Bài viết này tổng hợp những kết quả nghiên cứu bước đầu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead và đề xuất biện pháp phòng trừ.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cam, quýt là cây ăn quả có múi (CAQCM) có giá
trị kinh tế cao Ở Việt Nam, nghề trồng CAQCM có
truyền thống lâu đời và có những loại quả có múi
ngon, là đặc sản gắn liền với các địa danh như cam
Bố Hạ, cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, b ưởi Đoan
Hùng, Thanh Trà Từ những năm 90 của thế kỷ XX,
CAQCM đã trở thành loại cây trồng quan trọng, cây
chủ lực trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Những năm gần đây, do đầu t ư thâm canh không
cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không hợp
KẾT QuẢ NGHIÊN CỨu BƯỚC ĐẦu
VỀ NHỆN RÁM PHyLLOCOPTRuTA OLeIVORA AsHMeAd CÂy ĂN QuẢ CÓ MÚI
n Nguyễn Tuấn Lộc
Trung tâm BVTV vùng Khu 4
lý, kéo theo dịch hại trên v ườn cam phát sinh mạnh, đặc biệt là các loài nhện nhỏ đã làm giảm năng suất, chất l ượng và mẫu mã quả cam
Các công trình của các tác giả ở châu Á nh ư Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ đều
chỉ rõ hai loài nhện hại: nhện đỏ (Panonychus citri McGregor) và nhện rám vàng (Phyllocoptruta
oleivora Ashmead) đều đ ược coi là những đối tư
-ợng gây hại nghiêm trọng ở các v ườn cam, quýt, nếu không áp dụng các biện pháp phòng trừ thì năng suất, chất lư ợng quả và tuổi thọ của v ườn cam sẽ giảm đi rõ rệt
Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora
Ash-mead là loài phổ biến nhất và gây hại nghiêm trọng trên cam, quýt ở nhiều nước Chúng có mặt
th ường xuyên trên v ườn cam, quýt và trong tất cả các giai đoạn sinh tr ưởng của cây ngay từ khi cây gốc ghép bắt đầu có lá Bài viết này tổng hợp những kết quả nghiên cứu bước đầu về một số đặc
điểm sinh học, sinh thái của nhện rám vàng
Phyl-locoptruta oleivora Ashmead và đề xuất biện pháp
phòng trừ
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thí nghiệm theo dõi vòng đời và đặc tính sinh học được tiến hành nuôi cá thể trong phòng thí nghiệm Sử dụng đĩa petri, mỗi đĩa 1 lá có bông thấm nước và 1 nhện Theo dõi hàng ngày về quá trình sinh trưởng phát triển của rầy lưng trắng thí nghiệm đến khi xuất hiện trưởng thành Ghi chép nhiệt độ, ẩm độ Mỗi đợt nuôi 30 cá thể
- Thí nghiệm về các biện pháp phòng trừ được thực hiện tại nhà lưới và ngoài đồng ruộng
- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống
kê StatView và chương trình IRRISTAT 4.0
III KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1 Đặc điểm hình thái
Trang 2Trưởng thành nhện rám vàng
Phyllocop-truta oleivora có kích thước cơ thể rất nhỏ,
khó nhìn thấy bằng mắt thường Kích thước
trung bình 0,02-0,05mm Quan sát bằng kính
lúp cầm tay chỉ nhìn thấy nhện như những
chấm nhỏ li ti không rõ hình dạng Dưới kính
lúp Nikon độ phóng đại 40-65 lần, cơ thể
nhện có hình dáng giống như củ cà rốt, màu
