Ở Việt Nam, truyện cổ tích cũng là một trong những thể loại quan trọng trong văn học dân gian và thể loại cũng thu hút được sự quan tâm khá nhiều của giới nghiên cứu.. Qua việc khảo sát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình nghiên cứu này
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Ngọc Minh Trúc
Trang 4Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS TS Lê Đức Luận, người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận
Xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Ngọc Minh Trúc
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục của khóa luận 5
Chương I GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 6
1.1 Khái niệm và phân loại truyện cổ tích 6
1.1.1 Khái niệm truyện cổ tích 6
1.1.2 Phân loại truyện cổ tích 7
1.2 Truyện cổ tích thần kì 10
1.2.1 Đặc trưng truyện cổ tích thần kì 10
1.2.2 Vai trò của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì 11
1.3 Khái niệm không gian và thời gian nghệ thuật 12
1.3.1 Không gian nghệ thuật 12
1.3.2 Thời gian nghệ thuật 14
Chương II KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ 17
2.1 Các kiểu không gian trong truyện cổ tích thần kì 17
2.1.1 Không gian trần thế 17
2.1.1.1 Không gian tự nhiên 17
2.1.1.2 Không gian xã hội 22
2.1.2 Không gian phi trần thế 33
2.1.2.1 Không gian thiên đình 35
2.1.2.2 Không gian thủy phủ 36
2.1.2.3 Không gian âm phủ 37
Trang 6THẦN KÌ 45
3.1 Các kiểu thời gian trong truyện cổ tích thần kì 45
3.1.1 Thời gian trần thế 45
3.1.1.1 Thời gian phiếm chỉ 45
3.1.1.2 Thời gian tuyến tính, kéo dài 48
3.1.2 Thời gian phi trần thế 50
3.1.2.1 Thời gian tôn giáo 50
3.1.2.2 Thời gian cản trở, phi cản trở 51
3.2 Giá trị biểu đạt của thi pháp thời gian trong truyện cổ tích thần kì 52
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học dân tộc, văn học dân gian giữ một vai trò quan trọng và
đó là một trong những kho tàng lưu giữ những điều tinh túy nhất của ông cha ta để lại Trong đó, truyện cổ tích là một thể loại hấp dẫn và chiếm số lượng khá lớn trong loại hình tự sự dân gian Bản thân nó chứa đựng những tri thức và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân lao động Chính vì vậy, không thể ngày một ngày hai chúng ta có thể khám phá hay thấu hiểu những gì tác giả dân gian gửi gắm Truyện
cổ tích thần kỳ là một nhóm truyện hấp dẫn và đặc sắc trong truyện cổ tích, kiểu truyện này được người ta phân chia dựa vào sự xuất hiện của yếu tố thần kì Yếu tố thần kì có vai trò không thể thiếu trong sự phát triển tình tiết, giải quyết xung đột của truyện qua đó thể hiện lí tưởng xã hội và ước mơ của nhân dân lao động
Như ta đã biết, không gian và thời gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho một tác phẩm văn học hoàn chỉnh Mọi sự vật, mọi hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong tâm thức của ông cha ta ngày xưa không hề có sự phân biệt giữa thế giới siêu nhiên, vô hình với thế giới tự nhiên, hữu hình Bởi vậy, không gian và thời gian trong truyện cổ tích cũng chứa đựng nhiều điều bí ẩn cần khám phá và hơn nữa hai thi pháp này đã góp phần tạo nên vẻ độc đáo riêng trong truyện cổ tích thần kì Chúng tôi cho rằng, muốn nhận thức đầy đủ và sâu sắc đặc điểm thi pháp không gian và thời gian trong truyện cổ tích thần kì là một yêu cầu có tính nguyên tắc và khoa học Hơn nữa, xuất phát từ lòng yêu thích và say mê khám phá thế giới văn học dân gian, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì” để nghiên cứu Qua đó, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu không gian, thời gian nghệ thuật
