ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON --- Đề tài: THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN THƯỜNG GẶP Ở TRẺ 3-4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Lệ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-
Đề tài:
THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN THƯỜNG GẶP Ở TRẺ 3-4
TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Lệ Ca
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Vũ Đình Ngàn
Trang 2Lời cảm ơn
Lời đầu tiên của khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục
Tiểu học – Mầm non trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã nhiệt tình truyền đạt những
kiến thức cần thiết cho em trong quá trình học tập tại trường Đặt biệt em xin gửi lời cảm
ơn chân thành nhất đến thầy Vũ Đình Ngàn, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học – Mầm
non, người đã hướng dẫn em chu đáo, tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận này
Xin cảm ơn tập thể giáo viên và các cháu trường Mầm non 20/10, trường Mầm
non 19/5 và trường Mầm non Tuổi thơ – Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện tốt nhất
giúp đỡ em có được thông tin số liệu
Em cũng gửi lời cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè và các bạn lớp 11SMN1 đã
giúp đỡ động viên em trong thời gian nghiên cứu đề tài
Vì lần đầu tiên làm khóa luận tốt nghiệp, kinh nghiệm và năng lực của bản thân có
hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn Em xin chân thành
cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Lệ Ca
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN THƯỜNG GẶP Ở TRẺ MẦM NON 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1.1 Sơ cứu 6
1.1.1.2 Tai nạn 6
1.2 Tổng quan về một số tai nạn thường gặp ởtrẻ mầm non 7
1.2.1 Khái niệm tai nạn thường gặp 7
1.2.2 Một số tai nạn thường gặp ở trẻ mầm non 7
1.3 Đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non. 11
1.4 Đặc điểm giải phẩu – sinh lí của trẻ 14
1.4.1 Đặc điểm của hệ thần kinh 14
1.4.2 Đặc điểm của hệ hô hấp 17
1.4.3 Đặc điểm của hệ tiêu hóa 18
1.4.4 Đặc điểm của hệ cơ 19
1.4.5 Đặc điểm của hệ xương 20
1.4.6 Đặc điểm của da 21
1.4.7 Đặc điểm của hệ tuần hoàn 22
Trang 41.5 Các yếu tố chi phối khả năng sơ cứu tai nạn của giáo viên cho trẻ mầm non. 25
Trang 51.5.1 Kiến thức, hiểu biết 25
1.5.2 Kỹ năng 28
1.6 Kết luận chương 1 28
Chương 2 THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN Ở TRẺ 3-4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON 29
2.1 Mục tiêu của việc chăm sóc giáo dục hiện nay 29
2.2 Nội dung về một số tai nạn thường gặp ở trẻ mầm non 31
2.3 Bảng thống kê các tai nạn thường gặp hay xảy ra đối với trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non 19/5, trường 20/10 Quận Hải Châu – Thành phố Đà Nẵng 35
2.3.1 Tai nạn thường gặp ở trẻ 3-4 tuổi tại trường mầm non 19/5 35
2.3.2 Tai nạn thường gặp ở trẻ 3 -4 tuổi tại trường mầm non 20/10 36
2.4 Tìm hiểu thực tế việc sơ cứu tai nạn cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 36
2.4.1 Tình hình trẻ bị các tai nạn thường gặp ở Việt Nam 36
2.4.2 Tình hình thực tế việc sơ cứu tai nạn cho trẻ ở các trường mầm non 37
2.4.2.1 Mục đích điều tra 37
2.4.2.2 Đối tượng điều tra 37
2.4.2.3 Nội dung điều tra 37
2.4.2.4 Phương pháp tiến hành 37
2.4.2.5 Kết quả điều tra 38
2.5 Một số tai nạn thường gặp ở trẻ, cách xử trí, sơ cấp cứu và một số cách phòng tránh 42
2.6 Kết luận chương 2 72
PHẦN 3: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 73
3.1 Kết luận 73
3.2 Kiến nghị 74
3.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH
Bảng 1.1: Bảng kích thước thực quản để tham khảo khi đặt ống thông< 2 tháng: 0,8
– 0,9 cm đường kính 19
Bảng 1.2: Huyết áp của trẻ theo lứa tuổi 24
Bảng 1.3: Kết quả thể hiện mức độ nhận thức về khái niệm sơ cấp cứu của giáo viên mầm non 38
Bảng 1.4: Kết quả thể hiện mức độ nhận thức về tầm quan trọng sơ cứu cho trẻ của giáo viên các trường mầm non 39
Bảng 1.5: Nhận thức của giáo viên về các yêu cầu cần có cho người sơ cứu 40
Bảng 1.6: Ý kiến của giáo viên về các nguyên nhân dẫn đến tai nạn thường gặp cho trẻ 40
Bảng 1.7: Những khó khăn giáo viên thường gặp khi sơ cứu cho trẻ 41
Hình 1.1: Cấu tạo của tim 23
Hình 1.2: Tóm tắt sơ đồ sơ cấp cứu 27
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đảm bảo xây dựng một thế
hệ kế tiếp có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ đất nước Đại hội Đảng khóa
IX đã xác định “ Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người”
Vì vậy, hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Đặc biệt, giáo dục mầm non có một vị trí rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống quốc dân,là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chăm sóc- giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của Đất Nước Việt Nam đang có một bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường đi đến xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc.Trẻ
em hôm nay là thế giới ngày mai,trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại và được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng Vì thế,giáo dục con người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người đối với xã hội, đối với cộng đồng
Trẻ em là công dân của xã hội,là thế hệ tương lai của Đất Nước nên ngay
từ thuở lọt lòng chúng ta cần chăm sóc, giáo dục trẻ thật chu đáo Giáo dục tốt trẻ ở giai đoạn này là chớp được thời cơ trong công tác chăm sóc, giáo dục con người Bởi vì ở lứa tuổi này, sự phát triển về thể chất và tâm lí diễn ra mạnh nhất Vì vậy, khi nuôi dạy trẻ Mầm non từ 3 tháng đến 6 tuổi, yêu cầu
Trang 8nhà Giáo dục, nhất là các cô giáo cần đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ vì nó
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo con người phát triển toàn diện, đòi hỏi người Giáo viên mầm non cần phải có kĩ năng, kĩ xảo để bảo vệ trẻ Trẻ mầm non rất hiếu động, luôn tò mò, muốn tìm hiểu mọi vật xung quanh Trẻ lại chưa biết phân biệt rõ đúng,sai; chưa có khả năng tự bảo vệ bản thân mình nên xảy ra tai nạn là điều không thể tránh khỏi Nhất là đối với trẻ