vàng nhạt Phần ngực phình to, phần bụng
hẹp lại thon dần về phía cuối Các pha ấu
trùng và nhện trưởng thành chỉ có 2 đôi chân
hướng về phía trước, toàn thân nhện phân
nhiều đốt nổi rõ Con đực kích thước nhỏ và
ngắn hơn con cái, phần bụng thon hơn và
hoạt động nhanh nhẹn hơn Con cái có vệt
trắng nằm ngay trên lưng
Trứng được đẻ rải rác từng quả riêng rẽ ở
những chỗ lõm trên bề mặt lá và quả Khi mới
đẻ, trứng có dạng hình cầu nhẵn bóng, màu trắng trong như giọt nước Trong quá trình phát triển, hình dạng của trứng chuyển dần sang dạng hình bầu dục, màu sắc sẫm dần Sắp nở, trứng chuyển sang màu hơi vàng Đây là giai đoạn khó quan sát Đặc điểm để phân biệt giữa giai đoạn đầu của ấu trùng T1 và giai đoạn cuối của trứng là
có thể quan sát thấy các đôi chân di động Một số tác giả gọi đây là giai đoạn trứng và tiền ấu trùng Giai đoạn này xảy ra tương đối nhanh, từ khi trứng mới đẻ đến khi kết thúc giai đoạn không nhìn thấy chân, diễn ra trong khoảng thời gian 3-4 ngày Ấu trùng mới nở màu trắng, hình dạng củ cà rốt, giống trưởng thành và rất ít di chuyển, nhưng vẫn nhìn rõ 2 đôi chân hướng về phía trước di động Khi sắp lột xác, ấu trùng trải qua giai đoạn ngừng hoạt động, cơ thể co ngắn lại hình bầu dục, màu chuyển sang ngà vàng, không nhìn rõ chân Giai đoạn này diễn ra trong khoảng thời gian 1 ngày Xác lột để lại kéo dài như sợi chỉ màu trắng
Hình 1 Đặc điểm hình thái của nhện rám vàng
Hình 2 Triệu chứng gây hại của nhện rám vàng
Trang 3Sau lột xác lần 1, ấu trùng lại có hình dạng như
củ cà rốt và bắt đầu di chuyển nhưng rất chậm, màu
sắc chuyển dần sang đậm hơn Khi sắp lột xác lần 2
ấu trùng ngừng hoạt động, cơ thể nhện co ngắn lại
hình bầu dục không nhìn rõ chân Thời gian kéo dài
cũng khoảng 1 ngày Sau đó nhện tiến hành lột xác
Xác lột màu trắng, kéo dài như sợi chỉ Chuyển sang
trưởng thành màu sắc nhện vàng đậm hơn
2 Triệu chứng hại
Nhện gây hại trên lá làm cho lá có màu tối, lá mất
độ bóng, nhện gây hại làm giảm khả năng quang hợp của lá Nhìn chung, khi nhện xuất hiện nhiều trên lá, những biểu hiện của triệu chứng là không rõ nét và điển hình như các loài nhện khác
Trên quả, nhện gây hại để lại những vết rám màu xám bạc (trên quả chanh), màu xám nâu (trên quýt) hoặc màu xám nâu đen (trên cam) Vết rám thành vệt, vành đai hoặc toàn phần quả Quả bị hại có vỏ dày, thịt quả khô và ít nước
3 Đặc điểm sinh học của nhện rám vàng
Ở trong khoảng điều kiện nhiệt độ 250C,
thời gian phát triển các pha của nhện rám vàng
sẽ kéo dài hơn khi ở nhiệt độ 300C Thời gian
trứng bình quân 3,68-4,88 ngày; thời gian
trước đẻ bình quân 0,8-1,11 ngày; thời gian
sống của trưởng thành là 10,09-12,31 ngày
Khả năng đẻ trứng dao động từ 13,92-16.61
quả/cái (bảng 1)
4 Tập tính cư trú và sự phân bố của
nhện rám vàng trên cây
Nhện rám vàng có kích thước cơ thể rất nhỏ
bé và hoạt động chậm chạp Sử dụng kính lúp
cầm tay có độ phóng đại 8-10 X khó có thể
