1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ trào phúng hồ xuân hương từ góc nhìn văn hóa

74 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 700,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng phồn thực, triết lí âm dương trong dân gian cũng là điều mà Lê Trí Viễn cho rằng tạo nên sức sống thơ Hồ Xuân Hương: “những tàn dư của chế độ cộng đồng, trong các hành vi có

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

THƠ TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Phong Nam

Sinh viên thực hiện:

Phạm Thị Thùy Linh (Khóa 2011 – 2015)

Đà Nẵng, tháng 5/2015

Trang 3

Tôi, Phạm Thị Thùy Linh, sinh viên lớp 11 CVH - khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng xin cam đoan rằng:

Khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: Thơ trào phúng Hồ Xuân Hương

từ góc nhìn văn hóa là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng

viên, PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Mọi hình thức tham khảo từ các nguồn tài liệu đều được trích dẫn một cách

cụ thể, chi tiết; đảm bảo độ tin cậy

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này

Người thực hiện

Trang 4

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức lí luận, thực tiễn quý báu và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình học tập

Xin gửi lời cám ơn đến thư viện Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành khóa luận

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM, người thầy, người cha đã tận tình hướng dẫn, động viên

và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin dành tình cảm yêu thương, biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, ủng hộ tôi trong những năm tháng học tập và hoàn thành khóa luận

Đà Nẵng, ngày 28 tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 5

MỞ ĐẦU 0

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục khóa luận 6

CHƯƠNG 1: THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG – MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA 7

1.1 Hồ Xuân Hương – con người và thi ca 7

1.1.1 Hồ Xuân Hương và tiếng cười trào phúng trong thơ 7

1.1.2 Người phụ nữ trong nhãn quan trào phúng Hồ Xuân Hương 16

1.1.3 Hình tượng thiên nhiên trong nhãn quan phồn thực 24

1.2 Cội nguồn văn hóa trong thơ trào phúng Hồ Xuân Hương 30

1.2.1 Tâm lí phản kháng, vượt thoát những điều cấm kị: 30

1.2.2 Tiếp tục mạch nguồn văn hóa dân gian: 35

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG QUA NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG 43

2.1 Ngôn từ nghệ thuật độc đáo 43

2.1.1 Kiến trúc ngôn từ khác lạ 43

2.1.2 Tạo nghĩa lấp lửng 49

2.2 Việt hóa và làm mới thơ Đường luật 52

2.2.1 Chất liệu đề tài bình dị 52

2.2.2 Phá vỡ đặc trưng thể loại thơ Đường 55

2.3 Giọng điệu trào phúng đầy cá tính 57

2.3.1 Giọng châm biếm sâu cay 57

2.3.2 Giọng đồng cảm và khẳng định 61

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hồ Xuân Hương là một trong những gương mặt đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam nói chung, của văn học trung đại nói riêng Nói đến Hồ Xuân Hương, người ta thường bàn đến như “một hiện tượng lạ” bởi cả lai lịch và văn nghiệp của

bà đến nay vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, nhưng hơn hết là tài năng và sự độc đáo khiến bạn đọc muôn đời không thể lãng quên Xuân Hương góp mặt trong văn đàn thời bấy giờ trên cả hai địa hạt thơ chữ Hán và chữ Nôm Trong đó, mảng thơ Nôm truyền tụng dường như nổi bật hơn cả với nghệ thuật trào phúng sâu cay, ẩn chứa trong đó sự đa sắc điệu của một tâm hồn bình dân với những tri thức xã hội và sự chiêm nghiệm của chính bản thân nhà thơ Ngay cả Xuân Diệu cũng từng khẳng định nữ sĩ họ Hồ là “Bà chúa thơ Nôm”, đủ thấy thơ Nôm trào phúng Hồ Xuân Hương đặc sắc như thế nào

Hồ Xuân Hương sống cách thời chúng ta bây giờ những mấy thế kỉ nhưng di sản thơ ca bà để lại vẫn còn nguyên giá trị Cuộc đời và thi phẩm của bà là một trong những vấn đề mà giới nghiên cứu văn học trong và ngoài nước từ trước đến nay không ngừng quan tâm, tìm hiểu Đặc biệt, từ đầu thế kỉ XX đến nay xuất hiện hàng loạt các công trình, chuyên luận, khóa luận, các bài nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng, các công trình nghiên cứu đó chủ yếu thiên về phát hiện những đặc sắc nội dung, nghệ thuật theo hướng phân tích – cảm nhận, phê bình văn học, chứ ít có công trình nghiên cứu về những biểu hiện và giá trị văn hóa ẩn đằng sau nội dung, nghệ thuật của thơ trào phúng Hồ Xuân Hương

Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thơ trào phúng Hồ Xuân Hương từ góc nhìn văn hóa” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Chúng tôi

hi vọng đây là việc làm góp phần bé nhỏ vào việc tìm hiểu sâu sắc hơn thơ ca “Bà chúa thơ Nôm”

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về Hồ Xuân Hương đã được giới học giả quan tâm từ lâu Các nhà phê bình, nghiên cứu như Nguyễn Lộc, Hoàng Xuân Hãn, Đỗ Đức Hiểu, Trần Thanh Mại, Xuân Diệu, Đỗ Lai Thúy, Lê Trí Viễn, Đào Thái Tôn, Nguyễn Tuân,…

đã công bố nhiều phát hiện có giá trị Những công trình, chuyên luận nghiên cứu chung về Hồ Xuân Hương phần lớn đều đề cập đến các vấn đề mấu chốt: tiểu sử, văn bản, dâm tục và nội dung nghệ thuật đặc sắc

Từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhà giáo Dương Quảng Hàm trong

“Việt văn giáo khoa thư” (1940) và “Việt Nam văn học sử yếu” đã cho rằng: Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ thiên tài, có tấm lòng nhưng gặp phải số phận bất hạnh, long đong nên trong thơ bà có gì đó lẳng lơ Tác giả bài viết cũng nói về nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương, đó là nghệ thuật thơ rất tài tình, nhất là mảng thơ Nôm trào phúng

Nguyễn Lộc khi nói về Hồ Xuân Hương đã khái quát lên những thành công của nhà thơ cả về nội dung về nghệ thuật Ông cũng đã nói đến tính chất đề tài, ngôn ngữ dân tộc, thể thơ Đường luật được dân tộc hóa cao độ Điều này cũng được

ghi nhận qua bài viết “Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm” của Xuân Diệu: “Bà

chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức Xuân Hương đã sáng tạo được một chất thơ rất man mác, nên thơ… Thơ Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo không gợn” [19, tr.109]

Nhà thơ Tản Đà lại nhận xét: “Thơ Hồ Xuân Hương thật là tinh quái, những

câu thơ hay đọc lên đến ghê người Người ta thường có câu: “Thi trung hữu họa” Nghĩa là trong thơ có vẽ Nhưng thơ Hồ Xuân Hương lại là: “Thi trung hữu quỉ” Nghĩa là trong thơ có quỉ! Song mà nhận ra thời tục!” [dẫn theo 19, tr.151]

Các tác giả trong “Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam” (tập 2) thì khẳng

định: “Giá trị thơ Nôm Hồ Xuân Hương – thành tựu văn học “hai lần độc đáo”” Với riêng thơ trào phúng, các tác giả cho rằng: “Vì yêu thương mà căm giận, để bảo

vệ mà dùng vũ khí trào phúng, đả kích” [18, tr 195 - 197]

Trang 8

Một số tác giả có nhắc đến vấn đề văn hóa trong thơ Hồ Xuân Hương, cũng như văn học trung đại nói chung Chẳng hạn, Trần Nho Thìn trong cuốn “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” đã khẳng định tầm quan trọng của việc

nghiên cứu tác phẩm văn học trung đại dưới góc nhìn văn hóa: “Thiếu sự phân tích

tác phẩm văn học trung đại và những khái niệm của tác phẩm trong hệ thống văn hóa của nó sẽ khiến cho ý nghĩa của văn bản được tiếp nhận một chiều, bị hiện đại hóa và tính toàn vẹn của nó bị xem nhẹ.”[23, tr.64] Đối với riêng thơ trào phúng

Hồ Xuân Hương, tác giả viết: “…việc đề vịnh của thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân

Hương chỉ có thể được lí giải cặn kẽ nếu ta đặt nó vào góc nhìn cấm kị và đối phó với cấm kị của văn hóa truyền thống Và đây là đối phó với cấm kị theo kiểu văn hóa dân gian (đố thanh giản tục, nói lái)” [23, tr 46] Ông lí giải về tiếng cười trào

phúng trong thơ Hồ Xuân Hương: “…trong thơ Hồ Xuân Hương ta thấy có hiện

tượng duyệt xét lại theo quan điểm văn hóa dân gian về các đấng nam nhi, các bậc hiền nhân quân tử, sư mô.” [23, tr.126] Tiếc là, ông chỉ mới dừng lại ở nhận xét

chứ chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể

Xuân Diệu cũng từng khuyên bạn đọc khi tiếp nhận thơ nữ sĩ họ Hồ: “Người

đọc thơ Hồ Xuân Hương nên tiếp nhận lấy cái tinh thần hồn nhiên trong ca dao, tục ngữ và truyện cổ tích, không nên thổi phồng và đào sâu một cách không lành mạnh cái nghĩa “đố tục” Không nên chỉ chăm chăm đi tìm trong thơ Hồ Xuân Hương cái mặt “đố tục”, đó là một khuynh hướng tầm thường, dung tục.” [4, tr 376]

Về vấn đề “dâm”, “tục” trong thơ Hồ Xuân Hương, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết “Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương” in trên Tạp chí Văn học (số 5, 1990) cũng

có ý kiến tương tự như Xuân Diệu: “Ở đây không hề có “cái tục”, mà chỉ có cái tự

nhiên, cái đẹp, sức sống của tồn tại con người Không phải vấn đề đạo đức, mà vấn

đề triết lí, triết lí tự nhiên và triết lí cái đẹp” [19, tr.184] Cũng trong bài viết này,