từ 3- 4 tuổi chưa thể tự ý thức được rằng việc đó là nguy hiểm đối với trẻ Đối với trẻ, thời gian hoạt động vui chơi diễn ra ở trường là chủ yếu Nhưng thực tế hiện nay, với cơ sở vật chất chưa đảm bảo, hệ thống y tế còn hạn chế Bên cạnh đó, đa số tại các trường mầm non số lượng giáo viên quá ít
mà số trẻ thì đông, gây khó khăn trong việc kiểm soát nên dễ xảy ra tai nạn ngoài ý muốn như chảy máy,gãy xương do té ngã, xô đẩy lẫn nhau; bỏng; điện giật; dị vật đường thở, ngộ độc…Khi xảy ra tai nạn, nếu không biết cách
sơ cứu kịp thời, hợp lí sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường Vì vậy, vai trò của người giáo viên mầm non trong việc sơ cứu cho trẻ khi gặp tai nạn là hết sức quan trọng, để có những cách xử lí khéo léo, khoa học các tai nạn xảy ra, đảm bảo mức độ an toàn tuyệt đối cho trẻ là cần thiết
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước Muốn vậy, trẻ em phải là những con người được phát triển toàn diện, phải được đảm bảo an toàn về cả thể chất và tinh thần Chúng ta thử nghĩ xem, nếu một con người có tinh thần phát triển tốt trong khi mang một thân hình khiếm khuyết, tật nguyền thậm chí là tử vongthì có thể thực hiện được mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là phát triển toàn diện con người, xứng đáng là chủ nhân của tương lai hay không? Với nhữnghiểu biết của bản thân cũng như vai trò là người giáo viên mầm non trong tương lai,để khắc phục những tai nạn thường gặp cho trẻ,từ
những lý do trên mà tôi chọn đề tài“Thực trạng sơ cứu tai nạn thường gặp ở
trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non” với mong muốn nâng cao hiệu quả
Trang 9trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng việc sơ cứu các tai nạn thường gặp cho trẻ 3- 4 tuổi
ở trường mầm non để thấy được tính nghiêm trọng của việc sơ cứu tai nạn thường gặp ở trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sơ cứu các tai nạn thường gặp cho trẻ mầm non
Tìm hiểu thực tế việc sơ cứu tai nạn cho trẻ 3- 4 tuổi ở các trường mầm non
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình sơ cứu các loại tai nạn cho trẻ của giáo viên ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc sơ cứu các loại tai nạn thường gặp cho trẻ của giáo viên mầm non
+ Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc sơ cứu tai nạn thường gặp cho trẻ 3 -4 tuổi ở các trường mầm non
+ Thời gian: Đề tài nghiên cứu một số tai nạn thường gặp ở trường mầm non và cách sơ cứu của giáo viên
4 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên vận dụng được nhiều biện pháp sơ cứu phù hợp khi trẻ xảy ra tai Snạn thì sẽ bảo đảm mức độ an toàn cao cho trẻ; từ đó, giúp trẻ có thể chất và tinh thần phát triển lành mạnh
Trang 105 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng sơ cứu tai nạn thường gặp cho trẻ 3 -4 tuổi ở các trường mầm non19/5, trường 20/10 thuộc Quận Hải Châu- ThànhPhố Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Giả thuyết khoa học
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN
THƯỜNG GẶP CHO TRẺ MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu
Vào năm 2008 – 2009, một nhóm nghiên cứu gồm: CNĐT – Ths Vũ Yến Khanh, cùng các thành viên: Ths Nguyễn Thị Sinh Thảo; Ths Bùi THị Kim Tuyến; Ths.Nguyễn Thị Cẩm Bích đã nghiên cứu đề tài: Một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em trong trường mầm non Về lí luận nhóm nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến tai nạn thương tích ở trẻ như: + Do thiếu sựgiám sát, chăm nom của cha mẹ, cô giáo nên trẻ có thể tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích một cách dễ dàng
+ Do người lớn chăm nom trẻ nhưng không được hướng dẫn cách sơ cứu cho trẻ và không có tủ thuốc cấp cứu
+ Giới tính: Trẻ trai do bản tính hiếu động nên thường có xu hướng dễ bị tại nạn thương tích hơn trẻ gái
+ Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tai nạn thương tích ở trẻ em như: trẻ thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, tai nạn vào ngày nghỉ,…
Về thực tiễn, nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu nguyên nhân xảy ra tai nạn ở trường và cùng đó là đề ra một số biện pháp phòng tránh một số tai nạn thương tích ở trường mầm non
Năm 2014, giảng viên, Ths Trần Hồ Uyên trườngĐại Học SưPhạm Đà nẵng đã biên soạn giáo trình, làm tài liệu chính cho sinh viên đó là bài giảng
sơ cứu các tai nạn thường gặp cho trẻ mầm non Trong tài liệu cô đưa ra các khái niệm, tầm quan trọng của việc sơ cứu, cũng như yêu cầu, nguyên tắc khi
sơ cứu.Đồng thời, đưa ra cách sơ cứu một số tai nạn như: ngưng tuần hoàn-
hô hấp;dị vật đường thở ;bỏng; gãy xương …
Trang 12Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu viết về tai nạn ở trẻ, cũng như bài giảng về sơ cấp cứu như: Phan Thị Hoàng Ngân (2013) với cuốn: bài giảng sơ cứu ban đầu cho trẻ mầm non; Minh Nguyệt (2004): Hướng dẫn cấp cứu cho trẻ tại nhà ( Nhà xuất bản Thanh Niên)…
Nhìn chung, các công trình đã quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau về vấn đề tai nạn và sơ cứu Tuy nhiên, chưa có nhà nghiên cứu nào nghiên cứu thực trạng sơ cứu tai nạn thường gặp cho trẻ 3- 4 tuổi ở trường mầm non thuộc Quận Hải Châu- Thành Phố Đà Nẵng
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Thương tích hay còn gọi là chấn thương, không phải là tai nạn, mà là những sự kiện có thể dự đoán trước được và phần lớn có thể phòng tránh được Thương tích gây ảnh hưởng mức độ khác nhau đến sức khỏe do những tác động từ bên ngoài như tác nhân cơ học, nhiệt, hóa chất hoặc chất phóng xạ….với mức quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các thành phần cơ bản của sự sống như thiếu oxy hoặc hạ thân nhiệt
Tai nạn thương tích có thể xảy ra với bất cứ ai, bất cứ hoàn cảnh nào: lao động, vui chơi, giải trí và ngay cả trong gia đình Tai nạn thương tích gây ra tổn thương cho cơ thể tùy theo mức độ và sự nguy hiểm, cũng tùy thuộc theo lứa tuổi, người lớn hay trẻ em, hay mức độ nguy hiểm của môi trường xảy ra
Trang 13tai nạn với số người tại hiện trường Tất cả tai nạn thương tích cần phải được
sơ cấp cứu trước khi chuyển đến cơ sở y tế.[1]
1.2 Tổng quan về một số tai nạn thường gặp ởtrẻ mầm non
1.2.1 Khái niệm tai nạn thường gặp