và giá trị biểu đạt của hai thi pháp này trong truyện cổ tích thần kì
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, văn học dân gian luôn là bộ phận văn học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và góp phần cho văn học viết phát triển Vào cuối thế kỷ XIX, việc
Trang 8nghiên cứu về văn học dân gian đã hình thành cùng với sự ra đời của thuật ngữ Folklore (1846) Kể từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới Trong lĩnh vực truyện cổ tích ta không thể không nhắc đến V.Ja.Propp Năm 1928 ông đã cho ra đời một công trình nghiên cứu có ý nghĩa quốc tế đó cuốn sách “Hình thái học truyện cổ tích” Trong cuốn sách này, V.Ja.Propp đã bắt đầu nghiên cứu truyện cổ tích thần kì Nga Ông cho rằng truyện cổ tích được xây dựng
từ những yếu tố bất biến và những yếu tố khả biến Ông đã chỉ ra 31 chức năng và phân tích mô hình cấu trúc bên trong của truyện cổ tích thần kì Từ đó giúp cho Propp tìm ra được sự giống nhau kì lạ giữa các truyện cổ tích trên thế giới Propp cho rằng: Yếu tố thần kỳ trong truyện cổ tích đều phát sinh từ thần thoại và motif là một dạng của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Tác giả đã nhận định về không gian “nó là một thành phần cấu trúc không thể thiếu được Mặt khác, nó dường như hoàn toàn vắng mặt” Có thể nói rằng, lý thuyết chức năng hình thái học của Propp
từ khi ra đời đã được sử dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả thiết thực Qua việc vận dụng lý thuyết này, người nghiên cứu sẽ xác định được cơ cấu bên trong của một truyện cổ tích Từ đó có thể tìm ra được những đặc trưng cơ bản cũng như phân loại truyện cổ tích một cách khoa học
Ngoài công trình nghiên cứu về lý thuyết chức năng của Propp còn có đại diện của trường phái địa lý - lịch sử Phần Lan là Anti Aarne và Stith Thompson Anti Aarne đã cho ra đời cuốn “Danh mục các thể loại truyện cổ tích” (1910) Đến năm
1928, nhà nghiên cứu Stith Thompson đã kế thừa và phát triển lý thuyết đó và cho
ra đời cuốn “Từ điển A-T” Chính nhờ các công trình nghiên cứu của Aarne và Thompson mà việc phân loại truyện cổ tích trên thế giới trở nên rõ ràng, cụ thể hơn Trên đây là những vấn đề sơ lược của chúng tôi về lý thuyết và ứng dụng của hai trường phái nghiên cứu truyện cổ tích trên thế giới Ở Việt Nam, truyện cổ tích cũng là một trong những thể loại quan trọng trong văn học dân gian và thể loại cũng thu hút được sự quan tâm khá nhiều của giới nghiên cứu Trong đó, Nguyễn Tấn Đắc
đã vận dụng lý thuyết của trường phái địa lý - lịch sử Phần Lan qua công trình nghiên cứu “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif”, hay “Đọc lại truyện Tấm
Trang 9Cám ở Đông Nam Á” Ngoài ra, việc ứng dụng lý thuyết chức năng hình thái học của Propp ở Việt Nam cũng khá phổ biến, tiêu biểu như Tăng Kim Ngânvới cuốn “Cổ tích thần kì người Việt Đặc điểm, cấu tạo, cốt truyện”(1994), hay Đỗ Bình Trịvới cuốn
“Truyện cổ tích thần kỳ Việt đọc theo hình thái học của truyện cổ tích của V.Ja.Propp”(2006)… Điều đó là minh chứng cho ý nghĩa ứng dụng rộng rãi và thiết thực của hai trường phái trên thế giới trong quá trình nghiên cứu, đọc hiểu truyện
