1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 2: Phần 2 - Đinh Xuân Lâm (chủ biên)

176 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 17,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 2: Phần 2 trình bày lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1930 và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Mời bạn đọc tham khảo nội dung tài liệu để hiểu rõ thêm về lịch sử Việt Nam giai đoạn này.

Trang 1

PHẨN BA

VIỆT NAM

Trang 3

Chương VU

SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

I CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI CỦA THựC DÂN PHÁP VÀ NHỮNG BIẾN Đổl

TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

1 ('uộc khai thác thuộc địa lần thứ haí của thực dân Pháp

Mặc dù là một nước thắng trận, nước Pháp bước ra khỏi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất với những tổn thất nặng nề về kinh tế và tài chính Chiến tranh đã tàn phá hàng loạt các nhà máy, cầu cống, đường sá và làng mạc trên khắp đất nước Nhiéu ngành sàn xuất công nghiệp bị đình trệ, hoạt động thương mại bị sa sút nghiêm trọng Sau chiến tranh, Pháp đã trờ thành một con nợ lớn, trước hết

là của Mĩ Số nợ quốc gia vào nám 1920 đã lên lới 300 tỉ phơrăng.

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đã tiêu huỷ hàng triệu phcrrảng đầu tư của Pháp nước ngoài Với thắng lợi cùa Cách mạng tháng Mười Nga (1917), thị trường đầu tư lớn nhất của nước Pháp tai châu Âu cũng không còn nữa Thêm vào đó là nạn lạm phát, sự leo Ihang của giá cá và đời sống khó khăn đã làm trỗi dậy các phong trào đấu tranh cúa các tầng lóp nhân dân lao động Pháp chống lại chính phủ.

Trước tình hình đó, để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến ưanh và khôi phục nền kinh tế, chính quyền Pháp một mặt ra sức lìm các biện pháp thúc đẩy sản xuất ở trong nước, mặt khác tăng cường đẩu tư khai thác thuộc địa, trưóc hết

và chủ yếu là ở các nưóc Đông Dương và châu Phi.

Về thời gian, đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp chính thức được triẽn khai từ sau Qiiên tranh thế giới thứ nhất và kéo dài cho đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933), tức là trong khoảng 10 năm.

211

Trang 4

Trong đợt khai thác lần thứ hai, thực dân Pháp tiến hành đầu tư ồ ạt vào các ngành kinh tế Việt Nam với một tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng lớn hem đợt khai thác lần thứ nhất Số vốn đầu tư tăng rất nhanh qua các năm Riéng nãm

1920, khối lượng vốn đầu tư vào Việt Nam cùa tư bản Pháp đã đạt đếi con sô'

255 triệu phơrăng"’ Nếu trong vòng 30 năm, từ 1888 đến 1918, Pháp đã đẩu tư vào Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) khoảng ! tỉ phơrăng thì chỉ tíih riêng trong 6 năm, từ 1924 đến 1929, khối lượng đó đã lên tới 4.000 triệu phcrăng'’’ Duới đây là khối lượng dầu tư vốn theo các ngành kinh tế mà các cóng ti vô danh Pháp tiến hành trong những năm 1924 - 1930 ở Việt Nam:

Từ năm 1931 trở đi, mặc dù bị ảnh hưởng nậng nế của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tư bản Pháp vẫn tiếp tục quá trình đầu tư vốn vào Việt N am và Đông Dương.

Về hướng đầu tư trong dợt khai thác thuộc địa lần thứ hai cũng khic so với thcrt kì đầu thế kỉ XX Nếu trong cuộc khai thác lần thứ nhất, số vốn điu tư của

tư bản Pháp tập trung chủ yếu vào các ngành khai mỏ và giao thông vậi Itải, thì vào thời kì này tư bản Pháp lại đổ xô vào kinh doanh nông nghiệp song iomg với việc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động khai thác khoáng sản Chính sách tãig cường đầu tư ừên đây của tư bản Pháp đã và đang làm biến đổi mạnh mẽ C 1 cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế Việt Nam sau chiến tranh.

(1) Aumiphin (P.), Sự hiện diện tài chinh và kinh t ế của Pháp à Đỏng Dương ( ỉ 858 - .93^9) Bản

địch tiếng Việt, H 1994, tr 57.

(2) Chesneaux (J.) Sđd ư 159.

Trang 5

2 Nhữnịĩ biến đổi trong ncn kinh tê Việt Nam

So \'ới các ngành kinh tế khác, nông nghiệp là ngành được thực dâa Pháp chú trọng đầu tư khai thác nhiéu h(ín cá Năm 1924 sô vốn bỏ vào nông nghiệp ià

52 triệu phơrãng, đến nãm 1927 lên tới 400 triêu phơrăng Với số vốn đó, thực dân Pháp ra sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền Tính đến năm 1930, tổng số ruộng đất bị thực dân Pháp chiếm đoạt đã lên đến 1,2 triệu

ha Sô ruộng đất này được khai thác và lập thành hàng trâm đồn điền, có đồn điền rộng tới vài nghìn ha Riêng ở Bác Kì, vào những năm 20 đã có 155 đồn điền, mỗi cái rộng trên 200 ha.

Hầu hốt các đồn điền đểu được sừ dụng đế trồng lúa và các cây công nghiệp như chò, cao su, cà phê, Tại các đồn đién trổng lúa, các chủ người Pháp cũng như người Việt vẫn thực hiện phương thức canh tác và bóc lột theo kiểu phong kiến, nghĩa là vản giao ruộng đất vé cho các gia đình nông dân sản xuất rồi thu

tò thuè Các biện pháp kĩ thuật trong các khâu làm đất, lưới nước, chăm bón, thu hoạch, Ịiầu như không được áp dụng, lình hình đó dản đến năng suất lúa ở Việt Nam đạt mức Ihấp nhất so V('yi nhiều nước khác ờ châu Á (khoảng lừ 11 - 12 tạ/ha Irong khi đó ở Xiêm là 18 tạ/ha, ờ Malaixia là 21 tạ^a).

Do nhu cầu cúa Ihị trường thè giới, nhất là thị trường Pháp, nên giá cao su sau chiến tranh tãne lên nhanh chóng Đế đáp ứng nhu cầu đó, các nhà tư bản Pháp

đã đổ xỏ vào kiếm lời ưong việc kinh doanh cao su Riêng hai náin 1927 - 1928, các (tồn điền cao su dã được đáu tư 600 triệu phơrãng Nhờ việc tăng cường vốn đầu tư diện tích trổng cao su được mớ rộng không ngừng Năm 1919 diện tích trồng cao su là 15.850 ha, đốn nãiíi 1925 tàng lén 18.000 ha và 5 năm sau đã tãng vọt lèn gấp 4 lần, đạl 78.620 ha''' Các hoại động kinh doanh cao su tập trung chủ yêu vào ba công ti l('rn: Côiiiỉ li (íát <l<i CôníỊ lì trồng cày nhiệt dcri

Côn\> li Micheỉhì. Sản lượng thu hoạch cao su cũng ngày càng lớn, từ 3.500 tấn năm 1919 lén l(ífi 6.796 tân nãni 1924 Riêng sô nhựa cao su xuất khẩu vào năm

1929 đã đại con số 10.000 tấn.

íỉên cạnh cao su nhiéu đồn dién trống chè, cà phê cũng được xây đựng và

mở rộng diện tích, mạnh nhất là từ sau nãm 1924 Tính đến năm 1930, thực dân Pháp đã có khoảng 10.000 ha cà phê, 3.000 ha chè ngoài ra còn có hàng nghìn hecta dùng để trổng mía, bông, hồ tiêu,

(1) Brocheux (P.) - íỉémer>' (D.) íììildthinc ỉa colonisaiion amhiguè 1858 - 1954 (Đông

Dương, nền Ihưc dân nước đói), NXB I.a découverte, Paris, 1995, tr 122.

213

Trang 6

Nhìn chung, tốc độ phát triển của nền nông nghiệp Việi Nam vào Ihời kì này vẫn tương đối thấp (đạt khoáng 1,4%/năm)"' Riêng ớ Nam Kì, sán xuất nỏng nghiệp có nhịp độ phát triển cao hơn so với cá nước, đạt mức 8.5% trong những năm 20 Chỉ tính từ năm 1926 đến nám 1930, các tỉnh Nam Kì dã thu hoạch được 3.360 nghìn tấn lúa**’ Một phần sản lượng lúa đã được dùng đc xuãt kháu

ra thị trường thế giới Trong những nãni 20, lúa vản là mặi hàng xuất kháu chủ yếu của Việt Nam, đạt từ 60% - 70% giá trị xuât khẩu Nãni 1880, sán lượng gạo xuất khẩu là 240.000 tấn thì đến năm 1928 đã lèn 1.700.000 tấn, số lượng xuất khẩu gạo trong thập niên 20 tãng 25%, Việi Nam trỡ thành nước cung cấp gạo lớn thứ hai cho thị trường thế giới, sau Malaixia'’'.

Cùng với nông nghiệp, các ngành công nghiệp Việt Nam sau chiên tranh cũng được tăng cường đầu tư vốn và mờ rộng quy mô sản xuất, '['ư bán í’háp tiếp tục gia tãng tốc độ đầu tư khai thác mỏ, trước hết là mò than Diện tích thãm dò khai thác mỏ lăng nhanh từ 6 vạn ha năm 19Ỉ l Icn 43 vạn ha năm 1930 (lức tăng hơn 7 lần)'^' Vào những năm 20, nhiổu công ti khai mỏ mới đã dược thành lập như Công li than Hạ Long, Đồng Đăng, Công ti than và nió kim khí Đông Dương, Công ti than Tuyên Quang, Công ti than Đôiìg Triều, Sán lượng than đã khai thác được tãng dần qua các năm Nếu năm 1919, sản lượng than đạt 665.000 lấn thì đến năm 1929 đã lên tới 1.972.000 tân (tăng gấp 3 lần)'^' Ngoài than đá, các cơ sở khai mỏ thiếc, kẽm sắt đéu được bổ sung thêm vốn công nhân và dẩy nhanh tiến dộ khai thác So với trước Chiến tranh thè giới ihứ nhất, sản lượng khai thác thiếc tăng gáp 3 lần kẽm 1,5 lần, vontVam 1,2 lần Riêng năm 1928, tư bản Pháp đã khai thác được ờ Việt Nam gần 2 triệu tấn than, 21.000 tấn kẽm, 250 tấn chì, 105 tấn vonữain, 20 tấn phốt phát và hưn 150 nghìn tấn muổi.

Tổng giá trị các loại quặng khoáng sản đã khai thác được từ nãni 1923 đến nãm 1929 tăng lên gần gấp 2 lần, đạt 18,6 triệu đồng (tương clưotng trên 2(K) triệu phcíăng) Số quặng được khai (hác này chú yếu dùng cho xuất khẩu Năin

1929, tư bản Pháp dã đưa đi xuất khẩu 1,3 triệu tấn than (chiếm 65% sán iượng khai thác, tăng gấp 2 lần so với năm 1913).

f í ), (2) Bernard (p.), Probỉème ẽconomique indochitưns (Vàn đé kinh tế Đông Dương), Paris,

1934, tr 94.

(3) Brocheux (P.) - Hémery (D ) S(1d ir 119.

(4) Dẩn theo Lịch sử V iệt Nam, Tập íỉ, NXB Khoa học xã hội H., 1985, tr 162.

(5) Cao Ván Biền, Công nghiệp ih a n ỏ V iệ t Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1998.

Trang 7

Để phục vụ cho ngành công nghiệp khai khoáng, một số cơ sở chế biến quặng, đúc kẽm, thiếc đã được thành lập ờ Quáng Yên, Hải Phòng, Q io Bằng Mục liêu của các cơ sò chế biến này là sơ chê các quặng rồi đưa đi xuất khẩu, hoặc chuyển sang Pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của nền công nghiệp chính quốc.

lìên cạnli công nghiệp khai khoáng, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến vào thời kì này cũng khá phái đạt Tất cả các cơ sở công nghiệp chê biến như Nhà máy xi măng Hải Phòng, các nhà máy tơ, sợi và dệt ở Hà Nội, Narii Định, Mải Phòng, Sài Gòn, các nhà máy xay xát gạo, chế biến rượu, làm đường ở Hái Dương, Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn, đều được nâng cấp và mở rộng quy mỏ sản xuất.

'l uy nhiên, một ngành công nghiệp nặng (công nghiệp iuyện kim, cơ khí) - với đầy đủ tính chất của nó - thật sự chưa ra đời Cổng nghiệp Việt Nam vẫn là mội nén công nghiệp ciịcìi vụphục vụ (chù yếu sản xuất các hàng tiêu dùng

và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc), nên chịu sự lệ thuộc nặng né vào thực dân Pháp và thị trường nước ngoài.

ỉ)è đáp ứng yêu cầu cùa công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, ngành ỊỊÌao thônịỉ vận tải tiếp lụủ được tăng cường đầu iư vốn và các trang thiết bị kĩ thuảt Trong thời gian này, chính quyền thực dàn cho xây dựng thêm một số đoạn trên con đường sắt xuyên Đỏng Dương như các đoạn đường Vinh - Đông

Hà, Đổng Đăng - Na Sầm Tính đến năm 1931, Pháp đã xây dimg được 2.389

km dưòtng sắt trên lãnh thổ Việt Nam Vổ đườiìg bộ, tốc độ xây dựng các tuyến đường liên tinh cũng như nội tinh diển ra khá nhanh Đến nãm 1930 đã mở được gần 15.000 km đường quốc lộ và đường liên tỉnh, riêng đường rải nhựa mới có khoáng vài nghìn km Đồng thời, các hái càng Hải Phòng, Sài Gòn cũng được nạo véi và cúng cố nhà kho bên bãi Ngoài ra, Ỉ11ÒI sô hải cảng mới như ĩỉòn Gai ỉiến 'rhuỷ đang được xúc liến xây dmig Mạng lưới giao thông thuỷ trên sông Hổng và sông Cửu Long tiếp lục được khai thác và sử dụng vào việc chuyên chờ hàng hoá và hành khách Có thể nói, vào thời điểm những năm 30,

40 của thế kỉ XX, Đông Dương là một Irong những nưi có hệ thống đường giao thông tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á.