Tai nạn thường gặp ở trẻ là các tai nạn hay gặp ở trẻ có thể có hoặc không có nguyên nhân rõ ràng tác động đến sức khỏe và đời sống của trẻ
1.2.2 Một số tai nạn thường gặp ở trẻ mầm non
Ngưng tuần hoàn – hô hấp: Khi trẻ bị ngưng toàn hoàn hô – hấp trẻ
sẽ mất tri giác, ngừng thở có thể ngừng tim.Vì vậy, cần phải cấp cứu ngừng tim, ngừng thở nhằm mục đích cung cấp cho trẻ tuần hoàn nhân tạo, hô hấp
nhân tạo và phục hồi tuần hoàn có hiệu quả.[1-tr10]
Dị vật đường thở, đường ăn:
- Dị vật đường thở: Là tình trạng nạn nhân bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn đường thở Một người khỏe mạnh, đột nhiên xuất hiệnhội chứng xâm nhập gồm các dấu hiệu sau :
+ Tắc không hoàn toàn: Cố ho khạc để tống dị vật ra ngoài;mặt đỏ, chảy nước mắt, mũi hoặc có biểu hiện khó thở, thở bất thường
+ Tắc hoàn toàn: Không nói được, tay ôm lấy cổ; trong tình trạng khó thở, cố gắng thở, mắt trợn ngược, vẻ mặt hoảng hốt; mặt đỏ các mạch máu ở
cổ nổi phồng hoặc môi và lưỡi tím tái dần
- Dị vật đường ăn [3]: Sau khi bị hóc dị vật nạn nhân thấy nuốt đau và
khó, không ăn uống được Có nhiều triệu chứng :
+ Giai đoạn đầu: Sau khi mắc dị vật, nạn nhân hay có cảm giác vướng, nuốt thức ăn hoặc nuốt nước bọt rất đau, thường không ăn được nữa mà phải
bỏ bữa ăn và đau ngày càng tăng
+ Giai đoạn viêm nhiễm: Dị vật gây ra xây xác niêm mạc thực quản hoặc thủng thành thực quản Nếu dị vật là xương lẫn thịt thì nhiễm khuẩn càng
Trang 14nhanh Sau 1-2 ngày, các triệu chứng nuốt đau, đau cổ, đau ngực tăng dần, ứ đọng mước bọt, đườm vãi, hơi thở hôi
Bỏng: Bỏng không những làm đau đớn mà còn làm chết người Diện
tích da bị bỏng càng rộng thì bỏng càng nặng Diện tích bỏng nhỏ và nông thì không gây nguy hiểm.Bỏng gây tổn thương da, tổ chức dưới da, cơ, xương, niêm mạc đường thở, thực quản Tình trạng của vết bỏng dựa trên mức độ và diện tích của vết bỏng :
- Bỏng nhẹ:Độ 1 (bỏng nông ở biểu bì, vùng da đỏ hoặc tím);độ 2(bỏng sâu ở biểu bì, da đỏ nổi phồng nước)10%- 20% diện tích da trên cơ thể nị bỏng; độ 3 (bỏng sâu, da bị tuột, có khi qua lớp mỡ vào xương, da trắng bợt hoặc đen và đau đớn ) dưới 3% diện tích da trên cơ thể bị bỏng
- Bỏngvừa: Bỏng độ 1; độ 2 từ 10% - 20% diện tích da dưới 10% diện tích da trên cơ thể bị bỏng
- Bỏng nặng: Bỏng độ 2 trên 20% diện tích da trên cơ thể bị bỏng hay bỏng sâu trên 10% diện tích cơ thể hoặc bỏng ở phần đầu, mặt, cổ, sinh dục, tổn thương niêm mạc khi hít phải chất bỏng, hoặc bỏng có gẫy xương
Nếu trẻ bị bỏng toàn thân: Có thể bị sốc, bị nhiễm độc, nhiễm khuẩn, suy mòn do bỏng gây nên
Điện giật: Đây là tai nạn nguy hiểm đối với trẻ Nhiều trường hợp xảy
ra khi trẻ bị điện giật :
- Trường hợp nhẹ: Khi dòng điện qua cơ thể trong thời gian ngắn, trẻ bị giật co cứng, rối loạn nhịp tim Sau khi bị giật và thoát khỏi nguồn điện, cơ co cứng và rối loạn nhịp tim sẽ hết nhanh
- Trường hợp nặng: Khi dòng điện chạy qua cơ thể lâu sẽ gây cho trẻ mất
ý thức nhanh Nếu dòng điện tiếp tục qua cơ thể, trẻ có thể ngừng thở, tim ngừng đập và chết trong vài phút nếu không được cứu kịp thời
- Bỏng: Tùy chỗ tiếp xúc với dòng điện lớn hay nhỏ, dòng điện mạnh
Trang 15hay yếu, thời gian tiếp xúc dài hay ngắn mà chỗ tiếp xúccó thể bị bỏng : Nhẹ nhất là da bị đỏ hoặc tím tái; nặng hơn là bị xạm đen như bị cháy, cơ thể bị nát mất huyết tương
Chảy máu [1-tr35]: Được phân loại bằng hai cách là theo hệ mạch và
+ Chảy máu ngoài là máu chảy ra từ vết thương trên cơ thể (nhìn thấy được)
- Triệu chứng và dấu hiệu của mất nhiều máu:
+ Bằng chứng của sự mất máu: có thể có hoặc không
+ Tiến triển dần tới tình trạng “sốc”
Ngộ độc thực phẩm: Gây rối loạn tiêu hóa : nôn,ỉa chảy, đau bụng
…các axit mạnh trong thức ăn có thể gây tổn thương đường tiêu hóa : viêm loét môi, lưỡi, miệng; Tổn thương hô hấp: nhịp thở không đều, ngừng thở, thở
Trang 16dồn dập, tím tái ; Rối loạn tim mạch : mạch nhanh, huyết áp hạ; Tiết niệu : Viêm thận, đái ít hay vô hiệu; Thần kinh : nhức đầu, vật vã, co giật, hôn mê, giảm trí nhớ….Ngoài ra, còn có thể gây tổn thương da, giảm trương lực cơ, mắt mờ, co đồng tử…
Đuối nước: Là tai nạn do trẻ té xuống ao, hồ hoặc các vật chứa nước
Khi trẻ bị ngập nước, chỉ trong vài giây là bắt đầu thiếu oxi, sau 2 -4 phút tuần hoàn hoạt động kém Sau 3- 6 phút ảnhhưởng đến hệ thần kinh Ngay khi nước vào họng có hiện tượng co thắt thanh quản, vài phút sau nạn nhân hít vào một lượng nước lớn
Gãy xương: Được chia làm 2 loại chính là gãy xương kín và gãy
xương hở và cả 2 đều có thể là gãy xương biến chứng
- Triệu chứng và dấu hiệu chung của gãy xương là:
+ Nạn nhân có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng kêu “lạo xạo”, “răng rắc” của xương gãy
+ Đau ở chỗ chấn thương hoặc vị trí gần đó; đau tăng khi vận động + Giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng vận động hoặc có các cử động bất thường
+ Có phản ứng tại chỗ gãy khi ấn nhẹ lên vùng bị thương
+ Sưng nề và sau đó bầm tím ở vùng chấn thương
+ Biến dạng tại vị trí gãy như: chi gãy bị ngắn lại, gập góc hay xoắn vặn
+ Có các triệu chứng của sốc Tình trạng sốc thường xảy ra và được nhận thấy rõ khi gãy xương đòn hoặc vỡ xương chậu
Tuy nhiên, không phải tất cả các xương đều có dấu hiệu và triệu chứng trên Để tìm ra dấu hiệu của gãy xương phải dựa vào sự quan sát, không nên
di chuyển hay vận động khi không cần thiết
Say nắng: Hệ thống miễn dịch của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh nên
Trang 17khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trẻ rất dễ bị say nắng Khi có triệu chứng say nắng nhiệt độ cơ thể sẽ nóng hơn bình thường và đột ngột tăng cao Biểu hiện đầu tiên là mô hôi vã ra rất nhiều; tiếp đó do cơ thể mất nước nên da trở nên khô, môi nhợt nhạt, mặt nóng ran, hơi thở yếu, mặt dại đi, mệt và buồn nôn…Đặc biệt, nếu nặng trẻ có thể chân tay co thắt, co giật và hôn mê
Động vật, côn trùng cắn: Do còn nhỏ nên trẻ chưa ý thức được, chưa thể bảo vệ mình nên rất dễ bị động vật – côn trùng cắn
+ Khi bị ong đốt: Tùy theo từng loại ong mà có các dấu hiệu nhận biết
khác nhau Nếu các loại ong không độc thì chỉ đau, sưng sau đó là hết Khi gặp các loài ong độc nó sẽ gây nhứt, khó chịu vì trong vòi ong có độc; trường hợp nặng hơn có thể nôn ói, tim đập nhanh, khó thở, toàn thân bị phù nề, tụt huyết áp gây nguy hiểm đến tính mạng
