1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SKKN THAY THANH LY

33 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp về tình trạng học sinh kém tích cực học và làm bài tập vật lý
Tác giả Phạm Đỉnh Thành
Người hướng dẫn GV. Phạm Đỉnh Thành
Trường học Trường THPT Trần Nhân Tông
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2010-2011
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 233,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập vật lý có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học vật lý ở nhà trường phổ thông. Thông qua các tiết học và việc giải tốt các bài tập vật lý học sinh s[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TỈNH ĐAKLAK TRƯỜNG THPT TRẦN NHÂN TÔNG

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢIPHÁP VỀ TÌNH TRẠNG HỌC SINH KHÔNG TÍCH CỰC

HỌC VÀ LÀM BÀI TẬP VẬT LÝ

G iáo v iên : PHẠM ĐÌNH THÀNH

T ổ : VẬT LÍ - KTCN

N ăm học : 2010- 2011

Trang 2

MỤC LỤC Trang

I/ PHẦN MỞ ĐẦU: 3

1) Lí do chọn đề tài 3

2) Mục đích nghiên cứu 4

3) Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4

4) Nhiệm vụ nghiên cứu

5) Phương pháp nghiên cứu 4

6) Nội dung nghiên cứu 4

II/ NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: 5

Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: 5

1) Cơ sở lí luận 5

2) Cơ sở thực tiễn 5

Chương 2: Thực trạng của đề tài nghiên cứu 6

1) Khái quát phạm vi 6

2) Thực trạng của đề tài nghiên cứu 6

Chương 3: Tìm hiểu một số nguyên nhân 7

Chương 4: Đề xuất một số giải pháp 10

Chương 5: Vận dụng 17

1) Giải thích các hiện tượng vật lý 17

2) Giải nhanh tốn cực trị điện xoay chiều 20

III/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 30

1) Kết luận 30

2) Kiến nghị 30

3) Danh mục tham khảo 31

Trang 3

I PHAÀN MễÛ ẹAÀU

1) Lớ do choùn ủeà taứi:

Chúng ta đang sống trong thế kỷ của trí tuệ sáng tạo

Đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, đó là thời kỳ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển giáo dục và

đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn

lực con ngời- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững Sự nghiệp giáo dục phải góp phần quyết định vào việc bồi dỡng cho thế hệ trẻ tiềm năng trí tuệ, t duy sáng tạo, năng lực tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề thích ứng đợc với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của kinh tế tri thức Mục tiêu đổi mới này đòi hỏi ở ngời thầy phải phân tích và nhận thức đợc tầm quan trọng trong công tác giảng dạy, ngay chính trong bản thân ngời thầy cũng phải

đổi mới về phơng pháp giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn đặt ra

Bài tập vật lý cú ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học

vật lý ở nhà trường phổ thụng Thụng qua cỏc tiết học và việc giải tốt cỏc bài tập vật

lý học sinh sẽ cú được những kỹ năng so sỏnh, phõn tớch, tổng hợp … do đú sẽ gúp phần to lớn trong việc phỏt triển tư duy của học sinh Đặc biệt bài tập vật lý giỳp học sinh củng cố kiến thức cú hệ thống cũng như vận dụng những kiến thức đó học vào việc giải quyết những tỡnh huống cụ thể, làm cho bộ mụn trở nờn lụi cuốn, hấp dẫn cỏc em hơn

Với mong muốn cỏc em học sinh yờu thớch học mụn vật lý hơn và cú phương phỏp giải cỏc dạng toỏn trắc nghiệm một cỏch nhanh chúng, chớnh xỏc, đồng thời cú khả năng trực quan hoỏ tư duy của học sinh và lụi cuốn được nhiều học sinh tham gia vàoquỏ trỡnh học và giải bài tập, cũng như giỳp một số học sinh khụng yờu thớch hoặc khụng giỏi mụn vật lý cảm thấy đơn giản hơn trong việc học và giải cỏc bài tập trắc nghiệm vật lý nhằm nõng cao chất lượng ụn tập tại trường THPT Trần Nhõn Tụng, qua đú gúp phần nõng cao tỉ lệ thi tốt nghiệp, chớnh điều này đó thụi thỳc tụi đi sõu tỡm hiểu, nghiờn cứu đề tài

TèM HIEÅU NGUYEÂN NHAÂN VAỉ ẹEÀ XUAÁT MOÄT SOÁ GIAÛI PHAÙP VEÀ TèNH TRAẽNG HOẽC SINH KHOÂNG TÍCH CệẽC HOẽC VAỉ LAỉM BAỉI TAÄP VAÄT LYÙ

2) Muùc ẹớch Nghieõn Cửựu:

Trang 4

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm kích thích học sinh yêu thích mơn vật lý, cĩ hứng thú giải bài tập, qua đĩ củng cố được kiến thức, nâng cao chất lượng học tập bộ môn vật lí.

3) Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu:

- Các tiết học và tiết bài tập của môn vật lí

- Chú trọng những sai sót về kĩ năng, kiến thức của học sinh

trong các tiết lí thuyết, để có phương án đề xuất cho phù hợp

trong các tiết bài tập

4) Nhiệm Vụ Nghiên Cứu:

- Tìm hiểu nguyên nhân học sinh khơng hứng thú học mơn vật lý

- Phát hiện những vướng mắc của học sinh khi giải một bài toán vật lý

- Vận dụng kết hợp các phương pháp dạy học để đưa ra cách giải các bài toán liên quan

5) Phương Pháp Nghiên Cứu:

- Phương pháp điều tra: thực trạng dạy và học Vật lý các lớp trong trường

THPT ( cả ban cơ bản và ban tự nhiên)

- Phương pháp gợi mở, phát huy tính tích cực của học sinh

- Phương pháp thống kê,so sánh

6) Nội Dung Nghiên Cứu:

Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Thực trạng của đề tài nghiên cứu

Chương 3: Tìm hiểu một số nguyên nhân

Chương 4: Một số giải pháp

Chương 5: Vận dụng

II NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Trang 5

Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1) Cơ Sở Lí Luận:

 Mỗi môn học có những mục tiêu riêng Chương trình Vật lý có mục tiêu hoàn thiện cho học sinh kiến thức phổ thông, cơ bản ở trình độ tú tài về vật lý, cần thiếtđể đi vào các ngành khoa học, kỷ thuật và để sống trong một xã hội công nghiệp hiện đại, trong đó kỷ năng vận dụng kiến thức: giải thích hiện tượng, giải bài tập vật lý phổ thông là một trong những mục tiêu không thể thiếu đối với môn học

 Tiết bài tập nhằm giúp học sinh củng cố , khắc sâu kiến thức; qua đó hình thành sự hứng thú học tập môn Vật lý, tính tích cực học tập và nghiên cứu

2) Cơ Sở Thực Tiễn:

 Căn cứ vào yêu cầu cụ thể của việc dạy và học môn Vật lý THPT

 Căn cứ vào yêu cầu nâng cao chất lượng, hứng thú học tập

 Căn cứ vào thực trạng của việc dạy tiết bài tập và kỹ năng giải bài tập

 Trong các kỳ thi, môn Vật lý được tổ chức thi trắc nghiệm nên việc hình thành phương pháp giải cho từng loại đơn vị kiến thức là rất cần thiết - Thống kê chất lượng môn Vật lý còn thấp so với các môn học khác

- Học sinh trường THPT Trần Nhân Tông đầu vào còn thấp, nên việc tiếp cận

bài tập, tư duy tự học khó có thể tự thực hiện được

 Một số giáo viên còn xem nhẹ tiết bài tập, chỉ giải vài bài

tập ở Sách giáo khoa là xong

Chính vì vậy, việc dạy một tiết bài tập thể hiện đúng mục tiêu môn học sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng học môn Vật lý

Chương2:

Trang 6

THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1) Khái Quát Phạm Vi:

Các tiết lý thuyết và bài tập trong chương trình của ba khối lớp 10, 11, 12

2) Thực Trạng Của Đề Tài Nghiên Cứu:

- Đối với một số học sinh, mơn vật lý rất khĩ để học tốt, các em thường không hiểu bản chất của hiện tượng vật lý, mất căn bản từ các lớp dưới… nên dẫn đến tình trạng không hứng thú khi học

- Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khả năng tiếp thu của học sinh, của chương trình Nếu không xác định đúngmục tiêu rất dễ đi vào sự đơn điệu

- Học sinh thường không thuộc các công thức nên không có hứng thú giải bàitập

- Một số giáo viên còn xem nhẹ tiết bài tập, chỉ dừng lại khi giải xong các bài tập ở sách giáo khoa

- Thiết kế tiết dạy thường không có sự khái quát, kết luận về từng vấn đề, nên học sinh khó có thể nêu lên được phương pháp giải bài tập liên quan

- Đa số bài tập ở sách giáo khoa chỉ dừng lại ở mức độ củng cố, và còn thiếu

so với lượng kiến thức đã nêu trong lý thuyết

- Tiết bài tập trong phân phối chương trình còn ít

- Kỹû năng vận dụng kiến thức Toán cho việc giải bài tập còn hạn chế đối vớimột bộ phận không nhỏ học sinh