Do việc tăng cường đầu tư phát triển kinh tế ngành thương nghiệp mà trước hết là ngoại thương vào thời kì nàv có bước tiến bộ rõ rệt so N'ới thời kì trước chiên Iranh.

'l'iẽp sau các đạo luật thuê quan các nãm 1887, 1892, 1910 và 1913, nãm

1928, chính quyén thực dân ra một nghị định mới nhầm đánh thuế nặng vào

215

Trang 8

hàng hoá cùa nước ngoài, nhất là hàng của Trung Quớc và Nhật Bín íìằng chính sách dộc quyền ngoại thương, tư bản Pháp đã tạo điều kiện đưa hàng hoá của Pháp tràn ngập thị trường Việt Nam Nếu giai đoạn irước chiến traih, hàng Pháp nhập vào Đông Dương mói chiếm 37% thì đến những năm 1929 - 1930 đã lên tới 63%"* tổng số hàng nhập khẩu Nói chung, cán cân thương rtiỊÌ ihcíi kì này tưofng dối ổn định, thậm chí có xu hướng xuất siêu. V í dụ, trong năm từ

1928 đến 1932, chỉ có một năm nhập siêu, còn 4 năm xuất siêu; riêng nim 1928 sản lượng xuất siêu đạt tới 50 triệu đồng.

Tổng giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu cũng tảng nhanh qua các tiiin Nếu nãm 1920, tổng giá trị hàng xuất khẩu đạt 318 triệu đồng, năm 1928 đã tăng lên

Các mặt hàng xuâì khẩu của Pháp sang Việt Nam phần lớn là hàng têu dùng hay phục vụ sinh hoạt như vải, bông, sợi giày dép, rượu, ihuốc lá ô tô Còn các loại thiết bị máy móc phục vụ phát triển công nghiệp thì háu như khíng được nhập khẩu vào Ví dụ năm 1929, chỉ riêng các tnặt hàng bia rượu được đưa vào Đóng PưíTììg đã lên tới 63 triệu phíĩrãng, trong khi đó chi nhập :.4 Iriệu phoTãng các loại máy kéo và máy phục vụ nông nghiệp'"'.

Đi iiền với hoạt động ngoại thương, việc buôn bán trên thị trườnị nội địa cũng được lăng cường so với trước Quan hệ giao lưu kinh tế, mua bán íàng hoá giữa các tỉnh, các miền trong nước cũng được đẩy mạnh Trên thưcmị trường, thực dân Pháp vẫn tiếp tục giữ độc quyền mua và bán ba loại hàng là rưni., muối

và thuốc phiện Nói chung, các hoạt động buỏn bán lớn ở trong nước lểiU nằm trong tay người Pháp hoậc Hoa kiều.

(1 )B ern a rd (P ),S đ d ,tr,9 9

(4) Buìĩcĩion économique de Vỉndochine Ợ ậ p san kinh t ế Đỏng Dương), 1929, li , 1930,

ư 36, 54 Dản theo: Ụch sử Việt Nơm, Tập n , Sđá, tr 166.

Trang 9

Đóng vai Irò tổ chức và chi phối hầu hết các hoạt động kinh tế, tài chính ờ Việt Nam trong thời gian nàv vẫn là NiỊỚn hảiìíỉ Dông Diửmg. Ngoài việc nắm độc quyén phát hành giây bạc và cho vay lãi Ngàn hàng Đông Dương còn trực tiếp quán lí và chi đạo hoạt động các chi nhánh ờ các ngành, các tỉnh IVong những nảm 1925 - 1930 Ngân hàng Đông Dươntĩ dã phối hợp với các cơ quan chính quyẻn thực dân xây dựng thêm 19 Nông phố ngân hàng ờ hầu hết các tình Bác, Trung, Nam lliô n g qua đó, Ngân hàng Đóng Dương càng có điếu kiện cho vay ihu lĩi nặng, đổng thời can thiệp sâu thêm vào đời sống nông thôn nước ta Tuy nhiên, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai cùa tư bán Pháp không đcrti giản là quá trình đầu tư vốn và mở rộng quy mô khai thác, mà kèm iheo sự đầu

tư là các nhân tố kĩ thuậl và con người sán xuất Nhưng tiếc Ihay, kết quá cùa cuộc khai thác ấy lại chi là sự mờ rộng, nhân lên cùa tình trạng sán xuất lạc hậu trong các cơ sở kinh tế Số máy móc và liến bộ kĩ thuật được áp dụng trong sán xuất cực kì hạn chế và ít ỏi.

Đặc diẽni nối bật cúa toàn bộ cơ cấu kinh tế Việt Nam thời thuộc địa là sự phát triên mất cán đôi: nen nông nghiệp nặng nể cổ hủ bên cạnh nến công nghiệp riỏng manh, yếu ớt; trong công nghiệp, ngành khai mò chiếm phần lớn công việ: kinh doanh, các ngành sàn xuất công nghiệp khác như hoá chất, luyện kim, cư khí, nàng lưtrtig, thì hầu như không phát iriến.

'ĩính ;hât mất cân đôi đó còn ihê hiện qua mối quan hệ giữa các vùns, các miển cỉâ nưức Miền Eìắc và niiền Nam kinh tế còn ít nhiều phát iriển; còn miền Trung từ (rước đến sau chi trừ một vài biên chuyến có tính chất cục bộ ờ Vinh — Bên 'lliuỷ, Quảng Nam - Đà Nầng còn lại các nơi khác hầu như vần ở trong lình trạng nghèo nàn lạc hậu Rièng các khu vực miền núi chuyên biên không co gì người dân ván sống theo phương Ihức du canh du cư, chú yếu tận dụng nhirng sán vật sẩn có cúa tự nhiên.

II CHÍNỈ ỉ SÁCM CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN MOÁ CỦA THựC DÂN PHÁP SAU CHIỂN TRANI1 í MẾ GIỚI THỨ NHẤT

Nhữtiĩ biến đổi cúa xã hội Việt Nam trước hết chịu sự chi phối của quá trình phát Iriểi kinh tế, đồng thời còn Irưc tiẽp chịu ánh hưtVng của các chính sách xã hội do ch'nh quyền thực dân - phong kiến thi hành.

217

Trang 10

1 Chính sách "cải lương hương chính"

Nhằm mục đích can thiệp trực tiếp vào các làng xã, lừ năm 1904 ihực dân Pháp bắt đầu quá trình "cải lương hương chính" với ý đồ đưa tầng lớp lân học lên cầm quyền thay tầng lớp cựu học trước kia Nhưng sau nghị định đầu tiên ngày

27 - 8 - 1904 ở Nam Kì, phải tới 17 năm sau, tức năm 1921, thực dân Pháp mới tiếp tục thực hiện được ý đồ đó trên đất Bắc Kì với nghị định ngày 12 - 8 - 1921 Sau đó công cuộc cải lưcMg hưofng chính tiếp tục được tiến hành ở cả hai nơi: Bắc

Kì với các nghị định kí ngày 25 - 2 - 1927 của Thống sứ Bắc Kì; Nam Kì với các nghị định kí ngày 30 - 10 - 1927 của Toàn quyền Đông Dương.

Chù trương chung của thực dân Pháp là tiếp tục thực hiện việc sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào việc cai trị Các thành phần này ở bên trên chi là những kẻ có chức, nhưng không có quyền hành gì đáng kê Bộ phận đắc lực là guồng máy tay sai ở các cấp dưới, chủ yểu làm nhiệm vụ thừa hành các mệnh lệnh cúa trên Ngoài bộ phận tay sai cũ được duy trì và cái tạo đế sử dụng, Pháp tảng cưòfng đào tạo lực lượng mới để bổ sung và cúng cố cho bộ máy chính quyền của chúng Chính sách này có hiệu lực ờ mức độ nhất định, còn bộ phận rộng lớn nhất cúa xã hội Việt Nam là các làng xã thì Pháp khó chi phối hơn Chúng không thê’ mở trường đào lạo các lí trưởng, chánh tống được, các làng xã bị đóng kín Đây là bộ phận quan ưọng bậc nhất Irong cấu trúc xã hội Việt Nam Mỗi làng ià một tế bào, là một cấu kiện ghép thành xã hội nông thôn - nông nghiệp Việt Nam, vì vậy Pháp ra sức tìm một con đường để xâm nhập vào

và chi phối các làng xã.

Về càn bản, các chính sách cải lương hương chính chấp nhận những cơ chế

cổ truyền của các làng xã, song nó cố gắng nắm lấy bộ phận cầm đầu các hương thổn Dù gặp phải những khó khãn và phản ứng từ các làng x ấ ‘\ nhưng két quả của quá trình "cảí lương hương chính" là thực dân Pháp đã thành cỏng trong việc can thiệp vào các làng xã thông qua việc "viên chức hoá" các chức dịch, kì hào kiểm soát được nhân sự tài chính, đưa các thành phần có gắn bó với chế độ thực dân vào chính quyền,

{1) Sau Nghị định đầu liên vể cải lương hương chínỉi ờ Bắc Kì, viộc dột ngột đưa Hội đồng tộc biếu thay thế tổ chức quàn lí truyền thống cùa làng xã đã làm xáo trộn vể mật nhân sự, tập quán và tám lí nên đã gây ra phân ihig xấu, Vì vậy, Pháp phài ban hành Nghị định 25 — 2 — 1927 đế "sứa sai".

Trang 11

Sau khi đã xây dựng và cùng cô được quvcn !ực cúa mình trên thực tế thực dân Pháp tìm cách gạt bò vai trò cúa triéii dinh phong kiến trong công việc quốc gia V(JÌ bán quy ước ngày 6 - i I - 1925, Pháp đã còng khai bãi bỏ thực quyển của giai cấp phong kiến và nắm lây quyổn thông trị trên cà ba phương diện quyển lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp''’ Một bộ ináv cúa nhà nước thực dán Pháp vừa trùm lên, vừa chi phối hệ thống chính quyền phong kiến hình thành.

2 ( ’ác cuộc cải cách vé chính trị - hành chính

'I rong nhCmg nãm 20 thực dân í’háp đã tiến hành một số cải cách nhằm đối phó lại những biên động dana diẻn ra trong xã hội Việt Nam Mục tiêu cúa các cuộc cái cách này là mở rộim cơ sớ xã hội ciia thực dán Pháp, nhưng không làm ánh hưởng lới nén táng thống trị ỡ thuộc địa Xuất phát từ đó, Pháp kiên trì đườiig lối nhượng bộ đối với các giai cấp có cúa đồng thời tăng cường đàn áp chống lại quần chúng lao động.

Nham xoa dịu quần chúng, các viên toàn quvền Pháp từ Xarô qua Lông (Mauricc Long) đến Varen (Alexandre Varcnhc) đã tiến hành một số biện pháp như lập các viện dân biêu Bắc Kì Irung Kì, mờ rộng các công sở cho người Việi lập các ngạch công chức tương đưưng cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau, nhưng với các chức vụ và chê dộ lương bổng khác nhau, ỉỉộ phận các uý viên người Việt trong các phòng Thương mại và Canh nông của các thành phố Ịớn cũng được lãng théĩíì sỏ lượng Nãm 1928, Pháp lập ra Đại hội (lồng kinh tế tài chính Đòng Dương với tư cách là cơ quan tư vấn vé các vấn

dề kinh lế, tài chính irong I.iên bang Đỏng Dương.

Một trong những biểu hiện khác cùa chính sách cái cách này là tãnạ cường sô' lượng công chức người Vicl irong bộ máy hàiilì chính thuộc dịa f)c thực hiện mục tiêu đó Toàn quyổn f)ỏnịỉ Dương !,òng đã ban hành sắc lệnh ngày

20 - 6 - l ‘)21 vé việc tăng cưínig lựa chọn vào bộ máy hành chính những quan lại người Việt Đây là diéu kiọn cần thiết dế lạo ra đội ngũ cán bộ địa phưctiig người Việt Có thc nói dây và lần đầu tiôri trong lịch sử xâm lược và thống trị nước ta, thực dân Pháp inới ban hành một quy chế chính thức nhằm tuyến chọn công chức người Việt vào cơ quan hành chính thuộc dịa Tuy nhiên, cuộc cái cách cúa Toàn quyền Lỏng đã không đạt được mục đích, vì nó không làm thay dổi căn bản tình hình, sò ỉượiig còng chức Việt Nam vẫn không đáng ké.

( I í Dương Kinh Quốc Chinh qttyén tlìuói (ìiti (ý \ 'iẹt Nam tritiH' Cách »iạng ttiáng Tám 1945,

NXB Khoa học xà hội, n 1988, ir 212.

219

Trang 12

Nói chung, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức ngưòi Việt trong những năm

20 là một vấn đé hết sức gay cấn Một số nhà hoạt động trên lĩnh vục hành chính của Pháp đã coi vấn đề này như chìa khoá để giải quyết tất cá các vấn để khác trong chính sách thuộc địa ở Việt Nam.

Đê’ tiếp lục giải quyết vấn đề còng chức người Việt, nghị định ban hành ngày

27 - 2 - 1926 đã chỉ rõ từ nay tất cà các chức vụ trong cơ quan hành chính Pháp, trừ một số chức vụ cao, sẽ được xếp ngang nhau cho người Việt Nam và người Pháp"’ Tuy nhiên, những quy định đó vẫn chi là trên giấy tờ, còn trong thực tế Toàn quvền Varen đã phê chuẩn một khoản gọi là phụ cấp thuộc dịa cho các quan lại người Pháp, tương dương 0.7% lưong hằng tháng’’'.

Vì thế cuộc cải cách trên đã không Ihoá mãn được các công chức Việt Nam khiến họ phải công khai nói rầng: "Các công chức Việt Nam do nguồn gốc của mình đã không có quyền nhận khoản phụ cấp thuộc địa và như vậy, chính sách trên chỉ có mục đích hạ thấp chủng tộc châu Á"' '*.

Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong những năm 20 là nhằm ve vãn, tranh thủ và lôi kéo một bộ phận rất nhỏ trong giới "thượng lưu” Việt Nam, bao gồrn một sô' nhà tư sản địa chủ và trí thức lớn Lực lượng này vì quyền lợi cá nhân đã đứng vé phía bọn xâin lược, càu kết với chính quyền thực dân Pháp áp bức bóc lột nhân dân ta Còn dại đa số các tầng lớp nhân dân thì bị đáy vé bên kia trận tuyến, đôi lập với loàn bộ chê độ thực dân.

3 Chính sách thuế khoá

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với việc tăng cưỉmg đầu tư khai thác, chính quyền thực dân cũng ra sức bóc lột nhân dân ta qua con (lưmig thuê' má Các loại thuế trực thu và gián thu tăng lẽn 5>ố tiền thuế càng ngày Cang nặng thêm Từ năm 1919 đến năm 1921, chính quyền thực dàn ra lộnh bãi bỏ việc dóng thuê theo mức cũ ở Bảc, Trung Kì và tiến hành đánh thuế đồng loạt với mức thuế thân !à 2,5 đồng Mức thuế thân ờ Nam Kì tăng từ 5,58 đ (1913) lên 7,5 c1 (1929) Tổng sô tiền thu thuế ở ba kì từ nám 1912 đến năm 1929 lãng gấp

ba !ần so với thời kì trước đó Trong các năni bình thường, mức thuế này đã là một gánh nạng đối với người dân nếu so với mức thu nhập kem cỏ: của họ.

( 1) D ẽlm s pai leinentaires (Những cuộc ưanh luận ờ Nghị viện) Séance du 20 VI 1930, tr I ■’4.

(2), (3) Le cưhiet des voeux annaiiiites Revue écaiumtique d'Extréme Orienl ( ĩ ộ p cán nguyện Aniiain, Tạp chí kinh tế Viền Đông), số 132, 1932, tr 8-9 và 11.

Trang 13

Trong các năm khó khăn, mất mùa, khùng hoang kinh tế, gánh nặng đó trờ nên đạc bièt khùng khiếp Tính đổ đổng đầu người, không phân biệt già tré lớn bé mỗi người dân Việt Nam phái đóng 8 đ tiền thuế, tương dương 70 kg gạo trắng hạng nhất lúc bấy giờ.

Bén cạnh thuế khoá, chính quyền thực dàn còn tìm cách bất buộc nhân dân mua các loại công trái, quốc trái đê lấy tiền xây dựng các công trình công cộng hoặc phục vụ nhu cầu quân sự Nhiều người không muốn mua cũng bị "gán" cho Riêng còng trái phát hành (rong những nãm khùng hoảng kinh tế đã thu vế cho chính quyền thực dân tới 150 triệu đồng.

4 Chia rê dân tộc và chủng tộc

Chính sách xã hội cùa thực dân Pháp đối với các giai tầng xã hội cũng rất khác nhau Với các tầng lớp trên cúa xã hội như những kẻ hữu sản giàu có, quyén lợi ít nhiều gắn với chính quyển thực dân, chúng dành cho những đặc quyền, dặc lơi cả về kinh tế, chính irị lần vãn hoá xã hội Đối với các tầng lớp dưới, thực dán Pháp chủ trương tãng cường bóc lột, áp bức và đẩy họ vào vòng tăm lối cùa chê' độ ngu dàn.

Bên cạnh sự phân biệt giai cấp, các chính sách cúa Pháp tiếp tục thể hiện sự phân biệt chúng tộc một cách trắng trợn Tất cá người Pháp đều được ưu tiên irong mọi vị trí, mọi công việc \'à thời gian Người Việt bị coi thường và khinh

rẻ Người Vict tốt nghiệp các trường cao đẳng ra, thậm chí tốt nghiệp ở Pháp về, cũng hầu như không bao giờ dược coi là có trình độ tưcntg đương với người Pháp cùng trường đó ra Còn trong một cồng sở có hai người, một Pháp và một Việt có bằng cấp tương đưotng, người l’háp được xếp vào ngạch cao hơn, tiền lương cũng cao hơn nhiều.

5 Chính sách vân hoá giáo dục và những chuyến biến mới

Vào những nãm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với sự biến dổi irong kinh tế và cơ cấu giai cấp xã hội tình hình giáo dục đời sống tư tưởng, văn hoá

và tâm lí ở Việl Nam cũng có nhiều chuyển biến.

NhũtiỊỉ c/myển biến trong giáo dục

Ngay từ cuối năm 1917, sau khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương, Xarô (Albert Sarraut) đã ra Nghị định ban hành "Học chinh tổng quy"

(Règleincnt général de rinstruction publique) dế cái cách hệ thống giáo dục.

221

Trang 14

Đây là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai tiếp sau cuộc cải cách của Toàn quyền

Bô (Paul Beau) vào năm 1906 Trong thời kì thực hiện cải cách giáo dục thứ hai (1917 - 1929), thực dân pháp chủ trương nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nển giáo dục Nho học (trên thực tế kì thi Hưcmg cuối cùng kết thúc vào năm 1919), đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp - Việt Theo tinh thần bản

"Học chính tổng quy", nền giáo dục bao gồm hai bộ phận: các trường Pháp chuyên dạy học sinh người Pháp theo chương trình "chính quốc" (Métropole) và các trưcmg Pháp - Việt chuyên dạy người Việt theo chưcmg trình bản xứ" (Indigène)’".

Toàn bộ hệ thống giáo dục được chia thành ba cấp: tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học.

Thời gian theo học các cấp của trẻ em được cụ thể hoá như sau: Cấp tiểu học 5 năm; sau khi hoàn thành chương trmh tiểu học và thi đỗ, học sinh được nhận bằng tốt nghiộp tiểu học (Certificat d’Études Primaires) và được thi vào trường trung học ở bậc trung học, học sinh sẽ học trong 4 năm (ưung học đệ nhất cấpy^’.

Năm 1923, Méclanh (Martiai Merlin) thay thế Xarô lên làm Toàn quyển Đông Dưctng đã có một số thay đổi và điều chỉnh trong chương trình cái cách giáo dục ở Việt Nam Theo quy định mới của chính quyền Méclanh, từ năm

1924 trở đi, vói chưcmg trình "bình diện" nhằm mục đích hạn chế việc học của thanh niên và học sinh Việt Nam, học sinh sau khi học xong ba năm bậc sơ đẳng phải thi lấy bằng Sơ học yếu lược, rồi mới được lên lớp trên; học hết 2 năm nữa lại phải thi lấy bằng tôì nghiệp Tiểu học bổ túc bản xứ {Certificat d'études primaires compiémentaires indigènes), trước cách mạng thưòng được gọi là bằng "Rime" Nhưng ngay ở 3 nâm học sơ dẳng này, học sinh phải học bằng tiếng Pháp nên rất nhiều trẻ em nông thôn không thể theo học được Đã vậy, còn quy định hạn tuổi vào học các cấp rất chăt chẽ, càng góp phần gạt bới số học sinh muốn đi học.

Để củng cố và hoàn chỉnh một bưổc giáo dục trang học, năm 1927, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đặt thêm bằng Tú tài bán xứ, tức bằng Trung học đệ nhị cấp Bằng Tú tài bản xứ được coi tương đương vói bằng Tú tài thcfi

đó quen gọi là Tú lài Tây học theo đúng chương trình dạy bên Pháp Những người có bằng Tú tài bản xứ có thể thi vào các trường cao đẳng, đại học ở Đông Dương và cả ở Pháp Bên cạnh các trường phổ thông (tiểu, trung học).

(1) Phan Trọng Báu, Giáo dục Viêt Nam thời cận đại NXB Khoa học xã hội, H 1994, tr 84.

(2) Xem Nguyễn Tài Thư (C3iủ biên), Ảnh httáng cùa các hệ tư tưởng và tôn giáo đổi vởì con

người Việt Nam hiện nay, NXB Q iúih trị quổc gia H., 1997 tr 71.

Trang 15

chính quyén thuộc địa cũng chú ý xày dựng các trưòng chuyên nghiệp và dạy nghé, như các trường Bách cóng, Bách nghệ (École pratique d’industrie) ở một

số thành phố lớn, các học sinh có bằng tốt nghiệp tiểu học được quyền thi vào các irường này.

Để thú tiêu và thay thê các trưcmg đào tạo quan lại theo kiểu phong kiến, thực dân Pháp đã giái lán hai trường "Sĩ hoạn" à Hà Nội "Hậu hổ" ở Huế vào năm 1917 và quyết định thành lập trường Pháp Chinlĩ (École de Droil et d' Adminislralion) để đào tạo các quan lại cai trị cho chính quyền thuộc địa ở Việt Nam và Đông Dương Về mặt tổ chức, trường Pháp - Chính trực thuộc

Đại học Đỏng Dương, do Giám đốc Đại học Đông Dương quản lí.

Cùng với trường Pháp - Chinh, trong thời kì này một số trường cao đẳng khác đã được thành lập, thuộc các ngành Sư phạm, Công chinh, Thương mại

Năm 1918, Pháp thành lập thêm trường Cao dẳng Nông nghiệp: còn trường

Y học Đỏng Dương sau ! 6 năm hoạt động cũng được đổi thành trường Kiêm hị cao dẳng Y - Dược.

Rõ ràng, so với đầu thế ki XX nền giáo dục Việt Nam trong nhũng năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất có nhiều thay đổi vể hệ thững tổ chức, cơ cấu ngành nghề và nội dung đào tạo Vổ sô iượng trường học và nhũtig người đi học, đến niên khoá 1922 - 1923, lức là sau 5 năm thực hiện cài cách giáo đục lần thứ hai, ở Việt Nam đã có 3.039 trưòtìg tiểu học, 7 trưòmg cao đẳng tiổu học và 2 trường trung học“ ‘; số học sinh gồm 163.110 người Từ niên khoá 1923 - 1925 đến năm 1930 sô' lượng học sinh tảng từ 187.000 người lên 434.335 ngưcrt, ưong

đó có cả học sinh ưường công và tư với các cấp từ vỡ lòng đến trung học‘^‘.

Riêng số lượng sinh viên mới chi chiếm một ti lộ rất nhỏ trong số những người đi học Trong nàm học 1922 - 1923, tổng số sinh viên các trưcrtig cao đảng là 436 người, đông nhất là sinh viên các ngành Y - Dược (106 người) và Công chính (104 người), còn ngành Sư phạm có số lượng sinh viên đứng gần cuối bảng gồm 41 người Đến niẻn khoá 1929 - 1930 Ịực lượng sinh viên tãng lên khoảng hơn một trãm gồm 551 người'’’.

( 1 ) 7 trường cao đẳng liéu học gổm: Trường Bào hộ Hà Nội trường nữ học Hà Nội, trường Quốc học Huế truỀmg nữ học Đồng Khánh (Huế), trưòng Saixơlu Lôba Sài Gòn, trường nữ học Sài Gòn, trường Níĩ TTio Hai trường trung học là trường Anbe Xarô (Hà Nội) và trường Satxơlu

Lôba (Sài Gòn), theo Phan Trọng Báu, Giáo (lục Viẹt Nam thài cận đại, Sđd tr 92.

(2) '1'rần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm Kiều Xuân Bá, Ụch sứ cận dại Việt Nam Tập IV, NXB

Giáo dục, 11., i9 6 3 , tr 74, 75.

(3) Trong năm học 1931 - 1932 loàn Đông Dương có 5 7 1 sinh viên, trong đó Bắc Kì có 3 11 sinh

viên, Trung Kì có 114 sinh viên và Nam Kì có 114 sừứi viẻn Theo Tiịnh Vãn Tháo L' École

/ranạiise en Indochine (ĩrưìmg học Pháp ở Đóng Dươitgì, NXB Karthala, Paris, 1995, tr 137.

223

Trang 16

Ngoài ra còn phái kê tới một bộ phận học sinh các trường chuyên nghiệp và

kĩ nghệ thực hành Tính đến năm học 1929 - 1930, riêng ở Bắc Kì có 900 học sinh chuyên nghiệp và học nghề.

Cũng cần nhấn mạnh rằng phần iớn học sinh, nhất là học sinh các lớp cao (cao đẳng liểu học trung học) và sinh viên đại học đều là con cái các gia đình giàu có hoặc có địa vị nhất định trong xã hội Còn các gia đình nông dàn nghèo may lắm cũng chỉ có khả năng cho con em theo học các lớp chữ Hán hoặc Quốc ngữ ở trường làng Chính vì vậy, số trẻ em thất học vẫn chiếm tỉ lệ rất lớn, khoảng 7 - 8 phần mười số người ở độ tuổi đi học.

Cùng với học sinh, lực lượng giáo viên cũng tâng nhanh so với hồi dầu thế

kỉ Theo thống kê của chính quyền Pháp, năm 1930 ở Việt Nam có 12.000 giáo viên các cấp"’.

Trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ngoài các cơ quan và viện nghiên cứu đã được thành lập từ đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp còn xây dựng thêm một số cơ

sở mới như: Túc mé cục, Viện Hải ditt/ng học và nhất là Hội đồng nghiên cứu khoa học ịConseU des recherches scientifiques) vào năm 1928 Thành phần của Hội hầu hết là các kĩ sư, bác sĩ, các nhà quản lí các cơ quan khoa học và giáo dục Mục đích của các cơ quan và tổ chức khoa học này là nhầm tìm hiểu và khai thác các nguồn tài nguyên, của cải của đất nước ta, phục vụ yêu cầu lợi nhuận của các nhà tư bản Pháp.

