1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm gia lai trong giai đoạn hiện nay

128 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 921,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ CBQL và GV, NV năm học 2014 đẳng sư phạm Gia Lai 56 Bảng 2.4 Hội nghị, hội thảo, cuộc thi hỗ trợ giáo dục chính trị, Bảng 2.5 Chương trình đi thực tế và sinh h

Trang 1

TRƯƠNG THỊ CẨM NGỌC

QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO

HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

TRƯƠNG THỊ CẨM NGỌC

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Các nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Các phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của luận văn 6

9 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH- SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 7

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 12

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 12

1.2.2 Giáo dục chính trị tư tưởng 19

1.2.3 Biện pháp quản lý công tác giáo dục chính trị tư tưởng 23

1.3 CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN 25

1.3.1 Ý nghĩa của công tác GDCTTT cho HSSV 25

1.3.2 Nội dung công tác GDCTTT cho HSSV 28

1.3.3 Hình thức công tác GDCTTT cho HSSV 29

1.3.4 Những yêu cầu của công tác GDCTTT cho HSSV 30

1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 31

Trang 4

1.4.2 Nội dung quản lý kế hoạch giáo dục chính trị tư tưởng cho HSSV

trường CĐSP 33

1.4.3 Hình thức tổ chức công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho HSSV trường CĐSP 34

1.4.4 Chỉ đạo các hoạt động công tác GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm 35

1.4.5 Kiểm tra đánh giá công tác GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm 37

1.5 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 38

1.5.1 Nguyên tắc quản lý GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm 38

1.5.2 Phương pháp quản lý GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm 39

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 43

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC GIA LAI 43

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 43

2.1.2 Về đặc điểm kinh tế, xã hội 44

2.1.3 Về giáo dục - đào tạo 45

2.2 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI 45

Trang 5

2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý 47

2.2.4 Hoạt động đào tạo 49

2.2.5 Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của nhà trường 50

2.3 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 50

2.3.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 50

2.3.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng 51

2.3.3 Đối tượng, địa bàn nghiên cứu 51

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 51

2.3.5 Tổ chức nghiên cứu 51

2.4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

GIA LAI 52

2.4.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên, sinh viên giai đoạn 2010 - 2014 52

2.4.2 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HSSV về tầm quan trọng của GDCTTT cho HSSV trường cao đẳng sư phạm Gia Lai 55

2.4.3 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho HSSV tại trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai 58

2.5 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 65

2.5.1 Thực trạng lập kế hoạch công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho HSSV trường CĐSP Gia Lai 65

2.5.2 Thực trạng tổ chức công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho HSSV trường CĐSP Gia Lai 67

Trang 6

2.5.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá công tác GDCTTT cho HSSV trường

CĐSP Gia Lai 71

2.6 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 73

2.6.1 Mặt mạnh 73

2.6.2 Hạn chế 74

2.6.3 Nguyên nhân 75

Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 78

3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 78

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 78

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 78

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 78

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 79

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 79

3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 79

3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên và HSSV về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh- sinh viên 79

Trang 7

3.2.3 Đa dạng hóa nội dung hình thức và cải tiến phương pháp

GDCTTT cho HSSV 86

3.2.4 Đổi mới và hoàn thiện nội dung quản lý công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho HSSV trên cơ sở kế thừa và phát huy những nội dung đã thực hiện 89

3.2.5 Tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng giáo dục nhà trường hoàn thành tốt công tác GDCTTT cho HSSV 92

3.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 94

3.5 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT, KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 95

3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 95

3.5.2 Lựa chọn đối tượng khảo nghiệm 95

3.5.3 Quá trình khảo nghiệm 95

3.5.4 Kết quả khảo nghiệm 96

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO) PHỤ LỤC 111

Trang 8

CBVC - SV : cán bộ viên chức- sinh viên

Trang 9

Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ CBQL và GV, NV năm học 2014

đẳng sư phạm Gia Lai

56

Bảng 2.4 Hội nghị, hội thảo, cuộc thi hỗ trợ giáo dục chính trị,

Bảng 2.5

Chương trình đi thực tế và sinh hoạt tại khoa hỗ trợ giáo dục chính trị, tư tưởng sinh viên tìm hiểu Chính trị, Pháp luật

64

Bảng 2.6 Đi thực tế về dạy học cho trẻ em vùng biên giới,

Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch công tác giáo dục chính trị

Bảng 2.9 Thực trạng tổ chức công tác giáo dục tư tưởng chính

Bảng 2.10 Thực trạng chỉ đạo các hoạt động công tác GDCTTT

Bảng 2.11 Thực trạng kiểm tra đánh giá công tác GDCTTT cho

Bảng 3.1

Kết quả mức độ đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho sinh viên trường CĐSP Gia Lai

96

Trang 10

Số hiệu Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1 Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ cần thiết

Biểu đồ 3.2 Tổng hợp kết quả khảo sát tính khả thi của các

Biểu đồ 3.3 Mối quan hệ giữa mức độ cần thiết và tính khả

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình lãnh đạo Đảng ta luôn xác định công tác giáo dục chính trị tư tưởng (GDCTTT) là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, góp phần xây dựng, bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội Sinh thời Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác GDCTTT Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ:“ Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giảng dạy và học tập

lý luân chính trị” [1] Văn kiện Đại hội XI tiếp tục xác định:” Tiếp tục đổi

mới nội dung, phương thức hơn nữa hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục công dân trong hệ thống các trường chính trị và các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc

dân.”[2] Như vậy, GDCTTT được Đảng ta đặc biệt quan tâm, nhất là

GDCTTT cho đối tượng là thanh niên, sinh viên Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ:“ Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức, lối sống cho sinh viên ở các

trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề” [3]