- Trong bộ sách ban cơ bản, một số đơn vị kiến thức không trình bày nhưng lại cho bài tập trong sách bài tập, nếu giáo viên không hướng dẫn thì học sinh không thể giải khi gặp loại bài tập như vậy

Do đó dẫn đến tình trạng:

>học sinh khá giỏi không thể phát huy được khả năng,

>học sinh ở mức độ trung bình trở xuống thì bế tắc khi gặp dạng bài tập khác

Trang 7

Chöông 3:

TÌM HIỂU MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN HỌC SINH KHÔNG TÍCH CỰC HỌC VÀ LÀM BÀI TẬP VẬT LÝ

Đối với một số học sinh, môn vật lý rất khó để học tốt, đặc biệt

là các em không có hứng thú trong các tiết bài tập, học và làm

bài tập chỉ mang tính đối phó với thầy cô Thực tế giảng dạy

tại trường THPT Trần Nhân Tông tôi nhận thấy rằng các tiết

học và làm bài tập vật lý đa số các em học sinh cảm thấy mệt

mỏi, không có hứng thú học vì một trong những nguyên nhân chính sau:

1 Về phía giáo viên:

Trong một số giờ dạy, một số thầy cô chưa thu hút được học sinh: Những hạn chế

về năng lực, phương pháp, nghệ thuật giảng dạy và cả độ nhiệt tình, “thiếu lửa” ở

thầy cô giáo cũng đã góp phần “tiếp tay” cho sự lười biếng, ỷ lại, trông chờ của các

em và thực tế việc chưa khích lệ được tính tự giác xây dựng bài của học sinh do nănglực của nhà giáo đã tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa thầy và trò, và khoảng cách này sẽ không thể rút ngắn khi chính thầy cô không biết khắc phục sữa chữa, luôn yêu cầu ở trò quá cao

Do một số câu hỏi của giáo viên nhàm chán: Sự nhàm chán này thường rơi vào hai

khả năng: hoặc là do câu hỏi quá dễ hoặc là do câu hỏi quá khó hoặc các câu hỏi “có – không”, “đúng - sai”, nên chưa thu hút được tính tò mò, sáng tạo của học sinh; vì vậy mỗi khi gặp những tình huống như thế thường học sinh mang tâm lí, phản ứng

khác nhau Với câu hỏi dễ quá, thường các em có tâm lí “coi thường” không thèm trả

lời, ngược lại câu hỏi quá khó các em sẽ chờ đợi hay ỷ lại cho học sinh khá, giỏi

Một số thầy cô quá nghiêm khắc, chưa tạo ra được sự hưng phấn cho người học,

thậm chí còn tạo ra tâm lí sợ hãi, căng thẳng mệt mỏi cho học sinh, thế nên không chỉbản thân người dạy cảm thấy áp lực, ngược lại các em cũng cảm thấy áp lực từ sự

“nghiêm khắc thái quá” và đây cũng là nguyên nhân khiến trò ngày càng lụi tàn,

không hưng phấn với khả năng phát biểu bài

Kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy, một giờ dạy thành công phải là giờ dạy nhận được nhiều ý kiến phát biểu của học sinh, nhất là trong giai đoạn mà toàn ngành đang

thực hiện cuộc vân động “hai không”, “đoạn tuyệt với đọc chép” và chủ tương “lấy

học sinh làm trung tâm”.

Trang 8

2 Về phía học sinh:

Một số học sinh chưa đủ tự tin về năng lực của bản thân nên ngại phát biểu, một

số khác do lười biếng, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp; một số học sinh khác lạibiết nhưng sợ sai, mà trả lời sai thì ngại , rầy rà với thầy cô, với bạn bè, nhất là bạn khác giới Đây là vấn đề được rất nhiều đồng nghiệp đồng tình khi tôi đem trao đổi Thậm chí các em còn cho rằng, lên THPT bản thân các em lớn rồi nên phát biều nhiều sẽ ngượng

Do áp lực khối lượng kiến thức các môn học quá nhiều đối với các em: Bên cạnh

các môn học trước đây, hiện nay các em còn phải học thêm các môn học khác như: Quốc phòng, các môn học tự chọn, các phân môn lồng ghép, học thêm ở trường, ở nhà thầy cô, ở các lò luyện thi để đảm bảo kiến thức cho các kỳ thi và yêu cầu của thầy cô ngày càng cao, đặc biệt là thầy cô chủ nhiệm nên thời gian đầu tư việc học ở nhà có phần hạn chế, từ thực tế đó rất nhiều học sinh các em thường chỉ soạn bài đối

phó, chỉ sử dụng sách hướng dẫn, sách giải bài tập ghi chép bài soạn mà không chú ý đến việc ghi nhớ theo kiểu học vẹt, không thể khắc sâu kiến thức; cá biệt có những

