Không những thế, Aristote còn phân biệt giữa hài kịch và bi kịch, nêu ra những quan niệm, kiến giải về hành động kịch, cốt truyện kịch, bố cục của một vở kịch hay vấn đề kịch tính trong
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
-
TRẦN NGUYỄN THÙY TRANG
KỊCH TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT
ĂN MÀY DĨ VÃNG VÀ BA LẦN VÀ MỘT LẦN CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 05/2015 ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
-
KỊCH TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT
ĂN MÀY DĨ VÃNG VÀ BA LẦN VÀ MỘT LẦN CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 3Tôi, Trần Nguyễn Thùy Trang xin cam đoan: Những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp này là do tôi thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường
Nếu có bất kì sự sao chép nào không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Đà Nẵng, ngày 03 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Trần Nguyễn Thùy Trang
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Trường đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Nhân dịp này, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Ngữ văn cùng gia đình, người thân, bạn bè đã quan tâm, động viên, khích
lệ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và làm khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, song do điều kiện về thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô để khóa luận có thể hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, ngày 03 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
MỤC LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 do chọn đề tài 1
2 ịch s vấn đề nghiên cứu 1
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương ph p nghiên cứu 3
5 Bố cục của khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 5
1.1 Khái lược về thể loại kịch 5
1.1.1 Về vấn đề thuật ngữ, khái niệm 5
1.1.2 ặc điểm của tác phẩm kịch 8
1.2 Kịch tính 11
1.2.1 Khái niệm kịch tính 11
1.2.2 ặc điểm kịch tính 13
1.3 Kịch tính trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 15
1.3.1 Từ ịch t nh trong văn bản kịch đến ịch t nh trong tiểu thuyết 15
1.3.2 u hướng ịch t nh h a trong tiểu thuyết iệt Nam hiện đại 17
1 Ch ai - nhà n ủa nh n iể h ế ià kịch tính 20
1.4.1 ành trình s ng t c tiểu thuyết của Chu ai 20
1.4.2 Những nhân tố àm nên kịch tính trong tiểu thuyết của Chu ai 22
CHƯƠNG 2 KỊCH TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI NHÌN TỪ KẾT CẤU VÀ TỔ CHỨC NHÂN VẬT 25
2.1 Kết cấu linh hoạt - mở ra nhiều ngã rẽ bất ngờ 25
2.1.1 Kết cấu “ ắp ghép” - tạo điểm nhấn cho sự bùng nổ ở các tình huống truyện 25 2.1.2 Kết cấu đồng hiện - chồng xếp lớp mâu thuẫn 27
2.1.3 Kết cấu chùm truyện - tăng cấp c c “cao trào” 30
2.2 Tổ chức nhân vậ ron òn xoá x n đột 33
2.2.1 Từ cái nhìn trực diện - xung đột trong bản thể nhân vật 33
2.2.2 …đến c i nhìn “ ưỡng diện” – xung đột trong cõi cô đơn 37
Trang 62.2.3 … thông diễn đa cực cho cái nhìn định mệnh – xung đột trong tìm kiếm số
phận con người 42
CHƯƠNG 3 KỊCH TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI TỪ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ TỔ CHỨC NGÔN NGỮ 46
3.1 Điểm nhìn trần thuật 46
3.1.1 iểm nhìn toàn tri – tạo độ căng cho mạch chuyện 46
3.1.2 iểm nhìn bên trong – định tính cho những giao diện đối lập 49
3.1.3 Phối điểm nhìn – sự phá vỡ cái nhìn “biết trước” 52
3.2 Ngôn ng trần thuật 54
3.2.1 ối thoại trực tiếp - vượt ngưỡng, đậm tính tranh biện 54
3.2.2 ối thoại gián tiếp – sự tràn lấn bàng thoại 57
3.2.3 ộc thoại – va siết trong mạch đối âm 60
KẾT LUẬN 65
TÀI IỆU THAM KHẢO 67
Trang 7MỞ ĐẦU
1 o họn đề ài
Kịch t nh à đặc trưng nổi bật nhất của kịch, tạo nên trạng th i căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột ưa kịch tính vào tiểu thuyết góp phần làm gia tăng hả năng biểu hiện cuộc sống của thể loại này Qua đ , tiểu thuyết có thể phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực
Ở xu hướng kịch tính hóa trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Chu Lai là một trong những cái tên gặt h i được nhiều thành công với phong c ch độc đ o của mình
Những s ng t c của Chu ai mang một gam màu riêng, hông ẫn vào đâu được ăn Chu ai “sần sùi”, “g c cạnh” và đầy c t nh như ch nh con người ông Nhà văn đa tài đã trải qua h i a trận mạc này “ ị” nhất à sự “nhợt nhạt” của văn chương Những t c phẩm của ông vì thế bao giờ cũng được đẩy đến tận cùng những nỗi buồn vui của con người, đem đến cho người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống
đa đoan thời hậu chiến, đặc biệt à qua hình tượng người nh – hình tượng nhân vật trung tâm luôn trở đi trở ại trên trang viết giàu kịch tính của Chu ai
Trong hơn chục tiểu thuyết đã xuất bản của Chu ai, n mày v ng và
n và m t n c thể được xem như những t c phẩm tiêu biểu nhất, in đậm c t nh
s ng tạo của nhà văn ến với hai t c phẩm, b ng một ối văn giàu ịch t nh, Chu Lai đã chuyển tải đến người đọc hai câu chuyện “n ng hổi”, bộn bề và cũng ắm ngang tr i, bất ngờ của cuộc đời những người nh sau chiến tranh
Tiếp xúc với hai tiểu thuyết n mày v ng và n và m t n, người
nghiên cứu thấy r ng ịch t nh trong hai t c phẩm này à một vấn đề hấp dẫn, tiêu biểu cho phong c ch nghệ thuật của Chu ai Tuy nhiên, cho tới nay một công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về vấn đề này vẫn c n vắng b ng ây à do
để chúng tôi thực hiện đề tài h t nh trong ti u thuy t n mày v ng và
n và m t n hu i
ị h ấn đề nghiên cứu
Từ hi ra đời đến nay, tiểu thuyết của Chu ai uôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ ph a độc giả và c c nhà nghiên cứu ã c h nhiều bài b o chuyên
Trang 8hảo, uận văn tốt nghiệp, uận văn thạc s , đề tài hoa học nghiên cứu về nhiều phương diện trong thi ph p tiểu thuyết của Chu ai C c công trình nghiên cứu đã
àm nổi bật một số phương diện ớn về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai như: hành trình s ng tạo tiểu thuyết và quan niệm nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, không - thời gian nghệ thuật…, đem đến cái nhìn tương đối toàn diện về thi ph p tiểu thuyết của Chu ai Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu hoặc bài báo đề cập đến vấn đề ịch t nh trong tiểu thuyết của nhà văn này
hổng Thị Qu nh trong tiểu uận àn v ti u thuy t hi n n y đã nhận xét:
“ ối viết tốc độ nhiều ịch t nh như Chu ai, đã viết chắc s c người đọc” [28] Cụ
thể hơn, trong bài viết Đ ti u thuy t n mày v ng – hu i Đi v gi i n
i hi n t i và quá h , t c giả Trần Tuyết cho r ng: “Mỗi tình huống truyện là một
dòng tâm sự rất chân thực, đời thường có phần lãng mạn, ngọt ngào và thương cảm Trong dòng hồi tưởng đ , người đọc luôn bị cuốn hút với sự tò mò và những kịch
t nh mà nhà văn tạo ra à đến đoạn gay cấn ông lại gọi xen “Bạn đọc thân mến!”
để từ từ chuyển mạch văn một cách nhịp nhàng và đi vào ng người rất gần gũi, tự
nhiên” [35] à ngay ch nh nhà văn Chu ai, trong bài phỏng vấn trên b o ăn
ngh qu n i với nhan đề Nhà văn hu i h t n ng h i n mà v n h
nh m nh m t nh y u à ph m u i , đã nhìn nhận r ng: “ (…) hông
hiểu có phải, ngoài chữ ngh a văn chương, tôi mê cả sân khấu lẫn điện ảnh nên trong văn của tôi người ta bảo có cả xung đột gay gắt của kịch, lời thoại của kịch nhưng mạch chuyện lại nhiều hành động cứ thế mà quay thành phim được” [32]
Như vậy nhìn chung, bên cạnh c c công trình nghiên cứu về nhiều mặt trong thi ph p tiểu thuyết Chu ai, đã c một số bài viết đề cập đến ịch t nh trong tiểu thuyết của t c giả này Tuy nhiên vấn đề mới ch được nhắc đến một c ch sơ ược
và ngắn gọn qua những nhận xét mang t nh h i qu t Cho tới nay vẫn chưa c công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề ịch t nh trong tiểu thuyết của
Chu ai n i chung và ịch t nh trong hai tiểu thuyết n mày v ng và n và
Trang 9m t n n i riêng ây ch nh à “ hoảng trống” để chúng tôi thực hiện đề tài h
t nh trong ti u thuy t n mày v ng và n và m t n hu i
3 Đ i ượn à phạ i n hi n ứ
3.1 Đ i ượn n hi n ứ
ối tượng nghiên cứu của đề tài này là kịch tính trong tiểu thuyết n mày
vãng và Ba l n và m t l n của Chu Lai
3 Phạ i n hi n ứ
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là hai tiểu thuyết n mày v ng và Ba
l n và m t l n của Chu Lai
Phư n pháp n hi n ứ
- Phương ph p cấu trúc – hệ thống: xem xét hai tiểu thuyết n mày v ng và Ba
l n và m t l n ở tính ch nh thể từ vi mô đến v mô, từ đ phân loại những chi tiết
quan trọng trong hai tiểu thuyết c iên quan đến vấn đề nghiên cứu theo những nhóm khác nhau nh m phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài một cách khái quát, cụ thể hơn