Hồ Chủ tịch đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta: “Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Đại hội X của Đảng chỉ rõ phải coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách của người Việt Nam Trong đó, “ Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo

đức và bãn lĩnh văn hóa con người Việt Nam” sẽ góp phần đáp ứng tốt yêu

cầu về đào tạo nguồn nhân lực trẻ

Công tác GDCTTT là một bộ phận quan trọng nhất góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho sinh viên theo mục tiêu mà ngành giáo dục đã đề ra: “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo

Trang 12

đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng đọc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách,

phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc”[4] Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về giáo dục đào tạo đã chỉ rõ: Giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống là một bộ phận trong giáo dục cao đẳng, đại học nói chung và trong giáo dục sinh viên nói riêng Xác định công tác GDCTTT là một chức năng quan trọng song song trong công tác giáo dục đào tạo sinh viên nhằm đưa các

đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với

sinh viên, bồi dưỡng cho thế hệ sinh viên về lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có nhận thức và lối sống đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội Do đó yêu cầu thực tiễn cấp bách đặt ra hiện nay là phải nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả GDCTTT nhất là trong các trường

đại học, cao đẳng trung cấp chuyên nghiệp ở nước ta hiện nay

Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua công tác GDCTTT cho HSSV Công tác này đòi hỏi phải tiến hành một cách liên tục, thường xuyên và đang trở thành một trong những nội dung không thể thiếu

được trong các mặt giáo dục của các nhà trường nói chung và trường cao đẳng, đại học nói riêng nhằm tạo ra lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” như

mong muốn của Bác Hồ Như vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trước hết cần phải nâng cao chất lượng GDCTTT cho HSSV Đó cũng chính

là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách, đồng thời là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay

Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ý thức được vai trò,

vị trí và sứ mệnh chính trị của mình trong thời kỳ mới, trường Cao đẳng Sư phạm Gia lai đã luôn quan tâm đến việc GDCTTT cho HSSV Điều này được

Trang 13

thể hiện rất rõ qua sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, của các cấp ủy Đảng, Đoàn thanh niên, các đoàn thể

Trong những năm qua trường CĐSP Gia Lai xác định việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GDCTTT cho HSSV là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của nhà trường Công tác GDCTTT và quản lý công tác GDCTTT cho HSSV đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tình hình tư tưởng và tinh thần của HSSV trường CĐSP Gia Lai được đánh giá là tương đối ổn định, có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng vẫn còn đó những điều chúng ta phải quan tâm Tuy nhiên, công tác GDCTTT cho HSSV vẫn gặp phải những khó khăn nhất định khi thực hiện công tác tổ chức triển khai, theo dõi, phối hợp

Vấn đề quản lý công tác GDCTTT cho HSSV là nội dung đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu, tuy nhiên việc tìm kiếm biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở trường CĐSP Gia Lai là vấn đề mới

Xuất phát từ những lý do trên đề tài được lựa chọn là: “Quản lý công

tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh- sinh viên trường Cao Đẳng

Sư phạm Gia Lai trong giai đoạn hiện nay ” nhằm góp phần nâng cao hiệu

quả công tác quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trong nhà trường trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng của đề tài, từ đó

đề xuất các biện pháp quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP

Gia Lai trong giai đoạn hiện nay nhằm có tính cấp thiết và khả thi với thực tiễn quản lý giáo dục của nhà trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Trang 14

Công tác GDCTTT cho HSSV

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP Gia Lai trong giai

đoạn hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở trường CĐSP Gia Lai trong thời gian vừa qua tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại bất cập và hạn chế Nếu đề tài xác định rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng thì có thể đề xuất được các biện pháp quản lý mang tính cấp thiết và khả thi phù hợp với tình hình thực tế quản lý giáo dục của nhà trường, từ đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV nhà trường trong giai đoạn hiện nay

5 Các nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP Gia Lai

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP Gia Lai

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP Gia Lai

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Đánh giá thực trạng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở trường

CĐSP Gia Lai giai đoạn 2010-2014

7 Các phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, khái quát các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để tổng quan cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 15

- Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu, phân tích lý thuyết các tài liệu thành các đơn vị kiến thức để tìm hiểu được những dấu hiệu đặc thù, bên trong

- Tổng hợp các tài liệu để tạo ra hệ thống, thấy được mối quan hệ, mối tác động biện chứng của lý thuyết

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp khảo sát

Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi trưng cầu ý kiến và phỏng vấn

đối với 03 nhóm đối tượng là Cán bộ quản lý; Giảng viên và Học sinh

Sinh viên về thực trạng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

7.2.2 Phương pháp khảo nghiệm ý kiến chuyên gia

Xây dựng các phiếu hỏi trong đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác GDCTTT ở Trường CĐSP Gia Lai, tiến hành khảo nghiệm ý kiến đối với Ban giám hiệu nhà trường; Trưởng Phó các phòng, khoa, ban, tổ trực thuộc; cán bộ quản lý công tác GDCTTT cho HSSV của nhà trường về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp luận văn đề xuất

7.3 Phương pháp thống kê

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở trường CĐSP Gia Lai

Trang 16

8 Đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường CĐSP

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực trạng về quản lý công tác GDCTTT cho HSSV, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm quản lý công tác GDCTTT cho HSSV ở trường CĐSP Gia Lai trong giai đoạn hiện nay phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa trong giai

đoạn hiện nay

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần danh mục các tài kiệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm

Chương 2: Thực trạng quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

Chương 3: Biện pháp quản lý công tác GDCTTT cho HSSV trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai trong giai đoạn hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH- SINH VIÊN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho thế hệ trẻ là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách người học Khi còn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Từ quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm” Kế thừa tư tưởng của Người, giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục bậc cao đẳng, đại học đã có những chỉ đạo sát sao về giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh - sinh viên trong nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản, quyết định của chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đã có hàng trăm công trình (kỷ yếu, hội thảo, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí và nhất là các cuốn sách…) bàn về đề tài này ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, trong đó tập trung ở một số hướng nghiên cứu cơ bản sau:

Thứ nhất, vấn đề GDCTTT trong nhà trường đã được nhiều tác giả quan tâm, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề đạo đức như: Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Hà Nhật Thăng, Huỳnh Khải, Nguyễn Hữu Công

Công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc và các cộng

sự về phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đã có một chương bàn về đạo đức, GDCTTT, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDCTTT trong giai đoạn hiện nay [10] Nhà tâm lý học hàng đầu nước ta đã nêu lên các

định hướng giá trị đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp

Trang 18

hóa, hiện đại hóa và bàn về thực trạng cũng như giải pháp ở tầm vĩ mô về giáo dục và đào tạo con người VIệt nam theo định hướng trên Về mục tiêu giáo dục GS-TS Phạm Minh Hạc nêu rõ” trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị đạo đức nhân văn kiến thức pháp luật văn hóa xã hội Hình thành cho mọi công dân có thái độ đúng đắn, tình cảm, đạo

đức, niềm tin trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách

mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” ( 17 tr168,169,170)

Dưới góc độ nghiên cứu về công tác giáo dục tư tưởng chính trị, các biện pháp GDCTTT cho học sinh- sinh viên đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học chuyên nghành Tâm lý đã công bố

Tác giả Hà Nhật Thăng nhấn mạnh GDCTTT được coi là một bộ phận

có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nguồn lực con người; Tác giả Huỳnh Khải Vinh đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn mực giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hoá con người; sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh

tế, xã hội với lối sống, đạo đức [37]

Nghiên cứu về giáo dục chính trị, tư tưởng nói chung và giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, Đảng viên: Theo hướng này có các công trình tiêu biểu như: luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Đình Trãi (2001) về “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, giảng viên lý luận Mac-Lênin ở các trường chính trị tỉnh”; Ngoài ra, năm 2007, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cũng đã xuất bản tác phẩm Tăng cường giáo dục, rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, nâng -cao năng lực hoạt động thực tiễn cho cán

bộ, đảng viên trong tình hình mới của nhiều tác giả [30] Cuốn sách là tập hợp

Trang 19

nhiều bài viết của các học giả chuyên nghiên cứu về công tác GDCTTT giúp cho vấn đề nghiên cứu được phản ảnh dưới nhiều góc độ khác nhau, nên đã cung cấp cho người đọc nhiều thông tin hữu ích

Nghiên cứu về GDCTTT cho thế hệ trẻ là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách người học Ở nước ta, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác GDCTTT Tiêu biểu như tác phẩm” Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên ở cơ sở” của TS Vũ Ngọc Am [1] Tác phẩm đã nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác GDCTTT, đồng thời, tác giả cũng nêu lên quá trình đổi mới, thực trạng của công tác GDCTTT hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác GDCTTT ở cơ sở Công tác GDCTTT ảnh hưởng trực tiếp đến tính tích cực xã hội của các thành phần trong xã hội, đến sự tự giác, sự am hiểu và trình độ học vấn của họ, đến việc rèn luyện tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp chung và những phẩm chất khác quy định vị trí xã hội của cá nhân Công tác GDCTTT tác động đến ý thức và hành vi của con người; luận văn thạc sĩ chính trị của Lăng Văn Thang (2004) về “Vai trò giáo dục lý luận chính trị trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”; sách “Về công tác giáo dục lý luận chính trị” trích dẫn những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2007); đề tài cấp Bộ mã số B08 -

22 do tác giả Ngô Ngọc Thắng chủ nhiệm (2008) “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống các trường chính trị nước ta giai đoạn hiện nay”…

Thứ hai, nghiên cứu về vai trò, cơ sở khoa học của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên các trường cao đẳng và đại học có các công trình tiêu biểu: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học

“Đổi mới giảng dạy, học tập môn Triết học Mac-Lênin trong các trường đại

Trang 20

học toàn quốc”; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học

“Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (trong các trường đại học, cao đẳng); Đề án “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007) Bên cạnh các tác phẩm đã xuất bản, trên các tạp chí nghiên cứu cũng có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề GDCTTT cho sinh viên, học sinh như: Hào Hải, Một vài suy nghĩ xung quanh việc đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng [14, tr 129-133]; Đỗ Tường Vi, Giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh trong thời kỳ mới [43, tr 11-13]; Võ Văn Giảng, Để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh [9, tr 31-32] Điển hình như

đề tài Thực trạng và các giải pháp tổ chức giáo dục nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Học viện Kỹ thuật Quân sự của Nguyễn Văn Châu [4]; Một số biện pháp tổ chức hoạt động văn hoá nghệ thuật nhằm giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh của Lê Trọng Hà [10]

Với những cách tiếp cận khác nhau, các công trình, bài viết trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác GDCTTT cho cán bộ,

đảng viên và sinh viên, học sinh như khái niệm, mục tiêu, nội dung, tầm quan

trọng của công tác GDCTTT trong tình hình mới, đặc biệt, các tác giả đều cố gắng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác GDCTTT cho sinh viên, học sinh

