tải vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ, là
thuyền trưởng con tàu không số đầu tiên
cập bến Vàm Lũng, Cà Mau năm 1962
Rồi anh lại làm thuyền trưởn g tàu mang
bí số 41 mở đường đưa vũ khí vào
Đông Nam Bộ cập bến Lộc An, Bà
Rịa Đó là những chiến công mang tính
“mở đường” Lê Văn Một đi tàu không
số mà ghi nhật ký hẳn hoi, sau này Nhà
xuất bản Trẻ in thành sách Anh đã
chiến đấu như một anh hùng giữa biển
khơi đầy bất trắc, nguy hiểm, được
đồng đội yêu mến và kính trọng Lê Văn Một mất năm
1982 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Độclập hạng ba, còn danh hiệu anh hùng thì chưa
Hay Hồ Đắc Thạnh, chỉ riêng việc mở đường đưatàu vào Vũng Rô thành công tới 3 chuyến liền đã xứngdanh anh hùng rồi Ông Thạnh bây giờ đã già, viết thưcho Phan Thanh (Vĩnh Mẫn), ông tâm sự: “Từ đó đếnnay đã 47 năm rồi còn gì Biết bao nhiêu thay đổi Lụcxới lại những vấn đề đó quá khó khăn…” Ngoàinhững người kể trên, còn có hàng chục thuyền trưởng,máy trưởng, chính trị viên tàu không số như NguyễnSơn, Đinh Đạt, Phan Văn Xã, Nguyễn Hữu Phước,Nguyễn Văn Đức, Phan Văn Sạn, Huỳnh Văn Sao,Phạn Nhạn, Dương Văn Lộc, Nguyễn Minh Quang,Thôi Văn Nam, Nguyễn Văn Bé, Dươn g Tấn Kịch,
Võ Hán Chiến công trên biển Đông của mỗi người
có thể viết thành một chương trong bộ sách đồ sộ vềnhững thủy thủ tàu không số Mới đây ông Vĩnh Mẫn
đã cùng đồng đội tàu không số trong Hội Truyền thốngđường Hồ Chí Minh trên biển đã bàn bạc, lập mộtdanh sách đề nghị Lữ đoàn 125, Bộ Tư lệnh Hải quân
đề đạt lên trên xét tặng danh hiệu anh hùng cho cácchiến sĩ tàu không số Vừa qua, Ban Bí thư Trungương Đảng cũng đã ra chỉ thị về việc kỷ niệm 50 nămđường Hồ Chí Minh trên biển vào ngày 23.10 2011sắp tới, với tầm quốc gia như kỷ niệm 50 năm đườngTrường Sơn (năm 2009) Chủ tịch nước đã có chỉ thịcho Lữ đoàn 125 kê khai lập danh sách và bản thànhtích để xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang cho thủy thủ tàu không số Cầu mong nhữngcon người can trường trên biển Đông năm xưa sẽ cóniềm an ủi vào cuối đời
http://www.thanhnien.com.vn/
Báo Thanh niên
Trang 35Cho đến nay, đã có nhiều bài báo,
phóng sự tài liệu về đồng chí Lê Văn Một,
người thuyền trưởng của chiếc “tàu không
số” đầu tiên mang tên Phương Đông 1.
Nhưng cuộc đời cách mạng của ông còn có
nhiều bí mật, bất ngờ khiến chúng ta đi từ
ngạc nhiên đến khâm phục.