- Phương ph p phân t ch – tổng hợp: Dùng để x lí dữ liệu thu thập được từ phương
pháp cấu trúc – hệ thống, tiến hành chia nhỏ vấn đề phân tích, từ đ tổng hợp thành
một hệ thống để h i qu t và đ nh gi kịch tính trong n mày v ng và Ba l n và
m t l n
- Phương ph p nghiên cứu theo thi pháp thể loại tiểu thuyết: Vận dụng những kiến thức lí luận văn học về thi pháp tiểu thuyết để làm sáng tỏ những bình diện thể hiện
yếu tố kịch tính trong tiểu thuyết n mày v ng và Ba l n và m t l n
- Phương ph p so s nh – đối chiếu: Dùng phương ph p này để so sánh các bình
diện kịch tính giữa n mày v ng và Ba l n và m t l n, giữa kịch tính của hai tiểu
thuyết này với những tác phẩm trước 1986 của Chu Lai
- Phương ph p thống kê: ược s dụng để ch ra số lần xuất hiện, t lệ xuất hiện của
c c phương diện thể hiện kịch tính trong n mày v ng và Ba l n và m t l n
Trang 105 B cục của khóa luận
Ngoài phần Mở u, phần K t luận và thư mục Tài li u tham kh o, phần N i
dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương 2: Kịch tính trong tiểu thuyết Chu Lai nhìn từ kết cấu và tổ chức nhân vật
Chương 3: Kịch tính trong tiểu thuyết Chu Lai từ điểm nhìn trần thuật và tổ chức ngôn ngữ
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Khái lược về thể loại kịch
1.1.1 Về vấn đề thuật ngữ, khái niệm
Trong lịch s nhân loại hơn hai nghìn năm trước đây, h i niệm kịch đã xuất hiện à những nghiên cứu mang tính tiền đề cho lí thuyết kịch sau này, do nhà triết học lỗi lạc của Hi Lạp – Aristote – khởi xướng Theo những gì ông viết trong
công trình Ngh thuật thơ thì tác phẩm “ ịch” à t c phẩm miêu tả những nhân
vật hành động Từ đ đến nay, phạm trù “hành động” bao giờ cũng n m ở vị trí trung tâm của các hệ thống lí thuyết kịch Không những thế, Aristote còn phân biệt giữa hài kịch và bi kịch, nêu ra những quan niệm, kiến giải về hành động kịch, cốt truyện kịch, bố cục của một vở kịch hay vấn đề kịch tính trong tác phẩm kịch… Nhìn chung, từ thời của Aristote, lí thuyết về kịch đã c một hệ thống khoa học, mang tính nền tảng nhất định cho sự phát triển sau này của thể loại kịch nói chung
và lí thuyết kịch nói riêng
“Trong tiếng Hi lạp, từ “ ịch” (drama) c nguồn gốc từ “dran”, c ngh a à động t c, và tương quan với điều này, n cũng bao hàm ý “to acd”, ngh a à diễn xuất, biểu diễn, ý ngh a của nó đều do đ mà suy rộng ra Thời cổ đại Trung Quốc,
trong Thuy t văn gi i tự An Hứa Thận đã giải th ch “ ịch” thể hiện tình huống
ưỡng hổ giao đấu hết sức căng thẳng “ ịch” xuất phát từ chữ “qua” (giáo) biểu thị
“tam quân chi thiên” “Thiên” à một hình thức tổ chức chiến đấu b ng xe thời cổ đại, 25 xe làm thành một thiên, mà “qua” (giáo) thời cổ đại là công cụ ao động
đ nh c và săn bắt, đồng thời là một loại vũ h Do đ , c thể thấy quan niệm về kịch của Trung Quốc cổ đại có nhiều nét gần gũi với quan niệm về kịch của Hi lạp
cổ đại” [36]
Ngày nay, chúng ta nghiễm nhiên coi kịch là một thể loại văn học, là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình) Thế nhưng hông phải ngay từ khi mới ra đời, kịch đã c đời sống văn học độc lập Ở phương Tây,
Trang 12những tác phẩm kịch ra đời từ thế k XVII trở về trước đều hông được người đương thời xem là những tác phẩm văn học Không ai xem Shakespeare hay
Mo iere à nhà văn Dần dần, kịch bản ngôn từ mới thoát khỏi sự ràng buộc của sân khấu, trở thành một trong ba phương thức cơ bản của văn học Từ n a sau thế k XVIII, kịch bản không ch được xem là bản gốc để biểu diễn sân khấu, mà c n được xem là tác phẩm văn học dùng để đọc Thậm chí, có nhiều vở kịch viết ra chủ yếu
để đọc, như quan niệm của nhà viết kịch Turgeniev Từ đ ở phương Tây xuất hiện thuật ngữ “ esedrama” dùng để ch “ ịch để đọc” Tuy thế, dù sao đi nữa cũng phải khẳng định r ng, sân khấu vẫn là mảnh đất sinh sống phù hợp nhất của tất cả các loại kịch bản Pôgôdin, nhà viết kịch Xô viết đã n i: “Sân hấu là thực chất của văn học kịch Ở hình th i đầu tiên của mình, không có sân khấu, văn học kịch bản giống như một người con g i đẹp đang ngủ” [6, tr.167] Nhưng ịch bản văn học vẫn có tầm quan trọng đặc biệt, bởi không có kịch bản s không có sân khấu kịch
ã c nhiều công trình nêu ra định ngh a về kịch Sau đây à một vài trích
dẫn tiêu biểu Ở sách uận văn h – n và suy ngh : “ ịch cũng à một loại
tác phẩm tự sự, có cốt truyện, có nhân vật Nhưng ịch viết ra không phải để đọc hay để kể, mà để trình diễn ( ) Trong phạm vi văn học, loại văn học kịch được nêu
ra thực chất là kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, tức là phần văn bản của tác
phẩm kịch” [12, tr.105] Trong Từ i n ti ng Vi t: “ ịch (d.) nghệ thuật dùng sân
khấu trình bày hành động và đối thoại của các nhân vật, để phản ánh những xung
đột trong đời sống xã hội” [25, tr.522] Theo Từ i n bách khoa Vi t Nam 2: “ ỊCH
một trong ba phương thức phản ánh hiện thực của văn học K chủ yếu dùng để biểu diễn trên sân khấu gọi là diễn K, mặc dù kịch bản văn học vẫn có thể đọc như mọi tác phẩm văn học h c ặc trưng của K là phản ánh cuộc sống b ng hành động K, thông qua c c xung đột tính cách xảy ra trong qu trình xung đột xã hội, được khái quát và trình bày trong một cốt truyện chặt ch với độ dài thời gian biểu diễn không
lớn lắm (trên dưới ba tiếng đồng hồ cho một vở diễn)…” [16, tr.365] iáo tr nh
uận văn h định ngh a: “ ịch là một thể loại đặc biệt, ở đây c sự kết hợp giữa
văn học và một loại hình nghệ thuật khác: nghệ thuật biểu diễn” [6, tr.167] Trong
Trang 13uận văn h – ập 2 á ph m và th o i văn h : “ h i niệm văn học kịch
được s dụng nh m x c định bản chất, chức năng, đặc trưng tạo thành đời sống văn học của kịch bản Kịch bản là kịch bản gốc mà người ta dựa vào để dựng thành vở
diễn trên sân khấu” [31, tr.323] Sách D n gi i tưởng văn hương của Henri
Benac đã đưa ra ngh a thứ nhất và ngh a thứ hai của kịch như sau: “N hĩa hứ
nhất: dùng để ch thể loại sân khấu n i chung (đối lập với thể loại trữ tình, với thể
loại s thi) (…) N hĩa hứ 2 (ngh a giảm nhẹ): kịch ch cuộc xung đột còn chưa đi
đến kết thúc, trong cuộc xung đột ấy người ta có thể thoát khỏi một kết cục định mệnh, nhưng người ta bị gi ng xé, người ta lao vào cuộc đấu tranh, người ta đau khổ Cuộc xung đột đau đớn này diễn ra: trong bản thân (…), trong những quan hệ
của chúng ta với người h c (…)” [3, tr.248-257] Theo ừ i n thuật ng văn h :
“Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự
sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản ch nh à phương diện văn học của kịch Song n i đến kịch
là phải n i đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên b ng hành động, c ch , điệu bộ và b ng lời nói (riêng kịch câm thì không diễn tả b ng lời)” [11, tr.167]
So với sự phát triển của thể loại kịch trên thế giới, ở Việt Nam, kịch ra đời muộn hơn (khoảng đầu thế k XX) Trong số những nhà viết kịch tên tuổi ở Việt Nam, có thể nhắc tới những cái tên xuất sắc đã thành danh như ũ ình ong, Nguyễn uy Tưởng, Học Phi, ào ồng Cẩm, ưu Quang ũ… Với sự ra đời và phát triển của kịch, đời sống văn học Việt Nam đã trở nên sôi động và đa dạng hơn, phản nh được những mảng đời sống một cách chân thực và toàn diện hơn
Từ những khái niệm về thể loại kịch trên đây, c thể khẳng định lại, kịch là một trong ba thể loại chính của văn học à trong đại gia đình văn học nghệ thuật, kịch trở thành một thể loại có vị trí vô cùng quan trọng với những đặc trưng riêng của nó Tác phẩm văn học nói chung thông qua việc phản ánh hiện thực để nêu lên những mâu thuẫn trong cuộc sống Nhưng những mâu thuẫn này ch trở thành xung đột đối lập và bộc lộ rõ bản chất của hiện thực khi nó phát triển đến một giai đoạn nhất định Kịch hướng vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã ph t triển đến chỗ
Trang 14xung đột ấy Chính vì thế, ưu thế đặc biệt của thể loại này chính là sự phản nh đời sống trực tiếp trong những trạng th i căng thẳng nhất, đối lập nhất, bộc lộ rõ những xung đột và sự giải quyết xung đột đ một cách nhanh chóng Từ đ , đem đến cho người đọc, người xem một cái nhìn khách quan và toàn diện về hiện thực cuộc sống, đem ại cho họ cảm gi c như đang tận mắt chứng kiến những xung đột ấy, đang sống trong những câu chuyện đầy kịch tính ấy