Trong cuốn “Giáo trình thi pháp văn học dân gian” (tài liệu lưu hành nội bộ) của Lê Đức Luận, Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Sư phạm, tác giả đã nghiên cứu đặc trưng thi pháp truyện cổ tích thể hiện qua nhiều phương diện cụ thể và đề cập sơ lược về thi pháp không gian và thời gian trong truyện cổ tích Còn đối với bài viết chuyên sâu “Nhận diện cổ tích thần kì người Việt”, Lê Đức Luận đã đề xuất
và phân tích trong loại cổ tích kỳ ảo có các tiểu loại: cổ tích hoang đường, cổ tích thần kì và cổ tích hóa thân và tác giả cũng cho rằng mỗi nhóm có thi pháp riêng
biệt
Có thể nói rằng, mỗi nhà nghiên cứu truyện cổ tích đã đưa ra những quan điểm của riêng mình, hoặc dựa vào khái niệm của những người đi trước để nghiên cứu
những đặc điểm của không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích Ở bình
diện thi pháp học, Đỗ Bình Trị, Lê Trường Phát đều thống nhất ở quan niệm: Truyện cổ tích thần kì xây dựng hai loại không gian chủ yếu là không gian trần thế
và không gian kì ảo Còn Vũ Anh Tuấn trong cuốn “Giáo trình văn học dân gian”
có viết rằng: “Thế giới nghệ thuật của truyện cổ tích thần kì là thế giới nghệ thuật kì
Trang 10ảo, phi hiện thực qua việc xây dựng các mô hình không gian và thời gian” Trong
bài viết:“Tính hai mặt của không gian nghệ thuật truyện cổ tích” Nguyễn Việt Hùng
đưa ra nhận định: “Không gian nghệ thuật của truyện cổ tích mang tính chất hai mặt Các đặc điểm của không gian nghệ thuật truyện cổ tích là những đặc điểm vừa thống nhất vừa đối lập với nhau…” Từ đó tác giả trình bày những quan niệm cơ bản
về các loại hình không gian: Không gian kì ảo và không gian hiện thực, không gian cản
trở và không gian phi cản trở, không gian điểm và không gian tuyến tính
Trong bài viết “Tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa truyền thuyết và cổ tích”
Võ Phúc Châu đã đưa ra nhiều dẫn chứng về mối quan hệ giữa truyền thuyết và cổ tích, đồng thời tiến hành đối sánh hai thể loại Trong đó, tác giả đã đề cập một số vấn đề liên quan đến khía cạnh không gian và thời gian trong truyện cổ tích với truyền thuyết Đối với thời gian trong cổ tích, tác giả cho rằng: “Trong cổ tích, thời gian giữ vai trò tạo không khí, dẫn dắt, liên kết các tình tiết chứ không nhằm khắc họa tính cách, số phận nhân vật Nó được xem là một yếu tố nghệ thuật quan trọng trong tác phẩm” Còn đối với không gian trong cổ tích, do không mang tính cụ thể, tính địa phương nên nó “không thuộc sở hữu riêng của bất cứ bộ phận văn học dân gian địa phương nào” Tuy chỉ nghiên cứu sơ lược nhưng tác giả đã phần nào giới thiệu cho bạn đọc thấy rõ sự khác nhau cơ bản của không gian và thời gian trong truyện cổ tích so với truyền thuyết Việc nghiên cứu đối sánh của Võ Phúc Châu góp phần làm rõ giá trị nghệ thuật của thi pháp thời gian, không gian trong truyện
cổ tích, nhất là truyện cổ tích thần kì
Trên đây là những thành tựu của giới học thuật khi tìm hiểu và nghiên cứu về truyện cổ tích Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy sự
quan tâm đến “Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì” chỉ
nằm rải rác ở các bài nghiên cứu hoặc giới thiệu sơ lược chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống Vì thế, việc nghiên cứu “Không gian và thời gian nghệ
thuật trong truyện cổ tích thần kì” là việc làm cần thiết qua đó làm sáng tỏ và hiểu
được giá trị biểu đạt của thi pháp không gian và thời gian trong truyện cổ tích thần