Nếu công tác GDCTTT dành được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học thì ngược lại những công trình nghiên cứu, bài viết về quản lý công tác GDCTTT trong các trường lại khá khiêm tốn Năm 2007 tiêu biểu có đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý công tác GDCTTT cho sinh viên Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Khánh Hương, Luận văn Thạc sĩ [19] Với hơn 90 trang nội dung, công trình nghiên cứu này đã

Trang 21

bước đầu làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý công tác GDCTTT, phân tích những đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên có ảnh hưởng

đến việc quản lý công tác GDCTTT Trên cơ sở khảo sát thực trạng, tác giả đã đưa ra một số biện pháp hữu hiệu để tăng cường quản lý công tác GDCTTT

cho sinh viên Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mac-Lênin trong các trường cao đẳng, đại học có các công trình tiêu biểu như: sách của TS Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học” (2004); luận án tiến sĩ Triết học của Hoàng Anh (2006) “Giáo dục lý luận Mac-Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay”; luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị của Trần Thị Huệ (2008) “Nâng cao năng lực thế giới quan khoa học cho sinh viên trường đại học Hồng Đức hiện nay”…

Thứ tư, tập trung nghiên cứu nhiều nhất đó là vấn đề đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Theo hướng này có các công trình tiêu biểu như: sách của tác giả Lương Gia Ban (2002) “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung chương trình các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”; sách của tập thể tác giả Lê Xuân Nam, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Thành, Lương Minh Cử, Hoàng Trung (2002) “Một số ý kiến trao đổi về phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mac-Lênin ở đại học và cao đẳng”; luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị của Tống Thị Tâm (2008) “Vận dụng phương pháp dạy - học tích cực vào giảng dạy lý luận chính trị trong các trường cao đẳng ở Thái Nguyên hiện nay”…

Các công trình trên hoặc mới chỉ đề cập đến cơ sở của giáo dục chính trị, tư tưởng hay bàn về dạy và học các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng

Trang 22

Hồ Chí Minh hoặc là đề cập đến việc đổi mới giáo dục lý luận chính trị ở một góc độ hẹp (nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp…) mà chưa bàn

đến việc quản lý công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh, sinh viên

các trường cao đẳng, đại học nói riêng, các nhà trường Việt Nam nói chung

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

a Quản lý

Thuật ngữ Quản lý có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau,

có thể nêu một số quan điểm sau

- Về góc độ tổ chức: QL là sự cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra

- Góc độ điều khiển học: QL là lái, điều khiển, điều chỉnh

- Cách tiếp cận hệ thống: QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL (hay đối tượng QL) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định

Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý

C.Mác đã lột tả bản chất của quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẻ của nó Trong bộ Tư bản, C.Mác đã viết: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần tới

sự QL Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [12;480]

Như vậy, theo C.Mác: quản lý là loại lao động để điều khiển mọi quá

trình lao động phát triển xã hội

Follett đưa ra một định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý là: “nghệ thuật

hoàn thành công việc thông qua người khác” Một định nghĩa được chấp nhận

Trang 23

rộng rãi khác là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn

có của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” [9; 2]

Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [2;103]

Harld Koontz thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó

đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong

đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc,

vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [2;12]

F.W Taylor, nhà kinh tế học người Anh cho rằng: “Quản lý là biết

chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành

công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [2;12]

Như vậy, các tác giả nước ngoài định nghĩa về khái niệm QL có khác nhau, song có thể nhận thấy một số điểm chung là: QL là biết được điều bạn muốn người khác làm, sao cho đem lại hiệu quả nhất và thúc đẩy sự tiến bộ

Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý

Quản lý là một từ Hán Việt được ghép bởi từ “quản” và “lý” “Quản” là quá trình coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái ổn định “Lý” nghĩa là chỉnh đốn, sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển Vì vậy “Quản lý” tức là bảo quản, duy trì, đổi mới, phát triển sự vật ở trạng thái ổn định

trong bối cảnh biến động

Theo Từ điển Giáo dục học: “QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức, nhằm làm cho một tổ chức vận hành và đạt được mục

đích của tổ chức” [5;326]

Trang 24

Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái

niệm khác nhau:

“Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các

mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít

nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức

có tổ chức về quản lý là một khoa học” [11;29]

Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì cho rằng: “Quản lý là quá trình định

hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến

hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [13;225]

Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [16;24]

Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ

chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình

trạng của đối tượng nhằm giữ vững cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [8;21]

Tác giả Trần Kiểm nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng,

điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài

tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [10;15]

Tóm lại, mặc dù được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng các

quan điểm về QL đã nêu đều thể hiện được nội dung: “QL là những tác động

của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức

Trang 25

(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu

quả cao nhất” [9;8]

b Quản lý giáo dục

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, xuất hiện từ khi con người được sinh ra Bởi trong quá trình lao động, con người tích lũy kinh nghiệm và truyền cho thế hệ sau Ban đầu là tự phát sau dần trở thành tự giác, có ý thức, có mục đích và có chương trình Giáo dục có vị trí, vai trò rất

to lớn trong đười sống xã hội con người, vì vậy quản lý giáo dục là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm, chú trọng

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung đồng thời cũng là một bộ phận của khoa học giáo dục Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách hiểu và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [2]

Trong cuốn Giáo dục học tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ biết sống và biết phấn

đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [22; 206]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt

động dạy - học thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội

chủ nghĩa mới, quản lý được giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [4; 9]