Với những ưu điểm đ , từ một thể loại văn học xuất hiện không sớm, nhưng kịch lại đạt được những thành công nhất định và chiếm vị tr đặc biệt trong gia đình văn học nghệ thuật Phương thức phản ánh hiện thực của kịch đã t c động tới nhiều loại hình nghệ thuật h c như thơ ca, điện ảnh… à trong đ , hông thể không kể đến tiểu thuyết Với xu hướng xâm lấn và tương t c thể loại, kịch thực sự đã c những ảnh hưởng đến tiểu thuyết hiện đại, đem đến những bước phát triển mới trong nghệ thuật tái hiện cuộc sống của thể loại này Từ đ , tiểu thuyết đã gia tăng khả năng biểu hiện cuộc sống một cách tập trung, trực tiếp và gay gắt nhất, đạt được hiệu quả thẩm m và gi o dục lớn lao
1.1.2 Đặc điểm của tác phẩm kịch
Thứ nhất, kịch là một thể loại văn học tổng hợp Kịch bản văn học vừa thuộc nghệ thuật ngôn từ (cùng với hai thể loại khác là tự sự và trữ tình), vừa thuộc nghệ thuật sân khấu “N giống như c hai cuộc sống Là vở diễn sân khấu, nó sống với công chúng khán giả Là tác phẩm văn học, nó sống với công chúng độc giả” [31, tr.325] Sân khấu là nghệ thuật tập thể và nghệ thuật tổng hợp Tính tập thể biểu hiện ở hình thức tiếp nhận và cách thức biến kịch bản thành một tác phẩm nghệ thuật Vở diễn à để trình diễn cho một tập thể, đ m đông thưởng thức Và việc trình diễn một vở kịch bên cạnh kịch bản văn học – bộ phận cấu thành quan trọng nhất, còn cần sự tham gia của đạo diễn, diễn viên, các loại nghệ s T nh tổng hợp biểu hiện ở sự đ ng g p của nhiều ngành nghệ thuật (hội họa, trang trí, âm nhạc, vũ đạo ) để làm nên một vở diễn hiệu quả Những điều kiện của sân khấu nói trên quyết định đặc điểm riêng của kịch bản văn học Tuy nhiên, kịch bản văn học còn
Trang 15c đời sống riêng của nghệ thuật ngôn từ Thậm chí có nhiều trường hợp ở nhiều tác phẩm, phẩm chất văn học của kịch bản được coi trọng hơn phẩm chất sân khấu
Một đặc điểm nữa của tác phẩm kịch là tính chất kịch Tính chất kịch của tác phẩm kịch được thể hiện ở kịch t nh ây ch nh à đặc điểm nổi bật của thể loại kịch Kịch t nh được tạo thành bởi những hành động đối nghịch thể hiện các khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người Từ đ dẫn đến trạng th i căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột Nếu so sánh với tiểu thuyết, vốn tính chất không hạn chế về không gian và thời gian nên có thể phản ánh những mâu thuẫn cuộc sống một cách t m , sâu rộng thì kịch, với việc chịu nhiều hạn chế về không gian và thời
gian, phải hướng vào những mâu thuẫn đã ph t triển đến chỗ xung đột (thắt nút –
nh i m), đ i hỏi phải giải quyết (mở nút) Nhờ tính chất kịch này mà tác phẩm
kịch tái hiện cuộc sống một cách tập trung nhất, trực tiếp nhất, nóng hổi nhất
“Nếu kịch t nh à đặc điểm của nội dung thể loại, thì sự tập trung cao độ của cốt truyện à đặc điểm kết cấu của kịch bản văn học” [31, tr.333] ặc điểm này gắn với yêu cầu biểu diễn trên sân khấu của vở diễn (sự hạn hẹp về không gian và thời gian biểu diễn) Tính tập trung cao độ của cốt truyện biểu hiện ở các bộ phận cấu thành cốt truyện kịch Khác với tác phẩm tự sự, “bộ phận cấu thành duy nhất của cốt truyện kịch à hành động được triển khai qua một hệ thống sự kiện diễn ra theo
trật tự thời gian” [31, tr.334] Aristote trong công trình Ngh thuật thơ đã hẳng
định: “Cốt truyện phải có kịch tính, nó phải là cốt truyện của những hành động hoàn
ch nh, c đầu, giữa và cuối, giống như một thể hữu cơ thống nhất và trọn vẹn” [1, tr.97] Cốt truyện tập trung phải tạo được sự thống nhất cao độ giữa hệ thống sự kiện, biến cố, chi tiết, tình tiết với tư tưởng chủ đề cơ bản và hứng thú trung tâm của
vở diễn à do đ , cốt truyện kịch thường đơn tuyến, khác với cốt truyện đa tầng,
đa tuyến trong tác phẩm tự sự, nh m làm nổi bật chủ đề, hứng thú trung tâm ặc điểm này mang lại nhịp điệu phát triển mau lẹ cho tác phẩm kịch Thậm chí vào thế
k XVII, kịch cổ điển của chủ ngh a cổ điển c n đề ra nguyên tắc “tam duy nhất” –
sự coi trọng tuyệt đối tính thống nhất của hành động và sự tập trung của cốt truyện
Trang 16Dầu mang tính tập trung cao độ nhưng cốt truyện kịch lại rất coi trọng việc sáng tạo những cái bất ngờ, những bước nhảy vọt, đột biến Tuy vậy, cái bất ngờ ở đây phải được tổ chức một cách chặt ch , lôgíc, hợp lí qua các chi tiết có chức năng giới thiệu, dự b o Qua đ , cốt truyện diễn ra vừa hấp dẫn lại vừa tự nhiên, không hiên cưỡng, gượng ép
Như trên đã n i, hành động là bộ phận cấu thành duy nhất của cốt truyện kịch Theo Aristote, tác phẩm kịch phải “ à sự mô phỏng một hành động quan trọng
và trọn vẹn”, “mục đ ch [của bi kịch là miêu tả] một hành động nào đ , chứ không phải miêu tả phẩm chất” [1, tr.33-35] “ ege đã n i, hành động kịch bao giờ cũng bao hàm động cơ, mục đ ch, mưu đồ, do đ , n bão h a nội dung tâm hồn, thể hiện huynh hướng tính cách và ý chí tự do của c nhân con người” [31, tr.332] Qua hành động của nhân vật trung tâm, tư tưởng chủ đề cơ bản và hứng thú trung tâm của vở diễn được bộc lộ Do đặc điểm về tính tập trung cao độ của cốt truyện, hành động kịch cũng phải đạt được sự thống nhất Lí luận kịch gọi đ à sự “thống nhất của hành động” [31, tr.334] Từ yêu cầu về sự thống nhất của hành động, mỗi vở kịch ch theo đuổi một mục đ ch, hướng vào chủ đề then chốt; mọi chi tiết, sự kiện, biến cố trong cốt truyện đều phải hướng tới mục đ ch ấy, làm nổi bật chủ đề ấy ây cũng ch nh à yêu cầu về sự gãy gọn, cô đúc của kịch
Một thành phần không thể thiếu trong việc cấu thành một vở kịch chính là nhân vật kịch – chủ nhân của c c hành động kịch Có thể nhận thấy, do gắn với nghệ thuật sân khấu nên kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất nhưng đồng thời cũng mang t nh ước lệ nhất Nhân vật kịch chịu sự chi phối chặt ch bởi những điều kiện của sân khấu biểu diễn, đồng thời n được cụ thể hóa b ng loại chất liệu riêng (lời thoại và giọng nói của các nhân vật), mang tính độc lập cao độ của một chủ thể tự biểu hiện Tính chất x c định của t nh c ch à đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của nhân vật kịch Do các đặc điểm nêu trên, số ượng nhân vật kịch không thể quá nhiều hoặc khắc họa quá t m , phức tạp Tính cách nhân vật kịch phải nổi bật, x c định “Timôphêép c n giải th ch thêm: “ ình tượng kịch phản ánh những mâu thuẫn của cuộc sống đã ch n muồi gay gắt nhất và
Trang 17đã được x c định, chính vì vậy n được xây dựng trên cơ sở nhấn mạnh trong tính
c ch con người sự cảm xúc phiến diện do các mâu thuẫn trên quy định” [6, tr.171]
Do đ c thể nói, nhân vật kịch chủ yếu là nhân vật loại hình Chúng ta có thể cảm thấy rõ ràng những tình cảm chủ yếu, dục vọng cơ bản trong tính cách của nhân vật kịch Tuy nhiên, cũng cần t nh táo nhận ra r ng, sự nổi bật, x c định của tính cách hông c ngh a à đơn giản một chiều, nhàm chán Nhân vật kịch bên cạnh nét tính cách nổi bật còn có những nét t nh c ch h c iên đới và biến thái làm nên tính sinh động, đa dạng và hấp dẫn
Cần ưu ý thêm một đặc điểm nữa, đ à ịch bản văn học không có ngôn ngữ người kể chuyện Về cơ bản ch có một thành phần lời n i, đ à ời nhân vật
(tho i) bao gồm ba dạng: ối tho i, c tho i và bàng tho i
Qua những đặc điểm của tác phẩm kịch đã trình bày ở trên, ta càng c cơ sở khẳng định r ng, kịch là thể loại văn học tái hiện cuộc sống một cách trực tiếp nhất, sinh động nhất Lời độc thoại và đối thoại của các nhân vật đã biến hành động thành
sự biểu hiện trực tiếp của ý ch , động cơ, biến những gì đã xảy ra thành c i đang diễn ra ở thì hiện tại Nhờ đ mà h n giả, độc giả có cảm gi c như mình đang trực tiếp chứng kiến câu chuyện ấy với sự căng thẳng, gay gắt của những mâu thuẫn, xung đột ây ch nh à sức hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm kịch, à điều làm nên sự
t c động mạnh m tới tình cảm thẩm m của người xem, người đọc Bên cạnh đ , do đặc trưng của sự chiếm nh nghệ thuật đối với hiện thực của kịch à hướng về mâu thuẫn đã ph t triển đến xung đột, tạo nên kịch tính, nên tác phẩm kịch có thể phản
nh đời sống trong trạng th i căng thẳng nhất, mãnh liệt nhất à một phương thức chiếm nh hiện thực b ng nghệ thuật độc đ o, gây ấn tượng sâu sắc cho người tiếp nhận, có sức ay động và thúc giục con người hành động
1.2 Kịch tính
1.2.1 Khái niệm kịch tính
Như trên đã n i đến, kịch t nh à đặc trưng nổi bật nhất của kịch Nghiên cứu
về đặc trưng nổi bật nhất này, đã c nhiều quan niệm khác nhau về kịch tính Theo
Từ i n ti ng Vi t: “Kịch tính (d.) Tính chất kịch, phản ánh một cách tập trung nhất
Trang 18những mâu thuẫn, xung đột đang vận động của đời sống” [25, tr.522] Trong Từ
i n bách khoa Vi t Nam 2: “KỊCH TÍNH khái niệm m học, ch sự va chạm, đụng
độ của các lực ượng đối lập trong một xung đột có tính xã hội, qua đ tạo ra những giá trị nhận thức thẩm m , cũng như sự hấp dẫn đối với khán giả Sự va chạm, đụng