quan sát sự di chuyển và hoạt động của nhện
trưởng thành mà chỉ có thể quan sát thấy hoạt
động của chúng dưới kính lúp có độ phóng đại
40-80 X Với đặc thù nhỏ bé và chậm chạp
này, sự phân bố hoạt động của nhện rám vàng
trên cây có nhiều đặc thù khác biệt với các loài
nhện hại có kích thước cơ thể lớn hơn và hoạt
động nhanh nhẹn hơn
Những quan sát về sự có mặt gây hại của nhện rám vàng trên cây cho thấy nhện có mặt ở hầu hết các bộ phận của cây như: lá, lộc non, hoa và quả Sự phân bố mật độ nhện rám vàng trên các bộ phận của cây cũng có những biểu hiện khác nhau qua thời gian (đồ thị 1)
Đồ thị 1: Biến động mật độ nhện rám vàng trên các bộ phận của cây cam qua các tháng điều tra
Bảng 1 Thời gian phát dục và khả năng đẻ trứng của nhện rám vàng
ở trong phòng thí nghiệm
Nhện non tuổi 1 (ngày) 56 3,96 ± 0,15 59 2,14 ± 0,03
Nhện non tuổi 2 (ngày) 53 3,84 ± 0,15 57 1,15 ± 0,03
Thời gian trước đẻ (ngày) 36 1,11 ± 0,14 33 0,8 ± 0,09
Thời gian sống của trưởng
Trưởng thành sống của
trửng thành đực (ngày) 15 7,95 ± 0,85 16 6,31 ± 0,93
Khả năng đẻ trứng
Trang 4Đồ thị 1 cho thấy, tháng 1, mật độ nhện rám
vàng tập trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già;
tháng 2 tập trung cả trên lá non, bánh tẻ và lá
già; sang tháng 3 là tháng có mật độ nhện lên
cao, gây hại cả trên lá non, lá bánh tẻ, lá già
hoa và quả, nhưng gây hại nhiều nhất trên lá
non; sang tháng 4, nhện cũng gây hại trên tất
cả các bộ phận của cây, nhưng tập chung chủ
yếu trên quả non; sang tháng 5, 6, 7, nhện rám
vàng lại có xu thế tập chung chủ yếu trên lá
bánh tẻ và lá già Như vậy, khác với nhện đỏ,
sự phân bố của nhện rám vàng trên các bộ
phận của cây tùy thuộc vào từng giai đoạn phát
triển của cây trong năm
Sự xuất hiện gây hại của nhện trên các bộ
phận như hoa, quả non và lá non có thể quan
sát rõ nhất vào tháng 3, 4, 5 là thời kỳ cây ra
hoa và đậu quả Trong thời kỳ này có thể bắt
gặp nhện gây hại nhiều trên đài hoa và cánh
hoa
Trên quả, nhện rám vàng xuất hiện với mật
độ cao trong thời kỳ quả còn non Mật độ nhện
trên quả non tháng 4 đạt 102,96 con/quả Ở
thời kỳ khác, khi quả đã lớn, mật độ nhện trên
quả giảm hẳn Theo D.G Hall và CS (1994)
thì nhện rám vàng thích quả xanh hơn, nhưng
cũng tấn công lên cả quả chín Khi mật độ quá
cao, chúng mới chuyển sang phá hại ở các bộ
phận khác của cây
Trên lá non, nhện xuất hiện bắt đầu từ tháng
2, mật độ trung bình trong tháng này là 7,14
con/lá và đạt cao nhất trong tháng 3, mật độ
lên tới 67,90 con/lá Trong tháng 4-5, mật độ
nhện trên lá non vẫn đạt ở mức cao, trung bình
từ 20,41-24,56 con/lá; đến tháng 6, mật độ
nhện trên lá non rất thấp; sang tháng 7, hầu
như không bắt gặp nhện hại trên lá non
Trên lá bánh tẻ và lá già, nhện rám vàng có
mặt quanh năm Mật độ nhện rám vàng hại
trên lá bánh tẻ cao nhất vào tháng 4, trung bình
45,12 con/lá; thấp nhất vào tháng 1, trung bình
9,58 con/lá Các tháng khác mật độ nhện dao