kì
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: “Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu đề tài này chúng tôi khảo sát 70 truyện cổ tích thần kì được lựa chọn trong “Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam ”, Lê Chí Quế - Chu Xuân Diên biên soạn và trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” (tập 1, 2) của Nguyễn
Đổng Chi
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Phương pháp hệ thống - cấu trúc
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Giới thuyết chung về truyện cổ tích và không gian, thời gian nghệ thuật
Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì
Chương 3: Không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì
Trang 12Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ KHÔNG GIAN,
THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 1.1 Khái niệm và phân loại truyện cổ tích
1.1.1 Khái niệm truyện cổ tích
Truyện cổ tích là thể loại quan trọng của loại hình tự sự dân gian và nó có sức ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của văn xuôi dân tộc Chính vì truyện cổ tích quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam cho nên việc định nghĩa càng khó khăn Tư liệu của truyện cổ tích cũng rất đa dạng, ranh giới của nó với các thể loại
tự sự dân gian khác cũng không thật rõ ràng, nó có sự giao thoa với thần thoại, truyền thuyết Bởi trước cách mạng tháng Tám, “truyện cổ tích” là tên gọi được dùng chung cho các truyện kể dân gian như truyền thuyết, thần thoại, truyện ngụ ngôn Ngoài tên gọi “truyện cổ tích”, người ta còn gọi chung đó là “truyện đời xưa” Trải qua các thời kì, các nhà nghiên cứu Văn học dân gian đã chia thành nhiều loại truyện khác nhau, tuy nhiên sự phân chia của các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất chặt chẽ Truyện cổ tích thường được hiểu theo nghĩa bao hàm những nội dung rộng lớn thuộc phạm vi đề tài hay phương pháp sáng tác Trong giáo trình văn học dân gian cũng như trong các bài nghiên cứu, các tác giả rất ít khi chỉ rõ định
nghĩa truyện cổ tích mà họ đưa ra những đặc trưng chung để xác định thể loại này
Trong “Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam” (Lê Chí Quế chủ biên) cho rằng “Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hoàn thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính chất phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ tích”), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở
Trang 13nước ta chủ yếu là xã hội phong kiến)” [13, tr 31]
Khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, trong xã hội đã có sự xuất hiện những giai cấp mới, tầng lớp mới nên truyện cổ tích hướng vào đối tượng phản ánh chính
là những vấn đề có liên quan đến con người trong xã hội có giai cấp Ở đó là những quan hệ mâu thuẫn, xung đột giữa con người và con người mang tính chất phổ biến trong xã hội Đó là những xung đột giữa: người giàu - người nghèo, ông chủ - đầy
tớ, con chung - con riêng, con cả - con út,… Đời sống xã hội chuyển biến với mô hình xã hội đơn lẻ đã dẫn đến sự xuất hiện những nạn nhân mới: người mồ côi, đàn
bà góa, người làm thuê, người đi ở,… Hình thức xã hội mới, lạ lẫm với những luật