+ Khi bị rắn cắn: Chỉ sau vài phút rắn độc cắn, xung quanh vết cắn bị
phù nề, tấy đỏ Trẻ thấy nhứt buốt chỗ cắn và dọc theo đường bạch mạch xung quanh vết cắn Sau 30 phút hay một giờ trẻ vã mồ hôi, mặt tái nhợt, nôn
ọe, ỉa chảy, mạch nhanh
+ Khi bị chó (mèo) cắn: Là một tai nạn khá phổ biến, khá nguy hiểm, rất
dễ gặp đặc biệ là với trẻ nhỏ Thường thì vết thương có dấu bầm tím, rách da, chảy máu Nếu con chó đó bị dại thì gây nguy hiểm đến người bị cắn, cần phải tiêm phòng ngay
1.3 Đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non
Trẻ em, nhất là trẻ mẫu giáo muốn là trung tâm chú ý của người lớn Khi trẻ làm được việc gì mà trẻ cho là “ xuất sắc” nhưng với người lớn thì họ cho rằng rất bình thường, trẻ thường cáu giận, quấy khóc cho đến khi được người khác công nhận Trẻ không thích bị chê trong tuổi này và rất dễ tủi thân, hay vùng vằng, làm mình mẩy để được dỗ dành
Đây là thời gian trẻ bắt đầu học hỏi, bắt chước những người xung quanh
Trang 18nên rất nhạy cảm với phản ứng của người lớn và cũng để ý xem những trẻ khác được khen vì nguyên do gì Nhiều người khen không đúng dễ dẫn đến mất lòng tin ở trẻ có thể khiến trẻ đâm ra giận và ghét bạn khác ở tuổi này trẻ chưa đủ vốn từ và dũng cảm để nói ra hết mọi chuyện Vì vậy, khi thấy 2 đứa trẻ có xích mích, người lớn cần tìm hiểu nguyên do, đừng bênh vực con mình
mà bỏ qua sự thật
Đặc điểm tâm lí trẻ 3 -4 tuổi cụ thể sau:
- Trẻ 3 tuổi có đặc điểm sau :
+ Trẻ đã biết cách thể hiện cảm xúc của mình: Ở tuổi lên ba, trẻ cảm thấy tự tin hơn rất nhiều, không còn rụt rè, nhút nhát với mọi người nữa Trẻ
tỏ ra cởi mở hơn ngay cả khi đối với người lạ Tuy nhiên điều này còn tùy thuộc vào cá nhân của từng trẻ, có trẻ còn chủ động làm quen với người lạ nữa Trong những tình huống quen thuộc, bé cảm thấy hoàn toàn thoải mái, mặc dù đôi lúc trẻ hơi e dè, thậm chí còn chạy vù đến ôm chầm lấy cha mẹ để
có cảm giác thoải mái hơn Lúc này, trẻ cũng đã có sự tự ý thức về cảm xúc rất rõ rệt, trẻ đã biết xấu hổ khi ai đó lên án Thậm chí, chúng có thể nhận xét mình (thông qua nhận xét của người lớn hoặc liên hệ với các nhân vật trong truyện) Trẻ tự ý thức hành động của mình theo thời gian: Quá khứ, hiện tại, tương lai, trẻ đã biết bày tỏ tình cảm của mình với những người thân yêu và
có những người bạn thân mến
+ Tuổi lên ba là tuổi trẻ bắt đầu hình thành ý thức về bản thân mình, biết mình có riêng, mình là con gái hay con trai, phân biệt mình với thế giới xung quanh Lúc này, trẻ có khả năng tự ý thức về bản thân và nảy sinh ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác, trẻ bắt đầu thích nghe đánh giá và nhận xét về mình và trẻ thích được khen Cái “tôi” rõ nhất của trẻ khi trẻ muốn tự làm mọi việc, muốn có quyền đối với mọi vật xung quanh, muốn trở thành người lớn ngay tức khắc, không muốn can thiệp vào hoạt động của
Trang 19mình Mong muốn được làm người lớn, được độc lập là động lực thúc đẩy sự phát triển cái “tôi” của trẻ lên ba
+ Trẻ quan tâm nhiều hơn đến thế giới xung quanh: trẻ có ý thức và nhạy cảm hơn với thế giới trẻ sống, trẻ đã sẵn sang đáp lại tương tác của người lớn, biết chờ đợi nếu chưa đến lượt mình và chia sẻ đồ chơi với người khác Ý thức về thời gian của trẻ trở nên rõ ràng hơn Trẻ thể hiện sự quan tâm bằng việc luôn tò mò muốn tìm hiểu khám phá tính chất của sự vật, dần dần biến cái đồ chơi đó thành môn luyện tập các kỹ năng đơn giản, đồng thời, bắt đầu biết dùng các vật thể đó làm các trò chơi theo trí tưởng tượng của trẻ Trẻ chú
ý hơn đến các vật dụng trong gia đình cùng các vật dụng xung quanh, chăm chú hơn với những vật phát sinh ngoài cửa sổ, cử chỉ hành động của người lớn cũng rơi vào tầm ngắm của trẻ Nếu trẻ trở nên thích nghịch nước, nó có thể nghịc nước với nhiều hình thức khác nhau hoặc thích chơi bong như ném hoặc đá bong, sau đó lại nhặt lên đó là lúc trẻ đang khám phá thế giới xung quanh theo cách riêng của trẻ
+ Có thể xuất hiện những “khủng hoảng tuổi lên ba”: Trẻ trở nên tiêu cực, bướng bỉnh hơn trong quan hệ xã hội với những người xung quanh nên đôi lúc trẻ không chịu phục tùng một số yêu cầu của người lớn Trẻ cũng có thể ngoan cố hơn, có những phản ứng đối với những quyết định của chính mình, thể hiện ở chỗ trẻ kiên quyết nghiêng về phía sự thõa mãn đòi hỏi của bản thân, sự quyết định của chính mình Trẻ cũng có thể đột nhiên tự nhiên hơn trong hành vi, trẻ muốn tự mình làm điều gì đó không cần sự giúp đỡ của người lớn nữa, và hướng đến sự độc lập về mặt vận động của trẻ Khủng hoảng tuổi lên ba
nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng đến tính cách trẻ sau này.[1]
- Trẻ 4 tuổi có những đặc điểm sau:
+ Lúc lên 4 tuổi trẻ càng ý thức mình là một thành viên trong một tập thể Chúng dành phần lớn thời gian để tạo dựng và giữ vững vị trí với các trẻ
Trang 20cùn trang lứa Chúng cũng dễ dàng sử dụng vốn từ vựng của mình để khen, chê và “chỉnh” những trẻ khác nhằm hướng sự chú ý vào khả năng của chúng
và thuyết phục các bạn cùng chơi chấp nhận ý tưởng của chúng
+ Trẻ thích chơi với các trẻ khác, có thể dọa dẫm hoặc hứa hẹn để giành lấy một đứa bạn hoặc được “kết nạp” vào một nhóm Vậy nên ở trường thường nghe thấy câu “Mình không chơi với bạn đâu” hoặc “Mình làm bạn của nhau nhé”
+ Trẻ 4 tuổi cần nhiều thời gian để chơi, vì trò chơi nào của chúng cũng
có thể chơi được cả, đặc biệt là trò “siêu nhân” “quái vật” Mặc dù đã biết chia sẻ đồ chơi với nhau và thay phiên chơi chung một món đồ nhưng chuyện giành đồ chơi với nhau giữa các trẻ vẫn xảy ra “Chiến tranh” thường bắt đầu bằng cãi nhau và kết thúc bằng việc xô đẩy nhau, đấm, đá…
+ Trẻ thích khám phá những điều mới lạ như đu xích đu, nhớ tên các loại khủng long, đếm từ 1 – 20 và chơi game trên máy tính Chúng tin vào những
gì chúng thấy, chạm tay vào Ở tuổi này, trẻ cũng rất tò mò và rất thích hỏi
“Tại sao”…
1.4 Đặc điểm giải phẩu – sinh lí của trẻ
1.4.1 Đặc điểm của hệ thần kinh
Hệ thần kinh là một trong những cơ quan quan trọng trong cơ thể người.Nó được hình thành dưới dạng ống hoặc mạng lưới kéo đi khắp cơ thể Kết hợp với não bộ, các dây thần kinh có nhiệm vụ truyền tín hiệu xuống mọi nơi trên cơ thể, đặc biệt là chi trên, chi dưới…