độ ch có giá trị KT khi nó chứa đựng đầy đủ hai yếu tố quan trọng: 1) Tạo ra những biến đổi trong mối quan hệ của các lực ượng đối lập trong xung đột ( ) Một vở kịch thiếu KT s rất tẻ nhạt, vì từ đầu đến cuối không có những biến động, không có những đổi thay, dễ gây cho người xem cảm gi c đều đều, nhàm chán 2) Góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, giúp độc giả nhận thức được nhanh chóng bản chất của các nhân vật kịch Qua các va chạm, đụng độ có KT dẫn đến những biến động trong tâm tư, tình cảm cũng như trong số phận nhân vật, người xem dễ dàng nhận ra những khía cạnh thầm kín, tinh vi, tế nhị hoặc phức tạp của các tính cách nhân vật”
[16, tr.365] Sách uận văn h – ập 2 á ph m và th o i văn h cho r ng:
“ ịch tính là trạng th i căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột, được tạo ra bởi những hành động thể hiện c c huynh hướng tính cách và ý chí tự do của con
người” [31, tr.333] Còn theo Henri Benac trong công trình D n gi i tưởng văn
hương: “ ịch t nh theo đúng ngh a của nó, có trong tất cả những vở diễn sân khấu
(…) iên quan đến tính không chắc chắn của một diễn biến hành động không ngừng tiến lên Một tình huống nào đ , trong một cuộc đối thoại, là nguyên nhân gây mâu thuẫn của những dục vọng của các nhân vật: từ đ mà c quyết định và vì thế nảy sinh hành động Sự thích thú bắt nguồn ( ) từ sự hiếu kì hay từ sự lo lắng về kết cục và những hậu quả của cuộc đấu tranh ấy, từ những đan xen giữa hi vọng và sợ hãi mà chúng ta cảm nhận đối với nhân vật, theo những diễn biến của cuộc xung
đột” [3, tr.246] Và trong ừ i n thuật ng văn h : “ ( ) kịch tính, tức là những
sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật” [11, tr.168]
Theo chúng tôi hiểu, kịch tính là sự tập trung cao độ nhất, căng thẳng nhất của những mâu thuẫn, xung đột giữa các lực ượng đối lập, qua đ tạo ra sự biến đổi trong mối quan hệ giữa các lực ượng đ cũng như tâm tư, tình cảm, số phận nhân
Trang 19vật, bộc lộ rõ huynh hướng tính cách, ý chí của nhân vật kịch; góp phần t c động mạnh m đến nhận thức thẩm m của người xem, người đọc
1.2.2 Đặc điểm kịch tính
Tác phẩm kịch và tác phẩm tự sự cùng lấy cuộc sống h ch quan àm đối tượng phản nh ể phản nh đời sống trong tính khách quan ấy, kịch và tự sự đều dựa vào cốt truyện – được tổ chức từ hệ thống các sự kiện, biến cố, và qua đ , thể hiện được những mâu thuẫn, xung đột căng thẳng, gay gắt của đời sống Tuy vậy,
“từ trong bản chất, kịch và tự sự là hai loại tác phẩm có nội dung thể loại rất khác nhau” [31, tr.328] ặc trưng nổi bật của kịch làm cho kịch khác tự sự chính là kịch tính Kịch tính là một đường dẫn hết sức quan trọng khi tìm hiểu tác phẩm kịch Không có mâu thuẫn, xung đột thì không có kịch t nh Nhưng hông phải cứ miêu
tả mâu thuẫn, xung đột của đời sống thì tác phẩm s có kịch t nh Như đã định ngh a
ở trên, khái niệm kịch tính vốn phức tạp với nội hàm phong phú hơn nhiều
Thứ nhất, kịch làm nổi bật sức mạnh của hành động có lí do, ý đồ, động cơ, qua đấy thể hiện huynh hướng tính cách, ý chí tự do của con người, dẫn đến một kết quả, hậu quả, trách nhiệm nào đ mà con người đạt được, nhận lấy Như vậy, kịch tính phải được tạo thành bởi những hành động đối nghịch Chính những hành động đ đã àm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột gay gắt giữa cá nhân và xã hội, giũa chủ thể với c i h ch quan, thúc đẩy hệ thống sự kiện, biến cố vận động, tạo nên kịch tính cho tác phẩm kịch Trong hi đ , để phản ánh những mâu thuẫn, xung đột của đời sống, tác phẩm tự sự tập trung làm nổi bật sức mạnh của cái tất yếu khách quan qua một cốt truyện với hệ thống sự kiện mở rộng có khả năng biểu hiện đời sống hoành tráng Bởi vậy mà Bielinski phân biệt: “ ịch và tự sự đều có sự
kiện; nhưng từ trong bản chất, kịch và tự sự hoàn toàn đối lập với nhau Sự ki n thống ngự trong tác phẩm tự sự, còn on ngư i lại thống ngự trong tác phẩm kịch Nhân vật của tự sự là bi n cố, nhân vật của kịch là on ngư i cá nhân” [31, tr.329]
ặc điểm tiếp theo cần ưu ý, “ ịch tính không phải là dấu hiệu hình thức, cũng hông thuộc phương diện nội dung cụ thể như đề tài, chủ đề của tác phẩm, mà
à đặc điểm mang tính loại hình của nội dung thể loại” [31, tr.333] Là thể loại sinh
Trang 20sau đẻ muộn so với tự sự và thơ, nhưng ịch lại có đời sống độc lập và có sự phát triển riêng, mạnh m , bất diệt, chiếm một vị tr đặc biệt quan trọng trong gia đình văn học nghệ thuật Kịch tính chính là uy quyền tạo nên sự độc lập, vị trí riêng ấy của thể loại kịch
ặc trưng riêng của kịch so với các thể loại h c: “T c phẩm tự sự là hiện thân cho sức mạnh của cái tất yếu khách quan Ở một cực khác, tác phẩm trữ tình là hiện thân cho sức mạnh của nội cảm Làm nổi bật sức mạnh của hành động thể hiện huynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người ch nh à đặc trưng thể loại của tác phẩm kịch” [31, tr.333] Mà hành động thể hiện huynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người chẳng à gì h c, đ ch nh à những mâu thuẫn, xung đột làm nên kịch tính cho tác phẩm kịch Gôgôn đã từng nói về hài kịch nổi tiếng của
mình: “Trong Quan thanh tra tôi đã tập trung vào một chỗ tất cả những điều tồi tệ ở
nước Nga mà hồi ấy tôi biết, tất cả những gì phi ngh a bất công và ch một lần đã cười nhạo tất cả” [21, tr.414] Tiếng cười nhà soạn kịch tạo ra từ kịch tính có tác dụng giải tho t cho con người khỏi những tệ nạn xã hội và thói xấu cá nhân, những
ti tiện, thị hiếu tầm thường, có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức và thẩm m tiên
tiến ay như ở vở u Ơ ip của Sophocles, ta thấy r ng không phải số phận đã đẩy
Ơdip đến với kết cục bi thảm mà ch nh Ơdip đã éo số phận về phía mình b ng hành động thể hiện khát vọng tìm kiếm chân , phơi bày sự thật Cùng với đ ,
Hăm et của Shakespeare, ơ Xit của Corneille, Âm mưu và t nh y u của Schiller hay
ũ Như ô của Nguyễn uy Tưởng đều là những tác phẩm giàu kịch tính, làm nổi
bật hành động của nhân vật, thể hiện huynh hướng tính cách cùng ý chí tự do của con người
Như trên đã trình bày, ta thấy kịch và tự sự đều giống nhau ở chỗ dựa vào một hệ thống sự kiện, biến cố được tổ chức thành cốt truyện để phản nh đời sống trong t nh h ch quan “Nhìn nhận nhưng ưu thế của kịch như đã trình bày ở phần trên cũng c ngh a à thừa nhận những yếu tố mà văn xuôi tự sự có thể vay mượn,
s dụng để àm tăng t nh hiệu quả thể hiện trong tác phẩm Như vậy, có thể thấy
trong văn xuôi tự sự yếu tố kịch được hiện diện qua sự dàn dựng những chi tiết, tình
Trang 21tiết của nhà văn trong t c phẩm; qua thủ pháp kịch hóa nhân vật b ng tính phô diễn
(th i độ nhân vật được bộc lộ trực tiếp, rõ ràng, không bị che giấu, những lời n i đối thoại, độc thoại c t nh phơi bày suy ngh , cảm xúc ); qua thủ pháp xây dựng cốt
xã hội sâu sắc qua sự mâu thuẫn, xung đột giữa các nhân vật đại diện cho những
giai cấp đối lập trong xã hội lúc bấy giờ (Răng on h nhà tư s n, Oẳn tà
rroằn, Ngự ngư i và ngư i ngựa, Cụ chánh bá m t giày, M t cái ví ) Cùng với
đ à những c i tên như Ngô Tất Tố, Nguyên ồng, Nam Cao ay ở một nhà văn đương đại như Nguyễn uy Thiệp, kịch tính trong sáng tác của ông thường bộc lộ
qua những mâu thuẫn, xung đột giữa lớp văn bản hình tượng với văn bản ngôn từ
ăn bản ngôn từ và văn bản hình tượng, “ ời” và “vật” giống như được nhà văn tách thành hai nhân vật, nhân vật này giễu nhại nhân vật kia, tạo nên động lực thúc đẩy sự vận động liền mạch của trò diễn
Qua đây c thể một ần nữa hẳng định r ng, yếu tố ịch t nh trong văn xuôi
tự sự đã àm nên sức hấp dẫn, sự sinh động và t nh chân thực cao cho t c phẩm, t c động hông nhỏ đến tâm tư, tình cảm thẩm m của người thưởng thức
1.3 Kịch tính trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
1.3.1 ịch tính trong văn bản kịch đ n ịch tính trong tiể th t
Ở trên, ta đã àm rõ vấn đề yếu tố kịch t nh được hình thành và tạo ấn tượng mạnh như thế nào trong tác phẩm văn xuôi tự sự Trở về dưới, ta s bàn về yếu tố kịch tính trong tiểu thuyết nói riêng
Trang 22Tiểu thuyết vốn là thể loại c đặc trưng miêu tả cuộc sống “hiện tại” hông ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân Nhắc đến tiểu thuyết là nhắc đến chất văn xuôi – tái hiện cuộc sống với những chi tiết giống như thật ồng thời thể loại này cũng hướng về miêu tả hiện thực như c i hiện tại đương thời của người trần thuật, tức là xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật à đặc biệt, đây ch nh à thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại hình văn học h c D nhiên, hông thể thiếu văn học kịch Tiểu thuyết thế k XIX – đã xuất hiện loại tiểu thuyết –
kịch với tác giả tiêu biểu là Marcel Proust (Đi t m th i gi n m t)