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng trong thời gian này cũng có một ‘số cố gắng rõ rệt Số bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh công và tư có tăng thêm Việc thành lập Viện Paxtơ (Pasteur) với các chi nhánh của nó đã góp phần nghiên cứu, sản xuất một số vấcxin chữa bệnh So với đẩu Ihế kỉ XX, lực lượng bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và nhân viên y tế cũng tăng lên Tuy nhiên, đến nãm 1929 trên toàn lãnh thổ Đông Dương (20.900.000 người, trong đó có 43.000 người Âu) chi có 7 6 i thấy thuốc, trung bình cứ 30.000 người mới có một thầy thuốc'^’ Đã vậy, tổ chức y tế này chủ yếu phục vụ cho người Pháp và các tầng lớp trên trong xã hội thuộc địa Thêm vào đó, một số loại bệnh nan y như dịch tả, sốt rét, đậu mùa, lao phổi có xu hướng gia tăng Phần lớn các gia đình nông dân, thị dân nghèo không có tiền khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế, buộc phải tự chạy chữa bằng các phương pháp y học cổ truyển.

(1) Annuaires statistiques cle rindochine (Niên giám thống kẽ Đông Dương, GGl, H., 1930) (2) Trán Vãn Giàu, Đinh Xuân Lâm Kiéu Xuân Bá, Lịch sứ cận đại Việt Nam, Sđd, tr 8Ơ.

Trang 17

DỜI s à h i’ vàn lìo â nỊihc Ilì nại

'I'ừ sau Cliión tranh thê giới Ihír nliál, (iời sốnu kitih lố - xã hội Việl Nam có nhicu bión dổi Một số ngành kinh tẽ mới Iilur niỉáii liàng, còníi nghiệp chế biến,

cơ khí đã lììiih thành Các dò tiiị (lươL iiKt nianu, các lực lượng xã hội mới như còng nhãn, tư sán tiéu tư san cũiig ra (lời \à Iigii\ càng phát Iricn Mệ thống iiiáo dục PliiÌỊ) - Vịệi mờ rộiii: liơii trước: lấnu lớ[) học sinh, sinh viên, công chức \ ’à irí ttiức nụày càtiíỉ thẽiii tlỏní’ (tao Cơ so in án và xuất bán dã xuất hiện

ớ kliiip ba kì \ ới liànii chục lờ báo, tạp clií chữ Pháịi \ à chữ Quốc ngữ.

'lYone bối cánh ctó các Irào lưu tư tirớiiu mới các thành tựu khoa học và kĩ thuât \ăn hcKÌ và nghệ thuật từ phương lầy thông qua sách báo nước ngoài đã ồ

ạt Iriin \à() tionụ lurức thúc ciay \à tãiií! cirờns moi quan hệ tiếp xúc giữa hai nén văn hoá Á - Ấu và Dỏnu - [á\ ớ Viẹt Nam, Việc in ấn, xuất bán và giới ihicu các công trình vé khoa học tự nhión \ò trict liọc luật học cúa các học giá phircmg '1'ây dã uóp phán làm lha> (lói plurơiii: pliáp tư duv, nghiên cứu trong một sô Ii í thức tân học hình tliàiih plurong pháp tư duy duy lí tồn tại bẽn cạnh lõi tư duy duv cám cúa người Việi Nam.

Cìiai cloạn lừ nãni 1919 (ICmi nãni l ‘)2^) dược xein như giai đoạn giao thời, chuvên tiẽp cúa lịch sứ dân tộ c '! roim giai doạn dó, dường như có sự giao thoa, đan xen \'à tổn tại đồng thời ciữa những yèu tò vãn lìoá truvền thông và văn hoá

lừ b é n n g o à i , g iữ a Hổn vãn hoá nó dịcii ciia cá c Iilui tư bân th ự c d â n và m ộ t

ncn vãn hoá mới đang náy sinh \à tiần clần phát ti icii trona lòng xã hội thuộc địa Viẹt Nam.

'i rong Ihòi gian này thực dán Pháp ra sức sử tlụiie vũ khí vàn hoá phục vụ cho mục đích khai thác thuọc (lịa, tuyòn iiuytMi cliinli sách họp tác !’háp - Việt, Cliíiih quycn l’háp ưu tÌLMi xiiál baĩi Cik- sách báo phó hién tư tướng Âu cháu, cho [’hạm Quỳnh ra Nam Plìoinj tuỊ) ( In lỉ)a\ ỉ)oiìư ì)ii<niỊ> lạp ( hi cúa Nguyễn Vãn Vĩnh; cho lập "1 lội Kliai trí tión clức" tạp hơỊi nlurng người thuộc các tầng lớp trcMi trong xã hội lúc dó 1ÌCII lờ Xam Plìoiì;^ ì,ip chí và các báo chí thực dân inột số học giá Việt Nain thàii l’háp ra sức \ iõl bài lán dương chú trương Pháp - Việt dé hué"' thừa nhận clio (lọ cai trị cua Ptìáp {uyên truyon và ca ngợi

\ãn minh Pháp như là nổti \'ãn niiiih cao nliấl ciia phương Tây

Tuy nhicMi bên cạnh dó, một nén vãn hoá mới cùa dàn tộc Việt Nam cũng dang trên đường hình thành \ à Ị)hál iriCMi !iiạnh mẽ Sau Chiến tranh thố giới

(1 ) Xcm tlièin: I-eray (TIR.) - CìcíTrov (M ) /.' Empin’ Kiloiiictl [ n itìọ tis fii( <■ à ì ciiirr-

i;en< c ílcs Iiioiivciiiciits Ihitionaiix { D ế q u ỏ c lliUíH <//() l ‘háp (ìoi (Ìiệìì V(ri sự irỏi d ậ y cùa các phoiiỊỊ trào (làn tọcị Univ de N ice - Sophic - Anlipi)lis, 1997 tr 178 — 179.

Trang 18

thứ nhất, vàn học mới đã chiếm được ưu thế trên văn đàn và đã được công chúng thành thị đón nhận với tấm lòng ưu ái Nhiều truyện ngần đã được đãng tái trên các báo chí ở Hà Nội, lúc đầu là của Nguyễn Bá Học Phạm Duy Tốn rồi đến Tản Đà, Nguyễn Công Hoan Những truyện ngắn như Sống chết nỉậc hay (1918) của Phạm Duy Tốn, Cáu chuyện một tối của người tán hân (1921) cúa Nguyễn

Bá Học đều có giá trị hiện thực phê phán nhất định.

Về tiểu thuyết, năm 1916"’ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu cho ra đời Giấc mộng con. Nhưng trong nhiều tiểu thuyết xuất hiện vào những năm 20, !ìổi bật nhất và đáng chú ý nhất là tiểu thuyết T ố Tám của Hoàng Ngọc Phách (năm 1925) Với tác phẩm Tỏ Táni, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam lối kết cấu chương hồi được thay thê bằng lối kết cấu theo quy luật tâm lí Lần đầu liên các tập tục tâm lí truyền thống của Nho giáo đã bị phê phán gay gắt, tự do cá nhàn

đã được ca ngợi, bảo vệ Có thể nói Tỏ'Tâm tuy chưa đạt tới một tiểu thuyết

"lãng mạn chủ nghĩa" song nó đã "mở ra con đường tiến tới chủ nghĩa lãng mạn của vãn học Việt Nam"'-’.

Tiếp theo tiểu thuyết T ếT ám của Hoàng Ngọc Phách, từ sau năm 1925 còn

có thêm các tác phẩm Quờ dưa đỏ cúa Nguyễn Trọng Thuậl, Sóng hổ Ba B ể của

Phạm Bùi Cầm, cùng cuốn Nho phongNgười quay tff của Nguyễn Tường Tam^ '*, Trên báo Phụ nữ tán văn đã dành nhiều kì để in tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Ngoài ra, một loạt tiểu thuyết lịch sử viết vể các anh hùng dân tộc và những chiến công của cha ông ta thuở trước đã xuất hiện như; Tiêh^ sấm đêm dỏng, Lẻ Đợi Hành, Việt — Thanh chiến kỉ, Vua Bô'Cái, của Nguyền Tử Siêu Trong lĩnh vực nghệ thuật, tuồng có Hoàng Tăng Bí chèo có Nguyễn Đình Nghi.

Về kịch nói, năm 1922, vở kịch đầu tiên Chén thuốc độc của Vũ Đình Long

đã được biểu diền thành công lại Nhà hát Lófn Hà Nội Từ đó các vớ kịch nói nối tiếp nhau ra mắt độc giả; Toà án lương támTày Sương tân kịch của Vũ Đình Long; Bạn và vợ Thủ phạm là tâi, Giời đấí mới của Nguyễn Hữu Kim;

Uỵén ương, Hoàng Mộng Diệp của Vi Huyền Đắc; ôn g Tây An Nam, ChảiìỊỉ ngốc của Nam Xưcmg,

Về thơ, vào cuối những năm 20, xuất hiện tập thơ khóc vợ Linh Phượng kí

của Đông Hồ và tập thơ khóc chồng Giọt lệ thu của Tương Phố.

(1) (2) Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Lịch sử vàn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1 9 3 0 , NXB

Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H., 1988 tr 326 và 381.

(3) Nguyển Công Hoan, Đời viết văn cùa tôi, NXB Văn học, H., 1971, tr 75.

Trang 19

C'<) Ilìo nói hầu hêt Cik lác pliáin truyọn Hỉ>an ticu thuyết, kịch nói và thư trong tliời gian này đều hư(Viig \à o mục (lícli phó ph;'ti) tình trạng thối nát của xã hội (lưiíns thởi nèu lên nhìhm \unsz (!õl giữa ciíc quan điểm phonu kiến và tư tướng Ur sán vừa mới náy sinlì i!a kicli những ko trướng già học đòi làm sang, phơi bày những cành lẩm ihan, khôn khó cùa quán chúng lao động bị bọn thực dân, địa chú quan lại ức hiòp, bóc lột độnc Ihừi nói lên (ình cảm yêu nước thư(«ig nòi và sự bát lực, chán chư ờng cùa tầniỉ lớp tiếu tư sán thành thị trước Ihời cuộc.

Trong các ngành nghệ Ihuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc cũng có những biến dối nhất định Các lĩìô típ và tư lir(Vĩig nghệ Ihuậl phương rây ngày càng có ánh hưởng sâu đậm trong phươne pluíp tư duy và sáng tác cúa các nehệ sĩ Việt Nam, thê hiện qua các bức traiih bức tượng, Iiiià cứa do họ làm ra Tuy nhiên, các niô típ mĩ thuật truyền thông, nhất là Irơng kion trúc xây dựng đình chùa, nhà cửa ở nông thôn, vẫn đóng vai irò chù yêu irong các xu hướng mĩ thuật lúc bấv giờ Đội ngũ nghệ sĩ mì thuật cliuvèn nahiệp chú yếu là những nghệ sĩ dàn tíian như: thợ mộc thợ nề, thợ ihèu thợ chạm, thợ tạc tượng, thợ gốm thợ dúc chuóiig Các loại hình niĩ thuật mới chịu anh hưởng hay mỏ phỏng của phương 'I ày inậc dù dã phát irién và mờ rộna hơn trước, nhưng chưa đù sức lấn

át các niò típ nghệ thuật truycn thống của dân tộc.

'l'óm lại trone lịch sứ dân tộc Việt Nam thời gian lừ sau Chiến (ranh thô giới thứ nhất dến nãni 1930 là niộl khoáng thừi giaii không dài Nhưng trong khoáng thời gian đó đã dicn ra những hién dổi sâu sắc \à mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, giáo dục và vãn hoá, tư tường \à tâm lí, Cùng với bước chuycn mình cùa phong irào dãn tóc, nhát là sư l('tii mạnh cùa xu hưứna cách

!iiạng xã hội chủ nghĩa, inột IIIỒ liìiili JIÌ;U) dục lilọii (lại và iriộl ncn vảii hoá mới (tang trên dường hình thành và pliát irion, tạo tién (lề thắng lợi cho sự nghiệp giái phóng dân tộc cũng như clio các í>iai đoạn phát triến tiếp sau cúa dân lộc ViCM Nam.

227

Trang 20

B do tàỉiiỉ ngh iệp vù Thương m ợ Ị nãm J 9 2 3 f \ 'NTỊ\X}

P h ổ H à n g Đ ù o nám 1 9 2 6 (N g u ồ n : V N T Ỉ X )

Trang 21

( áii l.oỉìii lỉu n hủtìĩ fA í^uor \ S I ì X)

Fho 'Ị'}'ihi^ 'Ỉ'ỉcn ìỉãnì Ị-)2! (S'^iiOỉì: \ N T I X )

229

Trang 22

III TÌNH HÌNH Pl iẢN nOÁ

CÁC GIAI CẤP XA HÔIVào thời kì này, sán xuâì nông nghiệp \'ần giữ \'ai trò chú đạo irong toàn bộ nén kinh tế nên những lực lượng gắn iicn với nền sán xuất nỏna Iiglỉiộp \ ản là những bộ phận quan trọna trong cơ câu xã hội.

1 (ỉiai cáp địa chủ

Trong khi các thành phần kinh tế tư bán chú nghĩa có những birớc phát trièn mạnh hơn thời kì trước thì thế lực cúa iỊÌai cãp dịu chù vần khổng bị suy ciani chút nào trái lại còn được củng cố phát tricn lớn mạnh hơn trước 'I hê lực đó (ỉược củng cỏ vững chắc nhât thông qua sự tập irung ngàv càng cao ruộng đất -

tư liệu sán xuất cơ bán trong Iiông nghiệp - vào lay giai cấp dịa chú dưới sự clie chớ cúa thực dân Pháp.

Ò Bấc Kì. do bình quân ruộng đât thấp, sỏ' chú ruộng có từ 5 mẩu (1,8 ha) trớ lèn đã được tính là địa chú và sô chú ruộng có từ 50 mẫu trở lên được coi là đại địa chủ Vào thời điếm năm 1930 số địa chú vừa và nhò (có từ 5 - 50 niảu) chiếm 8,4*"f số chú ruộng và khoáng 20% diện tích canh tác; có 1060 đại địa chú (bằng 0.1% sô chú ruộng) chiếm tới 20*-^ diện tích canh tác Sô chú ruộng

có diện tích dưới 1 mẫu (0,36 ha) chiếin 61 % số chú ruộng.

