Sự ổn định và thích nghi của một giống lúa thể hiện tính di truyền và sự đáp ứng của giống với môi trường canh tác. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường dựa trên năng suất của 10 giống lúa ở các vùng sinh thái khác nhau thuộc tỉnh Long An. Qua hai vụ Đông Xuân và Hè Thu liên tiếp cho thấy năng suất các giống canh tác trên vùng sinh thái có sự khác biệt ý nghĩa ở mức 99%.
Trang 1Shin MG, Yoon SH, Rhee JS, Kwon TW, 1986
Correlation between Oxidative Deterioration of
Unsaturated Lipid and Normal-Hexanal During
Storage of Brown Rice Journal of Food Science, 51:
460-463
Singh NK, Sharma TR, 2010 SNP haplotypes of the
BADH1 gene and their association with aroma in
rice (O sativa L.) Mol Breed, 26: 325-338.
Suzuki Y, Ise K, Li CY, Honda I, Iwai Y, Matsukura
U, 1999 Volatile components in stored rice
(Oryza sativa L.) of varieties with and without lipoxygenase-3 in seeds Journal of Agricultural and Food Chemistry, 47: 1119-1124.
Morphological characteristics and determination of fragrant gene
of rice quality lines selected from mutants Q2 and ST19 varieties
Hoang Thi Loan, Nguyen Thai Duong,
Tran Trung, Tran Duy Quy
Abstract
Scent is a very important indicator when evaluating the quality of rice The scent can be evaluated in different parts of rice plants: in leaves, in dehulled grains and in cooked grains The scented rice varieties can be divided by three levels: unscented, lightly scented and scented In this study, the scent was identified in leaves, in dehulled grains and the fragrant gene was investigated in 42 rice lines selected from mutant rice varieties Q2 and ST19 The results showed that the mutant lines from variety Q2 were unscented while the mutant rice lines from ST19 variety composed of 18 scented and slightly scented in both leaves and dehulled grains and 17 unscented lines
Keywords: Aromatic rice, scent, morphological characteristics, BAD2 gene
Ngày nhận bài: 13/3/2018
Ngày phản biện: 18/3/2018 Người phản biện: TS Trần Danh SửuNgày duyệt đăng: 16/4/2018
SỰ ỔN ĐỊNH VÀ THÍCH NGHI CỦA CÁC GIỐNG LÚA TRÊN CÁC VÙNG SINH THÁI BẤT LỢI CỦA TỈNH LONG AN
Bùi Phước Tâm1, Nguyễn Văn Hữu Linh2, Biện Anh Khoa2,
Phạm Thị Bé Tư1 và Nguyễn Thị Lang2
TÓM TẮT
Sự ổn định và thích nghi của một giống lúa thể hiện tính di truyền và sự đáp ứng của giống với môi trường canh tác Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường dựa trên năng suất của 10 giống lúa ở các vùng sinh thái khác nhau thuộc tỉnh Long An Qua hai vụ Đông Xuân và Hè Thu liên tiếp cho thấy năng suất các giống canh tác trên vùng sinh thái có sự khác biệt ý nghĩa ở mức 99% Kết quả ghi nhận các giống cho năng suất cao nhất trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017 là giống OM3673, OM344, OM8108 và OM90L đạt 7,71; 7,68; 7,36 và 7,35 tấn/ha theo thứ tự Các giống này ổn định (Sdi2 ~0) và thích nghi với điều kiện bất lợi (bi<1), riêng OM3673 thích nghi rộng (bi~1) Tương tự, trong vụ Hè Thu 2017, các giống cho năng suất cao và ổn định
là OM10258, OM3673, OM344 và OM8108 Trong đó, OM10258 và OM3673 thích nghi điều kiện bất lợi (bi<1), OM344 và OM8108 thích nghi điều kiện thuận lợi (bi>1) Các giống được đề xuất phát triển ở Long An là OM3673, OM344, OM10258 và OM8018
Từ khóa: Lúa, năng suất, ổn định, thích nghi, tương tác kiểu gen và môi trường
1 Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long