Có thể thấy r ng, trong phạm vi hiện thực đời sống vốn đã chứa đựng trong
đ chất “ ịch”, tức là những mâu thuẫn, xung đột ên đến cao trào và đ i hỏi phải giải quyết nhanh chóng Tiểu thuyết, với đặc trưng miêu tả đời sống hiện tại với tính khách quan, tính trực tiếp, đang diễn ra, nên cũng dung nạp và phản ánh những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hiện thực Tính nội dung trực tiếp của tiểu thuyết
ôm trùm toàn bộ cốt truyện, hi đ tình tiết rắc rối s trở thành phương tiện phản
nh xung đột giữa cá nhân và xã hội, trở thành động lực thúc đẩy hành động của nhân vật Tạo được kịch tính cho trần thuật, sự rắc rối s chi phối cả sự phát triển của mâu thuẫn từ xuất phát điểm đến phương thức giải quyết, cả những biến cố cốt truyện Qua đ , tiểu thuyết có thể phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực
Từ đây c thể thấy r ng, kịch t nh trong văn bản kịch đã đi vào tiểu thuyết Tiểu thuyết cũng c thể dung nạp những yếu tố kịch tính, mang trong nó những đặc trưng của kịch tính Những mâu thuẫn, xung đột của đời sống được đưa vào nghệ thuật theo nguyên tắc “ ịch h a”, tức là tạo ra được những tình huống giàu kịch tính theo những thủ pháp của kịch hi nhà văn viết tiểu thuyết nhưng tình huống trong
đ được kịch hóa tức là viết tiểu thuyết theo quy tắc của kịch iều này đã chạm đến l n ranh tương t c giữa hai thể loại kịch và tiểu thuyết, thể hiện xu hướng tương tác thể loại trong văn học Mượn những đặc trưng của kịch t nh và đưa vào tiểu thuyết những yếu tố kịch tính, tiểu thuyết đã àm gia tăng hả năng biểu hiện cuộc
Trang 23sống của mình Dù chứa nhiều yếu tố “thừa” hay nhịp điệu trần thuật nhìn chung chậm rãi, miêu tả nhân vật một cách chi tiết, t m thì nhờ có kịch tính, các tác phẩm tiểu thuyết đã miêu tả được cuộc sống hiện thực một cách tập trung nhất, trực tiếp nhất, trong những trạng th i căng thẳng hoặc bùng bổ, bộc lộ rõ nét c c xung đột nội tâm hay xung đột xã hội, điều mà vốn những tác phẩm kịch mới àm được
Kịch tính trong tiểu thuyết được biểu hiện ở nhiều phương diện, từ nội dung đến nghệ thuật Trong hệ thống cốt truyện – kết cấu, đ c thể là những câu chuyện nhỏ đan xen tạo thành chùm truyện, hay s dụng các kết cấu song hành/tương phản để tạo nên những tr chơi ết cấu đầy kịch t nh, thúc đẩy sự tò mò của người đọc đi đến sự giải quyết câu chuyện, tình huống tác giả đưa ra ay ở nghệ thuật ngôn từ, người viết có thể ượt bớt thành phần câu, tạo độ căng trong ời thoại để tạo nên kịch tính, hoặc s dụng dày đặc c c đoạn độc thoại nội tâm, dòng ý thức hỗn độn, đảo ngược trật tự thời gian, bộc lộ những xung đột dữ dội trong nội tâm nhân vật, qua đ đẩy kịch tính tác phẩm lên cao Xây dựng hệ thống nhân vật phát triển theo những tuyến đối lập nhau cũng à một trong những cách làm nổi bật xung đột, mâu thuẫn của cốt truyện, tạo nên kịch tính trong tác phẩm tiểu thuyết
Cuộc sống đang ngày càng phức tạp, chưa đựng trong nó những xung đột nội tại lẫn ngoại sinh, đ i hỏi người nghệ s phải tinh nhạy trong việc phát hiện và có năng ực diễn đạt, phản ánh những xung đột, mâu thuẫn ấy trong tác phẩm một cách nghệ thuật nhất ưa yếu tố kịch tính vào tiểu thuyết chính là một trong những cách phản nh đầy tính nghệ thuật ấy Làm như thế, hông c ngh a à tiểu thuyết đã
đ nh mất những đặc trưng riêng biệt của mình mà ngược lại, càng àm tăng gi trị của tác phẩm khi biết kết hợp những c i hay, c i ưu điểm của thể loại h c để bổ sung, hoàn thiện thêm thể loại mình Tiểu thuyết là thể loại chưa biết đến sự hoàn
tất trong hình thức của nó chính là vì thế
1.3.2 h ng ịch tính h trong tiể th t Việt N hiện đ i
Có nhiều yếu tố làm nên phong cách cho các tác giả tiểu thuyết, mà một trong số đ ch nh à yếu tố kịch tính Nếu ở phương Tây, Marce Proust à đại diện tiêu biểu cho loại tiểu thuyết – kịch thì ở Việt Nam, xu hướng kịch tính hóa, tuy
Trang 24chưa đạt được thành công như c c nhà văn phương Tây, vẫn là một xu hướng nổi bật trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Trong văn học hiện đại, kịch tính trong tiểu thuyết đã được nhiều nhà văn s dụng, ở các mức độ khác nhau, nh m tái hiện cuộc sống trong c c xung đột căng thẳng một cách hiện thực và trực tiếp nhất
Nhà nghiên cứu Phạm uân Nguyên đã nhận định như sau trong bài viết
“Bàn về xung đột của tiểu thuyết” đăng trên T p h sông Hương: “Tiểu thuyết
ngày nay đang đi tìm những câu trả lời cho những vấn đề chưa được giải quyết của thực tại, nhưng bản thân sự tìm kiếm tinh thần trong tiểu thuyết trước hết phụ thuộc vào chiều sâu của sự nhận thức các vấn đề đ , vào sự t nh táo của người nghệ s hi
đứng đối mặt với những mâu thuẫn của cuộc sống hiện thực Trong thế kỷ XX
những mâu thuẫn này mang tính cách kịch biến đặc biệt Ch nh qua xung đột xã hội mang tính kịch sâu sắc được phản ánh vào tác phẩm thì sự thật nghệ thuật mới có khả năng đạt tới mức độ tập trung cao nhất Tiểu thuyết thể hiện những xung đột xã hội mang tính kịch sâu sắc - đ à yêu cầu của thời đại, à đ i hỏi đặt ra cho nhà văn
đi sâu vào nhận thức hiện thực phức tạp, đa dạng” [23] Qua nhận định trên, ta càng khẳng định thêm r ng, xu hướng kịch tính hóa trong tiểu thuyết là một xu hướng đang ph t triển và s còn phát triển nữa trong văn học Việt Nam hiện đại
Có thể thấy được xu hướng này qua tác phẩm của nhiều tác giả tiểu thuyết
nổi tiếng Tiêu biểu như Nguyên ồng với tiểu thuyết B vỏ Trong những tiểu
thuyết của ông, nhân vật thường được ném thẳng vào những tình thế hủng hoảng,
hi thì à một cơn đ i, úc thì phải đối đầu trong cuộc chiến sinh t Ở đây, nhân vật Tám Bính cũng được đặt vào hàng oạt những tình thế ựa chọn căng thẳng như thế:
à cô g i quê trong trắng, nhẫn nhục sống với cha mẹ hay bỏ ên thành phố để tìm
b ng được ẻ đã àm mình c thai để àm ại cuộc đời; tiếp tục cuộc sống an nhàn dưới ốt vỏ của vợ một gã cảnh s t hay giải tho t cho Năm Sài G n – người chồng
cũ, một tướng cướp hung hãn mà hào hiệp để dấn mình vào iếp sống vô định đầy hiểm nguy, bất trắc đang rình rập mình Những sự ựa chọn và hành động ấy của nhân vật à gì nếu chẳng phải à huynh hướng t nh c ch và ý ch tự do của con người, tạo ra trạng th i căng thẳng đặc biệt của những mâu thuẫn, xung đột? C
Trang 25vì xu hướng ịch t nh h a trong tiểu thuyết này mà vỏ đã từng được chuyển thể
sang sân hấu, trở thành một vở diễn gây tiếng vang ớn trong công chúng
Bên cạnh đ , những tiểu thuyết viết về chiến tranh của c c nhà văn iệt Nam hiện đại cũng đã thể hiện được những xung đột ịch s ớn của dân tộc dưới những biểu hiện khác nhau Các tác giả đã phản ánh hiện thực vào những thời điểm biến động lớn lao của lịch s , tái tạo những hoàn cảnh phức tạp, những tình huống căng thẳng, tập trung cao độ các mâu thuẫn cần được giải quyết Qua đ bộc lộ xung đột
kịch t nh căng thẳng bên trong của nhân vật Có thể n i đến tiểu thuyết Ở xã Trung
Ngh của Nguyễn Thi Ch qua phần đầu tác phẩm đã thể hiện nổi bật hoàn cảnh
chứa đựng những mâu thuẫn ch ng chịt, nhiều tầng tuyến, một bầu không khí nặng
nề, tức tối đến ngạt thở mà muốn sống thì con người không thể không vùng dậy, tìm lối thoát Trong hoàn cảnh đ những t nh c ch như ông Tư Trầm, chị Hai Khê, mụ
Ba Sồi, lão cảnh sát Âu bộc lộ hết mình, càng ngày càng không thể nín nhịn được nữa và nhất định cuối cùng s phải xung đột, va chạm, sinh t với nhau
Không thiên về những xung đột bên ngoài và mang t nh đơn xung đột như các tiểu thuyết trước 1975, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 đã phản ánh được những xung đột bên trong, những xung đột mang tính triết học v nh c u, mang
t nh đa xung đột rõ nét Nhân vật được đặt vào những hoàn cảnh căng thẳng cao độ, không loại trừ những tình huống bi kịch, và phải chịu sự cọ xát, th thách của nhiều xung đột Từ đ tác giả đã lý giải vấn đề con người đã tồn tại, chịu đựng và chiến thắng như thế nào trong một cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua, cũng như àm nổi bật những xung đột nội tâm mà những người lính phải trải qua trong thời kì chiến
tranh lẫn hậu chiến Có thể thấy điều này qua tiểu thuyết Năm 1975 h sống như
th của Nguyễn Trí Huân với nhân vật Trung đoàn trưởng Mạc ang ch huy đơn
vị đối mặt với kẻ thù trong trận đ nh quyết liệt cuối cuộc chiến tranh, nhưng cũng chính trong thời điểm nóng bỏng ấy Mạc lại trải qua những cảm xúc, tình cảm đầy xung đột, gi ng xé: suy ngh về người vợ bội bạc ở hậu phương, tình yêu thầm kín với Thư Nhờ những yếu tố kịch t nh đan xen này mà bức tranh chân dung người
Trang 26lính hiện lên chân thực hơn, hiện thực chiến tranh cũng vì thế mà khốc liệt hơn, căng thẳng hơn