Trang 26

Tác giả Nguyễn Gia Quý cho rằng: “QLGD là tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể QL, nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống” [18; 2]

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là

hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thức đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV - HS và CSVC phục vụ cho giáo dục

Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người nên quản

lý giáo dục còn được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

c Quản lý nhà trường

Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Hầu hết các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường thông qua hệ thống nhà trường Nhà trường là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm quản lý giáo dục luôn

đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường

Trang 27

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích cơ bản nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của học sinh và mục tiêu giáo dục của nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh” [22; 61]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tá, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, GV và HS nhằm tận dụng nguồn lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp, và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới” [27;43]

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của

nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản

lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà

Trang 28

trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triển lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục

Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:

- Quản lý đội ngũ các thầy, cô giáo, cán bộ nhân viên và tập thể HSSV thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường

- Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của

Bộ GD và nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy học

- Quản lý tốt việc học tập của HSSV Quản lý HSSV bao hàm cả quản

lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập

- Quản lý việc kiểm tra và đánh giá

- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HSSV

- Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hoá giáo dục,

động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất,

mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học

- Quản lý việc chăm lo đến đới sống vật chất và tinh thần của tập thể

GV, công nhân viên của nhà trường

Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà

Trang 29

trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường

1.2.2 Giáo dục chính trị tư tưởng

a Khái niệm chính trị

Theo từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện thì khái niệm chính trị

được hiểu như sau: “Trong lịch sử phát triển xã hội, chính trị từng là lĩnh vực

hoạt động của những nhóm xã hội thống trị, tất cả những người bị trị không

được phép tham gia Nó được coi là đặc quyền của những tầng lớp “bên trên”

(giới “quân tử” theo cách gọi của Khổng học hay giới “thượng lưu” ưu đẳng

“theo cách gọi của xã hội học)

Cùng với sự ra đời và phát triển của tư tưởng dân chủ, nhất là cùng với cuộc cách mạng dân chủ, tất cả các công dân có quyền tham gia chính trị Nhưng mức độ ấy tùy thuộc vào những điều kiện của xã hội, kinh tế, văn hóa

và tư tưởng của các công dân Sự tham gia ấy là thật sự trong chính thể dân chủ thật sự và là hình thức trong chính thể dân chủ hình thức (có những chế

độ độc tài, toàn trị khoác áo dân chủ, trong đó giới cầm quyền tự coi là đại

diện ý chí nhân dân) [30,tr 56]

Chính trị là lĩnh vực phức tạp nhất của đời sống xã hội có giai cấp Tiếp cận với chính trị từ những phương diện, những cấp độ khác nhau sẽ có những

định nghĩa khác nhau

Tiếp cận với vấn đề từ chủ nghĩa Mác - Lê nin, có thể xem “Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành giữ, sử dụng quyền lực nhà nước; là những phương hướng, những mục tiêu xuất phát từ lợi ích cơ bản của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để

Trang 30

thực hiện đường lối đã được lựa chọn nhằm đi tới mục tiêu đã đặt ra” [14;tr.7]

Chính trị là những vấn đề nêu ở trên, đòi hỏi những sinh viên phải quán triệt kỹ để hình hình trong họ niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng cách mạng

để họ tự định hướng mình cho đúng với mọi hành động trong cuộc sống

b Khái niệm tư tưởng, tư tưởng chính trị, hệ tư tưởng

Tư tưởng: Tư tưởng là quan điểm và suy nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội

Tư tưởng chính trị: Tư tưởng chính trị là toàn bộ các quan điểm về chế

độ xã hội, về quan hệ giai cấp, đảng phái và quan hệ dân tộc, về nhà nước

theo lợi ích của một giai cấp nhất định Nó là sự phản ánh quyền lợi giai cấp

và các phương thức hoạt động xã hội để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy Nói một cách ngắn gọn, tư tưởng chính trị là các quan điểm về toàn bộ hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau theo lợi ích của một giai cấp nào đó

Đối với sinh viên tư tưởng là lập trường, là quan điểm đối với các giai

cấp mà họ phải trung thành tuyệt đối, phải kiên định trước những diễn biến, những thay đổi và tác động từ bên ngoài lẫn bên trong Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cần trang bị cho sinh viên học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ trương, đường lối của Đảng để làm cơ sở cho mọi hành động của mình trong môi trường học tập và trong cuộc sống

Hệ tư tưởng: “Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm và tư tưởng: chính trị, pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, triết học Hệ tư tưởng cũng là một bộ phận kiến trúc thượng tầng và có tính cách là kiến trúc thượng tầng, phản ánh những quan hệ kinh tế Cuộc đấu tranh tư tưởng ứng với cuộc đấu tranh giữa lợi ích giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng Hệ tư tưởng có thể phản ánh đúng hoặc phản ánh sai hiện thực, có thể là một tư tưởng khoa

Trang 31

học hoặc không khoa học Lợi ích của giai cấp phản động nuôi dưỡng hệ tưởng sai lầm, lợi ích của giai cấp tiến bộ, cách mạng góp phần hình thành hệ

tư tưởng khoa học Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng khoa học chân chính thể hiện lợi ích sống còn của giai cấp công nhân, của đại đa số nhân dân lao

động và cả loài người khát khao hòa bình, tự do, tiến bộ” [24,tr20]

c Giáo dục tư tưởng chính trị

Giáo trình “Nguyên lý công tác tư tưởng” của Kho Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đưa ra khái niệm: “Giáo dục chính trị, tư tưởng

là quá trình truyền bá và tiếp thu những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân” […]