2 Viện Nghiên cứu Nông nghiệp công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Long An là một trong những tỉnh ở Đồng bằng
sông Cửu Long có điều kiện canh tác lúa kém thuận
lợi Ảnh hưởng của các tác nhân mặn, hạn, phèn và
ngập úng trong những năm qua đã làm giảm năng
suất lúa cũng như gây thiệt hại kinh tế nông nghiệp một cách đáng kể Do đó, chọn giống lúa để canh tác trên các vùng đất này đòi hỏi ngoài năng suất, chất lượng là sự ổn định và thích nghi cao Sự ổn định và thích nghi của một giống lúa là điều kiện cần thiết để
Trang 2nó có thể được canh tác lâu dài ở một vùng sinh thái
nhất định Các chỉ số này đã được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu và đề xuất trong các nghiên cứu trước
đây Mô hình phân tích tuyến tính AMMI (Additive
Main Effects and Multiplicative Interaction Models)
được phát triển bởi Gauch (1992) mang hiệu quả
cao vì tổng hợp trên cơ sở các mô hình của Finlay
và Wilkinson (1963), Eberhart và Russell (1966),
Perkins và Jinks (1968), Freeman và Perkins (1971)
và nhiều tác giả khác Ngoài nội dung phân tích sự
ổn định, mô hình còn quan tâm đến kiểu tương tác
(tương tác tuyến tính và không tuyến tính) mà nó
đang phân tích (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang,
2003) Mô hình này có nhiều tiện ích hơn những mô
hình kinh điển về ảnh hưởng chính có tính chất bổ
sung đối với các giống thử nghiệm và môi trường
canh tác, được thực hiện bằng phương pháp phân
tích đa phương
Nghiên cứu này dựa vào các số liệu năng suất giống lúa được ghi nhận trên các vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Long An qua hai mùa vụ liên tiếp Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích tuyến tính AMMI để khảo sát mối quan hệ tương tác giữa kiểu gen và môi trường, qua đó chọn lọc và đề xuất các giống lúa có tiềm năng năng suất và khả năng thích nghi cao trên các tiểu vùng sinh thái của tỉnh Long An
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Chín giống lúa (OM341, OM342, OM344, OM3673, OM8108, OM10258, OM10418, OM90L
và IR64-Sub1) và giống lúa đối chứng (IR50404) (Bảng 1) được sử dụng như nguồn vật liệu cho các đánh giá
Bảng 1 Nguồn vật liệu giống lúa sử dụng trong nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn
ngẫu nhiên với ba lần lặp lại Diện tích ô thí nghiệm
10m2 (5 m ˟ 2 m) Phương pháp cấy được áp dụng
trên tất cả các ruộng khảo nghiệm, cấy 1 - 2 tép,
khoảng cách cấy là 20 ˟ 15 cm Công thức phân bón
được sử dụng là 100 N - 40 P2O5 - 30 K2O kg/ha trong
vụ Đông Xuân và 80 N - 40 P2O5 - 30 K2O kg/ha
trong vụ Hè Thu
2.2.2 Đánh giá năng suất
Năng suất thực tế được đánh giá dựa trên mẫu ô
5m2, khối lượng được qui về độ ẩm 14%
2.2.2 Phương pháp
- Hiện nay, có rất nhiều phương pháp khác nhau
để phân tích sự tương tác giữa kiểu gen và môi
trường (Finlay and Wilkinson, 1963; Wricke, 1965;
Francis and Kannenburg, 1978; Akhtar et al., 2010)
Tương tác giữa kiểu gen và môi trường được xem
là giao thoa, hoặc có tính chất lượng nếu nó làm
cho kiểu gen thay đổi một cách tương đối trong điều
kiện khác nhau của môi trường Tương tác giữa kiểu
gen và môi trường được xem là không giao thoa, hoặc có tính số lượng, nếu nó tạo ra kết quả khác nhau về giá trị trung bình, nhưng không khác nhau
về kiểu gen Tính trạng tương tác giữa kiểu gen và môi trường trở nên phức tạp hơn khi chúng ta gia tăng số lượng kiểu gen và môi trường Trong trường hợp này chúng ta có m kiểu gen và n môi trường,
kiểu tương tác sẽ là: mn!
m!n!.