• Sự phát triển hệ thần kinh:
Sự phát triển quan trọng nhất là sự myelin hóa các tổ chức thần kinh Từ 1 –
2 tuổi vỏ não phát triển nhiều hơn, từ 6 – 10 tuổi tổ chức vỏ não khá đầy đủ
• Hệ thần kinh trung ương :
Trang 21- Gồm não bộ và tủy sống :
+ Não: Nằm trong hộp sọ được bao bọc và nuôi dưỡng bởi các màng não
và hệ thống tưới máu não Trọng lượng não sơ sinh 370 – 390gam (1/8 – 1/9 trọng lượng cơ thể), trong khi não người lớn khoảng 1400 gam ( 1/40 – 1/50 trọng lượng cơ thể), não phát triển nhanh trong năm đầu (1 tuổi: 900 gam) Não trẻ từ 7 -8 tuổi phát triển chậm lại
+ Tủy sống: Nằm trong ống sống, trọng lượng lúc mới sinh từ 2 – 6 gam, đến năm 5 tuổi tăng gấp 3 lần Chóp cùng của tủy sống trẻ sơ sinh ngang thắt lưng thứ 3 (L3)
- Hệ thần kinh thực vật: Gồm các sợi thần kinh đi từ hệ thần kinh trung ương đến các cơ trơn, cơ tim và biểu mô tuyến thực hiện chức năng một cách
tự động Hệ thần kinh này chia làm 2 phần: hệ giao cảm và hệ phó giao cảm hoạt động theo nguyên tắc đối lập nhau; tuy nhiên thời kỳ sơ sinh hệ giao cảm chiếm ưu thế hơn
- Hệ giao cảm có 2 trung tâm :
+ Trung tâm cao: Phía sau vùng dưới đồi
+ Trung tâm thấp: Nằm ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt ngực 1 đến đốt thắt lưng 3
- Hệ phó giao cảm có 2 trung tâm :
+ Trung tâm cao: Nằm ở phía trước vùng dưới đồi
+ Trung tâm thấp: Nằm ở 2 nơi: Phía trên nằm ở than não, theo dây III,VII,IX, X đi đến các cơ quan ở vùng mặt và các tạng trong ổ bụng Phía dưới: ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt cùng 2 đến cùng 4 (S2 – S4) rồi theo dây thần kinh chậu đến phần dưới ruột già, bang quang và cơ quan sinh
dục Thời kì 3 – 6 tuổi hệ giao phó chiếm ưu thế hơn.[3]
- Đặc điểm sinh lí:
Trang 22+ Do tế bào não chưa biệt hóa, các sợi trục thần kinh chưa được myelin hóa nên phản ứng của vỏ não có xu hướng lan tỏa Bất kỳ một kích thích nào dù là nhỏ cũng có thể gây nên một phản ứng toàn than (ví dụ phản ứng bắt chộp) + Do vỏ não và thể vân chưa phát triển nên các hoạt động dưới vỏ não chiếm ưu thế
+ Trong những năm đầu để đảm bảo cho não có thể phát triển nhanh về khối lượng cũng như về chất lượng, nhu cầu oxy và tuần hoàn não của trẻ cao hơn người lớn
+ Điện não đồ cũng thay đổi theo tuổi:
Trẻ sơ sinh: Hoạt động điện não tập trung vùng đỉnh và vùng trung tâm, song delta 0,5 – 3 chu kì/giây, điện thế 20 -50 microvon, sóng không đồng đều
Trẻ 1-3 tuổi: Hoạt động điện não đa số là song theta 3 – 7 chu kì/giây, điện thế 30- 40- microvon
Trẻ từ 4 tuổi trở lên: Sóng theta giảm dần, xuất hiện song alpha 8 – 12 chu kì/giây, biên độ 30 – 50 microvon
- Đặc điểm bệnh lí :
+ Do các tế bào chưa được biệt hóa, thành phần hóa học có nhiều nước, cho nên dễ xảy ra hiện tượng phản ứng màng não và dễ có những phản ứng nặng nề hơn khi bị nhiễm trùng
+ Đặc điểm và mao mạch não ở trẻ nhỏ phát triển mạnh, thành mạch mỏng và dễ nhạy cảm với hiện tượng thiếu oxy nên dễ gây ra hiện tượng xuất huyết não màng não
+ Do não bộ của trẻ nhỏ chưa nhiều nước, lạ nằm trong hộp sọ không chắc, cho nên một chấn thương nhỏ như ngã ngồi, ngã tư thế đứng đều có thể gây ra thoát vị hồi hải mã, thoát vị vách ngăn giữa hai bán cầu hoặc tổn thương trục thần kinh dẫn đến liệt nữa người trên lâm sàng
Trang 231.4.2 Đặc điểm của hệ hô hấp
• Sự phát triển về bộ máy hô hấp ở trẻ :
- Vùng mũi và họng hầu: Mũi và xoang xương cạnh mũi lúc sinh chưa hoàn thiện, phát triển dần theo tuổi Lúc mới sinh đã có xoang hàm phát triển dần và hoàn thiện lúc trẻ được 2 tuổi Xoang bướm và xoang trán phát triển từ
3 tuổi đến dậy thì
- Niêm mạc và hệ bạch huyết: Trẻ càng nhỏ niêm mạc càng mỏng, nhiều mao mạch dễ bị xung huyết, ngược lại hệ lympho ở trẻ nhỏ chưa phát triển nên dễ nhiếm trùng Hệ thống hạnh nhân phát triển tối đa khi trẻ 4 tuổi trở lên
- Thanh quản: Lòng hẹp, thành mền nên dễ bị chit hẹp do viêm, dị vật, nhấy nhớp và chèn ép Thanh quản phát triển dần theo độ tuổi
• Đường dẫn khí :
- Hệ thần kinh phó giao cảm tác động thong qua dây X gây co cơ trơn Các kích thích phó giao cảm bao gồm khói bụi, xúc động… Atropin ức chế phó giao cảm gây giãn phế quản
- Đường dẫn khí từ phế quản đến ống phế năng tăng dần về đường kính
mô đàn hồi, cùng với sự xuất hiện của những vòng cư trơn, xung quanh đường dẫn khí làm cho kháng lực ngày càng giảm Vòng sụn nhỏ dần và biến mất ở các tiểu phế quản Cấu tạo từ nay chỉ là những vòng cơ trơn, càng xuống dưới chỉ còn vài sợi cơ trơn mỏng Từ đoạn này trở đi, đường dẫn khí được mở thông qua áp lực làm mở phế nang nên rất dễ bị xẹp Đường dẫn khí quản tăng gấp 2 lần lúc 5 tuổi, phế quản gốc tăng 2 lần lúc 6 tuổi
- Tiêu phế quản tăng 40 % khi trẻ lên 2 tuổi và tăng vượt 40% khi trẻ lên
3 tuổi
• Cơ hô hấp, lồng ngực:
- Số lượng sợi cơ và hệ võng nội cơ tương (sarcoplasmic reticulum) vẫn còn tiếp tục phát triển sau sinh Trẻ sinh non, cơ hoành rất mau “mệt” do hệ
Trang 24võng nội cơ tương chưa phát triển Hệ sụn xương, cơ hô hấp tiếp tục phát triển Lúc sinh lồng ngực mềm, dễ biến dạng Từ 1 tuổi lồng ngực giống như người lớn
- Cơ hô hấp, lồng ngực của trẻ ngày càng phát triển theo độ tuổi tăng
dần, đặc biệt hệ sụn ở trẻ phát triển nhanh.[5]
1.4.3 Đặc điểm của hệ tiêu hóa
+ Ở trẻ em có 20 chiếc răng, răng của trẻ gọi là răng sữa, công thức răng trẻ em như sau:
Răng trẻ em: C N TH H
Răng sữa bắt đầu mọc từ tháng thứ 6 đến tháng 24 Từ tháng 4 -5 do sự kích thích của mầm răng, trẻ hay bị nhẻo nước bọt ra ngooài Từ 6 tuổi sẽ thay bằng răng vĩnh viễn
• Thực quản :
- Thực quản là một ống dài khoảng 25 cm Thực quản đi vào khoang bụng qua một lỗ đặc biệt ở cơ hoành Ở trẻ sơ sinh thực quản có hình chóp nón Thành thực quản còn mỏng, tổ chức đàn hồi và lớp cơ còn chưa phát triển đầy đủ nên trẻ dễ bị nghẹn Chức phận của thực quản là dồi thức ăn từ miệng xuống dạ dày
- Cơ vòng thực quản dạ dày đóng chưa chặt nên trẻ dưới 1 tuổi hay có hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản Nếu không được xử lí kịp thời trẻ có
thể có những biến chứng tại chỗ vầ toàn thân.[2-tr102]
Trang 25Bảng 1.1: Bảng kích thước thực quản để tham khảo khi đặt ống thông< 2