Đỗ Đức Hiểu khẳng định: “Thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu là ngày hội của bản năng,

một festival của cơ thể người phụ nữ, một đám rước dân gian náo nhiệt, barôc, grotesque” [19, tr.179]

Trang 9

Trong bài “Tinh thần Phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương” của Tam Vị, cái triết lí tự nhiên mà Đỗ Đức Hiểu đã đề cập trước đó theo tinh thần Phục hưng châu

Âu được tác giả phân tích cụ thể: “Hồ Xuân Hương coi thân thể và cả bộ phận sinh

dục trên cơ thể con người như là tự nhiên, thiên tạo, nó giống như tự nhiên, thiên nhiên vậy Đã thế quyền miêu tả nó trong văn chương cũng là một quyền năng tự nhiên” [24 tr.46] Tam Vị còn nhắc đến cả tục thờ cúng phồn thực trong dân gian:

“Những hình tượng ấy (linga – yoni) được thờ phụng, những cảnh giao hoan được tái hiện (ít nhiều cách điệu, đôi khi khá “cơ giới”, “thô lỗ”) trong các nghi lễ phồn thực, bằng cách đó người ta khẩn nguyền cho mùa màng bội thu, gia súc sinh sôi và đàn bà mắn đẻ” [24, tr.54]

Tín ngưỡng phồn thực, triết lí âm dương trong dân gian cũng là điều mà Lê

Trí Viễn cho rằng tạo nên sức sống thơ Hồ Xuân Hương: “những tàn dư của chế độ

cộng đồng, trong các hành vi có tính ma thuật cầu cúng cho việc sản xuất được bội thu, bên cạnh lễ “xuống đồng” long trọng và thiêng liêng, có nơi còn giữ tục nam

nữ giao phối tượng trưng, coi đó như dấu hiệu của sự sinh sôi, phát triển không ngừng sự sống, bởi sự sống bắt đầu từ sự phối hợp trống mái, đực cái, âm dương”

[19, tr.172 – 173]

Một nhà nghiên cứu người nước ngoài, tiến sĩ văn học N.Niculin (Nga) trong

bài viết “Thơ Hồ Xuân Hương” cũng nhận thấy: “chúng ta có thể xem sáng tác Hồ

Xuân Hương như là sự xâm nhập vào ngôn ngữ nghệ thuật cao cấp của nền văn hóa dân gian bị cấm đoán ở Việt Nam thời Trung đại, nền văn hóa này thường được biết đến qua những ngày hội quần chúng, trên những bục sân khấu bình dân, nó ngân vang trong những cuộc chuyện trò trên đường phố, chợ búa, trong những bài ca với nội dung tuyệt nhiên không có gì không hồn nhiên” [dẫn theo 24, tr.45]

Như vậy, có thể thấy không ít nhà nghiên cứu đã phát hiện những dấu hiệu văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương Tuy nhiên, họ lại chưa tập trung đi sâu

về vấn đề này Dấu hiệu của văn hóa dân gian mà các nhà nghiên cứu phát hiện được chỉ là một trong những yếu tố giúp họ lí giải cái “dâm tục” trong thơ Xuân Hương, chứ chưa khái quát lên thành một nội dung văn hóa rõ nét

Trang 10

Trong công trình “Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực”, Đỗ Lai Thúy đã nghiên cứu cụ thể thơ Hồ Xuân Hương từ góc nhìn văn hóa Đỗ Lai Thúy đã phát

hiện: “Hồ Xuân Hương là một hiện tượng tiêu biểu của văn hóa Việt Nam Quy luật

của văn hóa nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng là trước những lối rẽ, trước

sự quá thực tế hoặc quá duy lí bao giờ cũng quay về với cội nguồn dân gian, dân tộc và nhân loại cổ xưa để bồi đắp thêm sức sống Đó là sự trở về vĩnh cửu!” [24,

tr.16], và ông cũng đã khẳng định: “Nữ sĩ bao giờ xuất phát từ cái bản năng để đi

đến cái xã hội và cái văn hóa.” [24, tr.325] Tuy nhiên, Đỗ Lai Thúy cũng chỉ mới

phát hiện và lí giải được giá trị văn hóa phồn thực, chứ chưa đề cập rộng hơn về những giá trị văn hóa khác trong thơ Hồ Xuân Hương

Nói chung, các bài viết cũng như công trình nghiên cứu về thơ trào phúng

Hồ Xuân Hương rất phong phú đa dạng nhưng phần nhiều vẫn thiên về phương diện phân tích, bình giá nội dung nghệ thuật đơn thuần; còn việc đặt tác phẩm vào bối cảnh văn hóa cụ thể để xem xét, nghiên cứu thì cũng có những công trình có điểm qua, nhắc đến nhưng lại chưa đi sâu

Vì vậy, việc nghiên cứu phát hiện và lí giải các giá trị văn hóa trong thơ trào phúng Hồ Xuân Hương là một vấn đề cần thiết để góp phần hoàn thiện những đặc sắc của thơ ca “Bà Chúa”, tạo nên sức hấp dẫn mới mẻ cho đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận đi sâu tìm hiểu, phát hiện những giá trị văn hóa trong thơ trào phúng Hồ Xuân Hương và lí giải nguồn gốc, ý nghĩa của những giá trị văn hóa đó

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để tìm hiều đề tài này, chúng tôi giới hạn tìm hiểu trong phần thơ nôm trào phúng của tác giả

Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát là Thơ Hồ Xuân Hương của Nguyễn Lộc,

Nxb Văn học, Hà Nội, 1982 Ngoài ra, có tham khảo thêm một số tác phẩm trong

Hồ Xuân Hương – thơ và đời của Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1998

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những dữ liệu thu thập được, để tìm hiểu đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp so sánh, đối chiếu dựa trên 2 nguyên tắc: đồng đại (Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với các nhà thơ cùng thời), và lịch đại (Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với các nhà thơ trong tiến trình phát triển văn học dân tộc)

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có hai chương:

Chương 1: Thơ Hồ Xuân Hương – một hiện tượng văn hóa

Chương 2: Giá trị văn hóa đặc sắc của thơ Hồ Xuân Hương qua nghệ thuật trào phúng

Trang 12

CHƯƠNG 1:

THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG – MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA

1.1 Hồ Xuân Hương – con người và thơ ca

1.1.1 Hồ Xuân Hương và tiếng cười trào phúng trong thơ

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng phức tạp, cuộc đời và sự nghiệp của bà

đã tốn không ít giấy mực của giới nghiên cứu cũng như sự hoài nghi của bao thế hệ độc giả Cho đến nay, những thông tin cơ bản về bà như danh tánh thật sự, năm sinh, năm mất,…tất cả vẫn nằm trong vòng lẩn quẩn tranh cãi Đa số các tài liệu từ trước đến nay đều cho rằng Hồ Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn, ở làng Quỳnh Đôi (Nghệ An), mẹ Xuân Hương họ Hà, lấy lẽ Hồ Phi Diễn, quê ở Hải Dương Xuân Hương sinh trưởng ở đất Bắc, cụ thể nhà ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,

Hà Nội Như vậy, trong con người Xuân Hương có sự hòa trộn hai “dòng máu” văn hóa miền Trung và miền Bắc Nhưng điều đó cũng chưa chắc chắn, bởi vẫn còn có những ý kiến cho rằng Xuân Hương là con Hồ Sĩ Danh; thậm chí tệ hơn, người ta còn cho rằng không có một nữ sĩ Hồ Xuân Hương nào cả, cái tên Hồ Xuân Hương chỉ là cái mác của những thi sĩ muốn ẩn danh, bởi ngay cả tác phẩm mang tên bà cũng là một dấu chấm hỏi lớn Cái tên Hồ Xuân Hương được biết đến khi được kí dưới tập thơ chữ Hán “Lưu hương kí” và dưới danh tác giả của những bài thơ Nôm truyền tụng Cả hai đều mặc nhiên mang tên Hồ Xuân Hương nhưng phong cách lại hoàn toàn khác nhau, nếu “Lưu hương kí” được viết bằng chữ Hán và có phần đạo mạo, trang nhã, bác học,…được ghi chép, đề từ cẩn thận để lưu truyền thì ngược lại, thơ Nôm truyền tục lại dân dã đời thường, có cả phần thô tục và có cả dị bản do chủ yếu truyền miệng như ca dao tục ngữ Chính điều này đã khiến không ít người đặt câu hỏi: Liệu có một Hồ Xuân Hương thật sự không? Hồ Xuân Hương của “Lưu hương kí” và thơ Nôm truyền tụng là một người với hai phong cách thể hiện hay là hai người hoàn toàn khác nhau? Hay Hồ Xuân Hương chỉ là một cái mặt nạ nữ nhân

để cho những nho sĩ nam nhi thời bấy giờ trút vào những ẩn ức, là cái mặt nạ để những ai muốn lên tiếng với xã hội, với cuộc đời nhưng không muốn hoặc không