- Đánh giá tương tác kiểu gen và môi trường theo
mô hình của Finlay và Wikinson (1963), Eberhart
và Russell (1996): Yij = µi + βIj + δij Trong đó:
Yij = trung bình của giống i ở môi trường j; µ = giá trị trung bình tổng thể của các giống qua tất cả các môi trường; β = hệ số hồi quy của giống thứ I trên chỉ số môi trường, tham số để đo lường phản ứng của giống đối với sự thay đổi môi trường
Chỉ số môi trường Ij: Ij = (ΣYij/V) – ( ΣΣYij/vn) Chỉ số ổn định (Sdi2): Sdi2 = (D/(L–2) – (EMS/r)
Năng suất ổn định tương quan G E tuyến tính
Chỉ số ổn định (bi): bi = ΣYijIj/Ij2 Trong đó: b i = 1: thích ứng rộng, b i > 1: thích ứng môi trường thuận lợi,
b i < 1 thích nghi môi trường bất thuận
4 OM3673 Lúa giàu/Tiêu chùm 9 IR64-Sub1 Du nhập từ IRRI
Trang 3- Phân tích thông số ổn định được tính toán; hai
chỉ số liên quan được phân tích là: Chỉ số ổn định
Sdi2 với xu hướng tiến về 0; chỉ số thích nghi bi với xu
hướng tiến về 1 Theo mô hình này một đặc tính ổn
định khi: bi = 1 và Sdi2 = 0
- Các số liệu được xử lý bằng chương trình Excel;
phân tích ANOVA, Ducan, tương tác kiểu gen và
môi trường bằng phần mềm CropStat 7.2
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Vụ Đông Xuân 2016 -
2017 và Vụ Hè Thu 2017
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được thực
hiện tại 5 vùng sinh thái có điều kiện môi trường bất
lợi (nhiễm mặn, hạn, phèn) (Bảng 2)
Bảng 2 Thông tin các điểm khảo nghiệm lúa
ở tỉnh Long An
Trong đó, Tân Trụ và Bến Lức là hai điểm thường
bị ảnh hưởng bởi khô hạn, phèn nhẹ và xâm nhập mặn (độ mặn trung bình trong đất 2 - 3‰, có thời điểm đất mặn lên đến 4 - 5‰, đặc biệt vào mùa khô) Các điểm như Tân Thạnh, Kiến Tường và Đức Huệ thường xuyên bị ảnh hưởng bởi khô hạn và phèn nặng của vùng Đồng Tháp Mười
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Năng suất các giống lúa vụ Đông Xuân
2016 - 2017 và Hè Thu 2017
Trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017, các giống cho năng suất cao nhất bao gồm: OM3673, OM344, OM8108… Các giống này hầu hết có năng suất trên 7,00 tấn/ha, cao hơn hẳn giống đối chứng IR50404 (5,95 tấn/ha) Trong vụ Hè Thu 2017, các giống cho năng suất thấp hơn ở vụ Đông Xuân 2016 - 2017 là
do các yếu tố môi trường tác động (chẳng hạn như thời tiết bất lợi (mưa, gió, bão ), sâu bệnh tăng, dinh dưỡng trong đất giảm, … ) Trong vụ này, các giống OM10258, OM3673, OM344, OM8108, OM342 và OM10418 đều đạt năng suất trên 6,00 tấn/ha, vượt năng suất của giống đối chứng một cách có ý nghĩa
ở mức 95%
Như vậy, qua khảo nghiệm ở hai vụ liên tiếp trên các vùng sinh thái khác nhau của Long An, các giống có tiềm năng năng suất tốt nhất là: OM3673, OM10258, OM344 và OM8108 Tiềm năng năng suất cũng là thước đo liên quan mật thiết với tính di truyền và thích nghi của các giống
Hình 1 Năng suất trung bình của các giống tại 5 điểm khảo nghiệm tại tỉnh Long An
Đông Xuân 2016 - 2017
Hè Thu 2017
Giống Năng suất (tấn/ha)
9.00
8.00
7.00
6.00
5.00
4.00
3.00
2.00
1.00
0.00
1 Tân Trụ Bình Hòa, Bình Tịnh, Tân Trụ
2 Tân Thạnh Trại giống Tân Thạnh, Kiến Bình, Tân Thạnh
3 Bến Lức Ấp 7, Nhựt Chánh, Bến Lức
4 Đức Huệ Ấp 2, Bình Hòa Hưng, Đức Huệ
5 Kiến Tường Trạm Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH&CN, Thạnh Hưng,
Kiến Tường
Trang 4Bảng 4 Năng suất (tấn/ha) của các giống lúa khảo nghiệm tại 5 điểm vụ Đông Xuân 2016 - 2017
Ghi chú: EMS: trung bình bình phương sai số; NSTB: năng suất trung bình; Ij: chỉ số môi trường.