Bắt đầu từ “con đường xuyên Tây”
Lê Văn Một sinh năm 1921, thuộc dòng
dõi gia tộc thủ khoa yêu nước Nguyễn Hữu
Huân đất Tiền Giang Từ lúc lọt lòng, ông
có tên Pháp là Abel René Abel René là
con thứ 11 trong một gia đình giáo học
quốc tịch Pháp có 13 anh em Cha l à Đốc
học Lê Văn Giỏi nổi tiếng đất Mỹ Tho
(Tiền Giang) Cậu bé Abel René từ nhỏ đã
tỏ ra thông minh, sáng dạ, chăm chỉ học tập,
được bố mẹ cho học ở nhiều trường như
Trường Tiểu học Mỹ Tho, Trường Lê Bá
Cang - Sài Gòn rồi ra Hà Nội học ở
Trường Thăng Long
Đến tuổi trưởng thành, Abel René vào
lính thủy, làm “nghĩa vụ” với mẫu quốc
Pháp, là hoa tiêu trên tàu Lamotte Picquet
-tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương
Cách mạng Tháng Tám 1945 là mộtbước ngoặt mới đến với Abel René Luồnggió mới thổi vào đời ông Abel René bừngtỉnh: La france ce n’est pas ma Ptrie! (NướcPháp không phải là quốc mẫu của tôi!) Ôngcùng bạn bè tìm đường theo cách mạng
Thuyền trưởng Lê Văn Một
Trang 36kháng chiến Abel René đổi tên thành Lê
Văn Một
Tháng 12-1946, cuộc kháng chiến toàn
quốc bùng nổ Lực lượng vũ trang Nam Bộ
“thuốc súng kém, chân đi không” đành phải
lùi dần về Đồng Tháp Mười và rừng U
Minh Ban sưu tầm vũ khí ở nước ngoài
được thành lập Lê Văn Một và 12 người
nữa được đồng chí Năm Phúc (tức nhà lão
thành cách mạng Dương Quang Đông)
chọn vào lực lượng vận tải vũ khí, lên
đường sang Băng Cốc (Thái Lan) bằng ghe
buồm để tìm mua vũ khí và tổ chức con
đường xuyên Tây, vận chuyển vũ khí từ
Thái Lan về Nam Bộ
Lê Văn Một được giao trọng trách
mang theo 25kg vàng, bỏ trong ruột tượng,
ngày đêm cột chặt quanh mình Số vàng
này là kỳ tích của “Tuần lễ vàng” vì lòng
yêu nước của nhân dân quyên góp để mua
vũ khí
Chuyến đầu tiên, Lê Văn Một tổ chức
10 xe bò, 10 voi và lực lượng 70 người, vận
chuyển bằng đường bộ qua Cam-pu-chia về
nước Súng theo voi, đạn đeo lưng người
Trải qua 16 ngày vượt núi, qua sông, địch
luôn luôn ngăn đường, chặn lối, đơn vị vừa
hành quân vừa tác chiến 11 trận trên đất
Cam-pu-chia Đầu tháng 1-1948, đoàn về
đến Nam Bộ với 11 người hy sinh và mất
tích Thấy vận chuyển đường bộ gian khổ ,
hiệu quả thấp, Lê Văn Một tính cách
chuyển sang vận chuyển bằng đường biển
Tuy nhiên, gian khổ, hy sinh vẫn không hề
nhỏ Có lần đoàn vận tải do “cặp đôi” LêVăn Một - Bông Văn Dĩa chỉ huy gặp gióbão, phải ghé vào đảo Phú Quốc để tránh.Gần một tháng nằm tại đây, cả đoàn phảiđào củ chuối rừng ăn cầm hơi Cứ nhưvậy, suốt mấy năm liền, đi đi, về về trênVịnh Thái Lan, đơn vị đã vận chuyển đượchàng trăm tấn vũ khí, hàng hóa về Nam Bộ.Những chiến công thầm lặng đó đã tạo tiền
đề cho ý tưởng vĩ đại m ở con đường HồChí Minh trên Biển Đông
Đến mở đường huyền thoại Hồ Chí
Minh trên biển