Mac-Tác giả Ngô Văn Thạo quan niệm giáo dục chính trị, tư tưởng là “quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thộng nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục chính trị, tư tưởng là nâng cao nhận thức lý luận, qua đó xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phương pháp luận duy vật, biện chứng,

đạo đức, lối sống, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin vào mục tiêu lý tưởng

cho cán bộ, đảng viên và nhân dân” [Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Tập bài giảng dành cho lớp Bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, cấp huyện năm 2009; tr.184]

Theo Đào Duy Quát thì giáo dục chính trị, tư tưởng là việc “truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Đó

là quá trình tác động vào đối tượng giáo dục bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm, những quan điểm… nhằm làm cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn những nguyên lý của chủ

Trang 32

nghĩa Mac-Lênin, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống” [Đào Duy Quát (2004), Về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia; tr.38]

“Giáo dục tư tưởng chính trị là hoạt động nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp tư duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học góp phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của các chủ thể chính trị trong xã hội trong hoạt động thực tiễn” là

ý kiến của tác giả Dương Xuân Ngọc [Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (2004), Phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá các môn khoa học xã hội và nhân văn, NXB Lý luận chính trị; tr.332]

Với cách tiếp cận về chính trị và tư tưởng như phần trên đã trình bày, giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức cho sinh viên là quá trình giáo dục tiến hành có mục đích có kế hoạch, phương pháp của nhà giáo dục nhằm chuyển hóa tư tưởng của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương

đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước thành phẩm chất giá trị của mỗi

cá nhân Bản chất của quá trình này là biến các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hành vi thực hiện tự giác của cá nhân

Từ sự phân tích trên, có thể thấy công tác giáo dục tư tưởng chính trị ở nước ta hiện nay là quá trình tổ chức giáo dục, truyền bá tư tưởng của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến với quần chúng nhân dân, với tầng lớp học sinh, sinh viên

Trang 33

nhằm nâng cao ý thức chính trị của họ trong quá trình xây dựng và phát triển

đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Giáo dục chính trị, tư tưởng là một bộ phận quan trọng của giáo dục

đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học; là yêu cầu khách quan nhằm hình thành và

phát triển nhân cách cho sinh viên Giáo dục chính trị, tư tưởng tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và khả năng thực hành công việc của mỗi sinh viên trong thực tiễn cuộc sống Điều đó lại càng quan trọng khi tình hình trong nước và thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khi nhiều vấn đề của con đường đi lên CNXH ở nước ta cần được làm sáng tỏ về mặt lý luận

Vì vậy, việc giáo dục lý luận cách mạng cho sinh viên để phục vụ yêu cầu thực tiễn cách mạng là một yêu cầu hết sức cấp thiết hiện nay Các lực lượng giáo dục bằng những cách thức nhất định tác động đến sinh viên, nhằm hình thành ở họ ý thức, tình cảm và năng lực thực hiện yêu cầu của xã hội

1.2.3 Biện pháp quản lý công tác giáo dục chính trị tư tưởng

a Khái niệm biện pháp

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, trang 344 do Hoàng Phê chủ biên thì biện pháp được định nghĩa như sau: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể

Còn trong cuốn Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng của Nguyễn Văn Đạm thì: Biện pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi

đến một mục đích nhất định Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng biện pháp

chính là cách làm, cách thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục

đích đề ra

b Quản lý công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Quản lý giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho SV là những tác động

có mục đích, có kế hoạch của Nhà quản lý đến tập thể, cán bộ, giáo viên, sinh viên và những lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ

Trang 34

tham gia và quan tâm giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên để thực hiện có hiệu quả, mục tiêu nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức

đề ra góp phần hình thành phát triển nhân cách người học một cách toàn diện

- Chủ thể quản lý giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên là Hiệu trưởng Nhà trường, cán bộ phòng công tác học sinh, sinh viên trong nhà trường, cán bộ quản lý các khoa, phòng, cán bộ giảng viên, các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường

- Đối tượng quản lý là sinh viên, quá trình giáo dục tư tưởng chính trị,

đạo đức cho sinh viên gồm: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương

pháp hình thức, tổ chức giáo dục, hoạt động của giảng viên, hoạt động của sinh viên

- Đối tượng quản lý giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên

ở trường chuyên nghiệp bao gồm:

+ Mục đích của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên

+ Phương pháp, hình thức, tổ chức các hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên

+ Các lực lượng tham gia giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên

+ Các nguồn lực phục vụ cho công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo

đức, pháp luật cho sinh viên

+ Hoạt động của sinh viên

+ Kết quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức giữa các thành tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy khi nghiên cứu hoạt

động này cần phải khai thác các mối quan hệ đó

- Chương trình giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho SV:

Trang 35

+ Cán bộ, giảng viên tham gia công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo

đức cho sinh viên

+ Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên

+ SV và tập thể SV trong các hoạt động học tập, rèn luyện

+ Kết quả quá trình giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho SV

+ Khách thể quản lý là các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường

c Biện pháp quản lý công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Biện pháp quản lý công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên là cách làm, cách hành động cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên

1.3 CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH - SINH VIÊN

1.3.1 Ý nghĩa của công tác GDCTTT cho HSSV

Con người muốn làm được điều thiện, tránh làm điều ác và muốn cho hành vi của mình được mọi người chấp nhận, không bị dư luận xã hội lên án thì họ phải nắm được những quan điểm, nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực cơ bản được xã hội chấp nhận Từ đó, con người có thể tự do lựa chọn cho mình những hành vi phù hợp, đồng thời mới có khả năng đánh giá đúng đắn các hiện tượng, hành vi phù hợp trong quan hệ xã hội Vì vậy, giáo dục chính trị,

tư tưởng cho sinh viên trong trường đại học góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người trong xã hội tiến bộ