Ở mảng đề tài thế sự - đời tư, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 cũng xuất hiện những cái tên gây chú ý với những tác phẩm theo xu hướng kịch t nh h a như Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Bảo Ninh Tuy yếu tố kịch tính xuất hiện không nhiều
nhưng ở Thiên th n sám hối, Tạ Duy Anh đã v nên một bức tranh hiện thực cuộc
sống với đầy đủ màu sắc, âm thanh, hình khối mà ở đ , những xung đột, mâu thuẫn âm hay lộ rõ hiện lên một cách trực tiếp nhất, căng thẳng nhất Người đọc nhiều lúc phải thót tim với những câu chuyện đời thường do hài nhi n m trong bụng
mẹ kể lại Những câu chuyện cứ thế đan xen, c c mâu thuẫn, xung đột cứ thế bộc
lộ, để rồi dẫn đến một lựa chọn, một hành động quyết liệt của “thiên thần”: quyết định s chui ra bụng mẹ để đ n nhận thế giới, dù có xấu xa, bẩn th u, tàn nhẫn, thì thế giới ấy vẫn đ ng sống, đ ng h m ph vì ở đ c n c tình yêu thương
à đi cùng xu hướng kịch tính hóa trong tiểu thuyết, không thể không nhắc đến một cái tên: Chu Lai
1 Ch ai - nhà n ủa nh n iể h ế ià kịch tính
1.4.1 nh tr nh ng t c tiể th t củ h i
ại tá, nhà văn Chu Lai có tên khai sinh là Chu ăn ai Ông là con trai nhà viết kịch Học Phi Trong thời kì chiến tranh, ông từng công tác ở quân đội sau đ chuyển qua s ng t c văn chương, viết kịch bản sân khấu, kịch bản phim và tham gia
đ ng phim C thể thấy r ng, Chu Lai là một nghệ s tài hoa, một con người thành công trên nhiều nh vực nghệ thuật Và tiểu thuyết, ch nh à nh vực đem ại tiếng vang nhất của ông
Hành trình sáng tác tiểu thuyết của nhà văn Chu ai à một hành trình đi từ
mô hình tiểu thuyết s thi đến mô hình tiểu thuyết “phi s thi” Bắt đầu nổi tiếng từ
Nắng ồng bằng (1978), chặng đường s ng t c đầu tiên của Chu Lai (1978-1985)
còn ghi dấu ấn với những tác phẩm như Đ m tháng h i (1979), Gió không th i từ
bi n (1984) Các tiểu thuyết trong giai đoạn này đã t i hiện một bức tranh hiện thực
chiến tranh gian khổ, khốc liệt nhưng hông ém phần hào hùng, anh dũng Tuy
Trang 27nhiên, Chu ai hông đi sâu vào t i hiện chiến tranh mà chú ý đến số phận cá nhân,
lí giải các biến cố, đồng thời phần nào miêu tả được những mất mát, khốc liệt do chiến tranh mang lại ây à những dấu hiệu mang tính chất chuyển tiếp, chuẩn bị cho hành trình sáng tác tiếp theo của tiểu thuyết Chu Lai
Chặng đường sáng tác thứ hai (từ 1986) với mô hình tiểu thuyết “phi s thi”
nổi lên với những tác phẩm gây tiếng vang lớn như Vòng tròn b i b c (1987), Bãi
b hoang l nh (1990), n mày v ng (1991), Phố (1992), Ba l n và m t l n
(1999), Cu i dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Ch còn m t l n (2006), Hùng Karô (2010) ến lúc này, những dấu hiệu của mô hình tiểu thuyết
phi s thi đã xuất hiện ở chặng trước được kết tinh lại trong một cấu trúc ổn định Tiểu thuyết Chu ai sau 1986 đã c sự đổi mới mạnh m về cảm hứng, nội dung và hình thức thể hiện Các tác phẩm ở thời ì này đậm đà hương vị cuộc sống với tất cả những gì nóng hổi nhất, nhức nhối nhất, gai góc nhất Không còn tái hiện lại chiến tranh xuôi chiều như giai đoạn trước, tiểu thuyết thời ì này đi sâu vào số phận người lính thời hậu chiến, suy ngh về chiến tranh trong cái nhìn chiêm nghiệm, phân tích, lí giải Qua những tác phẩm này, ta thấy được một nhà văn Chu ai vừa sôi nổi vừa thâm trầm, vừa lạc quan vừa bi tr ng Ông đồng cảm với những nỗi đau, những bi kịch, những cảm xúc thầm kín của con người, phơi bày ên trang giấy tất
cả những xung đột gi ng xé sâu trong tâm can người ta, đào bới thật sâu vào những mặt trái, mặt khuất lấp của cuộc sống Từ đấy, nhà văn gieo vào ng người đọc những cảm xúc nhân văn, những tình cảm nhân ái qua các tác phẩm giàu sức sống
và giá trị thẩm m
Từ sự vận động trong hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai, ta có thể nhận ra sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn về hiện thực và về con người Nếu trong những sáng tác giai đoạn đầu, hiện thực trong tiểu thuyết Chu
ai c n đơn giản với sự phân tuyến nhân vật rõ ràng thì sau 1986, ông đã hướng đến phản ánh hiện thực trong sự đa chiều, phức tạp Hiện thực trong quan niệm của Chu Lai lúc này là hiện thực cuộc sống của những cá nhân, cá thể, những con người nhỏ bé nhưng cũng hết sức v đại trong t nh người của họ Nhà văn thấm thía sự tác
Trang 28động của chiến tranh đến tâm lí, tính cách, số phận con người Qua đ , hiện thực, với những mảnh sáng mảnh tối đối lập nhau, đã dần dần hiện lên, rõ ràng và nhức nhối hơn
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Chu ai cũng c bước chuyển biến, từ con người đơn phiến sang con người ưỡng phân Nếu trước 1986, nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai là những con người với những nét t nh c ch đơn giản, một chiều, ít vận động, phát triển và biến đổi thì sau 1986, Chu ai đã đi vào
h m ph đời sống riêng đầy phức tạp của con người cá nhân cá thể Từ đ , nhà văn
đã thể hiện và giãi bày được những trạng thái tâm lí phức tạp, đầy xung đột mâu thuẫn của con người, thậm chí cả những vùng lẩn khuất trong tiềm thức, tâm linh, bản năng Nhờ vậy mà con người, với tất cả sự thánh thiện, cao quý lẫn tầm thường, xấu xa đã hiện lên một cách chân thực hơn bao giờ hết trong tiểu thuyết Chu Lai Không những thế, ông c n thường xuyên đặt các nhân vật tiểu thuyết của mình trong các tình huống mâu thuẫn, những mối quan hệ đối đầu căng thẳng để họ bộc lộ tận cùng bản chất Và với ám ảnh chiến tranh - nguồn cảm hứng sáng tạo mãnh liệt khôn nguôi của Chu ai, ông c n quan tâm đặc biệt đến vấn đề hoàn thiện nhân c ch người lính - những người lính hôm qua và hôm nay, qua việc tạo ra những ranh giới, xung đột trong cuộc đời họ
Từ những tìm hiểu trên về hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu ai cũng như sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của nhà văn,
có thể thấy r ng, ông đã rất chú trọng trong việc tạo ra những tình huống kịch tính
để bộc lộ rõ nét bản chất của hiện thực cũng như t nh c ch nhân vật, qua đ thể hiện
tư tưởng – tình cảm của người viết về vấn đề phản ánh trong tác phẩm ây à một yếu tố àm nên phong c ch độc đ o của Chu Lai - nhà văn của những tiểu thuyết giàu kịch tính
1.4.2 Những nh n t n n kịch tính trong tiể th t củ h i
Có nhiều yếu tố hình thành và ảnh hưởng đến phong cách của một nhà văn Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần h c như tâm , h chất, cá tính đều có ảnh hưởng quyết định đến phong c ch Phong c ch nhà văn đồng thời cũng
Trang 29mang dấu ấn dân tộc và thời đại Xét về trường hợp nhà văn Chu ai, mà cụ thể là
xu hướng kịch tính trong tiểu thuyết Chu Lai, ta thấy có nhiều nhân tố àm nên đặc điểm phong cách này
Thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm trong cuộc đời nhà văn Chu Lai trước hết là con của nhà viết kịch nổi tiếng Học Phi Từ nhỏ được tiếp xúc với ngành kịch n i, được xem nhiều tác phẩm kịch, cùng với sự di truyền tính nghệ s ,
m u văn chương ịch nghệ từ cha – một nhà soạn kịch tài hoa, Chu ai đã thân thuộc và yêu mến thể loại này tự bao giờ Lớn lên, ông vừa học ại học Tổng hợp hoa ăn, vừa làm diễn viên sân khấu kịch Sau đ , vào bộ đội, ông cũng c thời gian công tác ở oàn ịch nói Tổng cục Chính trị Bước ra từ cuộc chiến tranh, ông bắt tay vào viết kịch bản sân khấu, kịch bản phim và làm diễn viên phim Qua đây
có thể thấy r ng, cuộc đời viết văn của Chu Lai gắn liền với cuộc đời viết kịch, hoạt động kịch nói – sân khấu Do đ , những ảnh hưởng từ thể loại kịch, với đặc trưng nổi bật là kịch tính, không thể hông ăn sâu vào tiềm thức của một nhà văn, “nhuốm màu” ên những sáng tác tiểu thuyết của ông
Bên cạnh đ , trong cuộc đời trận mạc khói l a của mình, Chu ai đã c những trải nghiệm, chiêm nghiệm đắt giá trong chiến tranh Ông đã từng chứng kiến biết bao mảnh đời, bao khúc ngoặt, bao mâu thuẫn xung đột ên đến đ nh điểm, cao trào ch nh à những kinh nghiệm quý giá, những dấu ấn sáng tạo đậm nét, không thể phai nh a trong tâm tr người nghệ s mà ông nhận ra mình phải tái hiện lại những câu chuyện đầy kịch t nh đ trong những tiểu thuyết theo xu hướng kịch
t nh h a Như con ong chăm ch tìm hoa hút mật àm đẹp cho đời, Chu ai đã tìm đến đúng phạm vi phản ánh của mình và ph t s ng tài năng C thể nói r ng, viết về những ám ảnh chiến tranh, những câu chuyện xoay quanh chủ đề chiến tranh với tất
cả sự đa đoan, phức tạp và kịch tính của nó là sở trường và thế mạnh của Chu Lai Ông có rất nhiều tác phầm viết về đề tài này, nhưng hông t c phẩm nào giống tác phẩm nào Bởi l , mỗi câu chuyện, mỗi tiểu thuyết là một bức tranh cuộc sống, một mâu thuẫn xung đột gay gắt trong đời sống con người cá nhân Và với ưu thế của một người viết kịch nhà nòi, Chu Lai không l nào không vận dụng những điểm