Ơ Truiìiỉ Kì. 39.500 chủ đâl (có từ 5 - 50 mầu) chiếm 6^í lổng số chú ruộng

\ à diện tích canh tác; có 350 đại địa chú có sờ hữu trẽn 50 máu bằng 1,4*^ í lổng sô chú ruộng, chiếm l()*^í diện tích canh tác.

Nam Kì. diện lích dát canh tác lãng nhanh và nìức độ tập trung ruộng đát rât cao so \'ứi Bắc và '1'rung Kì Cũng \'à() thời điêni năiii 1930, số chú ruộng có

lừ 5 - 100 ha là 69.000 người chiếiii 25,7'f số chú ruộng, lìầni trong tay 45^( (.iiệii lích canh tác (khoáng 1.035.000 ha) Ngoài ra, có 2.449 dại dịa chú sớ hữu

từ 100 - 500 ha và 244 đại địa chú có trên 500 ha' ‘’.

Nói chung, lực lượng dịa chú vào thời kì này chiếm khoáng cư dán nỏntỉ thôn, nhưng đã nắm trong tay 30^;^ diện tíclì canh tác Đến tihững nãtn trirức ( 'hiên tranh thế giới thứ hai, trên lãnh thổ Việt Nam có khoáng 6.500 dịa chu có

sờ hữu trên 50 ha ruộng đất trong đó Nam Kì có 6.200, Bắc Kì có 200 và 'i runu

Kì có 100 người'*’ Đó là những cơ sở tạo nên Ihế ỉực kinh tế đồng ihời là cóng

cụ bóc lột cúa giai cấp này đối với nông dân.

Ị 1) Henry /.' Écononùe UỊỊricak' de ì'ỉiuJorlii»c {Kinh lê lìỏiìỊị Iighiệp n ia .\ử D õìiị ; DiùriìỊỊi

I I 1932 Ir 108, 109, 144, 145, 182, 183 Xem thém: Aumiphin (R ) íkf<i tr.l86 và Duniaresi ( \,) La í-ormation des classes Sđd, tr 38.

(2) ỉk rn a rd (!> ) Sdd 1934, tr 1«),

Trang 23

Đa số địa chủ đein ruộng (!át phát canh thu lõ !'õ có thô’ bàng tiển hoặc hiện vật, chú yếu là tô hiện vật ÌÍỐMI các sán phấm thu (lưíít từ đấl canh tác ở Nam

Kì có (ới 345.000 gia đình nóim dân chuvên sổng bằnc lĩnh canh ruộng đất cúa địa chú chiếiri 57% lổng sò hộ nôni: dãn; 6V( mọng đất được đem phát canh

và sỏ chú ruộng cổ pluU canh lèn đên 90,285 người, ớ Bắc Kì số người lĩnh canh ruônu clấl và tá dién là 275,()()() người, chiéiri 24% cư dán nông thôn Còn

ớ lìung Kì sô tá điền và nhữn!: nsiười lĩnh canh ít hơn với khoáng iOO.OOO

người, chiếm I3^r cư dân nóng nghiệp'' '.

ờ các vùng niicn núi hình thức bóc lột chu yẽii cua địa chũ đối với nòng dân

là địa ló iao dịch.

Do những quy ché cúa chính tỊuycn Ihực dãn (iẽ ra qua các cuộc "cãi lưcms hươiig chính", như lựa chọii các thành phán có ' tài san và danh giá", trung Ihành với chế dộ thực dân đưa vào bộ máy chính qu>cn cơ sở nên địa vị cúa giai cấp clịa chú trong nônu thôn đuực nãns cao và cuniỉ cỏ \'ũmg chắc Giai cấp dịa chù chicMn đa sô irong cơ cấu chính quyền các hiKtim tlìỏn (với các Hội đổng íộc biốii lỉọi đóng kì mục, các chức VII xã trường lóna lí ), Naoài ra thực dán Phá|i còn tạo điéu kiện \'à Iihữnu cơ sớ pháp lí cho giai cáp địa chủ tliaiii gia vào các tố chức chính quyền bôn trên, như các ỉ lội dổniỉ dân biểu, Hội dổiig quán hạt, Do đó sự câu kết giữa lỉiai cáp dịa clìii với thực dân Pháp càng dược củng

cỏ vững chắc hơn.

2 (ìia i cáp nóng dân là thành phắn cliiếm (lại da số trong xã hội khoáng 90'^f dâii sô 'lYong quá trình sán xuất, uiai cáp riổtỉu dân cũng bị phân hoá dần

thànỉi ba tầng lớp: truntĩ Iiôiig, bán nóng và cô nông,

'i ấng !('íp Ịniiiịỉ lìõnỉ^ có liRmi: (!ỏl ilii ruộiii’ (liì! \'à các công cụ sân Miất như trâu bò nòng cụ, đế lự sán xuât Iiuoi sôtiíỉ mình, khỏng phài bán sức lao động, nhưng cũng không có khá năim tham gia vào \ iệc bóc lột người khác Song dây chi là giới hạn tương đối Một sò trung nông lớp (iư<ífi vẫn phái bán sức iao động (tuỳ thời điém) và một sỏ có tham gia bóc lột qua viẹc cho lĩnh canh ruộng đất

dư hoặc phái canh lại ruộng lĩnh canh của dịa chú Iihư ờ Nam Kì.

1 ầng lớp hần nôni> bao gổni những Iigưừi thiêu ruộng đấí canh lác, thiếu trâu

bò \'à nỏntĩ cụ Siin xuất liên phái lĩnh canh ruộng đát cúa địa chú thuê mướn trâu bò, Iiỏng cụ sán xuất và tiền vốn.

( ! ) Auiiiiphin (R ) Sđd tr !99.

231

Trang 24

Cò'Iìòn}> là tầng lííịi nghèo khổ nhất bầ!i cùng nhâl trtMig giai cáp nóng dán 1 lọ thưcnia khôim có ruộng đất (ìể càv càv, không có irâu bò \à Iiỏne cụ c!c sán xuảt Vì

\ ’ậy nguồn sống cliính cùa họ là lĩnh canh ruộng clấl đi làrn Ihué làm iiiirdTi đi ơ

cho nhà giàu, 'ITico số liệu của cuộc điều tra vào năm 1945 thì ớ 16 linh miến Bắc thời kì này có 11.785 hộ cô' nông, chiếm 20.6'^< tổna số hộ nòng clân Iiliinig clii có trong lay 1.513 niẩu 7 sào ruộng, bàng khoáng 1,2% tổiig sỏ ruộng''

Như vậy \'ào thời kì này, aiai cấp nôiig dân chiẽni tới 90*^/ (!ân số nhưng chi

có trong tay 42% diện tích ruộng đất canh tác Họ bị bóc lột nặng né, nhưng lại không có lối thoát Một bộ phận trong số họ bị bần cùng hoá pliài bỏ què hir(yiiíz ra các thành thị, hầm mỏ đê lìm việc, sontỉ phần đóna phái L|ua>' vc vì không lìm được việc làm Vào những năm khó khăn, nhất là trong thời kì khútia hoàns kinh tế số nôna dân ra đi càng nhiéu và sò phai Cịuay vc eũna nhiéu Đó là con dường bần cùng không lối thoát cúa nóng dãn Việt Nam dưới (hời Pháp thuộc.

lỉẽn cạnh các tầng ỉííp và giai cấp đại diện cho xã hội Việt Nani truycn thống, những giai cáp mới cũng có sự phát triến và phân hoá ngày càng rỏ rọt ht/n.

3 (ỉiui cấp tư sán

Tư sàn Việt Nam trước Chiến tranh thế giới ihứ nhất mới chi là một táng lớp nhò bé kinh doanh chú yếu irong lĩnh vực thương nghiệp, hoạt động sàn xuất còn hạn chế Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh của tư sàn Việt Naiĩi được mờ rộng và có quy mô lớn hcfn Họ kinh doanh trong hầu hốt các ngành kinh lế, từ xay xát, in ấn, dệt, nhuộm, vận tải sửa chữa cơ khí, cho đến sán xuất sơn xà phòng, đường, nước mắm, đổ gốm, Một số đã có trong tay những sản nghiệp lớn như mỏ đồn đién, các công ti thiKmg mại, Một số (íã có những

cơ sở sản xuất thu hút vài trăm công nhân, mở rộng và phát triển nhanh chóng

vé thê lực kinh tế Tư sản Việi Nam đã thực sự hình thành một giai cấp xã hội vào những nãm sau Chiến tranh Ihế giới thứ nhất Tuy nhiên, do tác dộng cùa các điều kiện kinh tế - xã hội mới nên sau chiến tranh giai cấp tư sản tiếp tục phân hoá thành hai bộ phận: tư sàn mại bản và tư sản dân tộc.

Bộ phận tư sản mại bản ngày càng đông đảo thêm cùng với tốc độ đầu tư cúa

tư bản Pháp Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng hoá của Pháp nhập vào Đỏng Dương tăng nhanh từ 1.641 triệu phơrăng mỗi năm trong thời kì 1919 - 1923

(1) Cách nuuìg ruộiìg đất ỎViệt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1968, Ir 33

Trang 25

lèn lới 2.253 triọu ph(írãng Ircìnii những nàiii 1924 - 1928'" Do (ló, sớ người làm dại ií hàii” hoá cũng tàn!> len, !ỉ.ú đẩu xuát hicn những công íi có quy niỏ lớn nhưC'oiii> ti 'ỉ'ri I’hú và Quo Dương ờ Hai f’hòn>i liãng Đan 1’lionu ớ ilà Nội lìãnu 'I huậii I ioà ớ Chợ IAÍII.

Số tư san mại bán chuyẽMi Ihãu klioán nliữní! cong việc cônii cliính, xây dựng cũng tang Iciì nhiều '1'ínlì riêng ờ lỉãc Kì từ nãiii 1923 đốn nãni 1927 đã có 449 nhà thau klioán Việt Nam lĩnli trưnii cỏni’ \ ict cóiig chính \'ới số ticn là trC'ii 4

triệu ph oìáiiíỉ' ' N g o à i ra, c ò n c ó m ột s ố Iiiiiníi churiiỉ \'ôn \ ới tư bán Pliáp kinh

doanli cõng \à Iióng nghiệp như VQ Duy Hiiili Vũ Vãn An

Một sỏ niìà iư sán Việt Nanì đã có quan hệ huòn bán với lurớc nụoài: Miên, ỉ,ào '1'rutm Ọuỏc, ỉlồrm Cônc Xiimaịxi Inđỏnôxia l’háp llằng năm các công

li tiiươiiíỉ mại cùa tư sán Việt Nam dã nhập kliáu \à() thị trường trong nước từ 3.000 clén 7.000 tìui hàna hoú'

lỉ<> pluui tư sán dân lộc sau cliièri tranh có bước phát iriên vưm bậc vổ cá số lượnu và tliè lực kinh té Nliiồii C(ĩ sơ kinh té (!ã có lừ trưck' và trong Chiẽn tranh

ih ê ịiiới ih ứ iihiVt nav d ư ợ c m ờ lộ n g (.Ịuỵ IIIỎ san xuất và th iế t bị kĩ ih u ậ t n h ư

xướng sơn cùa Nuuyền Sơn llà, xướim sứa ciiửa làu của Bạch ’ỉ'hái liưứi, xướng dệt của i.è PluU Vĩnh, Nhiéu clõii tliồn rộng hàng I i g h ì n màu ờ Nam Kì đã xuâì hiện, thu hút hang trăm còng nhãn.

IVlMí cạnh những cơ sờ dã có !ừ trước, sau chiõn tranh nhiéu xí nghiộp và cơ

sử sán xuál mới dược thành lập như Nhà máy gạch Hưng Ký ớ Bắc Ninh, Xí nghiộp ciệl Vĩnh An ở I luè

Nhìn chung, sau Chiến tranh thè giới ihứ Iihăl giai cấp tư sản Việt Nam dã lớn mạnh và Irướng thành rõ rệt f)ại diện cho thẽ lực kinh tè ciia iư sán Việt Nam là những người như iVương Vãn liền, Nguyễn S(tn Hà, Bạch 'lliái Bưởi, I.é Phái Vĩnh, Công li tàu biên cùa Ịkicli riiái ỉỉưới đã có lúc sử dụng tới 30 chiêc làu với 1.500 công nhàn.

'I'uy nhiên, địa vị kinh tê ciia tư sán Việt Nam còn rất nhò yếu và thấp kém

so với iư bân nước ngoài, cũng như so với toàn bộ nên kinh tế Tổng sỏ' vốn kinh doanh ciia họ chi bằng khoáng sỏ vòin của tư bán nước ngoài Tư sản Việt Nam chú yếu kinh doanh thương n sh iệp , trong các ngành công nghiệp lực lượng cúa họ rấl nhó: toàn bộ vòn dầu tư vào các ngành mỏ than, cơ khí và giao thòng vận tái của họ chi bằntỉ 1 '( vôn cùa tư bán Pháp trong các ngành đó.

( I ), (2) (3) Nguyễn Còng Bình, Tììii liièii '^lai cấp lư uiìi Ndiìi dưới thời Pháp thuộc NXB

Vãn - S i r - Địa II 1957, Ir 102 103 va 109.

233

Trang 26

Toàn bộ lực lưcimg nòng cốt của giai cấp iư sản Việt Nam vào cuòi nhữiig năm

20 đạt khoáng 2.000 ngưòíi, chiếm 0,1%'" dân sô cá nước.