động từ 16,54-32,17 con/lá Trên lá già, mật
độ nhện thấp nhất trong tháng 7, chỉ 5,27
con/lá; cao nhất trong tháng 4, trung bình
34,67 con/lá Trong các tháng khác, mật độ
nhện rám vàng thay đổi từ 12,74-23,96 con/lá
Theo quan sát của chúng tôi thì mật độ nhện
rám vàng trên lá bánh tẻ cao hơn trên lá già và
lá non Kết quả quan sát này phù hợp với kết
quả quan sát của các tác giả Phạm Văn Vượng, Hà Quang Dũng (1994) và Nguyễn Thị Phương (1997) Trên cùng 1 lá, sự phân bố của nhện rám vàng ở 2 mặt lá cũng khác nhau và biến động theo thời gian (đồ thị 2) Nhện rám vàng tập trung chủ yếu ở mặt dưới của
lá Ở tháng 1, 2, 3, tỷ lệ phân bố nhện giữa mặt trên và mặt dưới của lá chênh lệch không nhiều (mặt trên từ 32,28-44,05%; mặt dưới từ 55,95-67,72%), sang những tháng mùa hè như tháng 4, 5, 6, 7, xu hướng tập trung chủ yếu ở mặt dưới của lá (mặt trên từ 10,63-22,05%; mặt dưới từ 77,95-89,37%)
Đồ thị 2: Phân bố của nhện rám vàng trên cùng một lá cam qua các tháng điều tra
Đặc điểm này cũng có nghĩa là nhện rám vàng không
ưa ánh sáng trực xạ và ưa ánh sáng tán xạ Kết quả quan sát này của chúng tôi phù hợp với nhận xét của Jeppson (1975) và Meyer (1981) Theo Van Brussel, sự xuất hiện của nhện ở mặt trên hay mặt dưới lá là tùy thuộc tuổi của cây Kết quả quan sát của chúng tôi không thấy biểu hiện
xu hướng này
5 Ảnh h ưởng của tuổi cây đến sự phát sinh quần thể nhện rám vàng
Bảng 2 Mức độ gây hại của nhện rám vàng
trên các tuổi cây khác nhau
Đối với vườn kiến thiết cơ bản 3-4 năm tuổi, nhện rám vàng gây hại nhẹ nhất, tỷ lệ quả hại và chỉ số quả hại thấp nhất (22,80% và 11,28%) Ở vườn kinh doanh 4-6 năm tuổi, mức độ hại của nhện rám vàng trung bình,
tỷ lệ quả hại và chỉ số quả hại (39,60% và 18,24%) Ở vườn kinh doanh 9-10 năm, nhện rám vàng gây hại nặng
Tuổi cây Tỷ lệ quả Nhện rám vàng
hại (%) Chỉ số quả hại (%)
Vư ờn kiến thiết cơ bản 3-4 năm tuổi 22,80 11,28
V ườn kinh doanh 5-6 năm 39,60 18,24
Vư ờn kinh doanh 9-10 năm 78,40 30,32
Trang 5nhất, tỷ lệ quả hại và chỉ số quả hại cao
nhất (78,40% và 30,32%)
Kết quả quan sát này của chúng tôi phù
hợp với kết quả quan sát của tác giả Phạm
Văn Vượng, Hà Quang Dũng (1994),
Nguyễn Thị Phương (1997) Qua kết quả
ở bảng 2 chúng tôi có nhận xét: với tuổi
cây càng cao thì mức độ gây hại của nhện
rám vàng càng nặng Qua đó chúng ta có
thể đề ra ph ương án phòng trừ nhện hại ở
các tuổi cây khác nhau
6 Kết quả các biện pháp phòng trừ đối với nhện rám vàng
6.1 Ảnh h ưởng của biện pháp tỉa cành tạo tán đến mức
độ gây hại của nhện rám vàng
Kết quả khảo nghiệm ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tạo hình cho vườn cây có tán thông thoáng (bảng 3) đã cho thấy, vườn cây có tán thông thoáng, các đợt lộc phát triển đều và tập chung đã làm giảm sự gây hại của nhện rám vàng (tỷ lệ hại giảm 10,04%; chỉ số hại giảm14,45%) Mặc dù tác động của biện pháp kỹ thuật cắt tỉa cây không ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ quả bị hại nhưng đã làm giảm chỉ số hại trên quả