Trang 13

tiện lộ diện, nhất là với dòng thơ Nôm truyền tụng đầy chất trào phúng? Song, tất cả chỉ là phán đoán trong vòng nghi vấn, đến tận bây giờ vẫn chưa ai dám đứng ra khẳng định phơi sáng cái vòng lẩn quẩn này Vì thế, văn học nước ta thường gọi Hồ Xuân Hương và thơ ca gắn tên Hồ Xuân Hương là “hiện tượng Hồ Xuân Hương” Cũng như đa phần những ai nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, chúng tôi cũng gặp những vướng mắc về tiểu sử, văn bản tác phẩm Hồ Xuân Hương,… bởi những điều này ít nhiều cần cho việc làm rõ tác phẩm văn chương nghệ thuật nhưng chúng tôi không đào sâu giải đáp thắc mắc đó theo suy nghĩ của mình mà chỉ ghi nhận những nhận định, ý kiến về cuộc đời, sự nghiệp của cái tên Hồ Xuân Hương để từ đó nhận thấy rằng Hồ Xuân Hương là một “hiện tượng văn hóa” Ngoại trừ tập “Lưu hương kí” có đề tên rõ ràng và có phần nghiêng về văn chương bác học nên chúng tôi không bàn đến ở đây thì phần thơ Nôm truyền tụng, đặc biệt là mảng thơ mang tính chất trào phúng được lưu truyền trong dân gian theo đúng hình thức dân gian – truyền miệng, không phân biệt tầng lớp từ nho sĩ đến nông dân, thậm chí cả phụ nữ,…đều có thể đọc, ngâm từng bài theo nỗi lòng của mình, cười khóc theo nội dung tác phẩm và đều cho gắn mác “Hồ Xuân Hương” Nói thế, không có nghĩa chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng Xuân Hương của thơ Nôm truyền tụng là không có thật mà nói thế để chứng minh rằng: thơ trào phúng Hồ Xuân Hương là sự gom góp từ nhiều nguồn, dù là của một người nữ sĩ thật sự hay là cái mặt nạ nhân gian thì nó cũng đã khởi phát và lưu truyền trong dân gian, đã phản ánh được văn hóa cộng đồng Vì thế, hẳn nhiên, nó đích thực là một hiện tượng văn hóa đáng nghiên cứu và ghi nhận

Dân gian nhớ đến Xuân Hương hơn cả, thích thú và tò mò về nữ sĩ hơn ở mảng thơ Nôm truyền tụng, đặc biệt là những bài thơ mang tính chất trào phúng đậm nét cá tính Theo khảo sát qua 40 bài thơ Nôm được Nguyễn Lộc tuyển chọn, chúng tôi thấy đã có đến 37 bài thơ trào phúng, chiếm tỉ lệ 92,5%, một tỉ lệ rất lớn,

có thể coi là lớn nhất trong văn học Việt Nam Thơ trào phúng là một mảng thơ ta

có thể bắt gặp được ở nhiều tác giả trung đại khác như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trãi, hay nổi bật như Tú Xương,…nhưng không ai có số lượng tác phẩm trào phúng

Trang 14

nhiều như “Bà chúa thơ Nôm” Trong 37 bài thơ đó, chỉ có 7 bài mang yếu tố trào phúng, còn lại 30 bài là tác phẩm trào phúng Có thể nói, sự nghiệp thơ ca của Hồ Xuân Hương tập trung chủ yếu vào khuynh hướng trào phúng và đây cũng là những tác phẩm giúp bà khẳng định tài năng, cá tính của mình Với nữ sĩ, tiếng cười trào phúng, trào lộng chính là phương tiện để bộc lộ thái lộ với cuộc đời, với con người

xã hội và cũng để thể hiện “cái tôi” của mình Vì thế, sắc thái trào phúng trong thơ

bà cũng hết sức phong phú, trong 37 bài thơ trào phúng được khảo sát có đến 16 bài xuất hiện cung bậc hài hước, châm biếm có ở 15 bài, đả kích ở 6 bài

Như vậy, ta có thể thấy tiếng cười châm biếm, đả kích là tiếng cười chiếm hơn nửa số tác phẩm trào phúng của Hồ Xuân Hương Trong đó, bà hướng mũi dùi

đả kích của mình vào xã hội phong kiến thối nát Qua những tác phẩm trào phúng của Xuân Hương, người ta phỏng đoán thời kì xã hội nữ sĩ sinh sống khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, cuối Lê – đầu Nguyễn Thời kì xã hội nước ta có không ít biến động với sự suy yếu của chế độ phong kiến kéo theo sự suy vi của nhiều nét văn hóa Xã hội phong kiến là một xã hội với những chuẩn mực đạo đức Nho giáo luôn được đề cao Ấy vậy mà cái xã hội phong kiến Nho gia trong thơ Hồ Xuân Hương lại trở nên hết sức đáng cười và bà đã cười thẳng vào cái bộ mặt giả tạo của cái xã hội đểu giả ấy, cười ngạo nghễ vào mặt những kẻ luôn được cho là đại diện tiêu biểu nhất như vua chúa, hiền nhân quân tử, học trò đọc sách thánh hiền,… Thậm chí, nữ sĩ còn thấy được điều đáng cười trong cả nhà Phật, giới sư sãi vốn luôn được xem là nơi thanh tịnh, tốt đẹp Tiếng cười của Xuân Hương đã phơi bày toàn bộ sự suy vi về văn hóa của xã hội phong kiến đương thời

Đầu tiên phải kể đến sự suy đồi của đạo đức Nho gia, từ vua chúa đến những bậc hiền nhân quân tử và cả sĩ tử,…, những kẻ luôn tự phong cho mình cái quyền được hơn người khác, được mang sứ mạng truyền bá, hành xử đạo thánh hiền, giữ gìn kỉ cương xã hội Họ luôn tự nhận mình trong sạch, thanh cao nhưng sự thật tất

cả chỉ là vỏ bọc Cuối thời vua Lê chúa Trịnh, chế độ phong kiến trải qua một cuộc khủng hoảng vô cùng nghiêm trọng, sự mục nát đã đến tận gốc Vua Lê, chúa Trịnh tranh quyền đoạt lợi suốt nửa thế kỉ, khiến dân chúng lầm than đến cùng cực trong

Trang 15

khi cuộc sống vua chúa hết sức trụy lạc, xa hoa Chúa Trịnh còn đặt ra giá để mua quan bán tước, thế mới có chuyện, quan thị rồi sĩ tử chữ nghĩa chẳng bao nhiêu lại

cứ hay tỏ vẻ Bọn chúng đã tự hất cái nước sơn hào nhoáng “hiền nhân quân tử” của mình để cho những người lao động, lao khổ bình thường vẫn bị chúng coi là “tiểu nhân” thấy hết cái bất tài, ươn hèn của mình Thật không may cho họ khi gặp phải

Hồ Xuân Hương, bà đã khéo léo bóc mẽ những thói “rởm đời” của chúng và bà cười thành tiếng khiến bất cứ ai cũng phải giật mình Vì thế, thơ của nữ sĩ họ Hồ luôn mang đầy dấu ấn văn hóa thời đại Tư thế trào phúng của Xuân Hương luôn đứng cao hơn đối tượng, vạch trần bộ mặt xấu xa, giả dối, đầy dục vọng của những

“đấng, bậc” phong kiến:

“Hồng hồng má phấn duyên vì cậy Chúa dấu vua yêu một cái này”

là ám chỉ thói mê hoa, hiếu sắc hết sức “phàm phu tục tử” của những kẻ luôn cho là

“hiền nhân” này Là môn đồ của Nho giáo, lại là bậc vua chúa, quan lại bề trên, ấy vậy mà thay vì quang minh chính đại họ lại lén lút, thậm thụt và ý nghĩ của họ đã bị Xuân Hương “túm gáy”: “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt/ Đi thì cũng dở ở không

xong” (Thiếu nữ ngủ ngày) Bọn quan võ hoạnh họe, lầm lầm một thứ sát khí rỗng

tuếch, bà dành cho họ một cái choảng đích đáng, lấy ngay y phục của họ mà vẽ mà bôi màu vào:

“Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn, Đầu đội nón da loe mép đỏ Lưng đeo bị đạn rủ thao đen”

Trang 16

(Ông cử võ) Bọn quan thị được chúa Trịnh vô cùng trọng dụng, đối với Xuân Hương lại là một

sự đi ngược lại lẽ tự nhiên vô cùng:

“Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu

Đố ai biết được vông hay trốc Còn kẻ nào hay cuống với đầu”

(Quan thị) Đối với kẻ sĩ, Xuân Hương rất coi thường những học trò đã dốt lại hay khoe

mẽ, không lo đọc thêm sách góp nhặt kiến thức mà cứ tỏ vẻ “ta đây” hay nói chữ một cách đầy hợm hĩnh, kiêu căng Đây cũng là tư tưởng, thái độ ta thường bắt gặp trong dân gian “xấu nói tốt, dốt nói chữ”, “đã dốt còn hay chơi chữ”,… Xuân Hương đã kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân gian, đứng trên góc nhìn văn hóa đó để phát hiện ra nét tương đồng trong xã hội mình đang sống và lên tiếng phản ánh Hồ Xuân Hương tự xưng mình là “chị”, gọi hạng người thùng rỗng kêu to

đó là “lũ ngẩn ngơ”:

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?

Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.”

bà thẳng thừng vạch mặt “phường lòi tói” hay học đòi đó:

“Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền,

Trang 17

Cũng đòi học nói, nói không nên

Ai về nhắn nhủ phường lòi tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền.”

(Mắng học trò dốt II)

Bà đã tỏ thái độ rất bức xúc trước những học trò chữ nghĩa chưa thành hình mà đi đâu cũng làm thơ, cũng học đòi trêu gái, mà thực ra “nói không nên”: “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông/ Nó bảo nhau rằng: ấy ái uông!” Đã không biết làm thơ, còn viết bẩn cả tường chùa làm mất đi dáng vẻ thanh tịnh của chốn linh thiêng đến nỗi phận nữ nhi như Xuân Hương phải lên tiếng: “Lại đây cho chị dạy làm thơ!”, thật đáng xấu hổ, không bằng ai

Không dừng lại ở sự suy đồi của đạo đức Nho gia, xã hội Hồ Xuân Hương sống còn có những biểu hiện cho thấy sự suy vi của văn hóa Phật giáo Sư bây giờ không còn là Phật nữa mà là “Sư hổ mang” “Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm” Xuân Hương lên tiếng phê phán Phật giáo giai đoạn này vì sự biến chất xấu đi đó chứ không hề mang tính chất đả kích một tôn giáo Hơn nữa, bà không đồng tình với tư tưởng diệt dục của nhà Phật, bởi bà cho rằng đó là diệt đi sự sống đâm chồi nảy lộc, trái với lẽ tự nhiên Nếu tính cả bài “Cảnh chùa đêm” đang còn nhiều nghi vấn thì Xuân Hương có tất cả 5 bài vịnh cảnh chùa và sư sãi, đã vạch trần bộ mặt giả tạo, xấu xa, đả kích mạnh mẽ lối sống dở người dở ngợm của sư mô lúc bấy giờ

“Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà

Oải dâng trước mặt dăm ba phẩm, Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha

Tu lâu có lẽ lên sư cụ, Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.”