tháng: 0,8 – 0,9 cm đường kính
2 – 6 tháng 9- 18 tháng 2 – 6 tuổi
0,9 – 1,2 cm 1, 2 – 1,5 cm 1,3 – 1,7 cm
Chiều dài = 1/5 chiều dài cơ thể + 6,3 cm
1.4.4 Đặc điểm của hệ cơ
- Các cơ của trẻ em phát triển không đều Các cơ lớn như cơ đùi, cơ tay,
cơ vai phát triển trước, còn các cơ nhỏ như ở lòng bàn tay sau này mới phát
- Hệ cơ trẻ sơ sinh: Chiếm khoảng 25% trọng lượng cơ thể, đến khi trưởng thành hệ cơ chiếm 42% trọng lượng cơ thể Cơ trẻ em chứa nhiều
nước,ít đạm, mỡ và các muối vô cơ nên khi trẻ bị ỉa chảy thì sụt cân
- Hệ cơ trẻ em: Phát triển không đồng đều Ở trẻ dưới 6 tuổi, các cơ ở đùi, vai, cẳng chân, cánh tay phát triển sớm hơn Vì vậy, trẻ nhỏ chưa làm
được các động tác khéo léo, tỉ mỉ cần sử dụng đến những ngón tay
- Một số bệnh lí về hệ cơ thường gặp ở trẻ :
Trang 26+ Thiếu cơ bẩm sinh: Thường gặp ở cơ ngực, hoặc cơ bó ức sườn
+ Nhược cơ bẩm sinh
+ Bệnh loạn dưỡng cơ tiến triển [2-tr113]
1.4.5 Đặc điểm của hệ xương
Xương là chỗ dựa cho toàn bộ cơ thể Một số xương có nhiệm vụ bảo vệ não, tim, phổi
- Xương trẻ em chưa phát triển, hầu hết là tổ chức sụn
- Hình thể xương trẻ em khác với xương người lớn; ở trẻ sơ sinh: đầu to, than nhỏ,chân tay ngắn,xương sống thẳng, lồng ngực tròn
- Xương trẻ sơ sinh: Chứa nhiều nước, ít muối khoáng.Khi trẻ lớn thì nước giảm, muối khoáng tăng Do vậy xương trẻ em mềm và có độ chun giãn hơn Màng ngoài xương dày, nên trẻ thường bị gãy xương theo dạng cành tươi Sự tạo cốt và hủy cốt nhanh
- Điểm cốt hóa ở trẻ em: Thường ở giữa các đầu xương và xuất hiện theo từng thời kì Người ta có thể dựa vào điểm cốt hóa để xác định lứa tuổi của trẻ: 3 -4 tháng thường xuất hiện điểm cốt hóa ở xương mác; 3 tuổi: xương tháp; 4 -6 tuổi: xương bán nguyệt và xương thang; 5-7 tuổi: xương thuyền; 10 -13 tuổi: xương đậu
- Đặc điểm của một số xương :
+ Xương sọ: Ở trẻ em xương sọ phần đầu dài hơn phần mặt Hộp sọ trẻ
em tương đối to so với kích thước của cơ thể so với người lớn Hộp sọ phát triển nhanh trong những năm đầu Khi sinh ra trẻ có 2 thóp: thóp trước và thóp sau Thóp trước sẽ đóng kín khi trẻ được 12 – 18 tháng Thóp sau nhỏ hơn và sẽ đóng kín sau 3 tháng
+ Xương sống: Xương cột sống chưa ổn định Lúc sơ sinh xương cột sống rất thẳng; 2 tháng tuổi trục cột sống quay lưng về phía trước; 6 tháng tuổi cột sống quay lưng về phía sau; 1 năm tuổi cột sống vùng lưng cong về
Trang 27phía trước; 7 tuổi xương sống có 2 giai đoạn uốn cong ở cổ và ngực; tuổi dậy thì cong ở vùng thắt lưng
- Răng: Trẻ sơ sinh chưa có răng Trẻ khỏe mạnh bắt đầu mọc răng vào tháng thứ 6 Đến 2 tuổi hết thời kì mọc răng sữa Tổng số răng là 20 cái.Có thể tính số răng theo công thức :
là lớp thượng bì bong ra, được gọi là chất gây, có nhiệm vụ bảo vệ, che chở
và dinh dưỡng da; làm cơ thể đỡ mất nhiệt, có tác dụng miễn dịch
- Da trẻ em: Mềm mại, có nhiều mao mạch, lớp thượng bì mỏng, sờ vào
Trang 28mịn như nhung Tuyến mồ hôi trong 3 -4 tuần đã phát triển nhưng chưa hoạt
động Điều hòa nhiệt chưa hoàn chỉnh Tuyến mỡ phát triển tốt
- Lớp mỡ dưới da: Được hình thành từ lúc thai 7 -8 tháng Ở trẻ em, trong 6 tháng đầu lớp mỡ dưới da phát triển mạnh, bề dày trung bình từ 6 – 15
mm, trẻ gái phát triển hơn trẻ trai Lớp mỡ dưới da chưa nhiều axit béo no như axit Palmitic, axit Stearic và ít axit béo không no như Oleic hơn người
lớn
- Đặc điểm sinh lí của da [6]:
Bề mặt da của trẻ em so với trọng lượng cơ thể cao hơn người lớn Do
đó, sự thải nước theo đường da ở trẻ em lớn hơn người lớn Diện tích da ở người lớn là 1.73 m2 Diện tích da ở trẻ được tính theo công thức:
+ Chức năng điều hòa nhiệt: Di da có nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi chưa hoạt động, hệ thần kinh chưa hoàn thiện nên điều hòa nhiệt kém, trẻ dễ
bị nóng quá hay lạnh quá
+ Chức năng tiêu hóa: Ngoài chuyển hóa hơi nước, da còn cấu tạo nên các men, các chất miễn dịch, đặc biệt là chuyển hóa tiền vitamin D thành
vitamin D dưới tác dụng của tia cực tím
1.4.7 Đặc điểm của hệ tuần hoàn
Trang 29• Tim:
- Tim nằm trong lồng ngực và được bao bên ngoài bởi một lớp bao tim
Vị trí của tim phụ thuộc vào sự vận động của hô hấp Khi thở trục tim hướng
ra ngoài, khi hít vào trục tim thiên về hướng gần thẳng
Hình1.1: Cấu tạo của tim
- Trọng lượng tim: Ở trẻ sơ sinh trọng lượng tim bằng 0,9% trọng lượng
cơ thể Tim phát triển nhanh trong 2 năm đầu và trong lứa tuổi dậy thì, sau đó phát triển chậm dần : mới sinh trọng lượng tim khoảng 20- 25 gr, gấp đôi lúc
6 tháng, gấp 3 lúc 1- 2 tuổi, gấp 4 lúc 5 tuổi và gấp 6 lúc 10 tuổi
- Về hình dạng: Trẻ sơ sinh tim có hình hơi tròn, chiều ngang to hơn so với người lớn Trong năm thứ nhất tim phát triển mạnh nhất so với năm sau Đến 13 -14 tuổi tim lại phát triển mạnh một lần nữa theo kích thước của nó
- Tim là một cơ quan rỗng, có vách ngăn thành 2 nửa: nửa phải chứa máu tỉnh mạch, nửa trái chưa máu động mạch Trong mỗi nữa chia 2 ngăn :
Trang 30ngăn trên là tâm nhĩ, ngăn dưới là tâm thất Các ngăn của tim có dung dịch như sau: tâm nhĩ trái 125ml, tâm thất trái 185ml, tâm nhĩ phải 57ml, tâm thất phải 85ml
- Chu kì tim:
Chu kì tim chia làm 3 giai đoạn:
+ Chu kì tâm nhĩ co: 0,1 giây
+ Chu kì tâm thất co: 0,3 giây
+ Chu kì tim giãn toàn bộ: 0,4 giây
Tổng thời gian một chu kì tim(co, giản tim) =0,8 giây
0,8 giây ( một chu kì ) = 75 lần ( chu kì hay nhịp tim)
- Sự vận chuyển máu trong tim:
+ Tâm nhĩ thu : Khi tâm nhĩ co, áp lực máu trong tâm nhĩ tăng, lúc này van nhĩ thất đang mở, tâm nhĩ co đẩy nốt số máu từ 2 tâm nhĩ xuống 2 tâm thất (35%), áp lực máu trong tâm thất tăng lên Tâm nhĩ co 0,1 giây, sau đó 2 tâm nhĩ giãn ra suốt thời gian còn lại của chu kì là 0,7 giây
+ Tâm thất thu: Khi tâm nhĩ giãn ra, tâm thất bằng đầu co, giai đoạn này chia làm 2 thời kỳ nhỏ: Thời kỳ tăng áp lực (0,05 giây) và thời kỳ tống máu nhanh (0,25 giây)
+ Tâm trương toàn bộ: Tâm thất bằng đầu giãn khi tâm nhĩ đang giãn,áp suất tâm thất giãn nhỏ hơn áp suất động mạch, van tổ chim đóng lại Áp suất trong tâm thất tiếp tục giảm đến khi nhỏ hơn áp suất trong tâm nhĩ, van nhĩ thất mở, máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất (65%)
Trang 31Tuổi Trẻ sơ sinh 3- 12 tháng 3 tuổi 6 tuổi