Để đảm bảo cho xã hội ngày càng phát triển tốt đẹp, tất yếu phải có một

hệ thống qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội, chúng luôn có những mâu thuẫn với nhau đòi hỏi chủ thể phải

đấu tranh bản thân vô cùng quyết liệt để chống lại các tư tưởng sai lầm, lệch

Trang 36

lạc nhằm lôi kéo chủ thể đi sai chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước Do đó, chủ thể phải dựa vào một hệ thống nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực của xã hội để lựa chọn, cân nhắc, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với nhân cách và lối sống trong xã hội

Chính trị, tư tưởng là nhân tố quan trọng xác định tiềm năng và vai trò của những chủ nhân tương lai của đất nước, của dân tộc

Hiện nay, thanh niên Việt Nam là thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng, là lực lượng chủ yếu xây dựng xã hội chủ nghĩa Việc giáo dục, bồi dưỡng rèn luyện chính trị, tư tưởng cho họ có liên quan đến vấn đề sống còn của dân tộc,

đến sự thành bại của cách mạng, đến sự giữ vững định hướng xã hội chủ

nghĩa Sinh viên lại là một bộ phận thanh niên có trình độ chuyên môn và học vấn cao sẽ là lực lượng lao động trí tuệ của đất nước, là những trí thức tương lai thì việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho họ lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết Để mỗi hoạt động của họ đều có định hướng và hướng tới sự thống nhất giữ lợi ích cá nhân và lợi ích dân tộc

Việc bồi dưỡng, đào tạo chính trị, tư tưởng cho thanh niên mới là vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người trong xã hội Vì vậy, phải đào tạo, giáo dục chính trị tư tưởng cho một thế hệ có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có trí thức, có sức khỏe, có lập trường và phẩm chất tốt để thực thi nhiệm vụ trong xã hội

Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên không thể không tiến hành một cách nghiêm túc, khoa học, kịp thời và hiệu quả

Chính trị tư tưởng của sinh viên có vai trò hết sức to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 37

Có tính chất quyết định đến bản chất, lối sống của con người lao động phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trước mắt ảnh hưởng rất lớn đến

sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Thể hiện đức - tài của mình trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm chiếm lĩnh một ví trí xứng đáng trong một xã hội

Được rèn luyện trong môi trường giáo dục sẽ xây dựng thành những

chuẩn mực để làm gương tốt cho các thế hệ tiếp tục noi theo

Vị trí của giáo dục chuyên nghiệp và của sinh viên đối với việc phát triển kinh tế - xã hội: Giáo dục chính trị, tư tưởng là một bộ phận quan trọng trong giáo dục chuyên nghiệp Với ý nghĩa đó, giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên có vai trò quan trọng, thậm chí là “nghĩa vụ hàng đầu, có tác dụng quyết định đến mọi mặt công tác khác của trường [7,tr37]

Giáo dục xã hội hiện nay là đào tạo ra những con người có phẩm chất

và đạo đức tốt, yêu nước, có lập trường, tư tưởng vững vàng, yêu chủ nghĩa

xã hội, luôn phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa; có tài năng để quản lý tốt đất nước sau này

Vì vậy, trong giáo dục chuyên nghiệp nếu coi thường giáo dục chính trị, tư tưởng, không có lập trường giai cấp vững vàng sẽ mất phương hướng chính trị, dẫn đến là không phân biệt được đâu là học thuyết phản động, đâu

là học thuyết khoa học, từ đó có những học thuyết lệch lạc, không có những phương pháp luận trong những hoạt động của sinh viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng viết “Giáo dục phải phục vụ đường lối, chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với đời sống của nhân dân… Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất [21,tr191]

Chúng ta phải trang bị cho sinh viên hệ tư tưởng Mác - Lênin, một đỉnh cao trong kho tàng văn hóa nhân loại Như Lênin đã nói: “Nó là người kế thừa

Trang 38

chính đáng của tất cả những cái đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ

19, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”

[18,tr50]

Theo Mác: Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đặc biệt quan

tâm đến thế hệ trẻ, đánh giá cao vị trí vai trò của họ trong sự nghiệp cách

mạng, đã chú ý rất nhiều đến nhiệm vụ giáo dục, coi đó là biện pháp hàng đầu

để đào tạo con người mới với tư cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của xã hội

chủ nghĩa mới- xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Ông cho rằng tương

lai của giai cấp công nhân và của cả loài người hoàn toàn tùy thuộc vào việc

giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên

Theo Lênin: Chúng ta không thể tổ chức công tác giáo dục tách rời

chính trị được… lời nói giáo dục “tách rời chính trị” không cần đến chính trị”,

đó là lời nói giả dối của giai cấp tư sản… Trong tất cả các nước tư sản, mối

liên hệ giữa bộ mặt chính trị với giáo dục đều hết sức vững chắc, tuy xã hội tư

sản không thể công khai thừa nhận điểm đó

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng viết: “Giáo dục phải phục vụ đường lối

chính trị của Đảng và của chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của

nhân dân… Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo

đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và

sản xuất”