học sinh còn mượn vở soạn của bạn về chép cho nhanh để đối phó với thầy cô bộ môn thế nên mới có chuyện đau lòng khi một thầy giáo tiến hành kiểm tra bài cũ của một học sinh, mặc dù em này đã soạn bài khá đầy đủ từ bài học đầu tiên đến bài cuối cùng nhưng lại không thể nhớ nổi một vấn đề nào liên quan đến bài học Đây thực sự là điều đáng báo động cho toàn ngành cần phải sớm vào cuộc để có những giải pháp tích cực, những biện pháp mạnh tay để góp phần chấn chỉnh nề nếp chất lượng dạy-học

Sự im lặng của nhiều học sinh trong lớp học kéo dài đã dần trở thành căn “bệnh”

lây lan cả lớp Một em học sinh có tâm sự với tôi rằng “Cả lớp đều ít và lười phát

biểu thì tại sao mình lại phải phát biểu nên nhiều khi biết câu trả lời nên cũng ngại giơ tay; thậm chí, giơ tay xây dựng, phát biểu nhiều còn bị một số bạn bè cho rằng mình chơi trội”

Do học sinh chưa hiểu hết tác dụng của việc xây dựng phát biểu bài: Trong thực tế, cuộc đời của mỗi con người

không ai không gắn liền với một thời tuổi trẻ cắp sách

đến trường, việc học sinh chăm lo xây dựng phát biểu bài (dù

câu trả lời đúng hay sai) cũng đều có tác dụng to lớn trong

việc ghi nhớ, khắc sâu kiến thức cho người học, việc các em tham gia xây dựng phát biểu bài sẽ vừa góp phần giúp cho hoạt động dạy-học tích cực hơn, lớp học vì thế ngày càng sôi nổi hơn, và đương nhiên là thầy cô như được

tiếp thêm sức mạnh để dạy hưng phấn hơn, có “lửa” hơn, mặt

Trang 9

khác tạo điều kiện cho các em tính chủ động, sáng tạo; tư duy có điều kiện phát triển,từng bước tham gia rèn luyện kỷ năng sống, kỷ năng ứng xử, kỷ năng giao tiếp cho người học, góp phần đào tạo ra thế hệ người lao động có chất lượng, chủ động hơn trong cuộc sống sau này.

Do các em không có khả năng học tập, mất kiến thức căn bản.không thuộc các công

thức, không nhận dược dạng bài tập khi đọc đề bài thường các em không biết bắt

đầu từ đâu Khả năng toán học còn kém dẫn đến tình trạng không tính toán được

phép biến đổi trong bài tập vật lý

Do ảnh hưởng của các tác động cuộc sống: Một số học sinh bị ảnh hưởng bởi các

loại phim ảnh xã hội, mạng internet, trò chơi điện tử, số ít khác do hoàn cảnh gia đình, cha mẹ thường cải cọ mất đoàn kết, cuộc sống gia đình các em không hạnh phúc, một số khác ít được cha mẹ quan tâm do phải lo toan cho cuộc sống cơm áo gạo tiền, số khác do tác động của tình cảm yêu đương nam nữ nên sao nhãng việc học, và vì vậy tất yếu các em sẽ lười học và hậu quả là lười phát biểu

Trang 10

Chöông 4:

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH KHÔNG TÍCH CỰC KHI HỌC VÀ LÀM BÀI TẬP

Học sinh lười học, không tham gia xây dựng phát biểu bài, không hứng thú khi giảibài tập, nhất là học sinh THPT đã và đang để lại những hậu quả bất lợi cho cả thầy vàtrò, cho chất lượng dạy-học, trong đó người chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là các em; Đây là bài toán không quá khó, nhưng theo tôi cũng không thật sự dễ dàng nếu muốn giải quyết tận gốc rễ vấn đề này, muốn khắc phục được chúng ta cần phải nghiêm túc giải quyết từ cả hai phía người học và người dạy

1 Phía người dạy: Việc cần thiết nhất là thầy cô phải tích cực trau dồi chuyên

môn nghiệp vụ, đầu tư cho chất lượng các bài giảng trước khi lên lớp, căn cứ vào

từng tiết học, từng bài học cụ thể, giáo viên có thể vận dụng các phương pháp dạy học khác nhau, để thu hút sự tò mò, hiếu kỳ, kích thích sự hứng thú của người học

Hệ thống câu hỏi cũng phải hết sức chú ý không nên dễ quá hoặc khó quá, cũng không nên quá ngắn hoặc quá dài, câu hỏi cũng nên theo kiểu gợi mở, gắn liền với đời sống thực tiễn