lệ ràng buộc còn dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột trong từng gia tộc, từng gia đình trong xã hội Họ đắn đo giữa cái cũ và cái mới, cuộc đấu tranh giữa cái cũ trong xã hội mới làm xuất hiện những bi kịch mới: bi kịch hôn nhân, thừa kế trong gia đình… Chính vì vậy, truyện cổ tích ra đời như một hình thức nghệ thuật nhằm lí giải các vấn đề trong xã hội theo xu hướng bênh vực cho lẽ đúng, cho những nạn nhân bi kịch trong xã hội trước sự thay đổi lớn lao của đời sống Hơn nữa, truyện cổ tích còn thể hiện ước mơ và khát vọng của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, một xã hội có sự yêu thương giữa con người với con người, không
có sự thù hận, đố kị hay ganh ghét Họ ước mơ con người với con người sống bình đẳng với nhau trong sự đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần Đồng thời, truyện cổ tích cũng phản ánh những truyền thống đạo lý của dân tộc, triết lý nhân sinh theo quan điểm của nhân dân lao động Con người thương yêu đùm bọc lẫn nhau chính là cốt lõi của triết lý nhân sinh và đạo lý làm người của người Việt được tác giả dân gian phản ánh rõ nét trong nhiều truyện cổ tích
1.1.2 Phân loại truyện cổ tích
Kho tàng cổ tích Việt Nam rất phong phú và đa dạng nên việc phân loại truyện
cổ tích cũng gặp nhiều khó khăn và chưa có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu
về cách phân loại truyện cổ tích Có nhiều cách phân loại truyện cổ tích, nhưng hiện nay, phổ biến nhất là phân chia thành ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật Cách phân loại này có từ năm 1865 ở Nga do
Trang 14Ô Mi- lơ đề xuất Cách phân loại này cũng được nhiều nước áp dụng Đây là cách phân loại hợp lí, bởi ngoài tiêu chí đề tài thì người ta còn dựa vào những yếu tố nghệ thuật khác như: nhân vật, tính kì ảo… để phân loại
Truyện cổ tích loài vật là những truyện hướng về sinh hoạt của loài vật (phần lớn là động vật), lấy loài vật làm đối tượng để phản ánh và lí giải Trong truyện cổ tích loài vật, sự nhân cách hóa vừa bắt nguồn từ quan niệm coi con người và vật có
sự tương đồng, vừa là một biện pháp nghệ thuật để phản ánh nhận thức, đối tượng
Ở thời kì xa xưa, hầu hết các dân tộc đều có xuất hiện truyện cổ tích loài vật, ở đó xuất hiện hình ảnh những con vật quen thuộc với con người: con dê, con trâu, con khỉ, con cọp, con thỏ… Truyện cổ tích loài vật vừa mang nội dung sinh hoạt vừa mang ý nghĩa xã hội với những mức độ khác nhau, hai mặt này gắn bó thống nhất với nhau cho nên rất khó tách bạch rõ ràng Trong cổ tích loài vật những con vật đa
số được nhân cách hoá hành động, suy nghĩ và nói năng như con người, tuy nhiên chúng mang tính chất tái hiện cuộc sống chứ không mang tính kì ảo như các con vật trong cổ tích thần kì Truyện cổ tích loài vật vừa biểu hiện nguồn gốc ra đời, đặc điểm của các loài vật, vừa phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người Tuy các con vật được nhân cách hóa nhưng không được lí tưởng hóa tuyệt đối như cách kết thúc có hậu trong đa số truyện cổ tích khác
Trong thể loại truyện cổ tích, truyện cổ tích thần kì là một bộ phận quan trọng