Như vậy, biện pháp cắt tỉa tạo hình cho tán cây cũng
góp phần quan trọng trong việc làm giảm sự thiệt hại do
nhện rám vàng gây ra
6.2 Kết quả khảo nghiệm thời điểm phun thuốc đối
với nhện rám vàng
Trên cơ sở một số kết quả nghiên cứu về việc
Niso-rum 5 EC có hiệu lực trừ nhện rám vàng cao (theo Trần Xuân Dũng 2002), chúng tôi chọn hỗn hợp của dầu khoáng SK 99 nồng độ 0,5% với Nisorum 5 EC để khảo sát thời điểm phun đối với nhện rám vàng Kết quả khảo nghiệm được dẫn ra ở bảng 4
Kết quả bảng 4 cho thấy, tất cả các công
thức phun thuốc có tỷ lệ bị hại và chỉ số hại
đều thấp hơn so với đối chứng rõ rệt Trong
5 công thức phun thuốc, công thức 2 và công
thức 3 phun thuốc trong thời điểm từ khi cây
bắt đầu hình thành quả non đến khi đường
kính 1cm có tỷ lệ hại và chỉ số hại thấp nhất:
11,56% và 5,67% ở công thức 2; 8,25% và
3,63% ở công thức 3 Công thức 4 phun khi
kích thước quả có đường kính từ 1-3cm có
tỷ lệ quả rám và chỉ số quả hại là: 32,65% và
15,82%, cao hơn và khác biệt rõ rệt so với
công thức 2 và 3 Công thức 1 phun khi cây
mới ra hoa và công thức 5 phun khi quả non
có đường kính >3cm có tỷ lệ hại và chỉ số hại tương đương cao hơn nhiều so với công thức 2, 3 và 4 (tỷ lệ hại từ 42,33-45,67%, chỉ số hại từ 23,20-25,72%) Đối chứng không phun có tỷ lệ hại và chỉ số hại cao nhất: 67,42% và 38,60%
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Vượng, Hà Quang Dũng (1994) đã sử dụng thuốc Zinep 80WP nồng độ 0,4%, phun kép (2 lần cách nhau 7 ngày) vào giai đoạn quả non có đường kính <1cm đối với nhện rám vàng cho hiệu quả phòng trừ cao nhất Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương năm (1997) cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu của Trần Xuân Dũng (2002) sử dụng hỗn hợp dầu DC - Tron Plus và Pegasus 500SC chỉ phun 1 lần vào thời điểm từ khi hình thành quả non
Công thức Tỷ lệ hại (%) Chỉ số hại (%)
Cắt tỉa thông thoáng tán cây 35,20 7,23
2 Phun khi hoa bắt đầu hình thành quả non 13,33 6,53
5 Phun khi quả non đường kính trên 3cm 45,67 23,20
Bảng 3 Ảnh h ưởng của tỉa cành tạo tán đến mức độ gây hại của nhện rám vàng
Bảng 4 Kết quả khảo nghiệm thời điểm phun hỗn hợp dầu khoáng và Nisorum 5 EC
đối với nhện rám vàng
Trang 6đến khi quả non có đường kính 1cm đã đạt được hiệu
quả phòng trừ cao
Như vậy, kết quả thí nghiệm trên một lần nữa khẳng
định thời điểm gây hại chủ yếu của nhện rám vàng đối
với quýt quả là thời kỳ quả còn non khi đường kính quả
< 3cm và thời điểm phun tốt nhất để phòng chống nhện
rám vàng là từ khi hình thành quả non đến khi quả non
có đường kính 1cm
VI KẾT LUẬN
Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora
Ashmead được coi là một trong những dịch hại quan trọng nhất và có diện phân bố rộng ở khắp tất cả các vùng trồng cam, quýt trên thế giới, ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả
Những kết quả điều tra nghiên cứu về nhện rám vàng hại trên cam, quýt sẽ đóng góp thêm
cơ sở khoa học cho việc đánh giá tầm quan trọng của nhóm nhện hại này và bổ sung thêm danh mục các loài nhện hại trên cây cam, quýt tại Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ nhện rám vàng
Phyllocoptruta oleivora Ashmead sẽ góp phần
cho việc xây dựng cơ sở khoa học trong việc
sử dụng thuốc hóa học một cách hợp lý và làm giảm ô nhiễm môi trường
Những kết quả nghiên cứu trên đây về nhện rám vàng sẽ đóng góp tích cực trong việc triển khai các tiến bộ kỹ thuật về bảo vệ thực vật trong sản xuất cam, quýt ở Việt Nam, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất hiện nay về vấn đề phòng chống nhện hại như hiện tượng rám quả cam, quýt, bưởi./
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Xuân Cư ờng, 1996, Nhận xét b ước đầu về thành phần sâu bệnh hại cây ăn quả tại Hà Tây, Tạp chí Bảo vệ
thực vật, 3/1996: 7-8.
2 Nguyễn Văn Đĩnh, 1992, Những vấn đề phòng chống nhện hại cây trồng hiện nay, Tạp chí Bảo vệ thực vật,1/1992
3 Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Phư ơng, 2000, Hiện t ượng rám quả cam, quất và khả năng phòng ngừa, Tạp chí
Bảo vệ thực vật, 1/2000: 9-13.
4 Vũ Khắc Nh ượng, 1993, Bư ớc đầu đánh giá về sâu bệnh hại cam, quýt ở các tỉnh phía Bắc trong mấy chục năm qua,
Tạp chí Bảo vệ thực vật, 1/1993: 7-10.
5 Nguyễn Thị Phư ơng, 1997, Nghiên cứu thành phần côn trùng và nhện hại cam quýt tại Hư ng Yên, đặc điểm sinh
học, sinh thái học và biện pháp hoá học phòng chống nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Luận án thạc sỹ
khoa học nông nghiệp, Trư ờng Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, 95tr.
6 Hall D.G., C.C Childer, J.E Eger, 1994, Spatial dispersion and sampling of citrus rust mite (Acari: Eriophyidae) on
fruit in “Hamlin” and “Valencia” orange groves in Florida Journal of Economic Entomology Vol 87(3): 687-689.
7 Jeppson L R., H.H Keifer, and E W Baker,1975, Mites injurious to economic plants, University of California Press 614pp.
8 Meyer, M K P 1981, Mite pests of crop in South Africa, Science Bulletin, No 397 92pp.
9 Mora Morin J., 1987, Population dynamics of the citrus rust mite (Phyllocoptruta oleivora Ashmead) in young leaves and old leaves Persian lime (Citrus aurantifolia Swingle), Revista Centro Agricola (Cuba) Vol 14(1): 31-37.
10 Moraes, L.A.N de, O.Porto De Menezes, J.Braun, 1988, Chemical control of citrus rust mite Phyllocoptruta oleivora
(Ashmead) (Acari: Eriophyidae), Agronomia Sulriograndense (Brazil) No 23(2): 193-202.
11 Moraes, L.A.N de, O Porto De Menezes, J Braun, 1995, Effect of three doses of sulfur on the population of
citrus rust mite Phyllocoptruta oleivora Ashmead (Acari: Eriophyidae) on citrus, Pesquisa Agropecuaria Gaucha.
Vol.1(1): 17-20.
Phun thuốc phòng trừ đối với nhện rám vàng