Mặt khác, trước mỗi giờ dạy, bằng khả năng nghiệp vụ của mình, giáo viên có thể

tạo ra một bầu không khí gần gũi, thân thiện, cởi mở cho người học để rút ngắn

khoảng cách giữa thầy và trò như kể một câu chuyện vui có tính giáo dục, một tình huống pháp luật, một mẫu chuyện nho nhỏ về các nhà khoa học trong và noài nước, một vấn đề thời sự, chính trị, kinh tế mới mẻ của đất nước liên quan đến môn học nhằm giảm bớt căng thẳng áp lực cho các em, khuyến khích các em chăm học, chăm

phát biểu, để “mối thầy cô thực sự là một tấm gương về tự học và sáng tạo” Đồng

thời, Bộ GD&ĐT, sở, ngành và các nhà trường THPT cũng cần xây dựng các tiêu chíđánh giá chất lượng và xếp loại hạnh kiểm học sinh sau mối tuần, mỗi tháng, mỗi học

kỳ và mỗi một năm học; có biện pháp nghiêm khắc với những học sinh lười biếng,

nhác nhớn ỷ lại, tránh hiện trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”, không chạy đua với căn bệnh “thành tích”

Một số nguyên tắc giúp giáo viên tạo động lực cho học sinh giúp các em tiến bộ

trong quá trình học:

Nguyên tắc 1: Liên tục nhấn mạnh những khái niệm then chốt

hãy lặp lại những khái niệm này trong các bài giảng và bài tập

về nhà trong suốt quá trình học

Nguyên tắc 2: Sử dụng các phương tiện nghe nhìn khi cần thiết

để giúp học sinh hiểu được các khái niệm khó và trừu tượng cóthể dùng một giản đồ hay một sơ đồ sẽ có tác dụng hơn rất nhiều hàng nghìn chữ viết hoặc bài giảng bằng lời

Trang 11

Nguyên tắc 3: Sử dụng các hoạt động trên lớp để củng cố kiến thức mới Sau khi học

khái niệm, công thức mới, hãy cho học sinh làm bài tập vận dụng ngay dựa vào nhữngkiến thức mới đó Việc làm này có tác dụng to lớn giúp học sinh hiểu bài và kích thíchhọc sinh đi học đều đặn và yêu thích môn học hơn

Nguyên tắc 4: Tôn trọng học sinh, lắng nghe những gì các em nói, thể hiện sự yêu

thương, tận tình của mình đối với các em, cho các em thấy mục đích cuối cùng là sự tiến bộ của các em chứ không phải vì tiền hay ví mục đích riêng tư của giáo viên Từ

đó tăng thêm sự kính trọng của các em đối với giáo viên mà thúc đẩy tinh thần học tậpcủa các em hơn

Nguyên tắc 5: Cho các em thấy bộ môn vật lí không phải quá khó, học sinh yếu kém

mà thật sự cố gắng cũng hoàn toàn có khả năng học được, tiến bộ được, chứ không phải vô vọng!

Nguyên tắc 6: Chú trọng kiểm tra bài cũ các em yếu kém, đối với những học sinh

tiến bộ có học bài, làm bài giáo viên động viên, khuyến khích tinh thần của các em, khen ngợi các em trước lớp nghiêm túc phê bình những em chưa tiến bộ, hẹn với các

em lần tới phải trả bài những kiến thức quan trong do giáo viên đặt ra…

Đặt câu hỏi là kỹ năng hết sức hữu ích mà giáo viên cần đầu

tư Tôi xin đưa ra một số kỹ năng đặt câu hỏi của giáo viên với

mục đích cuốn hút các em tham gia vào bài học:

Kỹ năng 1: Tung ra câu hỏi đúng thời điểm để đem lại hiệu

quả tối đa và khai thác câu trả lời của học sinh, tạo đà đặt câu

hỏi tiếp theo

- Mục tiêu: tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh Đưa ra

câu hỏi tốt hơn, hoàn chỉnh hơn

- Tác dụng đối với học sinh: dành cho học sinh suy nghĩ để tìm ra lời giải

- Cách thức dạy học: Sử dụng “thời gian chờ đợi” 3-5 giây sau khi đưa ra câu

hỏi, chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau thời gian chờ đợi

Kỹ năng 2: Phản ứng với câu trả lời của học sinh:

- Mục tiêu: nâng cao chất lượng của học sinh, tạo sự tương tác cởi mở và khuyếnkhích sự trao đổi

- Tác dụng đối với học sinh: Khi giáo viên phản ứng câu trả lời sai của học sinhthì xảy ra hai trường hợp sau:

+ Phản ứng tiêu cực: Học sinh mặc cảm không tham gia các hoạt động tiếptheo

+ Phản ứng tích cực: Học sinh thấy mình được tôn trọng, được kích thích,

Trang 12

phấn chấn và có thể có sáng kiến trong tương lai.