(Sư hổ mang)

Trang 18

Dưới mắt nữ sĩ họ Hồ, sư chẳng thuộc loại người nào, chẳng phải Ngô (ý chỉ người Tàu, “Bình Ngô đại cáo”) vì người Tàu để tóc đuôi sam, càng chẳng phải người Việt ta vì người Việt để tóc dài: “đầu thì trọc lốc, áo không tà” Quang cảnh bao quanh nhà sư hết sức hỗn độn, kẻ trước người sau, nói cười hỉ hả chứ không phải tiếng tụng kinh trang nghiêm, thật không hề có chút tịnh tâm nào của giới tu hành Vậy nên tu lâu cũng chỉ nên “sư cụ” thôi và phải chăng rằng, người ta biết sư cũng chỉ vì thấy hình ảnh sư “ngất nghểu” trên “tòa sen”(vốn là nơi Phật ngồi) chứ nếu không, e khó nhận ra “sư” như trong bài “Sư bị ong châm”, con ong đã nhầm đầu nhà sư với “bà cốt”:

“Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,

Đi đâu chẳng đội để ong châm?

Đầu sư há phải gì…bà cốt,

Bá ngọ con ong bé cái nhầm!”

(Sư bị ong châm) Xuân Hương đã rất thẳng thắn khi bàn về cái “Kiếp tu hành” của các nhà sư:

“Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,

Vị gì một chút tẻo tèo teo

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc, Trái gió cho nên phải lộn lèo.”

(Kiếp tu hành) Nhà thơ đã dùng từ “kiếp” – một từ của nhà Phật (luân hồi chuyển kiếp) để diễn tả

về chính họ, bản thân từ “kiếp” đã hàm nghĩa khổ cực dẫu rằng nó có là “kiếp tu hành” đi chăng nữa Bà tiếp tục khẳng định kiếp đó “nặng đá đeo”, cách nói ví von nặng như đá đeo vào người Cái “chút tẻo tèo teo” tưởng như không đáng kể nhưng thực to lớn, cản trở được con người về đất Phật, trở thành Phật Từ khóa của bài thơ

là “trái gió”: “Trái gió cho nên phải lộn lèo” “Trái gió” là trái với qui luật của sự sống cho nên mới nặng đá đeo, mới phải lộn lèo Sự đối nghịch giữa bản năng sống

và cuộc sống khổ hạnh, duy lí khiến cho nhà sư mang hai bộ mặt: bộ mặt chính thức thường từ bi thanh tịnh và bộ mặt ngầm ẩn với những ý thức “đời” rất thực Hồ

Trang 19

Xuân Hương đã dùng một loạt các từ nói lái (đá đeo, trái gió, lộn lèo) để lật tẩy, hé

lộ đời sống thực của kiếp tu hành Bà lên án những nhà sư vốn đã tâm không tịnh sao phải cố ép đi ngược lại qui luật tự nhiên để rồi phải tìm cách “trở lại” khiến bản thân mang hai bộ mặt, làm xấu đi nét văn hóa đẹp của một loại hình tôn giáo trong dân gian Trong bài “Chùa Quán sứ”, bà đã lật tẩy điều này bằng sự đối lập:

“Quán sứ sao mà cảnh vắng teo?

Hỏi thăm sư phụ đáo nơi neo?

Chày kình tiểu để suông không đấm, Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

Sáng banh không kẻ khua tang mít, Trưa trật nào ai móc kẽ rêu

Cha kiếp đường tu sao lắt léo!

Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo.”

Quán sứ vốn là trung tâm tu hành lớn nhất Thăng Long thời bấy giờ lúc nào cũng đông đúc người ra vào, ấy vậy mà Xuân Hương lại miêu tả “cảnh vắng teo”, chày lại không đấm, sáng banh cũng không kẻ khua tang mít, trưa trật cũng không người móc kẽ rêu,… Bên cạnh sự đối lập còn có thủ pháp nói lái” “đáo nơi neo”, “suông không đấm”, “đếm lại đeo”,…đã góp phần lật tẩy cái “nợ tình đeo” của các nhà sư

“Nợ tình”, tình yêu là thuộc tính, là bản năng, là nguồn gốc của sự sống cớ sao lại đi ngược luân lí tự nhiên đó Chữ “nợ” lại gợi nhắc đến thuyết nhân quả của nhà Phật với hàm ý chế giễu “Tình” là quả mà “nhân” là cái sự làm người, đã biết thế mà còn diệt quả (diệt dục) là cớ làm sao…

* * *

Chứng kiến sự chuyển biến của xã hội, dường như Xuân Hương cảm thấy không thể thích nghi được, bà cất tiếng cười giễu đời, giễu cả bản thân mình Nữ sĩ cảm thấy mình như một phần tử không nằm trong cái xã hội đảo lộn trật tự ấy Điều này cũng dễ hiểu bởi xã hội phong kiến thời bấy giờ đã mục nát, đòi hỏi phải có sự

Trang 20

chuyển biến đổi thay lên một xã hội mới nhưng thực tế điều đó vẫn chưa diễn ra Xã hội không tiến lên được, những con người cam chịu thì không nói làm gì nhưng đối với những ai có tư tưởng muốn được giải phóng ra khỏi hệ tư tưởng cũ – hệ tư tưởng phong kiến đã suy đồi, như Hồ Xuân Hương sẽ cảm thấy vô cùng bức bách,

gò bó; tất yếu dẫn đến sự phản kháng, phản kháng vô hiệu sẽ sinh chán nản, chán ngán cuộc đời nghịch lí này và cảm thấy bất lực với bản thân Trường hợp của Xuân

Hương là như vậy, như Nguyễn Đức Bính đã từng nhận xét: “cái bi kịch của Hồ

Xuân Hương là đã dám làm một người thông minh và dám sử dụng cái thông minh trong một thời đại mà ngu ngốc là kiểu mẫu làm người phổ biến.”[19, tr 237] Và

bà đã thể hiện điều đó thông qua tiếng cười tự giễu – giễu cuộc đời và giễu chính bản thân mình Mỗi đoạn đời của Xuân Hương đều gắn với thơ, mỗi sự việc mà nhà thơ trải qua hoặc nhìn thấy trong cuộc đời đều có thơ để phản ánh Đặc biệt, Xuân Hương cất tiếng cười to nhất với cuộc đời “nữ nhi thường tình” của chính mình, bởi cái xã hội phong kiến bà đang sống quá khắt khe với phụ nữ và một phụ nữ tài nghệ, thông minh như Xuân Hương lại càng bi thương hơn khi bà hoàn toàn nhìn nhận được những bi kịch của cuộc đời mình Hồ Xuân Hương không có những sáng tác

“Tự trào”, “Tự thán” như Tú Xương hay Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng

nữ sĩ lại có 3 bài thơ “Tự tình” Đây có lẽ là chùm thơ khắc họa rõ nét nhất cuộc đời nhà thơ, mới đọc những thi phẩm này ta có thể không nhận ra tiếng cười một cách

rõ nét nhưng theo chúng tôi ẩn đẳng sau những lời than vãn là tiếng cười chán ngán, một kiểu cười trừ ngán ngẩm, đầy tính giễu nhại với cuộc đời bạc bẽo:

“Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh!”

(Tự tình III)

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!”

(Tự tình II) Điều khiến Xuân Hương bất mãn và chế giễu nhất ở chốn trần đời đương sống chính là duyên phận của người phụ nữ Họ không có quyền yêu cầu về tình

Trang 21

yêu và quyền sống của chính mình: “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái

kiếp lấy chồng chung!” (Làm lẽ) Đây đã là “số kiếp” chung của phụ nữ thời bấy

giờ chứ chẳng phải của riêng ai “Làm lẽ” hay chẳng may chồng chết cũng đều là đau khổ cả, Xuân Hương cũng có khóc chồng nhưng bên trong tiếng khóc đó có

tiếng cười cợt như đang “bỡn” (Bỡn bà lang khóc chồng) Phải chăng vì quá đau

thương hay vì người chồng ấy không đáng (?!): “Thiếp bén duyên chàng có thế

thôi” (Khóc Tổng Cóc), “Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc” (Khóc ông Phủ Vĩnh

Tường), “Nín đi kẻo thẹn với non sông!” (Dỗ người đàn bà chết chồng)

Cuộc sống với đa dạng hình hài vẫn phát triển, vẫn thay đổi: “Xiên ngang

mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy hòn” (Tự tình II) chỉ có số phận

hồng nhan vẫn không thay đổi Nỗi buồn, nỗi oán hận đã trở thành muốn nổi loạn, muốn phản kháng: “Tài tử văn nhân ai đó tá?/ Thân này đâu đã chịu già tom!” nhưng mỗi mình Xuân Hương lên tiếng cũng chẳng thể thay đổi được cái cuộc đời, cái xã hội vốn dĩ quá bảo thủ và không biết lắng nghe, tôn trọng tiếng nói của đàn

bà, con gái Bà chỉ còn biết cười giễu nhại cho phận người sinh ra đã là “kiếp” nữ nhi nên đã có lúc Xuân Hương mong được đổi phận làm trai để cuộc đời được phần

nào khác đi: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu” (Đề

đền Sầm Nghi Đống)

Vâng, nếu Xuân Hương sinh ra là phận trai hoặc ví như sinh ra vào thời điểm khác có lẽ đã không trở thành bi thương đến thế Ở thời Xuân Hương, một tầng lớp thị dân đã bắt đầu lớn mạnh ở những trung tâm buôn bán Thị dân tất có lối sống, lối suy nghĩ khác với khuôn khổ phong kiến đòi hỏi phải giải phóng Cái đòi giải phóng

đó đã được Hồ Xuân Hương phần nào tái hiện qua tiếng cười giễu đời, giễu mình trong thi phẩm của bà

1.1.2 Người phụ nữ trong nhãn quan trào phúng Hồ Xuân Hương

Vốn là một nhà thơ nữ, lại thông minh và tài năng, Xuân Hương đã nhìn nhận rõ vẻ đẹp của người phụ nữ Dù trong thời đại bà đang sống, người ta có vùi dập, chà đạp người phụ nữ thế nào đi chăng nữa, Xuân Hương vẫn phát hiện và nhắc người đời nhớ đến vẻ đẹp của giới nữ - những con người vốn dĩ sinh ra đã

Trang 22

mang danh xưng “phái đẹp” Cái đẹp dễ thấy trước nhất của người phụ nữ là vẻ đẹp bên ngoài – làn da, mái tóc, đường cong gợi cảm,…

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

(Bánh trôi nước)

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?

Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh”

(Tranh tố nữ)

“Lược trúc lỏng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới lưng nong Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông”

(Thiếu nữ ngủ ngày) Những cô gái xinh xinh, trắng trẻo, “hồng hồng má phấn”, căng “tròn” “cái xuân xanh”, “lược trúc cài trên mái tóc” hờ hững gợi cảm cùng những đường cong của

“lưng nong”, “đôi gò Bồng Đào”,… đầy tuyệt mỹ mà tạo hóa đã ưu ái ban tặng Vẻ đẹp tự nhiên ấy ai cũng công nhận tự bao đời nay: “Nương long mỗi ngày mỗi cao/

Má đào mỗi ngày mỗi đỏ” (Tục ngữ), “Đẹp như tiên Non Bồng” (Thành ngữ) Vẻ đẹp ấy rất mỏng manh, thoáng chốc: “Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh” (Tranh

tố nữ) nên Xuân Hương luôn muốn gắn nó với những cái gì vĩnh cửu, trường tồn để

níu giữ Bởi vậy, hình ảnh thân thể người phụ nữ trong thơ bà thường hòa lẫn với thiên nhiên, vũ trụ: “Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng/ Ngày xanh sao nỡ tạnh lòng

son?” (Hỏi trăng) Ở đây, một lần nữa ta lại thấy cái vẻ đẹp “trong trắng”, “son rỗi”

của người con gái Đây có thể nói là một vẻ đẹp nữ giới ám ảnh Xuân Hương, nó trở đi trở lại trong khá nhiều thi phẩm của bà như đã thấy ở trên Bởi vẻ đẹp của một người con gái xuân thì chính là đại diện tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp của sức sống tự nhiên Xuân Hương khác đa phần chúng ta, ngắm nhìn vẻ bề ngoài của một cô gái, một người phụ nữ vì họ đẹp theo kiểu gợi cảm và hấp dẫn đơn thuần; nhà thơ tinh tế

Trang 23

và sâu sắc hơn rất nhiều, bà phát hiện vẻ đẹp nõn nà ấy là biểu hiện của sự sống, sức

sống thanh tân căng tràn của tự nhiên: “Giếng ai thanh tân ai có biết” (Giếng thơi)

Phụ nữ là người nắm giữ thiên chức cao cả - làm Mẹ, ươm mầm và nuôi dưỡng sự sống Những đường nét đẹp đẽ gợi cảm bên ngoài ấy chính là dấu hiệu của sự sống có thể nảy mầm và phát triển như bà mẹ của Tạo vật, bà mẹ Thiên nhiên, đất rộng sông dài:

“Một đèo, một đèo, lại một đèo Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm lum nóc

Kẽ đá xanh rì lún phún rêu Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo”

(Đèo Ba Dội) Bài thơ miêu tả cảnh đèo, cảnh trèo đèo vất vả: “Một đèo, một đèo, lại một đèo” nhưng lại ẩn sau đó là hình ảnh “một tòa thiên nhiên” của người phụ nữ mà ai cũng

có thể thấy rõ mười mươi: hai “đèo” trên đi liền nhau và một “đèo” cách quãng dưới Tiếp theo sau đó là một loạt từ ngữ gợi lên liên tưởng đến những biểu tượng tính dục và hành vi tính giao khác như: cửa son, kẽ đá, cành thông, cơn gió, lá liễu, giọt sương, đỏ loét, xanh rì, tùm lum, lún phún,… Cành thông “mọc” lắt lẻo ở trên đèo cho nên luôn hứng gió và sự chuyển động này là do tương tác mạnh yếu, cứng mềm, cũng chính là tương tác nam nữ âm dương theo nhịp điệu vũ trụ Vậy rõ ràng thi sĩ

đã nhìn nhận vẻ đẹp thân thể người phụ nữ dưới góc nhìn sức sống bản năng tự nhiên nhất của chính họ Chẳng phải người phụ nữ đẹp nhất là khi được yêu hay sao?

* * *

Từ trước đến nay, trong đời sống thường nhật cũng như mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, người phụ nữ Việt Nam luôn được ca ngợi với vẻ đẹp của những phẩm chất cao quí như: đảm đang, chịu thương chịu khó, tảo tần, yêu chồng thương con,

Trang 24

đức hi sinh cao cả,… Thơ viết về người phụ nữ của Hồ Xuân Hương cũng lấp lánh những phẩm chất cao đẹp ấy:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Em vẫn giữ tấm lòng son”

(Bánh trôi nước) Người phụ nữ đẹp từ ngoài vào trong, dù bão táp phong ba dòng đời xô đẩy thế nào

đi chăng nữa họ vẫn giữ được tấm lòng son sắt của mình Là một phụ nữ đảm đang,

dù tất bật đến đâu họ vẫn luôn đảm bảo chu toàn chồng con, nhà cửa trong ngoài không một tiếng than vãn:

“Một bên con khóc, một bên chồng

Bố cu lổm ngổm bò trên bụng Thằng bé hu hơ khóc dưới hông Tất cả những là thu với vén Vội vàng nào những bống cùng bông”

(Thân phận đàn bà) Tuy nhiên với cái nhìn đầy nhân văn của một người trong cuộc, Hồ Xuân Hương không chỉ dừng lại ở những điều ai cũng thấy lâu nay Khi nghiên cứu giá trị trào phúng về người phụ nữ trong thơ bà, chúng tôi phát hiện một cái nhìn lớn hơn

về người phụ nữ mà dường như chỉ Xuân Hương mới nhìn ra hay dám chỉ ra Đó chính là vẻ đẹp ở bản năng – khát sống, khát yêu, khát khao hạnh phúc

Phụ nữ cũng là một con người bằng da bằng thịt như bao con người khác nên trong bất kì xã hội họ cũng có quyền được hưởng hạnh phúc, được yêu thương chăm sóc Mối quan tâm về hạnh phúc cá nhân, tình yêu tự do, kể cả tình yêu thể xác của người phụ nữ đã xuất hiện trong sáng tác của nhiều thi sĩ cùng thời với Hồ Xuân Hương như “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), “Chinh phụ ngâm khúc” (Đoàn Thị Điểm), “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều),… nhưng phải đến Hồ Xuân Hương sự quan tâm đó mới trở thành hệ thống và được nhìn dưới con mắt của chính

Trang 25

một phụ nữ - mộc mạc, chân thành mà ray rứt hơn nhiều Nữ sĩ đã thay mặt họ cất tiếng nói đòi hỏi hạnh phúc, cái hạnh phúc bản năng nhất của con người bằng tiếng cười trong thi phẩm trào phúng của mình Xuân Hương cất tiếng cười để tự giải phóng mình, giải phóng nữ giới khỏi những bất công của xã hội Tiếng cười ấy chính là tuyên ngôn về ý thức cá nhân, đòi hỏi tình yêu và hạnh phúc riêng tư

Người phụ nữ có quyền được hưởng hạnh phúc trọn vẹn với người mình yêu thương chứ không phải là sự nhẫn nhịn “kiếp chồng chung” chờ đợi được ban phát hạnh phúc:

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không

Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn mướn không công Thân này ví biết dường này nhỉ

Thà trước thôi đành ở vậy xong”

(Làm lẽ)

Đã là vợ chồng mà đến cái chuyện cơ bản nhất cũng không thể thỏa mãn được “năm thì mười họa hay chăng chớ/ Một tháng đôi lần có cũng không” thì sao gọi là vợ chồng, chẳng khác nào người dưng nước lã, cũng chẳng bằng một người làm công trong nhà cả Dù có cố gắng cũng chẳng thay đổi được gì, Xuân Hương đã thay mặt toàn thể phụ nữ chẳng may rơi vào hoàn cảnh “chia năm sẻ bảy” ấy mà hét lên rằng: Nếu biết trước thế này thì thà ở không còn hơn! Bởi tình yêu chứ không phải miếng bánh mà “chia sẻ tí con con” Cuộc sống như thế thật chẳng gì ngán ngẩm bằng, năm tháng trôi qua thật vô vị:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”

(Tự tình II)

Trang 26

Người phụ nữ cũng có quyền tự kiếm tìm, lựa chọn tình yêu, hạnh phúc cho riêng mình Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Xuân Hương là vậy, họ không thụ động đợi hạnh phúc gõ cửa, thụ động tiếp nhận nó; thay vào đó họ tự đi tìm hạnh phúc, tìm “đấng quân tử” cho riêng mình Mặc kệ những định kiến của xã hội, khi người đàn ông ngại ngần, không dám hành động “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt/

Đi thì cũng dở ở không xong” (Thiếu nữ ngủ ngày), các cô gái sẵn sàng gợi ý:

“Quân tử có thương thì đóng nõ Xin đừng mân mó nhọ ra tay”

ấy thanh tân ai có biết/ Đố ai dám thả nạ ròng ròng” (Giếng thơi)

Và khi đã đến với nhau, họ sẵn sàng sống hết với những gì mình đang đó, không ngần ngại đắn đo Cho dù tình yêu đó có lỡ lầm đi chăng nữa thì cũng là hạnh phúc khi họ được quyền lựa chọn và sống hết mình với những lựa chọn của chính bản thân Xuân Hương hay chính những người phụ nữ đó đã dám lật ngược định kiến xã hội về chửa hoang để bảo vệ mầm sống, sự sống đang sinh sôi nảy nở từng ngày trong cơ thể:

“Cả nể cho nên sự dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc Phận liễu sao đà nãy nét ngang Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa

Trang 27

Mảnh tình một khối thiếp xin mang Quản bao miếng thế lời chênh lệch Không có, nhưng mà có, mới ngoan.”