1.3.2 Nội dung công tác GDCTTT cho HSSV

Trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang trên đà đổi mới theo mục

tiêu CNH - HĐH đất nước, chúng ta rất coi trọng nguồn nhân lực đưa con

người vào vị trí trung tâm, phải phát triển con người một cách toàn diện Lòng

yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc ý thức tự lực tự cường, xây dựng và bảo vệ

tổ quốc XHCN, có lòng nhân ái gắn bó với gia đình, cộng đồng, trọng đạo lý

đề cao phẩm giá con người

Trang 39

(1) Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên theo kế hoạch năm học

(2) Quản lý việc chỉ đạo thực hiện nề nếp sinh hoạt tư tưởng chính trị,

đạo đức trong sinh viên

(3) Quản lý việc xây dựng các điều kiện phục vụ cho công tác GDCTTT cho học sinh sinh viên trong Nhà trường

(4) Quản lý việc đổi mới hệ thống tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị,

đạo đức cho sinh viên và huy động các nguồn lực tham gia giáo dục tư tưởng

chính trị, đạo đức cho SV

(5) Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tư tưởng chính trị,

đạo đức cho sinh viên và mối quan hệ giữa các thành tố nêu trên trong quá

trình giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho SV

1.3.3 Hình thức công tác GDCTTT cho HSSV

Giáo dục cho sinh viên những chuẩn mực đạo đức cơ bản, đó là trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục

Và chúng ta không quên trang bị cho sinh viên con đường và phương pháp hình thành tư tưởng có lập trường kiên định và luôn được tu dưỡng bền

bỉ, nói đi đôi với làm, xây dựng tư tưởng trong sạch, đấu tranh kịp thời, đúng lúc với những hiện tượng phi đạo đức

Giáo dục cho sinh viên tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ công dân hợp pháp Nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi cho công dân, công dân phải thực hiện và làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dân trong xã hội

Giáo dục cho sinh viên tư tưởng sáng tạo, phát huy cái đẹp, cái thiện trong cuộc sống thông qua các hoạt động ngoại khóa, giao lưu học tập và ứng

xử trong cộng đồng nhằm nâng cao trách nhiệm, nhận thức, thực tế, bản lĩnh,

Trang 40

nghị lực từ các hoạt động ngoại khóa để từng sinh viên có thể nhận thức được

sự phấn đấu chính bản thân mình thêm ý nghĩa

Giáo dục cho sinh viên bằng các chương trình tọa đàm, nói chuyện để hiểu thêm tư tưởng, nguyện vọng, tâm tư mà thế hệ trẻ các bạn sinh viên cần hiểu biết nhằm góp phần xây dựng đất nước, duy trì bản sắc dân tộc tạo nên hình ảnh đẹp về đất nước, con người Việt Nam

1.3.4 Những yêu cầu của công tác GDCTTT cho HSSV

Công tác chính trị, tư tưởng là bộ phận quan trọng nhất góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho sinh viên theo mục tiêu giáo dục:

“Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đào tạo đã chỉ rõ: giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức lối sống, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong giáo dục đại học nói chung và trong giáo dục sinh viên nói riêng Công tác giáo dục chính trị tư tưởng là khâu trọng yếu của công tác đoàn Trong thực tế hoạt động, công tác này còn gặp nhiều khó khăn Có những lúc công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa được đánh giá đúng tầm quan trọng của nó Giữa yêu cầu công tác và kết quả thực tiễn vẫn còn một khoảng cách

Để giải quyết vấn đề này, trước hết cần nâng cao nhận thức cho học

sinh sinh viên Tuy nhiên, không thể phủ nhận là một bộ phận đoàn viên thanh niên vẫn còn tỏ ra thờ ơ với phong trào đoàn Lỗi một phần ở những người làm công tác Đoàn chưa làm tốt công tác đoàn kết tập hợp thanh niên

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Anh (2006), Giáo dục lý luận Mac-Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lý luận Mac-Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2006
[2] Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục, học tập quán triệt nghị quyết của Đảng, Công ty in Tiến bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục, học tập quán triệt nghị quyết của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2005
[3] Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[4] Nguyễn Lương Bằng (2008), Giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2008
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới giảng dạy, học tập môn triết học Mac-Lênin trong các trường đại học toàn quốc”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới giảng dạy, học tập môn triết học Mac-Lênin trong các trường đại học toàn quốc”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Công văn số 83/BGDĐT-ĐH&SĐH “Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trình độ ĐH, CĐ”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 83/BGDĐT-ĐH&SĐH "“Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trình độ ĐH, CĐ”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
[7] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (trong các trường đại học, cao đẳng), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
[8] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 52/2008/QĐBGDĐT về “Ban hành chương trình các môn LLCT trình độ đại học, cao đẳng dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 52/2008/QĐBGDĐT về "“Ban hành chương trình các môn LLCT trình độ đại học, cao đẳng dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
[9] Cục cán bộ, Ban tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới
Tác giả: Cục cán bộ, Ban tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[10] Trần Thị Anh Đào (2009), Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Trần Thị Anh Đào
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương khóa VII, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa IX, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức X, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
[18] Phạm Minh Hạc (2007), Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực cho thời kỳ CNH, HĐH đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực cho thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
[19] Trần Thị Huệ (2008), Nâng cao năng lực thế giới quan khoa học cho sinh viên trường đại học Hồng Đức - Thanh Hóa hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viên Báo chí và tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực thế giới quan khoa học cho sinh viên trường đại học Hồng Đức - Thanh Hóa hiện nay
Tác giả: Trần Thị Huệ
Năm: 2008
[20] Đoàn Thị Minh Oanh (2008), Xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên ĐHQGHN hiện nay, đề tài cấp trường ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên ĐHQGHN hiện nay
Tác giả: Đoàn Thị Minh Oanh
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w