- Cách thức dạy học: Giáo viên quan sát phản ứng của các học sinh khi bạn mìnhtrả lời sai, tạo cơ hội lần hai cho học sinh trả lời bằng cách: Không chê bai, chỉtrích hoặc phạt để gây ức chế tư duy cho học sinh mà sử dụng một phần câu trả lờicủa học sinh để khuyến khích học sinh tiếp tục suy nghĩ

Kỹ năng 3: Tích cực hóa tất cả học sinh:

- Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập, tạo sựcông bằng trong lớp học

- Tác dụng đối với học sinh: Phát triển được ở học sinh những cảm tưởng tích cựcnhư học sinh cảm thấy những việc đó dành cho mình, kích thích học sinh tham giatích cực vào các hoạt động

- Cách thức dạy học: Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi và công thức bằng bảng

và các em sẽ được lần lượt gọi lên để trả lời

Kỹ năng 4: Phân phối câu hỏi cho cả lớp:

- Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập, giảmthời gian nói của giáo viên, tăng thời gian hỏi và trả lời

- Tác dụng đối với học sinh: Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau

- Cách thức dạy học: Khi hỏi phải rõ ràng, to, cho cả lớp nghe Cử chỉ, hành độnghướng đến mọi học sinh trong lớp

Kỹ năng 5: Tập trung trọng tâm:

- Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu rõ trọng tâm bài thông qua câu trả lời câu hỏi.Khắc phục tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời “ không biết”

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh hiểu rõ được trọng tâm của bài

- Cách thức day học: Chuẩn bị kĩ các câu hỏi trọng tâm phù hợp, với các câu hỏikhó thì cần có các câu hỏi nhỏ dể gợi ý, dành thời gian cho học sinh thảo luậnnhóm

2 Phía người học: Cũng cần được cung cấp thông tin về vai trò tác dụng to lớn

của việc tham gia xây dựng phát biểu bài, cần tự giác thực hiện nghĩa vụ học tập của mình, trước khi muốn thầy cô giảng dạy nhiệt tình, hết mình cho bài giảng, bởi có

Trang 13

một thực tế hiện nay là, yêu cầu của xã hội, của học sinh, phụ huynh ngày càng cao, đòi hỏi ngày càng lớn từu phía thầy cô, nhà trường, nhưng người học lại em thường bộ môn, số ít khác chỉ quan tâm đến quyền mà quên mất nghĩa vụ của mình.

Trước tiên, để có thể hiểu rõ những vấn đề trong môn vật lý, học sinh phải chăm

chú nghe giảng Những hiện tượng chỉ tuân theo một số nghuyên tắc nhất định, và để

hiểu rõ những hiện tượng đó thì học sinh có thể hỏi thầy cô trên lớp, những bạn giỏi

về môn này để giải thích giúp Học sinh có thể lên mạng để tìm những hình ảnh minhhọa, những đoạn phim mô phỏng những thí nghiệm học trên lớp

Trên mạng có rất nhiều tư liệu và minh họa dễ hiểu Chỉ cần hiểu rõ hiện tượng làhọc sinh đã phần nào làm được những câu lý thuyết Sau đó là công thức tính toán,

môn lý có hai phần: thứ nhất là phần lý thuyết, thứ hai là phần bài tập Việc nhớ rõ

công thức là điều rất quan trọng Vì nếu học sinh nhớ sai công thức thì kết quả bài

làm sẽ sai Lúc học những công thức mới, tôi cũng cảm thấy rất khó nhớ

Nhưng tôi nghĩ không nên cố gắng học công thức ngay từ đầu mà lấy bài tập ra làm.Trong lúc làm vẫn lấy công thức ra xem Nhưng rồi làm nhiều bài như vậy, khoảng

10 bài là đã nhớ công thức Như vậy vừa hiểu rõ công thức, vừa biết áp dụng đúng vànhớ công thức lâu

Một việc nữa là trong sách giáo khoa, để cho dễ hiểu, người ta thường đưa ra những

công thức rút gọn cho những trường hợp đặc biệt từ một công thức tổng quát Và

điều này giúp học sinh làm câu hỏi trắc nghiệm nhanh hơn Vì thế số lượng côngthức mà học sinh phải học là nhiều hơn và khó nhớ hơn Điều này dễ làm rối các emhọc sinh