(Không chồng mà chửa) Đây không phải là sự lăng loàng hay trắc nết gì cả Bởi rõ ràng đôi trai gái trong bài thơ đến với nhau bằng tình yêu thật sự Giữa họ có tình yêu đấy chứ, không tình yêu sao nên sự “cả nể”, “nỗi niềm”, “cái nghĩa trăm năm”, “mảnh tình một khối”,… Vì thế, khi tình yêu đơm hoa kết trái là một điều đáng mừng, là một niềm hạnh phúc không phải ai cũng có được “không có, nhưng mà có, mới ngoan” Cô gái khát khao hạnh phúc này chẳng bận tâm gì đến những định kiến hà khắc của xã hội lúc bấy giờ, đến miệng thế gian vô thường “quản bao miếng thế lời chênh lệch” Điều cô quan tâm và mong muốn chỉ có một, chính là người cô yêu “chàng nhớ chửa”

Hạnh phúc không chỉ dành riêng cho những cô gái son trẻ, những con người đang yêu mà nó còn nên đến với những con người, những phụ nữ chẳng may chịu quá nhiều bất hạnh như mất chồng, duyên đàng đứt gánh Những người phụ nữ ấy lại càng khao khát yêu, khao khát hạnh phúc hơn cả Xuân Hương đã thấy được điều đó và có một loạt bài khóc chồng của phụ nữ như một sự an ủi và giúp họ thể hiện khát khao hạnh phúc: “Khóc Tổng cóc”, “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường”, “Bỡn

bà lang khóc chồng”, “Dỗ người đàn bà khóc chồng” Sau khi đã trọn đạo với người

cũ: “Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi/ Cái nợ ba sinh đã trả rồi” (Khóc ông Phủ

Vĩnh Tường), họ cũng muốn dứt duyên nợ để có thể bắt đầu cuộc sống mới:

“Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”

(Khóc Tổng Cóc)

Âu đó cũng là điều chính đáng, người chết cũng đã chết rồi, người sống vẫn phải sống tiếp nên họ phải tìm con đường mới, hạnh phúc mới, lẽ nào vì một người đã

Trang 28

khuất lại cứ dằn vặt mãi một người sự sống đang tiếp tục chảy trôi Thậm chí, người sống còn nên sống và hạnh phúc cho cả phần của người đã chết

Không có lí gì xã hội lại này hay nam giới lại tự cho mình cái quyền chà đạp hay định đoạt số phận của người phụ nữ Không lí gì họ lại phải nhẫn nhịn chịu đựng quá nhiều đau thương khi sức sống trong họ luôn căng tràn Nếu không được

tự do yêu và kiếm tìm hạnh phúc họ sẽ thấy cuộc đời thật ai oán biết bao Chùm ba bài thơ “Tự tình” chính là nỗi bi thương khi không được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ:

“Oán giận trông ra khắp mọi chòm

Mõ khảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau giận vì duyên để mõm mòm”

(Tự tình I)

“Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

(Tự tình II)

“Chiếc bách buồn về phận nổi nênh Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”

(Tự tình III) Mỗi bài là một sự tăng tiến về cấp độ bi thương khi phận hồng nhan xuân thì mà phải “trơ ra” đợi “duyên để mõm mòm”, số phận vô định như chiếc thuyền giữa dòng nước lênh đênh chưa biết sẽ cập bến nào đầy “ngao ngán” Đối với một người phụ nữ điều đó thật hoài phí tuổi xuân!

“Ngán nổi xuân đi xuân lại lại”

(Tự tình II)

Đó là một điều giản đơn, dễ hiểu – là bản năng con người thường tình nhưng không phải ai cũng thấy được:

Trang 29

“Đá kia còn biết xuân già dặn Chả trách người ta lúc trẻ trung!”

(Đá ông chồng bà chồng)

“Nhắn nhủ ai về thương lấy với Thịt da ai cũng thế cả thôi”

(Trống thủng) Người phụ nữ dưới ngòi bút trào phúng Xuân Hương đã không ngại ngần nói thẳng huỵch toẹt rằng: cuộc sống mà không có sự giao cảm, tình yêu mà không có sự hòa hợp cả thể xác lẫn tinh thần thì thật vô nghĩa!

“Còn thú vui kia sao chẳng vẽ Trách người thợ vẽ khéo vô tình”

(Tranh tố nữ)

Và họ sẵn sàng đấu tranh vì hạnh phúc của mình: “Có phải duyên nhau thì thắm lại/

Đừng xanh như lá bạc như vôi” (Mời trầu) Không chịu đầu hàng số phận: “Tài tử văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom!” (Tự tình I)

Có thể nói rằng, hình tượng người phụ nữ trong thơ “Hồ Xuân Hương” là một người phụ nữ đẹp với những gì bản năng tự nhiên nhất Đây là một giá trị mà chỉ có thể tìm thấy ở thơ Xuân Hương bởi không ở đâu nhu cầu hạnh phúc “rất người” ấy lại được cất lên bằng giọng nữ tha thiết, chân thành, cụ thể mà mạnh mẽ như ở thơ trào phúng “Bà chúa thơ Nôm”

1.1.3 Hình tượng thiên nhiên trong nhãn quan phồn thực

Tín ngưỡng phồn thực là một nét văn hóa đặc sắc lâu đời và quen thuộc đối với những dân tộc có nền văn minh lúa nước như nước ta Tín ngưỡng phồn thực đã dần trở thành văn hóa phồn thực và chảy cả vào văn học Đến với thơ trào phúng

Hồ Xuân Hương là đến với sự trỗi dậy đầy mạnh mẽ của những biểu thực phồn thực sống động trong thơ ca, văn chương nghệ thuật

Theo khảo sát, có thể phân chia các biểu tượng phồn thực trong thơ của Xuân Hương thành 4 kiểu: biểu tượng phồn thực thể hiện qua bộ phận cơ quan sinh sản,

Trang 30

hành vi tính giao, thân thể người phụ nữ và những bộ phận gợi dục khác trên thân thể người phụ nữ, các thời điểm nhân học

Đầu tiên là những hình ảnh thơ gợi lên liên tưởng về bộ phận của cơ quan sinh dục Trong các sáng tác của mình, Xuân Hương rất hay miêu tả những sự vật gợi nhắc đến cơ quan sinh dục nữ: âm vật và cơ quan sinh dục nam: dương vật Điều này xuất hiện ở hầu hết các thi phẩm vịnh vật và vịnh cảnh của bà Cụ thể, đối

với cơ quan sinh dục nữ (âm vật), ta có thể bắt gặp: “hang” (Hang Cắc Cớ), “động” (Động Hương Tích), “đèo” (Đèo Ba Dội), “kẽm” (Kẽm Trống), “cửa” (Qua cửa đó),

“giếng” (Giếng thơi), “lỗ” (“cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”, Đánh đu), “kẽ hầm” (“kẽ hầm rêu mốc trơ hoen hoẻn”, Hang Cắc Cớ), “kẽ rêu” (“Trưa trật nào ai móc kẽ rêu”, Chùa Quán Sứ), “cái quạt” (Cái quạt), “miệng túi” (“Miệng túi càn khôn khép lại rồi”, Khóc ông Phủ vĩnh Tường),… Đối với cơ quan sinh dục nam (dương vật)

cũng có rất nhiều biểu tượng được nhắc đến: “quả cau” (“Quả cau nho nhỏ miếng

trầu hôi”, Mời trầu), “sừng” (“Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, Mắng học trò dốt),

“cán cân” (“Cán cân tạo hóa rơi đâu mất”, Khóc ông Phủ Vĩnh Tường), “dùi trống” (“Trống thủng vì chưng kẻ nặng dùi”, Trống thủng), “con suốt” (“Một suốt đâm ngang thích thích mau”, Dệt cửi), “đầu sư” (“Đầu sư há phải gì…bà cốt/ Bá ngọ con ong bé cái nhầm”, Sư bị ong châm), “cọc” (“Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”, Đánh

đu),…

Biểu tượng phồn thực thứ hai trong thơ trào phúng Hồ Xuân Hương là hành

vi tính giao: đánh đu (“Giai du gối hạc khom khom cật/ Gái uốn lưng cong ngửa

ngửa lòng”, Đánh đu), dệt cửi (“Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích mau”, Dệt cửi), đánh trống (“Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc/

Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi/ Khi giang thẳng cánh bù khi cúi/ Chiến đứng

không thôi lại chiến ngồi”, Trống thủng), châm (“Ong non ngứa nọc châm hoa rữa”,

Mắng học trò dốt), húc (“Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, Mắng học trò dốt), trèo

(“Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”, Đèo Ba Dội),…

Thứ ba, Xuân Hương đã chọn vẻ đẹp ẩn chứa đầy sức hấp dẫn của thân thể người phụ nữ cùng các bộ phận trên thân thể họ để thể hiện các biểu tượng phồn

Trang 31

thực độc đáo Cụ thể: bánh trôi nước (“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”, Bánh trôi

nước), quả mít (“Thân em như quả mít trên cây/ Da nó xù xì múi nó dày”, Quả mít),

mặt trăng (“Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng/ Ngày xanh sao nỡ tạnh lòng son”, Hỏi

trăng), Bồng Đảo (“Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm”, Thiếu nữ ngủ ngày), lưng

ong (“Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng”, Đánh đu), nương long, sườn (“Yếm đào trễ xuống dưới nương long”, Thiếu nữ ngủ ngày), mông, đít (“Nhấp nhỏm bên ghềnh đít vắt ve”, Tát nước),…