- Lòng mạch ở trẻ tương đối rộng hơn so với người lớn và phát triển hơn
so với tĩnh mạch Ở trẻ nhỏ kích thước lòng động mạch và tĩnh mạch gần bằng nhau Trẻ càng lớn thì lòng tĩnh mạch càng phát triển và rộng hơn lòng động mạch
- Động mạch phổi ở trẻ 1 tuổi to lớn hơn động mạch chủ Khi trẻ từ 10-
12 tuổi thì kích thước của động mạch phổi tương đương với động mạch chủ
Từ sau thời kỳ dậy thì động mạch chủ lớn hơn động mạch phổi
- Mao mạch ở trẻ cũng rộng hơn so với người lớn, nhất là trong mấy tuần đầu sau khi sinh (do yêu cầu dưỡng khí ở trẻ sơ sinh cao) Sau đó mao mạch phát triển mạnh trong năm đầu và cho đến tuổi dậy thì thì ngừng phát
triển.[2]
1.5 Các yếu tố chi phối khả năng sơ cứu tai nạn của giáo viên cho trẻ mầm non
1.5.1 Kiến thức, hiểu biết
Kiến thức là hiểu biết về một vấn đề nào đó Hiểu biết là một quá trình
am hiểu, nhận ra và biết sâu hơn về vấn đề đó
- Để đảm bảo tính mạng cho trẻ bị nạn , cũng như quyết định sự thành công trong quá trình sơ cứu đòi hỏi người giáo viên phải nắm được các bước
Trang 32sơ cứu và tuân thủ theo qui trình nhất định : DRCAB tức là :
+ Bước 1: Quan sát hiện trường phát hiện, đánh giá mức độ nguy hiểm (D)
+ Bước 2: Đánh giá nhanh ABC trong 5 – 10 giây
A tức là: Quan sát vẻ bề ngoài của trẻ Xem mức độ tỉnh táo, trương lực
cơ tương tác của trẻ với môi trường xung quanh Nếu trẻ li bì và hôn mê là dấu hiệu nặng
B tức là: Lắng nghe tiếng thở và quan sát cách thở của trẻ Nếu trẻ thở mệt, thở rít hay khò khè là dấu hiệu năng
C tức là: Đánh giá màu sắc da trẻ có hồng hào hay không Nếu da xanh
và vã mồ hôi là dấu hiệu nặng
+ Bước 3: Đánh giá ban đầu
Là hành động quan trọng cần thiết giúp cho việc tiến hành sơ cứu chính xác và không bỏ xót bất kỳ tổn thương nào.Việc đánh giá ban đầu cần hành động một cách bình tĩnh, chủ động, ân cần, cảm thông giúp nạn nhân tin tưởng và thực hiện theo trình tự RCABE, tức là :
R: Đánh giá sự đáp ứng của trẻ bị nạn
C: Kiểm tra mạch của trẻ bị nạn
A: Kiểm tra và làm thông đường thở
B: Kiểm tra sự thở của trẻ bị nạn
E : Bộc lộ toàn thân
Trang 33Hình 1.2: Tóm tắt sơ đồ sơ cấp cứu
+ Bước 4: Gọi sự trợ giúp
+ Bước 5: Sơ cứu cho nạn nhân vè vận chuyển
+ Bước 6: Thông báo
+ Bước 7:Giải thích và trấn an
+ Bước 8: Hồ sơ
Nếu khi xảy ra tai nạn mà giáo viên không biết, không nắm vững qui trìnhsơ cứu thì khó có thể sơ cứu ban đầu cho trẻ bị nạn,trường hợp nặng có thể ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của trẻ Vì vậy,là một người giáo viên mầm non cần phải trang bị cho mình những kiến thức về sơ cấp cứu như phải nắm đượctầm quan trọng, các nguyên tắc chung, các bước sơ cứu cho trẻ để
đề phòng khi có tai nạn xảy ra
Trang 341.5.2 Kỹ năng
Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
- Khi nắm được vững các kiến thức về sơ cấp cứu thì giáo viên có thể thực hiện nó một cách thuần thục Nhưng sơ cứu thành công hay không người giáo viên đó phải có phẩm chất tốt và đủ bản lĩnh Đủ bản lĩnh ở đây tức là: không sợ nguy hiểm, bình tĩnh và luôn tự tin trong mọi tình huống xảy ra, cho
Để sơ cứu ban đầu cho trẻ bị nạn tốt thì người giáo viên cần phải nắm được các kiến thức, kỹ năng khi sơ cứu.Mặc khác, cần phải hiểu rõ được tầm quan trọng của sơ cứu, luôn bình tĩnh, tự tin khi có tai nạn xảy ra vơi trẻ Việc quan tâm trang bịkiến thức và kĩ năng sơ cứu cho giáo viênkhi trẻ xảy ra tai nạn là một nhiệm vụ rất cần thiết Tôi cho rằng, đó là đóng góp rất
có ý nghĩa với việc phát triển toàn diện cho trẻ cả về thể chất lẫn tinh thần
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG SƠ CỨU TAI NẠN CHO TRẺ 3-4 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
2.1 Mục tiêu của việc chăm sóc giáo dục hiện nay
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất trí tuệ, thẫm mỹ và đạo đức; Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp 1 Giáo dục mầm non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Với các mục tiêu cụ thể sau:
- Phát triển thể chất:
+ Khỏe mạnh, cân năng và chiều cao phát triển theo lứa tuổi
+ Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế + Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động Biết phối hợp nhịp nhàng, định hướng trong không gian
+ Có kỹ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo đôi tay
+ Có một số thói quen, kỹ năng ăn uống, giữ gìn sức khỏe, đảm bảo an toàn cho bản than
- Phát triển nhận thức :
+ Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi sự vật hiện tượng xung quanh + Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, chú ý, ghi nhớ có chủ định + Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau
+ Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (hành động, hình ảnh, lời nói )
+ Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán
- Phát triển tình cảm xã hội :
Trang 36+ Có ý thức chăm sóc, bảo vệ bản thân
+ Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh
+ Có phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lưc
+ Có một số kỹ năng sống: Tôn trọng, than thiện, quan tâm, chia sẻ + Thực hiện một số quy tắc, quy định trong sinh hoạt gia đình, trường lớp mầm non
+ Có khả năng nghe và kể lại sự việc, câu chuyện
+ Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu bài thơ, ca dao, đồng dao cho phù hợp
+ Có một số kỹ năng ban đầu về đọc và viết
Theo như những mục tiêu đề ra, luôn chú trọng việc phát triển toàn diện cho trẻ, có thể thấy rằng mục tiêu luôn quan tâm hướng đến việc tăng trưởng
và phát triển cho trẻ Để trẻ có thể tích cực tham gia tốt các hoạt động thì cần
có một sức khỏe và thể chất tốt.Nếu một đứa trẻ có cơ thể khiếm khuyết hay bệnh tật sẽ phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Vì vậy, cần chăm
Trang 37sóc, bảo vệ trẻ một cách tốt nhất nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần
2.2 Nội dung về một số tai nạn thường gặp ở trẻ mầm non
Một số tai nạn thường gặp ở trẻ
• Ngưng tuần hoàn – hô hấp:
- Ngưng tim ngưng thở là tình trạng không còn tuần hoàn và hô hấp hiệu quả
- Ngưng tuần hoàn là tai nạn ngừng tuần hoàn do ngừng tim làm máu không thể di chuyển trong lòng mạch để đến nuôi dưỡng cơ quan đặc biệt là