Bên cạnh giai câp tư sán ờ thành thị trong các vùng nông thôn, láng lớp phú Iiòng cũng phát triển rát chậm chạp, lực lượng kinh tế nhỏ yêu Vào nhữiig nãin

30 lực luíKiig phú nóng chiếm khoáng 2% số hộ nông dân, nám irong lay 7''ý diện tích ruộng đất Nói chung, tầng lớp phú nông Việt Nam khõim có khã nâng tập hợp tư liệu sán xuất trong tay nhất là ruộng đất đê phát niên thê lực kinh tế, họ không có sở hữu lớn về ruộng đất và các tư liệu sản xuât khác Một

bộ phận trong số họ - nhất là ở Nam Kì - phái lĩnh canh ruộng dất cúa địa chú, và khi đã tập trung được khá nhiéu ruộng đất thì một sô lại trở lại pliát Ciiíìh thu tỏ, thay cho việc phát triển hình thức kinh doanh tư bản chú nghĩa trong nông nghiệp Một trong những nguyên nhân rất quan trọng khiến cho giai câp tư sán Việt Nam phát triến "chậm một cách khác thường" là vì họ luôn luôn bị chèn ép và càn trở từ nhiều phía Tư bản Pháp, với uy Ihẽ của ké thông trị, đã ra sức chèn cp

tư sán Việt Nam trong kinh doanh, nhất là trong sán xuất công nghiệp 'lYong thương nghiệp, tư sán Việt Nam không những gặp phải sự cán trớ cúa tư sán Pháp mà còn gặp phải một lực lượng cạnh tranh nguy hiếm khác, đó là tư sân người Hoa Các hoạt động thương mại, từ buôn bán thóc gạo xay xát, vận chuyển và xuất nhập kháu đéu bị tư sán Hoa kiều lũng đoạn triệl để Trong nông nghiệp, quan hệ iư bản chú nghĩa lại bị giai cấp dịa chú với lối tỏ chức sán xuất phong kiến cũ kìm hãm nặng né.

Quá trình phát triển của tư sản Việt Nam sau Chiến tranh thè giới Ihứ nhất là quá trình lớn mạnh và chuyến biến từ một tầng lớp xã hội sang một giai cấp xã hội và bắt dầu bước lên vũ đài chính trị, góp phần mình vào các phong trào dân tộc Tuy vậv, vì cơ sở kinh tế của giai cấp tư sán Việt Nam hết sức nhó yếu nên Ihái độ chính trị cùa họ rât bạc nhược '1'rong cuộc đấu tranh giái phóng dân lộc sau chiến iranh vai trò chù yêu thuộc vé tầng lớp tiếu tư sán chứ không phái lir sán và sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) bị dìm trong bể máu Ihì vai trò chính Irị của giai cấp tư sản hầu như chấm dứt.

Trang 27

doanh nuhióp cúa người Pháp ớ Đõiig Dương (chu vêu Việt Nam) là 221.050 ngưừi"’ Neoài ra số công nhâi! làm \ịộc lri)iiti cát doanh nghiệp của tư sán Việ*t Nam \’à tư sàn nước ngoài ước línlì khoaniỉ \ài \ ạn người Đổng thời, luôn luỏn tòn tại một sô dáng kc cỏntỉ nhím ihco niùa \ ụ hoặc theo các hợp đồng của

tư sán.

'i n»ng giai cấp công nhàn Việi Nam, hộ phậii (iónu nhất là công nliân đồn đién: 81.188 nuười chiẽni 36.8'< lổniỉ sổ cõng nhãn Lực lượng này phàn bố chú ycu ơ các \ ùng cao nguyõn Nam 1 rung Kì \à ơ inién Tây Naiiì Kì Công tihân mo có 53.240 ngưòi chiếni 24'^í tổni! số cỏnt’ nhàn, tập trung chú yếu (V vùiiịĩ Qiiànu Yõn Đông rriéii Công nhân các ngành công nghiệp nhẹ giao thông vận lái \'à thương niĩhiộp lỉôm 86.622 người, chiêm 39,2% tổng số còng nhân, tập trung ờ các thành thị iớn như ỉ ỉà Nội llai Phòng Nam Định Vinh Sài (ỉòn Chợ l.ớiV ’.

Một số cóiií’ nhãn cỊua con đườiiii tuyón mộ cưỡng bức nhất là sô’ công nhân đón đicn Một sỏ chi vò saiì hoá nưa \ời, đúng ticíti là bán vò sản, nhât là sổ cổng nliãti tlico mùa, phu cỏim Iilián 1 rìiih độ \ãn hoá cúa công nhân Việt Nam rất lliãp số tiuirời mù chữ khá (.lôiiii lình ciiãt vò sán hiện dại ciia lìọ cũng bị hạn cliè b(ĩi \'iộc sứ dụng quá rộng rãi lao dộng thú cônsi trong các ngành sán xuấl kiiiii cloaiìh Hiện tượng phổ bión (rong quá trình sán xuât là giới chủ sứ dụng iao (tộng chân tay một cách triệt đé Trong hám líicx các công việc đào than xúc chuvên than đóu sư cÌỊinii sức lao dộnii cùa COII niíười là chú véu.

1 inh chung trong lất cá các Iigànlì clu) đcn nãiri 1929, s ò c ô n g Iihân kĩ thuật chì

chicMii có 0,43% tổng số tông nhãn lìià tliòi Ị)iéu kiọn sông \'à lao động cùa còng nhãn nói chung rất cực khổ họ Ihường phai làm việc 10 tièní> IIIỘI ngàv,

cá biẹt 12, 14, Ihặni chí 16 liẽiiị! inoi ngày \ới (lổiig lưcíng ré Iiiại, lại Ihường xuyòn bị dốc cỏng, cai, áp bức, đánh đập làn lìliảii BỊ áp bức nặng nể nhir vậy nên giai cấp còng nhân Việi Naii) sớin có linh llián (làu tranh Mặc dù lực lượng cúa họ trong loàn bộ dân cư khỏiig lớn'"', nhiriiiỉ họ lại sống khá lập trung tại các thành thị lớn các Irung tâm cõng nghiệp Năin 1929 ờ Hòn Cìai - Đỏng 'ỉ ricu có tới 35.900 công nhân nu) lỉà Nội có hơn 2 vạn còng nhân trong

( ỉ ) Duniarcsĩ (A.) ÌAi ForĩHíiti(>Ịì iỉcs ( Ịiỉs.sưs síniiiỊcs Cfì pii\'s Afìthỉỉììỉtc ị Sự hình ỉhủnh các Ặ^iai

cũp \ã hội (hìiiức AỉiNamì, Paris 1935 tr 39.

í2) Một sò vùn iỉc Ví/ ỈỊ( h sử ỉĩiai i íÌỊ) CÕỈỈM nlỉỡtỉ \ iệĩ NiỉỉìL NXB ĩ.ao dộng, H., 1974, tr 23.

í3) Một s<^ van iiẽ vé ỈỊch sứịỉiiỉi i ấỊ) ( ỉìliíin \ 'ie! Nuỉìi, S(k! tr 1 i 1.

(4) Nãni 1929 là Ihời điếm số công nlìãn ơ Vièĩ Nam cao nhát so với nhừng nãnì trước đó nhưng cCing chi cỉìicm dân so ca nước.

235

Trang 28

lổng sô' 13 vạn dàn (bàng khoáng 15*^7 dàn sò ờ dãy); ở Vinh - lỉôn riiuý có 7.000 cõng nhàn (chiếm 38'^í dán sô à dây), 'l inh thán ki luật V thức loàn kél cúa cỏn« nhãn cũng được ròn aiũa qua quá trình lao động và đâu iranli.

Do nhữne đặc điểm trên, giai cáp còns nhân Việt Nam dã S(ÝI11 (!ược ỊÌac ngộ

ý thức giai cấp và nhanli clióng vươn lén nảni lấv neọn cừ lãnh (tạo iUỘc đàu Iranh iỉiái phóns dàn tộc Các phong trào đấu tranh do iiiai cấp công nliân tổ chức, thani ỉiia Iiaày càna nhiều Ý thức giác ngộ cách mạng cùa giai :;ìp cõng nhãn Iìỉ>ày càni: được nâng cao theo đà cúa các cuộc dâu iraiih \à cùa iẹc tăng cườnu (uyén truyén chù nuhĩa Mác - Lènin vào Viọỉ Nam ’l'ừ nãni i93(), \ới việc ihành lập chính đanc cộim sàn ừ Việt Nam, iiiai cáp còiiiỉ nhân ^ịột Naiìi

dã chíiih Ihức giành (tược nuọn cờ lãnh dạo cuộc cách mạng giái phóng iàn tộc.

5 (ỉiai cáp tiểu tư san

CiU kí>ìi> lớp liêu iưsiiìì ílìàiìli thi thời kì này cũna ngày càng dòng iiU) cùng với quá trình mờ mang các đỏ thị, tăng cườne dấu tư phát triến kinh u và giáo dục Việt Nam Họ bao gồni các thị dãn, thợ thủ công và học sinh - irí Ihức, với địa bàn cư trú chú yếu là ò các thành Ihị I lọ được bố sung liên tục qua quá trình ba mươi năm phát triên kinh tế - xã hội và đã hợp thành một tầtg lớp rất đông đáo trong xã hội.

Giới trí thức và học sinh các trường là bộ phận quan trọng cúa đội njũ tiêu tư sán Vào thời điểm nãni 1929, ước tính có khoáng 12.000 giáo viên Cic trường liêu học và trung học Số học sinh phổ thông các cấp là 335.545 người trong dó

có 328.000 học sinh tiếu học, 7.545 học sinh trung học) Ngoài ra còn có hàng trãni sinh viên các trường cao đắng và đại học Số viên chức đang lànì vệc trong các công sỡ gồm khoáng trôn 23.000 người"’ Số người buôn bán nhỏ có dóng thuế môn bài Ihưcmg xuyên là 130.000 người Còn về hoạt động cônj nghiệp, theo ước tính của Gourou ( í\) vào giữa những nãm 30 của thố ki ở Việt Nam có khoáng 21,6 vạn thợ thú công'’* Trong đó ở Bắc Kì là nơi âp trung đông nhất có 12 vạn, Trung Kì có 3.6 vạn và Nam Kì có 6 vạn Đó là clưa kê sô thợ thu công không chuyên nghiệp trong các làng mạc mà việc thống tó khó có thê’ với tới được Cũng theo sự ước tính của Gourou (R), riêng số thợ hủ công

đã chiếm tới 6 - 7% dân số, Bắc Kì có khoảng 40 vạn gia đình chuyên àm nghề

( 1) Bernarđ (p ), Sđd tr 5 ỉ

(2) Gourou (p.), Les paysưns du deỉta tonkinois (N hững người n(>ng (Ịứn à d ỏ h i ì ì i ; B á c Bộ),

Pưris, 1936, tr 153 và Lịch sử cận í/ạ/ Vịệ! Nam, NXB Khoa học, M 1970, tr 20 (tiếiỉĩ Nga),

Trang 29

thủ CÕIIU Đa số Ihợ thủ côni! làm \ iỌc ơ nónjz Ihòii ho tự mua nguyên liệu, lự lố chức' sàii xuáì và tiêu ihụ san Ịihám Vì \Ạ\ Iihừiig ihợ thú cóng nàv không có

khá nàng chuyòVi c á c cơ sớ san \u á l thành các CÓIIU trường ihủ có n g , mà chi giữ

nguyên quy mỏ sán xuất nhỏ \'on có của inìiili.

Nói chung, thu nhập \'à (tời sống \ậi chãt cùa Irí tliức và giới côniỉ chức khá

cao so \ớ i các bộ phận cỏniỉ Iiliáii \à nông dán ỈVone các cóng sớ, lương cúa

một vièii cliức nhỏ là 49 đôiiiỉ/nãm \à inộl \icii chức trung bình là 166 đồng/nãin trong khi eiá cạo vào thời diem lén cao như năm 1930 là 13,1 đồnu/tạ '1'uv nhiên so với thu nhập cúa ncirời Pháp thì Ihu nhập cứa cône chức người Việt (liấp hơn nhiồu lán (thu nhập cua niổi viên chức Pháp khoáne 3.000 đồng/iuìiii, cấp 30 lấn inột \ iC'n chức triiim hình \ à gấp 1(X) lần một viên chức nhỏ người Việl(!) Lương cùa một người gác cổiiu người Pháp cũng cao hơn 3.5 lần lưtínỉì của inộl kĩ sư người Viọt NanV' Sự dối xứ bâì bình đảne đó đã aây inôt lâm lí bát mãn ngày càtiii sáu sãc Ironíi giới cỏne chức nịỉirừi bán xứ.

Do tác (tộnu cứa các chính sach khai ihik' Ihuôc dịa cứa thực dân Pháp, sau

CliiCMi tranh thê g iớ i thứ nhất, dán so ihành lliỊ tăng ièn nhanh c h ổ n g 'lYong

vòng 8 năm lừ 1913 dẽn 1921 ỉlà Nội tăng lO.OOO người Sài (}òn tăng 33.000 người, [lai Phòng tãna 40.(){)() niiirừi; và cho cicn năm 1928 Ihành phò Nam Đinli (!ã có 38.000 dán lỉái Phòng 98.(K)0 dãn lià Nội 130.000 dân Uuế 41.6()() dán Sài (lòn I2.‘ĩ.0()() dãn và Chợ l.ớn 102.(){)() dân'-'.

Nõii vào c!áu nhĩrní: năm 20 so dáii ớ ihànii ihị mói chiêm thì đốn nliững nãni 30 con sô đó (tã Icn lới í - l(y ( Cá biẹl có nơi như ở khu \’ực Sài (íòn - Chợ Lớn dân thành Ihị chioni tới 14'r.

Nhìn cluitií’, trong thời kì sau cliiẽii tranli tác tẩnc lớp, giai cáp mới, đại

d iệ n c h o phưưng thức sàn xiiát inới clã c ó Iihữiic bước tièn đ á n g k ế , SOI1H vẫn

còn quá chậm chạp so với ycu CÍUI ciia sư liCii họ ',ã hội Các lực lượng xã hội niứi \ẩn chi là thiêu sô nắiii troiig la\’ inột tiéni lực kinh tè hối sức hạn hẹp Cư cấu xã hội cổ truyền tuy đã bị biòn dạng \ ÌI xáo trộn lất mạnh, nhưng vần chưa

bị phá \ỡ và Ihay đổi căn hán Tính cliấl Ihiiộc (lịa tư bán chú nghĩa Irò Ihành Ihiiộc lính nổi bật cứa xã hội Việt Natn vào thời kì nay.