Năm 1960, phong trào cách mạng ởmiền Nam phát triển mạnh mẽ, mở đầu làphong trào Đồng Khởi ở Bến Tre rồi lanrộng khắp các tỉnh Nam Bộ Nhu cầu vũkhí cho chiến trường miền Nam rất lớn.Con đường Trường Sơn đang hình thành.Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đãchỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ chuẩn
bị bến bãi và đưa thuyền ra Bắc để nhận vũkhí, đồng thời nghiên cứu con đường vậnchuyển chiến lược trên biển để sử dụng lâudài Từ cuối năm 1961, đầu năm 1962, lầnlượt 6 thuyền gỗ của các tỉnh Bến Tre, CàMau, Bà Rịa, Trà Vinh (trong đó thuyền gỗ
Cà Mau do Bông Văn Dĩa phụ trách) đã rađến miền Bắc an toàn Con đường vậnchuyển trên biển Đông khẳng định là “cóthể đưa vũ khí vào được”
Lê Văn Một lúc đó đang tập kết ngoàiBắc, làm Cảng trưởng cảng Cẩm Phả, đượcđiều chuyển ngay về Đoàn 759 - Bộ Quốc
Trang 37phòng (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải
quân) chuẩn bị làm nhiệm vụ đặc biệt này,
nhiệm vụ mở đường đưa vũ khí từ Bắc vào
Nam trên những “con tàu không số” Phải
nói rằng cấp trên đã khéo chọn, khéo sắp
xếp một “cặp bài trùng”, Lê Văn Một
-Thuyền trưởng, Bông Văn Dĩa - Chính trị
viên, cùng chung chuyến mở đường, cũng
như họ đã từng kề vai sát cánh trên Vịnh
Thái Lan thời chống Pháp đưa vũ khí về
Nam Bộ Họ đã biết tính nết nhau, tôn trọng
nhau, đoàn kết yêu thương nhau, chèo lái
“con tàu không số” đầu tiên vượt biển Đông
mở đường tiếp viện quan trọng đưa vũ khí
vào miền Nam đánh Mỹ
Ngày 11-10-1961, tại Bến K15, Đồ
Sơn, Hải Phòng (Bến K15 vừa được Bộ
Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng Di
tích cấp quốc gia), con tàu gỗ Phương Đông
1 lặng lẽ nhổ neo ra khơi, hướng về phía
Nam, chở 30 tấn vũ khí, mang theo cả
niềm tin, tình thương của Đảng, của Bác
Hồ, của nhân dân miền Bắc tới đồng bào
miền Nam Chuyến đi mở đường đã thành
công Một lần nữa hai người chỉ huy Lê
Văn Một - Bông Văn Dĩa lại ghi tên mình
vào trang sử vẻ vang của dân tộc
“Người đi lo một, người chờ tin lo
mười”
Phó thủ tướng Phạm Hùng ngày đó đã
căn dặn 12 thành viên con tàu gỗ Phương
Đông 1 trước giờ xuất phát: “Đây là chuyến
đi đầu tiên, nên cực kỳ quan trọng, một việc
hệ trọng và lâu dài, do vậy nếu gặp địch
phải khôn khéo, mưu trí, trường hợp xấuphải hủy hàng, hủy tàu để giữ bí mật conđường, các đồng chí nên nhớ, người đi lomột, người ở lại chờ tin, lo mười ”
Ông Sáu Lai, một trong hai người cònlại của tàu Phương Đông 1, hiện sống tạiCần Thơ, kể lại: “Có lần gặp tàu địch bámtheo hướng chạy của ta, chúng nã pháo dữdội Anh em nhanh trí xổ cả buồm lái vàmũi cho thuyền căng gió lướt trên ngọnsóng Chỉ huy tàu phát lệnh chiến đấu.Toàn tàu xác định, khi cần dùng tốc độvượt lên, để tàu địch phía sau, rồi cho nổbom phá áp tàu giặc, dùng tiểu liên, lựuđạn đánh địch, người lái thì cứ cho tàuchạy thoát Nếu không thoát thì cho nổ 3trái bom còn lại, quyết không để tàu và vũkhí rơi vào tay giặc Một và Dĩa dự kiến,nếu địch bắt cả tàu thì lợi dụng trời tối cắtdây cho anh em bơi vào bờ, còn Một vàDĩa ở lại dùng bom thủ tiêu tàu Một nóivới Dĩa: Nếu phải thủ tiêu để một mình tôithôi! Anh cùng anh em may ra còn sốngsót về Trung ương báo cáo ”