hô hấp và não bộ Vài phút sau khi ngưng tuần hoàn – hô hấp, tế bào não sẽ bị tổn thường không hồi phục từđó làmmất chức năng và dẫn đến tử vong Tùy nguyên nhân, ngừng từng hoàn có thể xảy ra trước hay sau hô hấp Hai nguyên nhân ngưng tuần hoàn thường gặp nhất là rung thất và vô tâm thu
[1-tr102]
• Dị vật đường thở , đường ăn:
- Dị vật đường thở:
+ Các cơ quan tai, mũi, họng là các hốc rỗng vùng đầu, mặt, cổ, đặc biệt
là vùng hầu, họng là ngã tư đường ăn, đường thở Dị vật tai, mũi,họng là những tai nạn sinh hoạt thường gặp trong cuộc sống Tai nạn thường gặp mọi lứa tuổi, đặc biệt là với trẻ nhỏ
+ Dị vật đường thở: Là tình trạng nạn nhân bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn đường thở.Khi trẻ bị ngạc thở có thể tử vong trong vòng vài phút nếu không được sơ cứu và cấp cứu kip thời.Nguyên nhân xảy ra dị vật đường thở do: Trẻ bị sặc sữa, bột, thuốc…; Do chất nôn trào ngược vào đường thở;
Do trẻ nhỏ thường cho tất cả các thứ vào miệng, mũi đặc biệt là các đồ vật có kích thước nhỏ, các loại hạt như đậu, ngô…
- Dị vật đường ăn[7]: Nhất là dị vật thực quản là một cấp cứu có tính phổ
biến, nguy hiểm tới tính mạng người bị nạn và có tỷ lệ tử vong cao Bao gồm
Trang 38dị vật ở họng và dị vật thực quản Nguyên nhân gây nên dị vật đường ăn là do:
+ Do tập quán ăn uống:Ăn các món ăn đều được chặt thành miếng thịt lẫn xương sẽ gây hóc khi ăn vội vàng, ăn không nhai kỹ, vừa ăn vừa nói chuyện
+ Do thực quản co bóp bất thường: Có những khối u bất thường trong hoặc ngoài thực quản làm thực quả hẹp lại, thức ăn sẽ mắc lại ở đoạn hẹp Ví
dụ như: U trung thất đè vào thực quản, ung hoặc co thắt thực quản
+ Do các đoạn hẹp tự nhiên của thực quản: Thực quản có 5 đoạn hẹp tự nhiên, làm thức ăn mắc lại ở đoạn hẹp Dị vật thường mắc nhiều nhất ở vùng
cổ 74%, đoạn ngực là 22%; còn đoạn dưới ngực là 4%
• Điện giật: Là tai nạn do dòng điện truyền qua người.Trẻ em do da trẻ
mỏng có nhiều nước, vì vậy sức cản điện kém nên khi bị điện giật thường bị tổn thương nặng Tổn thương do điện giật nặng hay nhẹ phụ thuộc vào điện thế, cường độ dòng điện và thời gian bị điện giật Nguyên nhân bị điện giật:
Do người lớn không quan sát lúc trẻ chơi, để trẻ chạm tay vào ổ cắm điện Chơi đùa với các dụng cụ điện như máy sáy, máy quạt…; dòng điện trong nhà không an toàn Bố trí ổ cắm điện quá thấp so với tầm với của trẻ
• Bỏng: Do nhiều nguyên nhân gây nên :
+ Bỏng do nhiệt: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm gần 90% các
ca bỏng trẻ em
+ Bỏng do dòng điện: Khác với các loại bỏng khác như bỏng lửa, bỏng nước sôi thì bỏng điện là loại bỏng nguy hiểm nhất Nếu các loại bỏng khác gây bỏng từ ngoài vào trong thì bỏng điện lại gây bỏng từ trong ra ngoài Có hai nguồn bỏng điện chính là do tia lửa hồ quang điện và bỏng do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể
+ Bỏng do hóa chất: Bỏng do axit và bỏng do bazo
Trang 39+ Bỏng do tia bức xạ: Do tia hồng ngoại, tia laser, tia Ronwgen Đây là nguyên nhân ít gặp, chủ yếu là do từ X – quang hoặc xạ trị để điều trị ung thư
• Đuối nước: Đây là tai nạn thường gặp ở trẻ và đặc biệt là trẻ 3 -4 tuổi
làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng Nguyên nhân của tai nạn là do sự bất cẩn của người lớn, không quan sát, chú ý đến trẻ khi trẻ lại gần ao, hồ, các
bể chứa nước
• Ngộ độc thực phẩm: Là hiện tượng cơ thể bị nhiễm các chất độc trong
thực phẩm hằng ngày Trẻ dưới 5 tuổi dễ bị ngộ độc do cơ thể trẻ nhạy cảm với chất độc Nguyên nhân trẻ bị ngộ độc là do :
+ Do thức ăn, nước uống có chứa: Vi khuẩn, nấm mốc, vi rút,ký sinh vật + Do các chất độc hóa học: Các chất ô nhiễm trong công nghiệp và môi trường; các dioxin; các chất phóng xạ, các kim loại nặn; các chất hóa sọc sử dụng trog nông nghiệp; các chất phụ gia sử dụng không đúng theo qui định; các chất độc hại tạo ra trong quá trình chế biến; các độc tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm; các chất gây dị ứng…
+ Do các chất độc hại nguồn vật lí: Các mảnh thủy tinh, gỗ, đá sạn, xương…
• Chảy máu:[1-tr35]
- Máu lưu thông trong cơ thể cung cấp cho các tổ chức tế bào oxy và chất dinh dưỡng, do đó để đảm bào cho sự cung cấp này thì phải duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu trong cơ thể Huyết áp và áp lực để duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu
- Mất nhiều máu làm giảm huyết áp Nếu chảy máu ở mức độ ít trầm trọng thì cơ thể sẽ bù lại bằng cách tăng nhịp tim và hạn chế máu tới tổ chức dưới da và ruột, để tăng cường lượng máu tới các cơ quan sống còn của cơ thể như não Nếu như huyết áp thấp bất thường vì bất cứ nguyên nhân gì thì chỉ sau một thời gian, thậm chí sau 30 phút thì những cơ quan quan trọng của cơ
Trang 40thể như não, tim và thận sẽ bị tổn thương nghiêm trọng Thận là cơ quan đặc biệt nhạy cảm với sự giảm lưu lượng tuần hoàn và suy thận cơ thể xảy ra ngay sau một giai đoạn sốc ngắn
- Trẻ bị chảy máu do nhiều nguyên nhân gây ra như: Có thể do trẻ xô đẩy lần nhau, trẻ té ngã hay do tai nạn giao thông, do trẻ mắc bệnh về đường hô hấp và bị chấn thương nhỏ khác
• Say nắng: Là hiện tượng rất thường gặp vào mùa hè.Không chỉ có biểu
hiện hoa mắt, chóng mặt mà còn có thể gây đột quỵ Nếu không xử lí kịp thời
có thể để lại các di chứng thần kinh không hồi phục và tử vong
- Trẻ bị say nắng là do đi quá lâu ngoài trời nắng, nhiều tia nắng sẽ chiếu thẳng vào cùng cổ gáy Dưới tác dụng lien tục của ánh sáng mặt trwoif gay gắt, trung tâm điều hòa thân nhiệt cơ thể sẽ bị chấn động làm rối loạn điều hòa thân nhiệt cùng với hiện tượng mất nước cấp của cơ thể
• Gãy xương: Là tình trạng mất tính liên tục của xương, nó có thể biểu
hiện dưới nhiều hình thức từ một vết rạn cho đến một sự gãy hoàn toàn của xương
- Gãy thường thường là do tác động của một lực vào xương Lực này có thể bắt đầu từ bên ngoài của cơ thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Trẻ bị gãy xương thường là do té ngã từ trên cao xuống, do trượt chân ngã hoặc va chạm, húc mạnh vào vật cứng, do các vật nặng đập vào hoặc do tai nạn giao thông
• Động vật, côn trùng cắn: Là các trường hợp trẻ bị các con vật, côn
trùng cắn như con chó, con mèo, rắn cắn….Nguyên nhân chính là do sự hiếu động, trẻ nghịch phá các động vật – côn trùng, trẻ vui chơi gần các bụi rậm,
ẩm ướt