Cuối cùng là sự thể hiện các biểu tượng phồn thực thông qua các thời điểm nhân học trong cuộc đời con người như: dậy thì – thời điểm đẹp nhất, căng tràn sức

sống nhất của người con gái (“Giếng ấy thanh tân ai có biết”, Vịnh giếng; “Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên nước chửa thông”, Thiếu nữ ngủ

ngày); lúc có thai – đang mang trong mình một mầm sống mới mỗi ngày một phát

triển (Không chồng mà chửa),…

Những biểu tượng Hồ Xuân Hương lựa chọn để thể hiện nét văn hóa phồn thực trong thơ ca của mình có những biểu tượng đã tồn tại quen thuộc lâu đời trong dân gian, có những biểu tượng là sự sáng tạo tài nghệ của riêng nhà thơ Bởi có những từ ngữ, những hình ảnh khi ta nói, viết bình thường trong đời sống lại không

hề có nét nghĩa phồn thực, chỉ khi Xuân Hương mang nó vào một hoàn cảnh cụ thể trong sáng tác của mình mới có nét nghĩa đầy ẩn ý như vậy Đó quả là một sự sáng tạo không biên giới của một người phụ nữ tài năng

* * *

Phồn thực là một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời với nhiều ý nghĩa sâu sắc, tuy nhiên phồn thực thường dễ bị cho là tính dục tầm thường Ranh giới giữa phồn thực và tính dục thật quá mong manh, bởi trong bản thân phồn thực không thể phủ nhận yếu tố tính dục Đối với các biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương cũng vậy, người ta hay đặt nó lên bàn cân: dâm hay tục?! Phải chăng nhà thơ nữ này quá thiêng về tính dục?! Đây là vấn đề không nhỏ, tốn không ít giấy mực của giới

Trang 32

nghiên cứu khi đến với thơ Xuân Hương Mỗi người đều có một cách tiếp nhận và lí giải riêng của mình, với chúng tôi, việc tiếp nhận theo hướng ghi nhận những giá trị văn hóa trong thơ Xuân Hương thì không thể nói đó là dâm hay tục, là phồn thực hay tính dục mà phải nói là tôn giáo trong tín ngưỡng phồn thực Bởi không thể phủ nhận cái ma mãnh, cái lấp lửng hai mặt thiêng và tục, thanh và tục trong các hình ảnh thơ tác giả cố tình gợi nên Đó cũng là điều không thể phủ nhận được trong các biểu tượng phồn thực nói chung Nếu tính dục trong tín ngưỡng phồn thực không lấy sự khoái cảm làm mục đích, mà nó chỉ mang tính chất như một thứ thị phạm ma thuật để cầu phồn thực phồn sinh, tôn giáo trong tín ngưỡng phồn thực chắc chắn không phải là sự đi tìm cực lạc mà chỉ là hình thức cầu viện cái thiêng để mang đến

sự sinh sôi nảy nở thì biểu tượng phồn thực trong Hồ Xuân Hương cũng không phải

là dâm, đó chỉ là một cách thể hiện niềm tin, khát vọng mãnh liệt dành cho sự sinh

sôi phát triển tự nhiên trong đời sống xã hội Nói như Đỗ Lai Thúy: “những biểu

tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương vừa không phải là tục vừa là tục Bởi vì

nó gắn chặt với một điều thiêng liêng là cầu mong sinh sôi nảy nở cho mùa màng, con người, động vật và cây cối.” [24, tr.151 – 152], chỉ khi nào tách nó ra khỏi cái

thiêng của tín ngưỡng tôn giáo phồn thực phồn sinh thì nó mới trở nên dâm tục, là hành vi tính dục đơn thuần Nhưng chắc chắn thơ của Xuân Hương không thể thô thiển như vậy, bởi bà không chỉ tài năng mà còn là một người phụ nữ khát sống khát yêu, tôn thờ sự sống tự nhiên đến mãnh liệt

Những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương đa phần đều xuất phát từ những biểu tượng phồn thực gốc đã có từ lâu trong dân gian Đó là cách nhà thơ tài tình gắn kết những cái tục bên cạnh cái thiêng để cả hai quyện vào nhau thành một thứ tín ngưỡng mang ý nghĩa nhân sinh cao cả không thể bóc tách được Chẳng hạn, trong sự lưỡng phân trời đất thì trời là cha, đất là mẹ Con người, cũng như muôn loài, được sinh ra từ lòng đất mẹ, từ hang động, hang giếng… Bởi vậy, tự nhiên người ta thường coi hang động, giếng,…như là âm vật, nơi con người được sinh ra từ bụng đất mẹ Hơn nữa, hang động cũng là nơi con người lúc ban sơ cư trú,

là nơi che mưa che nắng, bảo vệ họ khỏi thú dữ, nguy hiểm Còn giếng là nơi chứa

Trang 33

nước – biểu tượng của sự sống Cả đất đai, cây cối, con vật và phụ nữ đều nhờ nước

mà sinh sôi nảy nở Vì vậy, những hình ảnh này từ lâu đều mang ý nghĩa phồn thực

và Hồ Xuân Hương chỉ là người chuyển tải nó vào trong thơ ca bác học mà thôi Thơ Xuân Hương đầy ám ảnh bởi những biểu tượng hang động: Hang Cắc Cớ, Hang Thánh Hóa, Động Hương Tích, Đèo Ba Dội,… Những bài thơ ấy rõ ràng đều miêu tả cảnh vật thiên nhiên nào hang, nào động, nào đèo,…rất đúng hiện thực nhưng với việc cố ý để những từ ngừ, hình ảnh: nứt làm đôi mảnh, giọt nước, giọt sương, khe nước rỉ mó, lún phún rêu, rậm rạp, đỏ loét,… liền kề nhau, nối tiếp nhau

đã tạo nên văn bản một ý nghĩa phồn thực với các bộ phận sinh dục Cả hai nghĩa đều rõ mười mươi và không thể tách rời được Điều đáng chú ý, các hang động đều

là nơi thờ Phật cho nên ở đây cái thiêng đã gắn với cái tục

Đến với biểu tượng “giếng” cũng vậy:

“Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng Cầu trắng phau phau đôi ván ghép Nước trong leo lẻo một dòng thông

Cỏ gà lún phún leo quanh mép

Cá diếc le te lách giữa dòng Giếng ấy thanh tân ai có biết

Đố ai dám thả nạ ròng ròng”

(Giếng thơi) Một cái giếng thanh tân gắn với thời điểm dậy thì đẹp nhất của người thiếu nữ Một người thiếu nữ đầy sức sống mãnh liệt đã phát triển đầy đủ chỉ thiếu một yếu tố nam tính “đố ai dám thả nạ ròng ròng”, nạ ròng ròng là cá quả biểu tượng dương vật để tạo ra sự sinh đẻ Sinh đẻ với tâm thức người xưa là một điều kì lạ thiêng liêng Ngoài ra, trong tâm thức người Việt, giếng là nơi xuất xứ nòi giống, liên quan đến mùa màng Xuân Hương đã nắm bắt được điều đó để chuyển tải tài tình

Cả những biểu tượng về hình động tính giao trong thơ Xuân Hương như: dệt cửi, tát nước, đánh đu, đánh trống, đấm chuông,… rõ ràng là lồ lộ nhưng thực ra nó

Trang 34

cũng chỉ là sự mô phỏng hành vi tính giao để cầu mong sự nảy nở, mùa màng tốt tươi của cha ông ta đã thể hiện trong chính các trò chơi dân gian này Ví dụ như trò chơi đánh đu - một trò chơi dan gian thường diễn ra trong các lễ hội mùa xuân ở làng quê, thường là một nam một nữ lên chơi để tạo sự cân bằng âm dương Khi cây

đu chuyển động thì chính là sự chuyển động của người nam so với người nữ và ngược lại Đây được xem là sự bù trừ, đắp đổi, giao hòa năng lượng nam và năng lượng nữ mang một ý nghĩa phồn thực và Xuân Hương đã miêu tả đúng điều đó, có

cả không khí tươi vui của xuân đất trời và xuân trong lòng người, mộc mạc đến nỗi

bị xem là “thô”:

“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng Người thì lên đánh kẻ ngồi trông Giai du gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng cóng ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song Chơi xuân đã biết xuân chăng tá?

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!”

(Đánh đu) Thế nên thật có phần phiến diện khi nói sự gắn kết phồn thực này trong các hình ảnh thơ của bà lại mang nét nghĩa ngầm thô tục Dù rằng nét nghĩa ngầm ấy là điều

có thực, bất cứ ai cũng thể thấy nhưng với chúng tôi nó là yếu tố tính dục trong tín ngưỡng phồn thực thể hiện mong muốn về sự sinh sôi nảy nở, muôn vật phồn thịnh, mùa màng bội thu Quả thực, đọc thơ Hồ Xuân Hương nếu ta cứ cố tình tách bạch hai nghĩa thanh và tục thì thật khó cảm nhận hết cái hay, cái thi vị trong tư duy của con người tài năng này Chính hai nét nghĩa thanh và tục như một tờ giấy có hai mặt không thể gỡ bỏ mặt nào đã tạo nên một cái “kiềng ba chân” vững chắc: phồn thực – tính dục – tôn giáo hòa quyện với nhau làm biến chuyển xúc cảm của người đọc, nếu bỏ đi cái chân nào cũng đều khập khiễng vô cùng