Theo tôi thì nên nhớ một công thức gốc, rồi tùy trường hợp mà đơn giản công thức

lại Nếu học sinh nào có thể nhớ hết thì rất tốt, nhưng theo tôi số lượng công thức lànhiều, rất nguy hiểm khi học sinh nhớ không rõ công thức, và việc nhớ một côngthức tổng quát sẽ làm học sinh cảm thấy dễ chịu hơn và nhớ lâu hơn Và nếu làmnhiều học sinh sẽ quen với những trường hợp đặc biệt mà không cần cố nhớ côngthức cho những trường hợp đặc biệt lúc đầu Tôi để ý thấy một số học sinh sau khiđọc xong đề thì tưởng tượng trong đầu hiện tượng rồi viết công thức tính toán ngay.Tôi nghĩ nên vẽ hình minh họa hiện tượng trước rồi hãy tính toán Điều này giúp họcsinh hiểu rõ hiện tượng hơn và ít bị rối hay làm sai bài toán Với những bài phức tạpthì việc vẽ hình còn quan trọng hơn nữa, nhưng tôi thấy một số học sinh vẽ hìnhminh họa rất sơ sài hay vẽ rất nhỏ Theo kinh nghiệm, tôi nghĩ nên vẽ hình lớn mộtchút, vì sau đó ta còn viết hay vẽ thêm nhiều dữ kiện khác Điều này giúp cho hìnhminh họa dễ nhìn hơn và có thể viết những dữ kiện đề bài cho ngay trên hình vẽ

Trang 14

Nó sẽ giúp việc tính toán chính xác và nhanh hơn.

Với kinh nghiệm của tôi thì trình tự khi giải một bài toán vật lý là:

1 Đọc để hiểu đề muốn tìm những đại lượng nào

2 Tóm tắt đề bài: ghi ra những đại lượng cần thiết cho việc tìm ra đại lượng mà đềbài yêu cầu

3 Đổi đơn vị nếu cần (học sinh thường không để ý hay quên làm bước này)

4 Vẽ hình minh họa (nếu hiện tượng có nhiều vật tham gia hay có nhiều trườnghợp)

5 Suy nghĩ những công thức nào có thể dùng để giải

6 Tìm ra đại lượng cần tìm sau khi biến đổi và kết hợp các công thức (chưa vội thếsố)

7 Thế số để tìm ra kết quả cuối cùng

8 Để ý đơn vị của kết quả có phù hợp thực tế không

Về việc tóm tắt đề bài, tôi thấy một số học sinh không làm bước này mà tìm những

dữ kiện cần thiết trong đề Điều này dễ làm rối học sinh vì trong đề có rất nhiều chữ

và những con số cần thiết thì không nhiều Việc tóm tắt sẽ làm học sinh biết được đềbài cho những đại lượng nào, đại lượng nào chưa có để học sinh có hướng giải chobài toán

Còn một điều nữa là thông thường tôi thấy học sinh hay than vãn về một môn nào đó

mà các em không giỏi Và tại vì không giỏi nên làm thế nào cũng không giỏi, khôngchịu dành thời gian nhiều hơn cho môn đó Học sinh thường tập trung cho nhữngmôn giỏi, dành nhiều thời gian hơn cho những môn đó và ít dành thời gian chonhững môn không giỏi Vậy là môn giỏi thì càng giỏi và môn không giỏi thì càngkhông giỏi

Với môn lý cũng vậy Nếu học sinh muốn giỏi thì bỏ thời gian ra làm bài tập, hỏithầy cô, bạn bè, Nhưng điều quan trọng là phải có cách học hợp lý và dành thời gianđúng mức cho môn đó

Nguyên tắc 7: Hướng dẫn các em cách học sao cho hiệu quả Ở nhà nên học và nắm

vững lí thuyết , giải lại các bài tập trên lớp để thật sự chiếm lĩnh kiến thức Tránhnhững trường hợp gật gù trên lớp rồi cho rằng mình đã nắm vững rồi về nhà bỏqua…

3 Giúp học sinh nhớ công thức vật lý và tránh những sai lầm thường gặp trong làm trắc nghiệm vật lý :

Muốn giải bài tập vật lý tốt, thì trước tiên học sinh phải nhớ các công thức vật lý,trong mỗi công thức học sinh phải nắm rõ từng đại lượng vật lý và đơn vị của nó

Trang 15

Ví dụ 1: Trong chương trình vật lý 12 gồm 3 phần:

Dao động và sĩng; Quang học; Vật lý hạt nhân Ta thấy,

chủ đề Dao động và sĩng là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”

chương trình vật lý 12: Từ Dao động cơ suy ra Dao động

điện từ; từ sĩng cơ suy ra sĩng ánh sáng Vì vậy, học sinh

cần vận dụng phương pháp “Tương tự Điện – Cơ” và

phương pháp “Tương tự Quang – Cơ” để vừa nhanh chĩng nắm được kiến thức

cơ bản, vừa khơng phải nhớ nhiều kiến thức chi tiết, chỉ cần nắm vững quy luật cơbản trong các kiến thức đĩ Từ đĩ, học sinh dễ dàng hệ thống được tồn bộ các cơngthức trong mỗi chương, bên cạnh đĩ học sinh phải làm nhiều các dạng bài tập cơ bảnvận dụng cơng thức (nếu làm được bài tập nâng cao càng tốt) Thế là các em đã tựghi nhớ cơng thức cho mình

Ví dụ 2:

+ Phần lượng tử ánh sáng :

- Học sinh nắm được nội dung thuyết lượng tử năng lượng Plăng và quan điểm Anhxtanh để giải thích các định luật quang điện

- Khi viết công thức :  = hf = hcλ = A + 12 m V o max2

Học sinh phải hiểu rằng : năng lượng phôtôn đã truyền hết cho electrôn và được sử dụng ở hai phần , một phần để thắng lực liên kết thoát ra ngoài và phần còn lại tồn tại dưới dạng động năng ban đầu cực đại của quang electrôn

+ Phần vật lý hạt nhân :

 Học sinh thường nhầm số hạt ban đầu N0 , số hạt còn lại thời điểm t : N t

và số hạt đã bị phân rã phóng xạ ΔN

Vì vậy không phân biệt được :

- Tỉ số phần trăm số hạt còn lại so với số hạt ban đầu N N

0 %

- Phần trăm đã bị phân rã phóng xạ ΔN N

0 %

Ví dụ 3: Một vật khối lượng m treo vào một lị xo cĩ độ cứng k Kích thích cho

vật dao động với biên độ A=5cm thì chu kì dao động của nĩ là T= 0,4s Nếu kíchthích cho vật dao động với biên độ 10cm thì chu kì dao động của nĩ cĩ thể nhận giátrị nào trong các giá trị sau?

Trang 16

Trong ví dụ này nhiều học sinh thừơng suy luận một cách không lôgic nên đã chọncâu C, có nhiều em thì ngồi tính toán mất thời gian mà vẫn không ra kết quả Đềbài, hỏi chu kì thì các em phải nhớ ngay đến công thức tính chu kì của con lắc là T

= 2 π ω = 2π √m

k Nhìn vào công thức thì ta thấy chu kì T không phụ thuộc vàobiên độ dao động A nên biên độ có thay đổi thì chu kì vẫn không thay đổi và bằng0,4s.Vậy đáp án đúng là câu B

Ví dụ 4: Một sóng cơ học lan truyền trên sợi dây đàn hồi, trong khoảng thời gian 6s

sóng truyền được 6m Vận tốc truyền sóng trên dây là bao nhiêu?

A v = 1m B v = 6m C v = 100cm/s D v = 200cm/s

Trong ví dụ này tôi muốn nhắc các em khi đã nhớ công thức và biết các vận dụng đểgiải bài tập thì cần phải nhớ đến đơn vị của đại lượng cần tìm

Bài tập dạng này giải rất đơn giản: vận tốc sóng trên dây là v = s t = 66 =1m/s

=100cm/s Câu A không thể chọn vì đơn vị không phù hợp,đáp án đúng là câu C.Đối với bài này học sinh không cần đặt bút tính toán cũng biết ngay đáp số bằng1m/s Do không chú ý đến đơn vị của vận tốc nên rất tiếc cho một số em đã chọncâu A(v = 1m)

Ví dụ 5: Tôi thấy rất nhiều học sinh không nhớ công thức tính khối lượng riêng D

= V m , khi làm bài tập có liên quan đến khối lượng riêng và thể tích các em phảihỏi giáo viên về công thức này Tôi xin lưu ý các em điều này, khi đọc đề, nếu đềbài cho khối lượng riêng của một chất nào đó thì các em dựa vào đơn vị để suy racông thức Đơn vị của khối lượng riêng là kg

m3 Khối lượng m có đơn vị là kg, thểtích V có đơn vị là m3

Từ đó suy ra khối lượng riêng D = V m

Vậy một số công thức tính đại lượng vật lí khác nếu các em không nhớ chính xáccòn nghi ngờ thì hãy dựa vào đơn vị của đại lượng vật lí đó để suy ra công thức, ví

dụ như vận tốc có đơn vị là m/s thì trong chuyển động thẳng đều công thức tính vậntốc là v = s t (quãng đường s có đơn vị là mét (m), thời gian t có đơnvị là giây(s))

Ngày đăng: 18/05/2021, 16:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w