Có lúc, gặp giông bão, tàu nhỏ, chởđầy hàng rất nguy hiểm, không vào bờ, dễ
“chết ở ngoài khơi”, vào bờ dễ “làm mồicho giặc”, Thuyền trưởng Một và Chính trịviên Dĩa phải tính toán cân nhắc đến mứccăng thẳng
Người đi trên biển thì như vậy, người ởnhà chờ tin thì sao? Trung tướng Đồng VănCống, nguyên Cục phó Cục Tác chiến,người trực tiếp theo dõi diễn biến của “con
Trang 38tàu không số” đầu tiên, kể lại: “Theo kế
hoạch dự kiến đi 5 ngày thì đến Sáng nào
đến giờ giao ban Đại tướng Võ Nguyên
Giáp cũng hỏi: “Thế nào rồi? Có tin tức gì
không?” Tôi sốt ruột lắc đầu, rồi ngày thứ
sáu, thứ bảy, thứ tám cũng không tin tức gì!
Sáng ngày 19-10-1962, tức ngày thứ chín,
Quân ủy Trung ương đang giao ban Tôi
bước vào Đại tướng ngẩng đầu nhìn tôi
đăm đăm Lần này tôi gật đầu, mặt tươi
sáng Đại tướng đứng dậy ôm chầm lấy tôi,
Đại tướng khóc Mừng quá, không sao kể
xiết ”
Chuyến đi thắng lợi, tàu Phương Đông
1 đã cập bến Vàm Lũng - Cà Mau an toàn
sau 9 ngày lênh đênh trên Biển Đông
Một năm sau, Lê Văn Một lại được cử
làm thuyền trưởng tàu gỗ 41, đưa vũ khí vào
miền Đông Nam Bộ, mở bến Lộc An (Bà Rịa
- Vũng Tàu) ngay trước đồn Phước Hải, đêm
3-10-1963 Đây là một chuyến đi gian khổ bởi
tàu bị mắc cạn ngay trước đồn địch Lê Văn
Một đã ứng xử rất linh hoạt, thông minh, bảo
đảm đưa hàng tới bến an toàn Hai chuyến đi
này đều ghi những dấu ấn đặc biệt trong hành
trình vận chuyển vũ khí bằng đường biển của
những “con tàu không số” Đây là những
chuyến mở đường, vào bến mới, đầy khó khăn
và thử thách Bằng kinh nghiệm đi biển, bản
lĩnh dày dạn, đặc biệt là tinh thần quả cảm
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Thuyền
trưởng Lê Văn Một đã xử trí rất thông minh
nhiều tình huống phức tạp trong hiểm nguy và
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Lê Văn Một mất năm 1982 Chiến côngcủa ông đã được ghi trong Lịch sử Hải quânnhân dân Việt Nam, được đánh giá caotrong tập chuyên khảo mang tên “Đường
Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu”
do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nộixuất bản năm 1993 Ba năm sau ngày ôngmất, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp vớigia đình tổ chức cuộc họp mặt, đánh giácông lao đóng góp của ông trong sự nghiệpchống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là thành tíchđóng góp cho việc mở đường, vào nhữngbến mới trên con đường Hồ Chí Minh trênbiển Ông được Nhà nước công nhận liệt sĩ
và truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba
vì những đóng góp của ông vào sự nghiệpcách mạng của Đảng và của dân tộc