Trang 30mạnh của thể loại kịch nói vào tiểu thuyết để àm gia tăng hả năng phản ánh cuộc sống một cách trực tiếp, chân thực và gay cấn nhất trong những tác phẩm của mình
Như đã tìm hiểu ở trên về quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực của Chu Lai, ta thấy r ng với nhu cầu miêu tả hiện thực trong mối quan hệ đa chiều, miêu tả con người với những nét t nh c ch ưỡng phân, những mối quan hệ chồng chéo phức tạp, không gì có thể đ p ứng được nhu cầu này hơn à đưa yếu tố kịch tính vào trong tiểu thuyết Nhờ yếu tố kịch tính, những câu chuyện, những ngã r cuộc đời, những dòng kí ức, suy ngh của các nhân vật s trở nên hấp dẫn, lôi cuốn người đọc hơn à Chu ai, với tài năng đặc biệt của mình, thực sự đã àm được điều đ Tự nhận xét về sáng tác của mình, Chu ai đã n i: “ ả lại, không hiểu có phải, ngoài chữ ngh a văn chương, tôi mê cả sân khấu lẫn điện ảnh nên trong văn của tôi người ta bảo có cả xung đột gay gắt của kịch, lời thoại của kịch nhưng mạch chuyện lại nhiều hành động cứ thế mà quay thành phim được” [32]
Từ sự ảnh hưởng từ người cha, những kinh nghiệm trong nghề diễn viên và nghề viết kịch, cũng như những trải nghiệm thực tế phong phú về cuộc đời, Chu Lai
đã chuyển hóa những mảng màu đa dạng từ phạm vi hiện thực cuộc sống thành thế giới nghệ thuật độc đ o, mới mẻ b ng nhiều cách thức thể hiện giàu kịch tính khác nhau Cũng với xu hướng kịch t nh h a đ , nhưng ở mỗi tiểu thuyết là một gam màu riêng, một sắc thái riêng, tạo nên một phong cách nghệ thuật Chu Lai thống nhất mà đa dạng
Tiêu biểu cho kịch tính trong tiểu thuyết của Chu Lai là hai tác phẩm n mày
v ng và Ba l n và m t l n Nghiên cứu yếu tố kịch tính trong hai tác phẩm này,
ta không ch khám phá một nét phong c ch đặc trưng của Chu Lai mà còn thấy được
sự chuyển biến, c ch tân trong xu hướng kịch tính hóa ở tiểu thuyết Chu Lai qua thời gian
Trang 31CHƯƠNG 2 KỊCH TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI NHÌN TỪ KẾT CẤU VÀ TỔ CHỨC NHÂN VẬT 2.1 Kết cấu linh hoạt – mở ra nhiều ngã rẽ bất ngờ
Theo Từ i n thuật ng văn h c, “ ết cấu à phương tiện cơ bản và tất yếu
của khái quát nghệ thuật (…), đảm nhiệm các chức năng rất đa dạng: bộc lộ tốt chủ
đề và tư tưởng của tác phẩm; triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lí
hệ thống tính cách; tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả; tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như à một hiện tượng thẩm m (…) Kết cấu bộc lộ nhận thức, tài năng và phong cách của nhà văn” [11, tr.157] Tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn học, vì thế, không thể bỏ qua kết cấu của tác phẩm đ ới cách tổ chức kết cấu “lắp ghép”, đồng hiện và kết cấu theo các chùm truyện, Chu ai đã thể hiện được đậm nét yếu
tố kịch tính trong hai tiểu thuyết n mày v ng và Ba l n và m t l n, qua đ
chuyển tải những thông điệp nghệ thuật sâu sắc đến người đọc
2.1.1 K t cấu “lắp ghép” – t o điểm nhấn cho sự bùng nổ ở các tình hu ng truyện
Hình thức kết cấu theo kiểu “ ắp ghép” qua dòng chảy của kí ức là một kiểu kết cấu ảnh hưởng từ thuật cắt dán của điện ảnh ây à iểu kết cấu thường được
s dụng trong tiểu thuyết hiện đại, khiến tiểu thuyết có cấu trúc phức tạp hơn, c tính chất mở trên trục thời gian và trong nhiều hướng không gian “Với kiểu kết cấu
“ ắp ghép”, các nhà tiểu thuyết đã che giấu được các sự kiện, các hành động của nhân vật, khiến người đọc không thể biết trước được điều gì s xảy ra, câu chuyện
s kết thúc như thế nào” [24], “(…) việc xáo trộn trật tự sự kiện trong cốt truyện tìm biết một bí mật nào đ , hêu gợi hiếu kì, gây hiệu quả hấp dẫn cho tác phẩm” [31, tr.167] iều này tạo nên điểm nhấn cho sự bùng nổ ở các tình huống truyện
Kiểu kết cấu “ ắp ghép” với sự phát huy tối đa vai tr của kí ức rất phù hợp với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh qua c c hình tượng nhân vật người
lính, mà n mày v ng và Ba l n và m t l n là những minh chứng tiêu biểu Chu
Trang 32ai đã dụng công s dụng kiểu kết cấu này, đem đến kịch tính cho những câu chuyện về số phận cuộc đời các nhân vật
n mày v ng được kết cấu b ng c ch “ ắp ghép” giữa hai mảng không –
thời gian (quá khứ và hiện tại – chiến tranh và hòa bình) qua hồi ức của nhân vật
ai ùng Chu ai đã đưa người đọc vào mê cung đầy hấp dẫn và không kém phần hồi hộp Mở đầu tác phẩm là thì hiện tại với chi tiết kích thích tò mò và sự chú ý của người đọc: “Tên người đàn bà ấy à Sương, Ba Sương, đã chết rồi, chết mười mươi ngay trước mắt tôi, ch nh tay tôi đã đào mồ chôn cất ( ) Vậy mà Sương ại không chết, không hề chết!” [18, tr.5] Từ đ , câu chuyện kể ngược về những hồi ức chân thực của Hai Hùng thời trận mạc, rồi lại xuôi đến hiện tại với hành trình đi tìm
sự thật về người phụ nữ tên à Ba Sương Cứ thế, mười s u chương truyện chập chờn đứt nối giữa quá khứ và hiện tại, những câu chuyện hồi ức dần được kể, những khuất lấp dần được làm sáng tỏ, nhưng vẫn giữ được bí mật cho đến phút ch t ể rồi hi, “ ời kể của viên đại úy” và ời thú nhận của Ba Sương ở “Chương ch t cùng” được hé lộ, những gì còn bí ẩn đã được lộn trái ra, khiến người đọc ngỡ ngàng Có thể n i, Chu ai đã tạo được một “cú đấm nghệ thuật” đầy ngoạn mục ở đoạn cuối, giải tỏa độ căng trong ng độc giả do việc che giấu các sự kiện gây nên
ây ch nh à c ch tạo nên kịch tính trong tác phẩm, khiến người đọc không thể rời mắt khỏi diễn biến câu chuyện, thường xuyên rơi vào trạng thái phỏng đo n, nghi ngờ, hồi hộp, hi vọng rồi lại thất vọng
Ở Ba l n và m t l n, kết cấu “ ắp ghép” này được Chu Lai s dụng ở một
mức độ phức tạp hơn, tạo nên một hình thái phát triển cao hơn của yếu tố kịch tính
Mở đầu tác phẩm là lời lí giải nhan đề, vừa rõ ràng lại vừa gây tò mò về nội dung câu chuyện Sau đ , người kể điềm nhiên kể lại cuộc hỏi cung giữa hai nhân vật chính với những biến động tâm lí tế vi trong lòng Út Thêm khiến người đọc thắc mắc về mối quan hệ trong quá khứ của hai con người tưởng như xa ạ này ể rồi từ đấy, mạch chuyện dần đi vào những kí ức thời chiến tranh ác liệt nhưng hào hùng
và ngọt ngào qua cái nhìn của cô bé Út Thêm Những lần đột ấp, những trận càn, cuộc chia i đẫm nước mắt bên bờ suối , tất cả đã hơi vào ng người đọc sự xúc
Trang 33động chân thực, đồng thời hé mở những tình cảm mà Út Thêm dành cho Sáu Nguyện úng úc mạch hồi ức đang tuôn trào, câu chuyện lại trở về hiện tại với cuộc hỏi cung đang đến hồi gay cấn và cuộc hành trình đi tìm sự thật của Út Thêm
Và rồi lại lắp ghép với câu chuyện về cuộc đời Sáu Nguyện sau hòa bình, qua cái nhìn và lời kể của Ba ẩu Nhưng những bí mật vẫn được chôn giấu đến phút chót, cho đến hi Tư Chao ể về cuộc đời mình từ lần trốn đi cùng Năm Thành Như vậy
có thể thấy, mạch chuyện Ba l n và m t l n đứt nối vô cùng phức tạp giữa quá khứ
và hiện tại, trong đ qu hứ lại là quá khứ của nhiều nhân vật khác nhau, góp phần
lí giải hành vi phạm tội của Sáu Nguyện ể rồi cuối cùng, mạch chuyện lại r sang một hướng khác với cái chết đầy bất ngờ của Sáu Nguyện trên đường áp tải Với kết cấu “ ắp ghép” phức tạp này, Chu ai đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác Câu chuyện về cuộc đời Sáu Nguyện, về ba lần tha và một lần không thể tha cứ thế dồn nén, để rồi ên đến cao trào và bùng nổ ở đoạn cuối
Có thể thấy với kết cấu “ ắp ghép” ph t huy tối đa vai tr của kí ức được sự dụng một cách thành thạo và linh hoạt, Chu ai đã t i hiện thành công những số phận đầy nghịch lí của các nhân vật, qua đ thể hiện được sự đa đoan của cuộc đời,
sự tất nhiên và ngẫu nhiên không thể cưỡng lại của “con tạo” định mệnh Nếu không s dụng kiểu kết cấu này, nhà văn h c thể tạo được kịch t nh đậm đặc như
thế trong hai tiểu thuyết n mày v ng và Ba l n và m t l n
2.1.2 K t cấ đồng hiện – chồng x p l p mâu thuẫn
Kết cấu đồng hiện là loại kết cấu khá phổ biến trong tiểu thuyết hiện đại Ở đây, mạch truyện hông được kể theo trật tự thời gian tuyến tính mà các sự kiện trong thời gian quá khứ, hiện tại, tương ai cùng hiện lên một úc, đan cài với nhau, cũng c thể là từ hiện tại quay ngược về quá khứ để kể chuyện (đảo thuật) hay từ hiện tại, kể trước những câu chuyện ở tương ai (dự thuật) Theo ặng Anh ào:
“Trong d ng tâm tư, qu hứ, hiện tại, tương ai xuất hiện cùng một lúc, không bị ngăn c ch, iên tục như một dòng chảy, đó là hiện tượng mà người ta gọi là thời
gian đồng hiện” [8, tr.77] Trong n mày v ng và Ba l n và m t l n, bên cạnh kết