và tiêu biểu Tiểu loại này ra đời sớm hơn truyện cổ tích sinh hoạt và chúng ta có thể tìm thấy những đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích trong tiểu loại này Ra đời vào thời khi xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, truyện cổ tích thần kì thường đi sâu khai thác việc nhận thức và phản ánh xung đột vừa mới nảy sinh trong xã hội Những xung đột ấy trước hết xuất hiện ở mối quan hệ giữa những con người mối quan hệ trong gia đình, sau đó là những con người trong mối quan hệ xã hội Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích thần kì là yếu tố kì ảo được thể hiện rất đậm nét và tham gia phát triển của cốt truyện như một phần không thể thiếu, qua đó nó còn đề cao trí tưởng tượng phong phú và phi thường của các tác giả dân gian Truyện cổ tích thần kì lấy con người là đối tượng trung tâm để phản ánh Nhân vật của truyện
Trang 15cổ tích thần kì là con người đời thường bé nhỏ thuộc tầng lớp nhân dân lao động, họ nghèo khổ và bất hạnh như những người mồ côi, người đi ở, người con riêng…, họ
là những nhân vật thuộc tuyến thiện trong xã hội còn đối lập là những nhân vật đại
diện cho tuyến ác như người anh, dì ghẻ, địa chủ… Truyện cổ tích thần kì thường
xuất hiện hai loại xung đột: xung đột xã hội và xung đột giữa con người với những trở lực của thiên nhiên Khác với truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về loài vật, xung đột trong truyện cổ tích thần kì luôn được giải quyết nhờ sự xuất hiện kịp thời của các lực lượng thần kì Nhân vật chính ít nhiều có tính chất thụ động, phụ
thuộc vào yếu tố siêu nhiên Đó là sự xuất hiện những nhân vật siêu nhiên kì ảo
(Tiên, Bụt, Phật…), con vật thần (chim thần, rắn thần,…), vật màu nhiệm (gươm thần, bút thần, đàn thần…), sự biến hoá kì ảo (người biến hoá thành vật, vật biến hoá thành người…) Chính thế giới thần kì, siêu nhiên đó khiến cho truyện cổ tích thần kì mang dấu ấn đậm nét của yếu tố kì ảo Có những yếu tố thần kì giúp đỡ, nó
là công cụ đắc lực cho tuyến thiện tuy nhiên cũng có yếu tố thần kì hỗ trợ cho tuyến
ác (Trăn tinh)…Truyện cổ tích thần kì thường có kết thúc có hậu, nó mang lại sự vui vẻ lạc quan và đáp ứng những ước mơ, khát vọng của nhân dân lao động Đó là ước mơ cuộc sống công bằng, được đổi đời và sống yên bình, hạnh phúc, đó còn khát vọng thưởng phạt công minh, đối với kẻ ác thì bị trừng trị thích đáng…
Tiểu loại thứ ba là truyện cổ tích sinh hoạt, nó còn có tên gọi khác như cổ tích thế sự, cổ tích hiện thực Khi xã hội có sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt thì truyện cổ tích sinh hoạt ra đời để phản ánh những mối quan hệ gia đình, xã hội đang diễn ra phức tạp Ở tiểu loại này, đối tượng phản ánh
là con người và không có yếu tố thần kì, nếu có thì những yếu tố thần kì này cũng không có vai trò và tác dụng trong sự phát triển tình tiết và giải quyết xung đột, mâu thuẫn của truyện Truyện cổ tích sinh hoạt mang nội dung của những câu chuyện gần gũi với đời sống hàng ngày, giải quyết xung đột chủ yếu trong cuộc sống nhân gian và bằng logic của đời sống thực tế con người Ngoài lối kết thúc có hậu truyện
cổ tích sinh hoạt còn có kiểu kết thúc bi kịch, nhân vật chính trong truyện phải đón nhận cái chết hoặc ra đi biệt tăm biệt tích điều đó làm tăng thêm niềm tin và sự
Trang 16khẳng định phẩm chất cao đẹp của con người lương thiện
Việc phân loại truyện cổ tích nêu trên chỉ mang tính chất tương đối, khoảng cách ranh giới giữa các loại truyện cổ tích không phải lúc nào cũng chi tiết, rõ ràng Điển hình như các yếu tố kì ảo đặc trưng của truyện cổ tích thần kì vẫn thường hay xuất hiện trong các truyện cổ tích sinh hoạt, hay những loài vật vẫn hay được nói tới trong các truyện cổ tích thần kì Bởi vậy, khi nghiên cứu chúng ta không nên sử dụng cùng một lúc hai tiêu chí: yếu tố thần kì trong truyện hay nội dung phản ánh trong truyện để phân chia truyện cổ tích Chúng ta nên dựa vào một tiêu chí thống nhất để phân loại, như vậy truyện cổ tích sẽ mang tính khoa học và chính xác hơn