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến c ônganh hùng của tập thể tàu Phương Đông 1
mà người chèo lái con tàu đó là Thuyềntrưởng Lê Văn Một và Chính trị viên BôngVăn Dĩa, những con người đã dũng cảm đitiên phong, “khai sơn phá thạch” một conđường, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước, mởđường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồkính yêu sẽ mãi đi vào lịch sử đấu tranh anhdũng kiên cường của dân tộc ta, trở thànhhuyền thoại mãi mãi không bao giờ nhạtphai trong tâm trí chúng ta, làm rạng rỡthêm truyền thống anh hùng của Hải quânnhân dân Việt Nam
Trang 39Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên
Ngày 07-10-2011
Đại tá Trần Văn Tú – cán bộ Ban
liên lạc truyền thống “Đường Hồ Chí
Minh trên biển” giới thiệu với chúng
tôi một cách trân trọng và cảm phục
về một người thuyền trưởng đã tham
gia chở vũ khí vào miền Nam từ
những ngày đầu trên con đường biển
mang tên Bác Người đã chỉ huy
chuyến tàu sắt đầu tiên, có 10 chuyến
đi thành công, một con số thật đáng
nể phục trong những năm tháng khó
khăn, ác liệt bởi sự phong tỏa gắt gao
của kẻ thù Theo lời giới thiệu, chúng
tôi tìm đến phường Đằng Hải, quận
Hải An, thành phố Hải Phòng gặp
ông Ông là Nguyễn Ngọc Ảnh,
Thuyền trưởng của những con tàu
không số năm xưa.
Làng Lũng những ngày đầu tháng
Tám, đúng tiết ngâu, mưa bay lất phất
Những hạt mưa gợi lại bao ký ức xa
xưa, trong không gian thoáng đãng còn
phảng phất hương thơm của làng hoa
lâu đời Ông ngồi đó, đối diện với tôi, ở
tuổi 80, ông không được khỏe lắm,
ngoại trừ đôi mắt sáng và minh mẫn
Ông là đồng hương của Nguyễn
Phan Vinh, Nguyễn Tương và Nguyễn
Văn Hiệu những người con ưu tú đất
Quảng Nam anh hùng đã ra đi cùng
những huyền thoại về Đoàn tàu không
số vượt sóng gió ra khơi trong những đêm đen,bão gió, đưa vũ khí về miền Nam Đó cũng lànhững ngày tháng có ý nghĩa nhất trong cuộcđời ông Ông tự hào về điều đó 10 chuyến đi là
10 chuyến an toàn, 10 chuyến thành công
Nguyễn Ngọc Ảnh tập kết ra Bắc năm
1954, làm cán bộ trong ngành đường sắt, tuyếnđường Hà Nội - Lào Cai; sau đó chuyển về Nhàmáy dệt Nam Định, rồi học lớp Sơ cấp Hàng hải
và được điều về làm Thuyền trưởng tàu đánh cácủa Xí nghiệp đánh cá Hạ Long Trước yêu cầuvận chuyển đường biển chi viện cho chiếntrường miền Nam, đầu năm 1962 ông và một sốanh em trong Xí nghiệp đã nhập ngũ vào Đoàn
759 - tiền thân Đoàn 125 sau này
Chuyến đầu tiên ông tham gia chở vũ khívào miền Nam là chuyến tàu sắt, do Xưởngđóng tàu III đóng Đây là lần đầu tiên thửnghiệm con tàu do ta đóng và cũng là lần thửnghiệm cho một tuyến đi mới của đơn vị
- Khi nhận con tàu sắt còn nguyên mùi sơnmới, anh em rất phấn khởi, nhưng không khỏi
lo lắng vì chưa kịp tìm hiểu kỹ các tính năngcủa tàu đã nhận lệnh lên đường Trước đó, năm