Dưiti tác dộng cùa phưctng thức sàii xuàt ur báii clni nghía do tư bán Pháp du Iihập v'ào, nén kinh tê Việi Nam dầii ciần chuvcn hiên từ nén kinh tế nòng nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp sang nến kinh tế thuộc dịa - ur bàn chú nghĩa Có thế

(1) T ( ' f f ì i ) ị ^ n ( i Ị ĩ C s c t d o c u n ỉ e t i ĩ s r c ỉ i i í i Ị s ủ Ỉ <1 C i > ì o f i i S i i t i ( ) t ì Ị r u ì ì ạ i ì s c a u V ỉ c t n a i ì ì { N h ữ ì i ^ c h ứ n ^ Ị c ứ V() t ư ỉ i ệ i i ỉ ì c n cỊitoìì ÌỈCỈÌ n e n t h ư c ( Ỉ i ỉ ì ! P ỉ ì Ú Ị ) ư M c ĩ N ư n i ì , ỈI-, 1^)53 Ir 6.

(2), ( 3) Lcvi (I‘.), ĩ ỉ Ị i i i H h i n c ( X ứ f ) o N i ’ Paris 1931 (r 205.

237

Trang 30

hình dunạ kết cấu kinh lé Việt Nam thời kì này có hai khu vực Một khu vực hiện dại bao gồm công nghiệp hiện đại, Ihương nghiệp, các cư sỡ lài chính và giao thông, các đồn điển công nghiệp và một khu vực truyền lập hợp các phưcmg thức hoạt động truyền thống như nông nghiệp và thú công nglúệp''' Việc sử dụng phương thức kinh doanh theo lối tư bán chủ nghĩa dã tạo ra bước phát iriển nhanh chóng của lực lượng sản xuất Nền kinh tế hàng hoá đã bát dầu hình thành và phát triển ở một sô' khu vực sản xuất Các sản phám làm ra không phái chỉ bảo đám các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dùng đê xuấi khẩu

ra thị trường thế giới Nhờ có các hoạt động kinh tế với nước ngoài mà lần đầu tiên nền kinh tế Việt Nam đã vượt khỏi biên giới quốc gia đế tiếp cận và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Rõ ràng so với giai đoạn trước, nén kinh tế Việt Nam từ đầu thè' ki XX đến những năm 30 đã có bước phát Iriển nhanh chóng và những chuyến biến căn bản Quan hệ tư bản chủ nghĩa đã được mở rộng và giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành kinh tế.

Trên cơ sờ những biến đổi về kinh tế các thành phần giai cấp xã hội tương ứng cũng dần dần biến đổi theo Những lực lượng đại diện cho xã hội cũ như địa chú, nông dân ngày càng bị phân hoá sâu sắc: địa chù thì giàu lên nhanh chóng, còn đa số nông dân thì rơi vào cảnh nghèo đói bần cùng Đồng thời, các lực lượng xã hội mới như tư sản, công nhân, tiểu tư sán cũng bắt đầu xuất hiện và lừng bước trưởng thành nhanh chóng cùng với sự mở rộng ciia các thành phần kinh tế mới - TBCN Dân số tăng nhanh, các thị trấn và thị xã được mở rộng nhiều so với trước, bộ mặt thành thị và cá một số vùng nông thôn ven thị cũng thay đa đổi thịt Một s ổ cơ cấu xã hội mới đang trên đường dịnh lììnỉt và phái triển theo hướng tư bản chủ nghĩa.

1'uy nhiên, quá trình tư bản hoá cúa Pháp ớ Việt Nam còn đế lại nhiéu hạn chế và những hậu quả nặng nể mà hạn chê lớn nhất là đã tạo ra một cơ cấu kinh t ế què quặt mất cân đối và sự chuyển hiến quá chậm của nền kinh lê vá do

dó dơn tới sự phân hoá thiếu triệt đ ể của cơ cấu giai cấp xã hội.

Mặc dù vậy sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới đã tạo ra những tiền đề vật chất cần ihiết cho sự tiếp thu các quan điểm và tư tường mới, làm cơ sở động lực thúc đẩy sự phát triển của phong trào dàn tộc, đưa xã hội Việt Nam chuyển nhanh vào quỹ đạo vận hành cùa toàn nhân loại.

(1) Lê Châu, Le Vietnam sociaỉỉsĩe (Viét Nơm x ã ĩìội chủ nghĩa), Paris, 1966, tr 34, dần theo Feray (P.) Le Vietnam au XX sìècỉe, Paris 1979, tr 40.

Trang 31

BƯỚC PHẤT TRIỂN MỚI CỦA PHONG TRÀO D Â N TỘC

So VCT các giai đoạn trước, photig trào dân t(>c ớ Việt Nam từ sau Chiến tranh

thế giới ihứ nhất bắt đầu có nhữiig chuyển biến niới cá vể nội dung và hình thức

biếu haệa Những chuyên biến đó bắt nguổii từ Iilìững biến đổi trong kết cấu

kinh tê - xã hội, cũng như trong tâm lí và tư Iirtmg.

Bôn Cinh sự chi phối của các diều kiện kinh tê - xã hội ở trong nước, phong

trào dân tộc Việt Nam vào thời kì này còn chịu tiíc động sâu sắc cúa lình hình

trong Icha vực và trên thế giới.

Chương VIII

SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

Cuộ>c Chiến tranh thế giới thú nhất (1914 - 1918) về thực chất chỉ là một

cuộc chiến tranh phủn chia thế lực khu vực àiih liưcidig và các thuộc địa giữa các

cường qiốc đế quốc Chiến tranh dã kêi tliúc, líhưiig hậu quả của nó để lại còn

hết sức năng nề cho toàn nhâĩi loại Khoáng 10 triệu người chết và 20 triệu

người Làr phế do chiến tranh Các khoán chi irực tiếp về quân sự của các nước

tham cihièn đã lên tới trên 200 tỉ dôla Chiếii tratih đã tàn phá hàng loạt các nhà

máy, x;í Ighiộp, đường giao thông, nhà cửa, trườiig học, đồng thời đẩy nhiéu

nước tur tản vào tình trạng suy kiệi vé lài chính.

Ngià) 18 - 1 - 1919, đại diện cúa các nước thắng và bại trận trong hai phe

Liên nriìirh và Hiệp ước đã tổ chức họp tại Vécxai {Versaiiles), gần thủ đô nước

Pháp đlể phân chia quả thực chiến iranh.

Nư(ófc Anh, rồi đến Pháp giành được nhiều quyền lợi nhất Còn nhũtig nước

bại trậni, liến hình ià Đức \òra mất các thuộc địa, vừa phải bổi thường các chi phí

239

Trang 32

chiến tranh lén đến trên 100 tỉ mác Kêì quá cùa Hội nghị Vécxai cũng t!ã dần đến sự ra đời của một số quốc gia mới trên lãnh thổ cùa đế quốc Ảo - I lung \ à một phần lãnh thổ mà Đức chiếm đóng trước kia Đổ là các nước Ba I.aii, ỉ iẹp Khác Áo l ỉunggari và Nain l ’ư.

'I'ừ đầu những nãin 20 trở đi, các nước iư bản bước vào thời kì khòi pliuc \’à phát Iriên kinh tố Đây là thời kì ổn định cục bộ và tạm thời cúa chù riựhìa tir bán thế giới.

Chiến tranh thế giới đã làm thav đổi vị trí \'à tương quan lực lượng giữa các nước đê' quốc, đồng thời còn đưa đến một hệ quá ngoài ý muốn cùa tát ca các nước iư bản Đó là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga nãni

1917 thắng lợi dẫn đến sự ra đời của nhà nước côna nông đầu tiên trén thó giới Với tháng lợi của Cách mạng tháng Mười, hệ thống dây chuvền đê q u ố c chú nghĩa thế giới bị chặt đứt và con đưcmg cách mạng vỗ sán đã được khai thông, nôi lién (ừ 'Fây sang Đỏng, ý nghĩa to lớn của cuộc Cách mạng thán*,', Mười Nga một nhà lãnh đạo xuất sảc của Đáng Cộng sán lìônscvích Nga và Nhà nước Xỏ viết - J Xlalin đã viết: "Cách mạng tháng Mười dã mở dầu inộl thời đại mới, thời dại cách mạng vô sán trong các nước đê quốc chú nghĩa Cách mạng tháng Mười đã mớ đầu một thời đại mới, thời đại cách mạng thuộc địa, các nước bị áp bức trên Ihế giới liên minh với giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo cúa liiai cấp vỏ sản Cách mạng tháng Mười đã làm cho vấn đé dãn tộc Irước kia

là một vấn đé hẹp hòi, cục bộ giữa các dân lộc "văn minh" châu Âu trớ thành một viín đề rộng lớn bao gồm các dàn tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh giai phóng khỏi ách áp bức chú nghĩa Cách mạng tháng Mười dã bắc niộl cái cầu gắn lién cách mạng vó sán phương Tây và cách mạng giài phóng dân tộc pliưcrtig Đỏtìg lặp thànli một mặt trận cách inạtig rộng lớn cúa giai cấp vô sàn và các dàn lộc bị áp bức trôn toàn thế giới dưới sự lãnh đạo cúa giai cấp vỏ sán dấu (ranh chỏng chủ tmhĩa đè quôc"'”.

Dưới ánh hường trực tiếp của Cách mạng tháng Mười Nga và cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh chống đế quốc ở các nước tir bản phưcTng Tây đã dâng lên mạnh mẽ, sôi nổi Đầu năm 1918, cách lĩiạng công nhân bùng nổ ở Phần Lan ITiáng 10 - 1918, chế độ quân chú ở Áo - Hung bị sụp đổ Cũng trong năm này, giai cấp công nhân Đức đã nổi dậy quật đổ chế độ quán chủ và thành lập chính quyến Xô viết trong một thời gian, 'lliáng 3 - 1919,

(1) Xtalin (J.), Những vấn đ é chủ nghĩa Lẽnin, NXB Sự thật, H., 1950

Trang 33

nước Cộng hoà xô viết Hunggari đã ciươc tliành lập và tổn tại trong hơn 4 tháng Tại các imớc tư bảỉi khác Iiliư Anii, Pliáp Iialia Nfĩ nhiều cuộc bãi công và đấu tr;uìh của công nhâii \'à nliâii dâti kio đỏng (lã nổ ra khá rầm rộ.

Do sự phát triển mạnh mõ cúa phonii trào cách inạng, từ nâni 1918 trở đi, tại nhiểu nước châu Âu, các (láng cộng san dã lấn lượt được thành lập Tháng

3 - 1919, trước yêu cầu mới cúa sự nghiệp cách mạng Quốc tế Cộng sản - tức Quốc tc Ihứ ba đội tham imni chiẽn dííu cúa giai cấp vỏ sán quốc tế đã ra đời lại

M átxcm a Sau khi được thành lập Quốc tê Cộng sán đã tiến hành tuyên truyền

tư tưởng cộng sàn, đồng llìời dé ra ditờng lôi phương hướng và trực tiếp chỉ đạo, giúp đ ã các Iiước thuộc dịa \à phụ thuộc troim cuộc đấu tranh chống ách nô dịch c ủa chu nghĩa tư bán phưdíiig 'l'á\.

ở châu Á tháng 3 ~ 191‘), cuộc khới ĩiglũa cua nhân dân Triéu Tiên chống Nhật hùng nố Sang tháng 5 năiii cló pliong trào Ngũ tứ mang lính chất dân tộc dân chú đã nố ra và lan rộniz kliắp 'rrimii Ọuỏc, tlìu hút hàng triệu người tham ỵia 'ỉ'ại '\ |1 Độ phong trào bát hợp liic clìoiiiỉ ách thông trị ciia thực dân Anh cũiiì: đã nhặn dược sự Ihani uia đòng (tiK) cua các tầivg lớp nhân dân iroiiiỉ nliiéu nãiii.

nhiên, từ Iihĩmg luìin 1924 - i ‘)25 trớ cii, phong trào cách mạng thế giới tạm th'ời lắng xuống, Đối \ứi các nước đè CỊUỎC, dây là thời kì vừa ra sức khỏi plụic ịphát triên kinh tê, vừa lìin cácli bao \ â \ Ịiluí lioạị !,iên Xô - thành trì cùa cácli inạiig thê giới S ự i l o i dịi h hu iiiỊơni Iiiidììì klìi k h a i í'//?í/ liiii p h e , h a i

hè tììó nỊỉ c ó c h ế d ộ Ví/ h ộ i - ( lìiiili ìrị kltiic nÌHiii lủ tưhciii cliii lìiỉliĩa và x â h ộ i

í lìii iiỊị'ìíì(i (lã Xỉiấi hiện và Iró' thành ílủ( iliem I()1I Iiluít ciia ihtTÌ đại, cúa lịch sứ thế giới lừ sau Oiiêh tranh thê ỉỉiới tliứ Iilũiì c iiộc vận dộng giái phóng dân tộc Viọt Nam thòi kì sau chiến traiili <!í'i lỉiền ni \f! phiíl irịCii in>ng bôi cánh lịch sứ đó.

II MOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

CỦA NGYỄN ÁI QUỐC

N gu \ền Ái Ọuôc, hổi nhó tiìatisi lên Nguycii Sinh Cung, sau đổi là Nguyền Tất 'niiàĩih, sinh ngày !‘) - 5 - 1890 lại !àiìg Kiin Liên, huyệii Nam Đàn, tinh Nghệ Cha ciia Người là Nguyễn Sinh Sĩic (1863 - 1929) đỗ Phó báng, bị ép

ra !àin quan, sau bị cách chức, chuyên saiig làm nghể thầy thuốc Mẹ cúa Người

Trang 34

là Hoàng 'l'hị Loan (1868 - 1900), mộl phụ nữ có học đám dang, chãin lo chồng con hết mực.