3.2 Tương tác kiểu gen các giống lúa và môi
trường canh tác vụ Đông Xuân 2016 - 2017
Trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017, các giống được
khảo nghiệm qua 5 vùng sinh thái khác nhau của
tỉnh Long An (Tân Trụ, Bến Lức, Tân Thạnh, Kiến
Tường và Đức Huệ) Kết quả phân tích ANOVA về
năng suất 10 giống lúa qua 5 môi trường thì sự khác
biệt về năng suất các giống có ý nghĩa thống kê ở
mức 99% nhưng mức độ ổn định về năng suất, cũng
như khả năng thích nghi biểu hiện rất khác nhau,
thông qua tương tác GxE (tuyến tính) (Bảng 3) Kết
quả phân tích Anova cho phép xem xét mối tương
tác giữa giống và môi trường ở đây là tuyến tính
Bảng 3 ANOVA năng suất 10 giống lúa
qua 5 điểm vụ Đông Xuân 2016 - 2017
Ghi chú: SS: tổng số bình phương; MS: trung bình bình phương; ** mức ý nghĩa 99%
Môi trường + (Giống ˟
Môi trường (Tuyến tính) 1 1
Giống ˟ Môi trường
Điều này cho phép chúng ta sử dụng chỉ số môi
trường (Ij) biểu trưng cho từng địa điểm, trên giản
đồ tương tác giữa kiểu gen và môi trường với thứ tự
từ kém thuận lợi đến thuận lợi như sau: Tân Thạnh
< Kiến Tường < Tân Trụ < Đức Huệ < Bến Lức nằm
trên trục Ij với giá tri theo thứ tự: _1,45 < _0,31 <
0,40 < 0,50 < 0,86 (Bảng 4) Xét về giống lúa, giống
OM3673 và OM344 đạt năng suất trung bình cao
nhất tại các điểm, các giống khác đều cho kết quả
cao hơn so với giống đối chứng IR50404
Xét về chỉ số ổn định, hầu hết các giống có sự ổn
định cao khi canh tác ở các môi trường khác nhau
của tỉnh Long An khi các giá trị Sdi 2 tiến về 0 Xét
về chỉ số thích nghi, đa số các giống đều thích nghi
môi trường thuận lợi (bi > 1), riêng giống OM3673,
IR64-Sub1 và IR50404 biểu hiện là các giống thích
nghi rộng (bi ~ 1)
Bảng 5 Chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định
của 10 giống lúa vụ Đông Xuân 2016 - 2017
Ghi chú: NSTB: năng suất trung bình; SE: sai số chuẩn.
Trụ Bến Lức Thạnh Tân Tường Kiến Đức Huệ Trung bình Phân nhóm Duncan
Giống (tấn/ha) NSTB Chỉ số thích
nghi (b i )
Chỉ số
ổn định (S di 2 )
Hệ số tương tác (%)
OM8108 7,36ab 0,473 0,146 83
OM10418 7,24ab 1,266 0,113 16
OM10258 7,14ab 1,302 0,120 51 IR64-Sub1 6,84b 1,048 0,009 1
Trang 5Xét về tính thích nghi cụ thể, qua giản đồ
BIPLOT (Hình 2) về năng suất của 10 giống lúa
khảo nghiện tại 5 điểm khác nhau cho thấy: OM341,
OM342 và OM10258 thích nghi tốt với điều kiện
của Kiến Tường và Đức Huệ; OM90L và OM10418
thích nghi nhất với điều kiện của Tân Trụ; OM3673 thích nghi nhất với điều kiện của Bến Lức; OM344
và OM8108 cho năng suất cao hơn các giống khác ở điểm Tân Thạnh
Phân tích ANOVA các thành phần AMMI
(Bảng 6) cho thấy hầu hết các AMMI đều có ý
nghĩa mức ý nghĩa 99% Điều này cho thấy các
giống có biểu hiện sự khác biệt trên các môi
trường khác nhau
Bảng 6 Phân tích ANOVA theo mô hình AMMI
Ghi chú: DF: độ tự do; SS: tổng số bình phương;
MS: trung bình bình phương; F: phép thử F; **: mức ý
nghĩa 99%.