1962 ta đã sử dụng các tàu gỗ gắn máy chở vũkhí vào miền Nam, loại tàu này chỉ đi sát bờ,không ra biển xa được An toàn đấy nhưng hiệuquả vận chuyển thấp Trước yêu cầu phát triểncủa cách mạng miền Nam, phải có những contàu vận chuyển tốt hơn, trọng tải lớn hơn và đibiển trong mọi thời tiết Con tàu này có trọng
Trang 40tải 50 tấn, lắp máy của Cộng hòa Dân
chủ Đức - loại máy tốt nhất lúc bấy giờ
Tàu chịu được sóng cấp 7, cấp 8, mớn
nước nông, có thể ra vào dễ dàng các
kênh rạch ở Đồng bằng Nam Bộ
Ngày 17-3-1963, từ bến K20-Hải
Phòng chúng tôi lên đường Đồng chí
Đạt - Phân đội trưởng tàu tuần tiễu
được điều sang là m Thuyền trưởng, tôi
là Thuyền phó, đồng chí Nguyễn Văn
Tiến nguyên là thành viên của đội tàu
Bến Tre ra Bắc hai năm trước làm
Chính trị viên
Buổi chiều mùa đông hôm đó trời u
ám, mây vần vũ xám xịt, sóng gió cấp 7,
cấp 8 Tàu ra khơi Phải đi vào những
ngày sóng như vậy, nguy hiểm đấy,
nhưng mới an toàn vì ít chạm tàu địch
Ông Ảnh ít cười khi nói chuyện, có
một nỗi buồn nào đó phảng phất trong đôi
mắt mở to đau đáu kia Sự suy tư hay
những ký ức xưa hiện về trong buổi trò
chuyện này? Lặng im một lát, ông kể tiếp:
- Trong đêm tối mịt mùng, càng ra
khơi sóng mỗi lúc càng to Gió thổi ràn
rạt Mặt biển tím sẫm Thiết bị quan sát
chỉ có 1 la bàn lái chính, 1 la bàn chuẩn ở
trên cao để quan sát trăng sao, núi non
Chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm đi biển
Tàu đi về hướng đảo Hải Nam, vượt qua
Đông Nam quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa… hướng về phía Nam Qua mấy ngày
đêm vật lộn với sóng gió, tuy rất mệt
nhưng ban chỉ huy tàu vừa phải bảo đảm
công tác chỉ huy, vừa phải quan sát chi tiết những
vị trí, nhận dạng trên đường, làm tiền đề chonhững chuyến sau Sóng gió quần dữ, anh emthủy thủ mệt nhoài vì say sóng Bụng đói, thèmmột chút cháo nóng mà nồi cháo cứ đổ nước vào,mỗi lần tàu nghiêng lại hất tung cả bếp, cả cháo
ra Phải đi biển mới biết nấu ăn trên tàu khi sónglớn cực đến mức nào, không kiên nhẫn chắckhông làm nổi Anh Trần Lộc, người QuảngNam, có sáng kiến nắm chặt hai quai nồi và nhấclên mỗi khi tàu lắc mạnh Vậy mà mấy tiếng saucũng được nồi cháo cầm hơi Vượt qua đảo CùLao Thu, tàu hướng thẳng vào c ửa Ba Động Khibắt được tín hiệu, chuẩn bị vào bến thì bất ngờđược tin báo địch tổ chức càn quét, vây hãm khuvực này, chúng tôi chuyển hướng sang bến BátSát, nay là cửa Hàm Luông (Trà Vinh)
Vòng vèo mãi theo con thuyền nhỏ dẫnđường lặng lẽ, mập mờ phía trước, chúng tôi chotàu vòng xuống bến, đó là đêm 23 rạng ngày 24 -3-1963 Đang chạy, bỗng tàu khựng lại! Tàu bịsục cạn Mọi cố gắng của chúng tôi đều bất thành.Chi bộ hội ý chớp nhoáng quyết định cho anh em
Cảnh quay tàu không số bị địch phát hiện, tấn công
trong phim "Đường Hồ Chí Minh trên biển - Đoàn
tàu không số" (đạo diễn Xuân Cường).