Sinh ra trong một cia đình trí Ihức vêu nước, lớn lên từ một niicn què có truyền thông đấu tranh quật khởi, Nguvẻn Ái Quốc từ rất sớin dã "có chí điKii thực dân Pháp, giái phóng đồng bào’"'' Người râì khâm phục tinh thầii yéu nước cúa các chí sĩ Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu rriiìh nliirng không lán ihành con dường cứu nước của các cụ.

Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại cùa các thê

hệ cách mạng tién bối ngày 5 - 6 - 191 i Nguyẽti Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con dường cứu nước mới hữu hiệu hcín Nhimg khác với thế hệ thanh niên đầu thế kỉ hướng về Nhật Bàn Nguyễn Ái Quốc quyết định sang phưcíng 'ỉ ây dêh nước Pháp đế tìm hiếu xem "nước Pháp và các nước khác làm thê nào rồi sẽ trờ về giúp đổng bào mình"'*' Trong nhiều năm sau đó Người đã di qua nhiéu

« AMIHAt LATOUCHE-TRÉVILLB -

ỹmmệứễ ềt» Oiargtur* Hếunii

Tàu Đỏ dổc LaiitsơTíĩrévin (Amiral Latouche Trévillí') Bác ỉỉố dã Uirtì

phụ hêp trên tàu này (Nguồn: VNin'X)

(1 )Trẩn Dân Tiên Nhữiig mẩu chuyện vé (tời ỈKKit dộng cùa Hồ Chù tịch NXB Sự thật, H., 1975 tr 12.

(2) Trần Dàn Tiên Sđd tr i 1.

Trang 35

nước khác nhau ớ các đại lục Á, Âu Phi Mĩ tlã Ịihai làm nhiều nghe khác nhau như rứa bát, dọn tàu, quól rác (fó sổim \;t học Iá|i Nhờ dó Người hiếu rằng ớ

(!âu bọn dè CỊUỐC, thực dân cùni’ tàn bạo (lộc ác; ơ đâu những người lao động

cũiiíỉ bị áp bức và bị bck lột clã niaii.

Vào cuối cuộc Chiếii iranh thố liiới thứ nhã!, khoáng cuối năm 1917, Người

từ nước Anh trớ lại Pháp, lại dá\ hoại ilỏiiiì đáu ticn của Người là dấu tranh dòi cho binli lính và Ihợ ihuvcn Viọi Nam dược sớm hồi hưcmg trỏ vể với gia đình Nãni 1919 Người gia nhập Đànu Xã hói Pháp, một đáng tiến bộ chù trương chỏng lại các chính sácli áp bức bóc !ộl cua thực dân Pháp ờ các thuộc dịa Tháng 6 - 1919, nhân dịp các nước Ihang trán trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vécxai ơ Pháp Ngu\ỏti Ái Quốc thay mặt nhóm người Việt Nain yêu nước tại Pháp aửi lới ỉ lội nuliỊ ban >Vỉ/ sách cửu nhân (lán An Nam để tố cáo chính sách thực dán cùa Pháp \à clòi Chính phủ Pháp phái thực liiện các quyền tự do, dân chú quyc!i bìnli đánc \à quyền tự quyết cùa dân tộc Việi Nam.

B;tn Yéu sách gồm 8 diêm như sau:

1 - ỉ ổng ân xá tât cá nhữnsỉ người biia \ứ bị áii lù chính trị;

2 - Cái cách nén pháp lí Đông Dương báng cách dổ người bán xứ cũng dưực quyên hư(Vrig những báo dáiii \é nuìt pháp !uậl nlur người Âu châu Xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm cóng cụ đc khúng bò và áp bức bộ phận trung thưc tihấl trong nhàn dân An Nam.

^ - 'ỉ'ự do háo chi và tự do HÌỊOIÌ liíậiì

4 - '!'ự do lập hộihại họp

5 - 'ĩự do cư trú à nước ìì iỊoài \’à íự do Midi (ỈIIOIIỊỈ.

6 - Pự do học tập, thành lập các irườiig kĩ thuật \'à chuyên nghiệp ở tất cá các tiiìh cho người bản xứ

7 — llia y (lìê độ rư các sàc lệnh h(iiìi> ché cìộ ra các (lạo ỉuật

8 - Có đại biếu thường trực của người bán xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp đê giúp cho Nghị \ ịện biết dược những nguyện vọng của người bán xứ

( i ) l!ổ C h í Minh, Tdùiì lập 'lập I, NXB Chính trị quốc gia 11, 1995, tr 4 3 5 , 436.

243

Trang 36

Vào giữa nãm 1920, Nguyền Ái Quốc được đọc bản S(f thảo lán thứ nhất những luận ctủmg về vấn dề dán tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đãng trên báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp Người vui mìmg đến phát khóc lên và muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đồng đảo: "Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng la, đây là con đườna giải phóng chúng ta Nguyễn Ái Quốc đã tìm thây con đưòng cứu nước Người khẳng định: chỉ có chú nghĩa xã hội chú nghĩa cộng sán mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khói ách nỏ lệ"'’’ Cũng từ đâv, người hoàn loàn tin theo Lênin, lin theo Quốc tế thứ ba.

Tại Đại hội lần thứ 18 của Đáng Xã hội Pháp họp ở Tua vào cuối tháng

12 - 1 9 2 0 , Nguyẻn Ái Quốc đã bỏ phiếu lán thành gia nhập Quốc lố thứ ba và tham gia sáng lập Đáng Cộng sán Pháp Hành động bò phiếu úng hộ Quốc tè thứ ba

là sự kiện đánh dấu bước nhảy vọt trong tư tưởng chính trị cúa Nguyẻn Ái Quốc, lừ lập trường yêu nước chuyến sang lập trưcfng cộng sán Sự kiện dó cũng mớ ra

Toàn cảnh Đại hội Tua (NịỊuyễn Ái Quốc ngồi đầu hàn thứ hai phía hên trái Đoàn chủ tịch)

(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, N X B Chính ư ị qu ốc gia H 1996, tr 127.

Trang 37

cho cách mạng giài phóng dãn tộc Việi Nani một giai đoạn phát triển mới, "giai đoạn gắn phong trào cách mạng Viọt Nam với phong trào công nhân quốc tế đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường tĩià chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chú nghía Mác - Lcnin "" '.

Sau này chính Người đã thừa nhận: ' Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phái là chú nghĩa cộng sàn dã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc

tế thứ ba l ừng bước một trong cuộc đáu tranh, \'ừa nghiên cứu lí luận Mác - Lênin vừa làm còng tác thực tó, dần dãn lòi hiểu rằng chi có chú nghĩa xã hội chú Ĩighĩa cộng sàn mới giái phóng được các dàĩi tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nó !ọ"

Sau khi đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc từ nãm 1921

Quốc liếp tục học tập

để bố sung và hoàn thiện iư tircVng cứu nước của mình, đồng thời tích cực truyền bá

tiên phong của giai

cấp còng nhân ở Việl Naiii, nhân tố cơ bản đầu tiên báo đảm mọi

Trang 38

thắng lcÁ cúa sự nghiệp cách mạng nưck ta.

Giữa nàni I92L tại Pháp, Nauycn

Ái Quốc cùng một

số nhà cách mạng ciui An^ièri Tuvnidi

Ma rốc Mactagiixca thành lập ítội liên hiệp thuộc dịu. Đê

Nguyễn Ái Quốc ịnăm 1920)

1000 đến 5000 bản trong đó một nửa số báo được gửi đi các thuộc địa của Pháp

ở chủu Phi và Đông Dương.

Ngoài việc lập Hội liên hiệp thuộc địa và ra báo Người cùnịi khổ, Nguyền Ái Quốc còn tích cực tổ chức các buổi diễn thuyết, đặc biệt là đã viết và đăng nhiều bài trên các báo Nhân dạo, Đời sổng công nhân, tập san Thư íín qitổc

Năm 1925, Người cho in tác phẩm Bớn án ch ếdộ thực dân Pháp ở Pari Với tư cách Trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộne sán F*háp Nguyễn Ái Quốc cũng đã góp phần quan trọng vào việc tô' cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tường

Trang 39

M á c - Ị.ẽn in x â y d ự n g m ố i quan ÍIỌ gắn bó iỉiừa Iihửrig n g ư ờ i c ộ n g sán và nhân

dân lao (lộng Pháp với các nước Ihuỏc (tịa va phụ Ihuộc.

'ĩ háng 6 - 1923 Nguyền Ải Qưôc bí mậi từ đến M átxana (I.iẽn Xô) Trong thời gian gần inột lìăiii rưỏi ớ l.icn Xó Nguyềrỉ Ái Quốc ra sức tìm hiếu tình hình mọi mặt cùa chè (lộ Xo \ iot lích cực nuhión cứu các vấn dé vé dân tộc

và ihuộc địa trong Quốc tẽ C ộiiu sáii Boiì caiih đó Ntíirời còn thani dự nhiổu lìội nghị quốc tê quan trọng, nliư t)ại liói Quõc tẽ Nòng dân, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc te Ihanli nión Đặc biệl từ ngày 1 7 - 6 đến ngày 8 - 7 - 1924 Người dã lliaiii dự t)ại hụi lán thứ V cúa Quốc tế Cộng sản '!'ại Đại hội Iiày, Người trìnli bày IIIỘI bán báo cáo rãt quan trọng vé vấn đé dân lộc và thuộc địa Bằng nhiéu số liọu và iư liệu cụ thc bán báo cáo đã làni sáng

tỏ và phái triến một sô luận diôiii cua V.l.IxMiin vò bán chất cúa chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ cùa các ctána cộnii sán irén tlic íiiới trone cuộc đâu tranh chống áp bức bóc lột và giái phóne các dãn tộc thuộc địa.

Nhir vậy, th('Ã kì hoạt động ơ Liên x ỏ là thời kì Nguyẻn Ái Quốc tiếp tục phát iricii và hoàn chinh thêm tư tường vé cách mạng giái phóng dân tộc thông qua nghiên cứu thực tiền và học tập trtìiig các sách háo mác xít Nội dung tư tưởng thính trị cúa Người irong những năiii 20 bao gốm những điếm sau dây:

1 Người chi rõ bán chài cua chu Iighĩa llụrc dán là "ãn cướp" và "giết người"

Vì vậy chú nghĩa thực dàn là ke lliù chung cúa cac dân tộc ihuộc địa, cúa giai câp côiig nhân và nhàn dân lao động tròn thè giới.

2 Cách mạng giái phóng dàn lộc là niộl bộ phận cúa cách niạng vô sán thế gi(ýi Cách mạng giài phóng dán lõc ịiliái thưc liicn đoàn kết và liến minh với các lực lirợim cách mạng quốc tố !’liài uãn liên sự nghiệp giái phónc dàn tộc với iiiài phóng nhân dân lao độnu và iiiai (.ấp cóni: nháii Người nói: "Chỉ có giải

|)hóng giai cấp vô sán thì mới ịiiiii phóng dược (iàii lộc cá hai cuộc giải phóng này chỉ có thc là sự nghiệp của chú nghĩa cộnịỉ san và cách mạng thế giới”*" Người cho rằng cách mạng giài Ịihóiig dán lóc ờ ihuộc địa và cách mạng vô sán chính quốc có mối quan hộ khãiiíi khít biên thứniỉ \'ới nhau, nhưng không

|ihụ thuộc vào nhau Cách inạiig giai phúng cián tộc có thê' bùng nố và giành tháng lợi trước cách mạng san ờ chíiìK qudc ơ đay Nguyẻn Ái Quốc muốn

tihấn mạnh t('ti \a i Irò tích cực chủ (tỏng cúa các dán 1(>C Ihuốc địa Irong cuộc cỉáu tiaiih giái p h ón a khỏi ách áp bức cùa chu Iiiỉhìa thực dân.

(1) IIỔ Clií Minh 'Ioàìi Tâp I s<!d, li., Ir 416

247

Trang 40

3 một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân lại là lực lượng đông đao nhất

trong xã hội, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lộl nặng nề Vì vậy, cách mạng

giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợi cần phái thu phục, lôi cuõn được

nông dân đi theo, cần phải xây dựng khôi liên minh công nông làm (lộng lực

ciia cách mạng Đồng thời, trên cơ sờ liên minh công nông phải thu hút, tập hợp

dược sự tham gia rộng rãi của đông đảo các giai tầng xã hội khác vào trận tuyến

đấu tranh của dân tộc.

4 Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có đáng cách mạng

nấm vai trò lãnh đạo Đảng muốn vững, phái đi theo học Ihuyết Mác - Lênin

Đáng phái có đội ngũ cán bộ sần sàng chiến đâu hi sinh vì mục đích cùa Đảng,

vì lợl ích và sự lồn vong của dân tộc vì lí tưởng giái phóng giai câp cóng nhân

và nhân loại.

5 Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phái việc

của một vài người Vì vậy cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần

chúng đấu tranh lừ tháp đến cao Đây là quan điểm cơ bán đầu tiên củi Nguyền

Ái Quốc về nghệ thuật vận động quần chúns và tiến hành đấu tranh cách mạng.

Những quan điếm, tư tưởng cách mạng trên đây của Nguyẻn Ái Qjốc được

giới thiệu trong các tác phâni của Người, cùng các tài liệu mác xít khá: c!ã theo

những đường dây bí mật của Đàng Cộng sản Pháp dê truyồn vé trong nưức dcn

với các tầng lớp nhân dân Việt Nam, tạo ra một xung lực niới một :hât nicn

kích thích phong ỉrào dân tộc phát triến và nhanh chóng chuyên mình theo xu

hướng cách mạng mới của ihừi đại Cũng từ đây những người yêu rước Việt

Nam bắt đầu hướng về Nguyền Ái Quốc, một lãnh tụ cách mạng thiér tài đang

như ngọn hủi đăng chỉ đường dẫn iối đưa toàn thể dân tộc và nhân dân ỉi tới độc

lập, tự do.

1 Phan Bội Châu và các hoạt động yêu nước của người Việt Nam

Trung Quốc

Trung Quốc là một nước láng giểng, đã trở thành nơi tụ họp và h địa bàn

hoạt động của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước Năm 1912, Phan Bội Châu

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w