Trang 35

1.2 Cội nguồn văn hóa trong thơ trào phúng Hồ Xuân Hương

1.2.1 Tâm lí phản kháng, vượt thoát những điều cấm kị

Những cấm kị và việc đối phó với cấm kị được xem như là một nguyên nhân làm nên các giá trị văn hóa trong thơ văn trung đại cần phải nghiên cứu Những cấm đoán về chính trị (triều đình chuyên chế không cho phép công khai, trực tiếp chỉ trích chính sách hay chế độ, người nào dám phê phán, chỉ trích có thể bị trừng phạt nghiệt ngã), cấm đoán sự thể hiện đời sống tự nhiên, bản năng (tuyên truyền văn hóa lễ nghĩa, hình thành khái niệm “dâm tục” mang tính chất đánh giá đối với biểu hiện bản năng) được xem là cấm kị trong xã hội bấy giờ Theo qui luật ở đâu có cấm kị thì ở đấy có đối phó cấm kị Đời sống bản năng, như học thuyết S.Freud đã khẳng định, không thể tiêu diệt được, nó chỉ có thể bị chèn ép, dồn đẩy xuống hàng tiềm thức và sẽ phát lộ một cách vô thức Cộng thêm với thời điểm con người có những thay đổi lớn về lối sống, suy nghĩ thì tâm lí phản kháng đó sẽ trỗi dậy mạnh

mẽ hơn bao giờ hết Hồ Xuân Hương là một đại diện điển hình cho sự phản kháng lại những cấm kị ấy, lời thơ Xuân Hương phát ra một cách tự nhiên mà như hữu ý mang những ý nghĩa đi ngược lại ý thức xã hội đương thời

Thời trung đại – thời kì hưng thịnh của xã hội Nho giáo với những giáo điều

hà khắc, nhất là quan niệm về người phụ nữ Ở thời đại này, người ta quan niệm rằng sắc đẹp của người phụ nữ là điều sợ hãi, nên xa lánh để tránh họa vào thân Quan niệm này bắt nguồn từ thực tế của xã hội chuyên chế phương Đông vốn không có thiết chế hữu hiệu bảo đảm cho thân phận của người “hồng nhan”, khiến cho những người hồng nhan trở thành nạn nhân của những kẻ có quyền, có tiền Không chỉ bản thân họ là nạn nhân, họ còn có thể, một cách gián tiếp là nguyên nhân gây ra nỗi bất hạnh cho gia đình, người thân, thậm chí có khi là xã tắc Ví dụ như để cướp đoạt được một người phụ nữ đẹp, vốn là vợ của một người nông dân thấp cổ bé họng, kẻ có thế lực có thể giết cả người chồng hay trong những câu chuyện kể xưa, không ít những người đẹp trở thành nguyên nhân gây hấn của các vị vua, khiến bao kiếp dân phải chịu cảnh lầm than trong khói lửa chiến tranh Từ đó

mà trong văn học trung đại xuất hiện mô típ miêu tả người đẹp đầy tính chất ma

Trang 36

quái, mộng mị hồ li báo oán,…hay thậm chí là né tránh, coi thường người phụ nữ, khiến hình ảnh của họ hoàn toàn vắng bóng trong văn chương Nhưng không có quan niệm nào tồn tại mãi mãi được khi xã hội và con người không ngừng đổi thay, đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện những quan niệm phản biện, đó là khi người phụ nữ

ý thức được vẻ đẹp và vai trò của mình trong đời sống xã hội này Trường hợp này rơi đích đáng vào Hồ Xuân Hương Bà là một người phụ nữ có hiểu biết và ý thức

cá nhân mạnh mẽ nên hiển nhiên bà sẽ phản bác lại tư tưởng có phần thiển cận đó

về chính mình, về những người cùng chung phận nữ nhi như mình Cụ thể đấy chính là thái độ đồng cảm, sẻ chia và bênh vực, trân trọng những người phụ nữ trong xã hội này với những gì vốn có nhất của họ, với những gì mà Bà mẹ Tạo hóa

đã ban tặng cho họ chứ không hề khoa trương, làm quá hay thêu dệt lên bất cứ thứ

gì Xã hội phong kiến nếu có ca ngợi cái đẹp của người phụ nữ thì chỉ ca ngợi cái đức, bởi xã hội Nho giáo luôn chú trọng đạo đức Xuân Hương không phủ nhận điều đó nhưng một vẻ đẹp hoàn mỹ cả trong lẫn ngoài không đáng ca ngợi hơn sao

Vì thế, bà đã phản bác lại điều cấm kị đó bằng cách đem vẻ đẹp da thịt trần tục của người phụ nữ vào thơ ca, mà không phải là thơ ca bình dân như ca dao dân ca, đó là thơ Đường luật – một thể thơ bác học, thể thơ mà nhà Nho thường ngâm ca xướng họa Bà xem vẻ đẹp đó là dấu hiệu cả sự sống Theo đó, tình yêu, sự hòa trộn cả tinh thần và thể xác là một điều bình thường đáng trân trọng của cuộc sống này, không

có gì phải né tránh nên Xuân Hương đã mang điều đó vào sáng tác của mình như một lẽ bình thường:

“Khéo khéo bày trò tạo hóa công Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc Thớt dưới sương pha đượm má hồng Gan nghĩa dãi ra cùng nhật nguyệt Khối tình cọ mãi với non sông

Đá kia còn biết xuân già dặn Chả trách người ta lúc trẻ trung”

(Đá Ông Chồng Bà Chồng)

Trang 37

Xuân Hương phản bác lại cái quy kết mà xã hội phong kiến Nho gia luôn qui chụp mọi tội lỗi lên người phụ nữ Xuân Hương cho rằng, đẹp không phải là một cái tội, bởi con người sinh ra đâu được quyền lựa chọn đẹp xấu hay giới tính của mình Người phụ nữ vốn khi sinh ra đã mang danh xưng “phái đẹp”, có chăng tội lỗi hay không chính là ở tâm lí của người thưởng thức cái đẹp, những bậc nam nhi, “hiền nhân quân tử” Qua đây, nhà thơ còn vạch trần những điều mà Nho gia mặc nhiên luôn quan niệm tốt đẹp cho những đấng vua chúa, hiền nhân quân tử Họ cũng là

con người mắt trần da thịt “Thịt da ai cũng thế mà thôi” (Trống thủng), cũng biết

lay động trước cái đẹp, không lí gì giáo lí nhà Nho cứ bắt họ phải khuôn khổ, phải khác đi, phải kiềm cái tính chất đang “sống” của mình, để rồi khiến tất cả trở nên kệch cỡm và buồn cười vô cùng trong mắt thiên hạ: “Quân tử dùng dằng đi chẳng

dứt/ Đi cũng dở ở không xong” (Thiếu nữ ngủ ngày) Đã là con người thì ai cũng

biết yêu, biết ghét, biết lay động,…cớ gì phải cố nén đi cái bản chất rất “người” của mình để rồi phải lén lút, phải giấu diếm, tự làm mình xấu đi, dở đi trong mắt người khác Nho giáo thường cho rằng nữ nhi là thường tình, xã tắc mới là quan trọng, và

cứ cố xây dựng con người đệ tử Nho gia phải theo mô hình thánh nhân – không nên

có những xúc cảm thường tình, thế cớ vì sao bao bậc quân tử cũng không tránh

được cái “thường tình” đó: “Chúa dấu vua yêu một cái này” (Cái quạt) Xét cho

cùng cũng dễ hiểu bởi đó chính là sự sống, không có sự say mê phận nữ nhi thường tình ấy thì làm sao có con người để làm nên xã tắc Hồ Xuân Hương đã thẳng thừng phản bác lại sự cấm kị đầy nghịch lí ấy Con người đang sống hây hẩy thanh tân nhà Nho lại không cho là sự sống, là cái đẹp mà lại cho thiên nhiên là nguồn gốc sinh ra nhân cách cao quí Với họ, thiên nhiên là mẫu mực, là cái đẹp, là hoàn mĩ, chỉ có những con người cao quí mới sánh cùng thiên nhiên, đối diện với thiên nhiên Những kẻ độc ác, xấu xa sẽ vĩnh viễn bị cầm tù, lưu đày trong cuộc sống xã hội, trong cái hằng ngày trần tục bụi bặm, đáng khinh, đáng ghét Ta có thể thấy điều này qua rất nhiều nhà Nho lỗi lạc xưa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm,…tất cả đều chọn cách tìm về với thiên nhiên ẩn dật, lánh xa sự đời bon chen để trốn tránh xã hội xô bồ, để tìm cái thanh cao cho mình, để giữ cái phẩm

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2001), Hồ Xuân Hương – thơ trữ tình, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương – thơ trữ tình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Bùi Hạnh Cẩn (1995), Hồ Xuân Hương: thơ chữ Hán, chữ Nôm, giai thoại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương: thơ chữ Hán, chữ Nôm, giai thoại
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
3. Xuân Diệu (1959), Ba thi hào dân tộc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thi hào dân tộc
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1959
4. Xuân Diệu (1987), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
5. Hoàng Xuân Hãn (1995), Hồ Xuân Hương – thiên tình sử, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương – thiên tình sử
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
6. Đỗ Đức Hiểu (1990), “Thế giới thơ nôm Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Văn học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thơ nôm Hồ Xuân Hương
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1990
7. Đinh Gia Khánh (2000), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Lê Đình Kỵ (1995), Hồ Xuân Hương – thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương – thơ và đời
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
9. Lê Đình Kỵ (2000), Phê bình và nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
10. Đặng Thanh Lê (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Nguyễn Lộc (1982), Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hương
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1982
12. Nguyễn Lộc (1982), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1982
13. Trần Thanh Mại (1961), “Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương
Tác giả: Trần Thanh Mại
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu khoa học
Năm: 1961
14. Trần Thanh Mại (1964), “Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Văn học (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương
Tác giả: Trần Thanh Mại
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1964
15. Nguyễn Đăng Na (1991), “Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian”, Tạp chí văn học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1991
16. Lữ Huy Nguyên (1998), Hồ Xuân Hương – thơ và đời, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương – thơ và đời
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1998
17. Nhiều tác giả (2001), Hồ Xuân Hương về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương về tác gia tác phẩm
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Nhiều tác giả (2007), Giáo trình Văn trung đại Việt Nam (tập 2), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn trung đại Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
19. Nhiều tác giả (2007), Hồ Xuân Hương tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương tác phẩm và lời bình
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
20. Nguyễn Hữu Sơn (1991), “Tâm lí sáng tác trong thơ nôm Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Văn học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí sáng tác trong thơ nôm Hồ Xuân Hương”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w