Trang 34cấu “ ắp ghép”, Chu Lai còn s dụng kiểu kết cấu đồng hiện, đem ại những hiệu quả thẩm m mới lạ trong cách thể hiện kịch tính của tác phẩm
Ở n mày v ng, đồng hiện hiện tại và quá khứ đã nhiều lần xuất hiện từ
điểm nhìn của nhân vật Hai Hùng Tại nhà hàng sông nước miền Tây, khi bất chợt nghe thấy tiếng nói “ngọt sắc ở âm tiết cuối” [18, tr.21] giống hệt Ba Sương, c ch nói chuyện giống Ba Sương, trong đầu Hai Hùng chợt vang lên những câu nói của
Ba Sương từ rất lâu trong quá khứ xa xôi:
“ - Thôi mà Tôi xin các anh ( ) nghe kỳ lắm! Tôi v n à tôi, trư c sau gì rồi
v n à tôi, à ư n, m t lòng m t d v i bà con nghèo kh ( )
Anh ai thương em thiệt hôn? ( ) Bậy rồi! Anh ai thương mà cứ nói
qu ên như thế, nghe k lắm! Em vẫn là em, bao giờ cũng à em, một con bé Sương
ốm yếu, hay mắc cỡ, hay giận hờn làm khổ anh thôi ” [18, tr.21]
Ch cần d ng suy tưởng của nhân vật chạm phải một điểm nào đ c iên quan đến kí ức, hình ảnh quá khứ lại hiện ra ngay: “Nết-Rao của Úc ư? Úc đại
lợi ại Úc ( ) Anh H i! ùng này nh Đ i Úc m i i u v ( ) Anh nói b
i i ng àng nghe! h m t ngón tay b p ò như em th t i lắm! Ngón
tay! Phải, đúng ng n tay! Tại sao tôi có thể sơ ý được điều ấy nh ?” [18, tr.25], “
Em v i ch Hai Hợi không ph i dân x này u ( ) ình như c một lần nào đ ,
em đã n i với tôi như thế?” [18, tr.28] Sự đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ này là những manh mối, những chi tiết kể gợi, kích thích sự tò mò của người đọc, dự báo trước diễn biến tương ai của câu chuyện, đồng thời làm chồng xếp các lớp xung đột trong mạch nội tâm của nhân vật Hai Hùng
Không ch thế, ở n mày v ng còn xuất hiện kiểu đồng hiện giữa mạch kể
hiện tại và d ng tương tư riêng của nhân vật Có thể thấy rõ điều này qua đoạn đối thoại giữa Hai Hùng và Hai Hợi ở chương Bốn:
“Thú thật, suốt hơn một giờ đồng hồ nghe bà đại diện lực ượng vũ trang địa phương hăng h i thông b o ( ), tôi ch nghe được õm bõm ầu c tôi đang c n mải lảng bảng với những giai thoại thật hư, ì quặc của nhân vật ( ) cạnh tôi đây
Ngày xưa vốn là dân bán thịt ở chợ ( )
Trang 35- Nè! Ông có nghe tôi n i hông đ ? ( )
Năm hai mươi tư tuổi, sắc đẹp đang vào ì rực rỡ ( ) tự nhiên sanh tật đi phải lòng một gã thượng s bảo an quèn ( )
- ịa bàn nơi ta đang ở là một vạt rừng mỏng ( )
Vào rừng, cô quyết định cắt tóc ngắn ( )” [18, tr.69, 70]
Qua cách kết cấu truyện đặc biệt như thế, người đọc dần được đi vào những
bí mật, những mặt khuất lấp của từng nhân vật Chu Lai vừa thay đổi giác quan cho người đọc, vừa tạo nên một cuộc chơi hấp dẫn, thú vị, khiến người đọc không thể rời mắt khỏi những trang s ch đầy ám ảnh và kịch t nh đ
Ở Ba l n và m t l n, tần suất s dụng kết cấu đồng hiện của Chu ai t hơn
so với n mày v ng Tuy thế, ở những lần xuất hiện, kiểu kết cấu này vẫn “ph t
s ng”, tạo nên những quầng sáng thẩm m hấp dẫn người đọc Tâm trạng rối bời của
Út Thêm trong lần trò chuyện thân tình với chú Sáu là một ví dụ điển hình: “Chú
bỗng gắt lên Chính tiếng gắt đ đã àm cho cô chợt thấy cay cay nơi sống mũi Kh
th nào ũng hông ược khóc Ch t n nơi ũng hông ược thở dài Ráo tr i buồn u, tăm tối c nén nh n h t vào trong hi nào u ái u quá, trèo lên cây gác mà ngồi C nh vật r ng dài Cô bé không dè những câu n i như c m u rớm
bên trong ấy ch một thời gian ngắn sau đã vận vào con người đang ngồi nói chuyện với mình ( )” [19, tr.26] Ở đây c sự đồng hiện giữa hiện tại, quá khứ (sự hồi tưởng của Út Thêm) và cả tương ai ( ời dự thuật của người kể chuyện) Trong một trường hợp khác, kết cấu đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ được s dụng tạo nên
sự nhức nhối, đổ vỡ ở nhân vật Hai Hùng khi biết được sự thật về Thành Long lúc hắn ta xuất hiện để “xoa dịu” sự căm phẫn của công nhân mình: “ ây à nỗi đau trong nhà, bởi đã từ âu tôi coi c c đồng chí, coi anh chị em đang đứng đây như
những người ruột thịt ( ) ơ sở nào? ơ sở như on mẹ ư h o a cậu y h ? ( ) Anh chị em đau một tôi đau mười ( ) Thôi cho tao xin lỗi chuy n hồi
chi u i! Nhưng ph i nói nàng có m t s c quy n rũ ỳ l thật! ( ) Tôi sẵn sàng
chịu bất cứ sự trừng phạt nào kể cả tù tội để trong ng được thanh thản ( ) Tao
không ph n b i, tao ch buồn chán thôi Mày n i! N ng s ng n mà n i! h
Trang 36có mày m i có quy n tiêu di t và lên án tao thôi bởi v t o àm mày m t ngư i
àn à a mày ” [19, tr.275- 277] ung đột giữa Sáu Nguyện và Thành ong đã
được chồng xếp lên một mức cao hơn qua iểu kết cấu này Trong thâm tâm Sáu Nguyện vừa nảy lên sự giận dữ khi nhớ về câu chuyện đau đớn hơn hai mươi năm
về trước, vừa văng vẳng lời thuyết phục đầy trơ tr o của tên gi m đốc bóc lột công nhân Việt Nam Mâu thuẫn chất chồng, dồn nén, tạo nên những hành động kịch tính
ở những phần tiếp theo của nhân vật Hai Hùng
Ở n mày v ng và Ba l n và m t l n ta còn thấy xuất hiện với tần suất lớn
những đoạn đồng hiện giữa hiện tại và tương ai à những lời dẫn chuyện mang tính dự báo, gợi trước những diễn biến, những mối quan hệ, sự “va chạm” trong tương ai giữa các nhân vật ặc điểm này s được khảo sát sau trong phần tìm hiểu điểm nhìn toàn tri của người kể chuyện ngôi thứ ba
Với kết cấu đồng hiện, Chu ai đã dẫn dắt chúng ta đi về tự nhiên giữa hiện tại, quá khứ và tương ai qua điểm nhìn của các nhân vật và người kể chuyện, từ đ
đi sâu hơn vào những diễn biến, xung đột nội tâm của nhân vật, hơi gợi những chi tiết dự báo, tạo ra sự t m nơi người đọc, dồn nén sự kiện để tạo nên kịch tính cho tác phẩm
2.1.3 K t cấu chùm truyện - tăng cấp c c “c o tr o”
Cũng gồm nhiều câu chuyện đan xen như trong ết cấu phân mảnh, nhưng ở kết cấu theo kiểu chùm truyện, giữa các câu chuyện vẫn có sự móc nối, liên kết với nhau, góp phần làm tròn trịa và toàn vẹn hơn cốt truyện trung tâm của tác phẩm Cùng với kết cấu “ ắp ghép”, đồng hiện nêu trên, Chu ai đã tạo ra những câu chuyện nhỏ, những chùm truyện móc xích với nhau trong một mạch văn đầy kịch
t nh, qua đ b c t ch dần dần những bí mật, àm tăng cấp mâu thuẫn, đưa người đọc
đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác
n mày v ng xoay quanh câu chuyện đi tìm sự thật về người phụ nữ Ba
Sương của nhân vật Hai Hùng Thế nhưng với kết cấu “ ắp ghép” và đồng hiện nêu trên, tác phẩm lại mở ra nhiều câu chuyện nhỏ hơn, c chuyện quá khứ, có chuyện hiện tại, tất cả góp phần soi chiếu làm sáng tỏ câu chuyện trung tâm Có thể kể ra
Trang 37những mạch chuyện nhỏ đan xen trong tiểu thuyết này bên cạnh mạch chuyện trung tâm như: câu chuyện về cuộc hội ngộ bạn bè bên bàn nhậu của Hai Hùng, chuyện
về cô bé tiếp viên ở nhà hàng c gương mặt đẹp như diễn viên Hồng Kông, cái chết
và dự cảm của Viên, cuộc gặp gỡ định mệnh ngày xưa giữa ai ùng và Ba Sương, chuyện tình Hai Hùng – Ba Sương trong chiến tranh với những lãng mạn, xung đột, hiểu lầm, xa cách rồi hội ngộ, chuyện về người bảo vệ thường trực tốt bụng, cuộc đời Hai Hợi, cuộc đời Tám Tính, chuyện tình Tám Tính – Hai Hợi, cái chết tức tưởi của Bảo và Khiển, lời tự thú của những người lính về tư tưởng tự làm mình bị thương để rời ngũ, những trận đ nh c iệt trong chiến đấu, tình yêu đơn phương của Ba Thành dành cho Hai Hợi, mối tình chớm nở giữa Tuấn – Thu và cái chết ghê rợn của Thu, chuyện về Giôn, mối quan hệ rắc rối và khó đo n định giữa Tường – ịch – Ba Sương, c i chết nhãn tiền của Ba Sương trước mặt Hai Hùng trong lần bị vây ráp và cuộc cướp xác liều nh,
Sự xuất hiện của những chùm truyện nhỏ này góp phần làm giảm độ căng của cốt truyện, phân tán sự chú ý của người đọc, nhưng đồng thời đây cũng à những manh mối để hơi sâu hơn vào cốt truyện trung tâm Bên cạnh đ , ch nh nhờ
sự móc nối, liên kết hoàn hảo giữa các câu chuyện này mà bức tranh cuộc sống hiện lên chân thực và nhức nhối hơn, hả năng bao qu t của tác phẩm được mở rộng, kịch tính diễn ra ở nhiều tầng nhiều lớp với nhiều mức độ hơn âu phải ch có cuộc rượt đuổi, truy tìm tung tích của Hai Hùng là kịch tính, mà cuộc đời Hai Hợi, cái chết đầy ám ảnh của những người đồng đội trong chiến tranh cũng được Chu Lai xây dựng theo thủ pháp kịch tính hóa Và từ những câu chuyện, chùm truyện nhỏ này, tất cả cùng hội tụ, àm gia tăng mâu thuẫn trung tâm, đẩy kịch tính tác phẩm
ên cao để rồi đi đến cái kết ngỡ ngàng Ở đây, ết cấu chùm truyện được sắp xếp theo kiểu song hành, đan xen giữa quá khứ và hiện tại Cứ mở ra một câu chuyện trong thời hiện tại (bao gồm nhiều câu chuyện nhỏ) thì lại đi đến một câu chuyện trong quá khứ Cứ thế nối tiếp nhau, hiện tại vừa phát triển mà quá khứ cũng dần được hé lộ, cung cấp thêm những chi tiết, thông tin làm rõ thêm hiện tại, rõ thêm