Kết hợp phân tích cả tuyến tính, hệ số tương tác nhiều chiều, chỉ số thích nghi, chỉ số ổn định cho thấy: Trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017, các giống cho năng suất cao trên các vùng sinh thái, tuy nhiên, tùy vào từng điều kiện cụ thể mà các giống có sự thích nghi riêng biệt Trong đó, môi trường thuận lợi nhất cho canh tác bộ giống là Bến Lức, Tân Trụ
và Đức Huệ, các giống có sự thích nghi và cho năng suất cao nhất qua khảo nghiệm ở 5 điểm là OM3673, OM344, OM90L và OM8108
3.3 Tương tác kiểu gen các giống lúa và môi trường canh tác vụ Hè Thu 2017
Ở vụ Hè Thu 2017, 10 giống lúa chỉ khảo nghiệm trên 3 vùng sinh thái khác nhau (Tân Trụ, Bến Lức, Kiến Tường) do các điều kiện thí Tương tự như ở
vụ Đông Xuân trước, phép thử F có ý nghĩa thống
kê ở mức 99% về mối quan hệ giữa kiểu gen và môi trường là tuyến tính
Về chỉ số môi trường (Ij) ghi nhận môi trường thứ
tự từ kém thuận lợi đến thuận lợi cho các giống như sau: Tân Trụ < Kiến Tường < Bến Lức nằm trên trục
Ij với giá trị theo thứ tự: –0,27 < 0,13 < 0,14 (Bảng 7)
Hình 2 Giản đồ BIPLOT về năng suất của 10 giống lúa khảo nghiện tại 5 điểm khác nhau
tỉnh Long An vụ Đông Xuân 2016 - 2017 (Mức độ tương tác 83,8%)
Vị Trí 4 33,20 8,32
Giống x
Vị trí 36 7,59 0,21
AMMI 1 12 4,43 0,37 2,800 0,015
AMMI 2 10 1,93 0,19 2,191 0,087
AMMI 3 8 0,70 0,88 0,998 0,516
Trang 6Xét về giống lúa, giống OM10258, OM3673,
OM344 và OM8108 đạt năng suất trung bình cao
hơn 6,00 tấn/ha và cao nhất tại các điểm, các giống
khác đều cho kết quả cao hơn so với IR50404 (5,32
tấn/ha)
Xét góc độ môi trường, năng suất trung bình của
bộ giống tại 3 địa điểm thì sai biệt có ý nghĩa 95%
theo trắc nghiệm nhiều bậc Duncan Điểm Bến Lức
là điểm thuận lợi nhất trong khi điểm Tân Trụ là
điểm kém thuận lợi nhất
Bảng 8 Chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định
của 10 giống lúa vụ Hè Thu 2017
Ghi chú: NSTB: năng suất trung bình; SE: sai số chuẩn.
Xét về chỉ số ổn định, hầu hết các giống có sự ổn định cao khi canh tác ở các môi trường khác nhau của tỉnh Long An khi đều có giá trị Sdi 2 tiến về 0 Xét
về chỉ số thích nghi, đa số các giống đều thích nghi môi trường thuận lợi (bi > 1), riêng giống OM3673, OM10258, OM8108, OM342 và OM344 biểu hiện là các giống thích nghi môi trường bất lợi (bi < 1), đặc biệt là giống OM10258 có giá trị bi âm, điều này cho thấy ở các điều kiện canh tác khó khăn nhất, giống này chống chịu tốt và vẫn cho năng suất cao
Qua giản đồ BIPLOT (Hình 3) về năng suất của
10 giống lúa khảo nghiện tại 3 điểm khác nhau cho thấy: OM342, OM10258 và OM3673 thích nghi tốt với điều kiện của Tân Trụ; OM10418, OM344 và OM3673 thích nghi nhất với điều kiện của Bến Lức; OM8108, OM341 và OM3673 thích nghi nhất với điều kiện của Kiến Tường
Kết hợp phân tích cả tuyến tính, hệ số tương tác nhiều chiều, chỉ số thích nghi, chỉ số ổn định, sự phân nhóm kiểu gen và sự phân nhóm môi trường
ở hai vụ liên tiếp có nhận xét như sau: các giống cho năng suất cao trên các vùng sinh thái, tuy nhiên tùy vào từng điều kiện cụ thể mà các giống có sự thích nghi riêng biệt Trong đó, môi trường thuận lợi nhất cho canh tác bộ giống là Bến Lức, các giống cho năng suất trung bình cao nhất qua khảo nghiệm ở 3 điểm là OM10258, OM3673 và OM344
Bảng 7 Năng suất của các giống lúa khảo nghiệm tại 3 điểm vụ Hè Thu 2017
Ghi chú: EMS: trung bình bình phương sai số; NSTB: năng suất trung bình; Ij: chỉ số môi trường.
Tân Trụ Bến Lức Kiến Tường Trung bình Phân nhóm
Giống NSTB (tấn/
ha)
Chỉ số thích nghi (b i )
Chỉ số
ổn định (S di 2 )
Hệ số tương tác (%)
OM10258 6,82a -0,562 0,059 95
OM3673 6,67ab 0,032 0,073 79
OM8108 6,12bc 1,796 0,062 52
OM10418 6,02bc 0,089 0,066 37
IR64-Sub1 5,70cd 1,206 0,061 1
IR50404 5,32d 1,980 0,030 38
Trang 7IV KẾT LUẬN
Môi trường ảnh hưởng đến sự biểu hiện tính
trạng và gây ra sự sai khác đáng kể về năng suất
Vì vậy, công tác chọn lọc giống cần xem xét ở mức
độ tương tác được thể hiện qua việc đánh giá tính
ổn định và thích nghi Kết quả đánh giá cho thấy
ở vụ Đông Xuân 2016 - 2017, các giống có sự thích
nghi và cho năng suất cao nhất qua khảo nghiệm ở
các vùng sinh thái là OM3673, OM344, OM8108 và
OM90L Trong vụ Hè Thu 2017, các giống cho năng
suất trung bình cao nhất là OM10258, OM3673,
OM344 và OM8108 Các giống này được đề xuất
phát triển ở Long An vì có sự thích nghi và cho năng
suất cao với điều kiện canh tác của địa phương
LỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ
Long An đã cấp kinh phí để nghiên cứu này được
thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2003 Chương
VII: Tương tác kiểu gen˟ môi trường Giáo trình
Di truyền số lượng Nhà xuất bản Nông nghiệp,
trang 93
Akhtar L.H, Muhammad K, Mugammad A, and
Tariq A, 2010 Stability analysis for grain yield in mung
bean (Vigna radiata L.wilczek) grown in different agro-climatic regions Emir J Food Agric., 22 (6):
490-497
Eberhart S.A and Russell W.A, 1966 Stability paramters
for comparing varieties Crop Sci., 6: 36-40.
Finlay K.W and Wilkinson G.N, 1963 The analysis of
adaptation in a plant breeding programme Aust J Agric Res., 14: 742-754.
Francis T.R and Kannenburg L.W, 1978 Yield stability
studies in short-season maize: I A descriptive
method for grouping genotypes Can J Plant Sci.,
58: 1029-1034
Freeman G.H and Perkins J.M, 1971. Environmental
and genotype-environmental components of variability VIII Relations between genotypes grown
in different environments and measures of these
environments Heredity, 27: 15-23.
Gauch H.G, 1992 Statistical analysis of regional yield
trials: AMMI analysis of factorial designs Elsevier,
Amsterdam
Perkins JEAN and Jins J.L, 1968 Environment and
genotype-environmental components of varability
III Multiple lines and crosses Heredity, 23, in press.
Wricke G, 1965 Zur Berechning der okovalenz bei
sommerweizen und hafer Z Pflanzenzuchtung, 52:
127-138
Hình 3 Giản đồ BIPLOT về năng suất của 10 giống lúa khảo nghiện tại 3 điểm khác nhau
của tỉnh Long An vụ Hè Thu 2017 (Mức độ tương tác 100,0%)
Trang 8Stability and adaptability of promising rice varieties
at different environments of Long An province
Bui Phuoc Tam, Nguyen Van Huu Linh, Bien Anh Khoa,
Pham Thi Be Tu and Nguyen Thi Lang
Abstract
The stability and adaptability of a rice variety expresses its inheritance and response to the cultivating environment The study was conducted in order to assess the genotype and environment interaction based on the yield of 10 rice varieties in different ecological regions of Long An province Through two continuous seasons, the interaction between varieties and locations had significant differences at 99% The highest yields of OM3673, OM344, OM8108 and OM90L was recorded in the Spring - Winter season of 2016 - 2017 at 7.71; 7.68; 7.36 and 7.35 tons/ ha, respectively These varieties were stable (Sdi2 ~ 0) and adapted to unfavorable conditions (bi<1), especially, OM3673 was widely adapted (bi ~ 1) Similarly, in the Summer - Autumn season of 2017, the yield of OM10258, OM3673, OM344 and OM8108 was high and stable Of which, OM10258 and OM3673 were adapted to unfavorable conditions (bi <1), OM344 and OM8108 were adapted to favorable conditions (bi> 1) The elite varieties that can be developed in Long
An are OM3673, OM344, OM10258 and OM8018
Keywords: Rice, yield, stability, adaptability, genotype, environment interaction
Ngày nhận bài: 18/3/2018
Ngày phản biện: 22/3/2018 Người phản biện: TS Bùi Thị Dương KhuyềuNgày duyệt đăng: 16/4/2018
1 Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
2 Trung tâm Giống Nông nghiệp Hưng Yên
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUẦN VỤ XUÂN
TẠI HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
Nguyễn Tuấn Điệp1, Nguyễn Thị Tuyết2, Nguyễn Thị Ngọc1
TÓM TẮT
Thí nghiệm được thực hiện ở vụ Xuân 2016 trên đất lúa hai vụ tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Các giống lúa tham gia thí nghiệm gồm DT69, DT68, DT45, ĐB15, J02 và Bắc Thơm số 7 Kết quả thí nghiệm cho thấy các giống lúa có thời gian đẻ nhánh từ 33 - 38 ngày, thời gian sinh trưởng (TGST) từ 121 đến 135 ngày, trong đó giống ĐB15
có TGST ngắn nhất (chỉ 121 ngày) Sâu bệnh hại gồm có sâu đục thân, rầy nâu, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn và khô vằn, song mức độ nhiễm nhẹ (điểm 1 - 3) Giống DT68 và J02 cho năng suất thực thu cao nhất, hơn hẳn các giống lúa khác trong thí nghiệm, năng suất tương ứng 6,52 tấn/ha và 6,25 tấn/ha Hai giống này có tỷ lệ gạo xay, gạo xát cao nhất, độ bạc bụng thấp nhất (0,8%), chất lượng cơm ngon nhất (điểm 4) trong các giống thí nghiệm
Từ khóa: Giống lúa thuần, đánh giá, vụ Xuân, tỉnh Hưng Yên
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính
ở Việt Nam Trong những năm từ 2011 - 2016, diện
tích lúa cả năm trên toàn quốc ổn định ở mức 7,60
- 7,90 triệu ha, năng suất bình quân đạt 56,43 tạ/ha
(Tổng cục Thống kê, 2017).Việc chọn tạo các giống
lúa mới để bổ sung cho sản xuất được nhiều cơ quan
nghiên cứu thực hiện (Bùi Chí Bửu, 1995; Nguyễn
Hữu Nghĩa, 2007) Việc đánh giá, xác định giống lúa
phù hợp cho từng vùng đảm bảo các tiêu chí về năng
suất, chất lượng sản phẩm, chống chịu sâu bệnh hại,
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường cần được
quan tâm (Trần Đình Long và ctv., 1997) Trên địa
bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có nhiều giống lúa thuần được chuyển giao cho sản xuất song chưa xác định được giống lúa phù hợp nhất cho vụ lúa Xuân
ở đây Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa thuần mới trong vụ Xuân tại huyện Ân Thi có ý nghĩa thực tiễn và có thể tham khảo cho sản xuất lúa của tỉnh Hưng Yên