1.2 Truyện cổ tích thần kì
1.2.1 Đặc trưng truyện cổ tích thần kì
Truyện cổ tích thần kì là loại truyện kể lại những sự việc xảy ra của con người trong đời sống gia đình và xã hội Ðó là những mâu thuẫn xung đột giữa các thành viên trong mối quan hệ gia đình hay những vấn đề về tình yêu hôn nhân, các mối quan hệ xã hội (Cây khế, Tấm Cám, Thạch Sanh ) Trong truyện cổ tích thần kì, đối tượng chính được miêu tả đó là con người, nhân vật thần kì là trợ thủ đắc lực nhưng không phải là đối tượng chính Tuy nhiên, phải ghi nhận rằng, lực lương thần
kì giữ một vai trò quan trọng trong diễn biến, tiến triển của cốt truyện và hỗ trợ nhân vật cho đến kết thúc có hậu của câu chuyện Khi nghiên cứu và phân tích, hầu như tất cả các truyện cổ tích đều thể hiện rõ nét và phản ánh về một kiểu nhân vật chính Tương tự như truyện cổ tích về loài vật và sinh hoạt, truyện cổ tích thần kì cũng có một số kiểu nhân vật chính nhất định và thường hay xuất hiện : nhân vật người em út (Lang Liêu trong Sự tích bánh chưng, bánh giầy, người em trong truyện Cây khế,…); nhân vật con riêng (Tấm trong Tấm Cám) ; người mang lốt vật (Sọ Dừa trong truyện Sọ Dừa, Cóc trong Lấy vợ Cóc); người đi ở (anh Khoai trong Cây tre trăm đốt, cô gái đi ở trong Sự tích con khỉ,…); Người dũng sĩ (Thạch Sanh
là người mồ côi cũng là dũng sĩ diệt chằn tinh và đại bàng); Nhóm người có tài lạ (Ba chàng thiện nghệ, Bốn anh tài,…) Mỗi kiểu nhân vật trên thường có nét giống nhau cơ bản về tính cách, nguồn gốc xuất thân, số phận Theo quan điểm xã hội
Trang 17học, một số nhà nghiên cứu dựa vào nguồn gốc xuất thân để phân loại nhân vật chính trong truyện cổ tích thần kì Khi đó, nhân vật chính được phân thành hai loại: Nhân vật có nguồn gốc thần kì, được ban cho sức mạnh thần kì từ lúc vừa mới ra đời; nhân vật có nguồn gốc tầm thường, có địa vị thấp hèn như nông dân nghèo, khi gặp khó khăn thử thách họ được nhân vật trợ thủ thần kì ban cho sức mạnh siêu nhiên Tuy nhiên, việc phân chia như vậy cũng chưa thật sự hợp lí, bởi lẽ nhiều nhân vật thấp hèn nhưng vẫn có nguồn gốc cao quý (Thạch Sanh), hơn nữa, trong truyện cổ tích thần kì chưa có sự phân biệt cụ thể đối với hai kiểu nhân vật “cao quý” và “thấp hèn” Một số nhà nghiên cứu khác có cách phân chia nhân vật cổ tích
ra làm hai loại: Loại nhân vật mang số phận bất hạnh như người mồ côi, người em
út, người con riêng, người xấu xí, người đi ở Trong xã hội, họ bị đối xử ngược đãi,
bị thiệt thòi về quyền lợi Họ mang những nét đạo đức tốt đẹp nhưng thường cam chịu, nhẫn nhục Cuối cùng, trải qua thử thách và được sự hỗ trợ thần kì, họ đổi đời, sống hạnh phúc
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cũng đồng quan điểm với Lê Đức Luận trong bài viết “Nhận diện truyện cổ tích thần kì người Việt” trên “Tạp chí khoa học
và công nghệ”, ông cho rằng: “loại cổ tích kỳ ảo có ba tiểu loại: cổ tích hoang đường, cổ tích thần kỳ và cổ tích hóa thân và mỗi tiểu loại có thi pháp riêng Cổ tích thần kì mà lâu nay được dùng chung cho loại cổ tích có yếu tố kì ảo, chúng tôi dùng
để gọi cho tiểu loại cổ tích nhân vật chính được đổi phận nhờ yếu tố kì diệu Như vậy, truyện cổ tích có các loại sau: cổ tích kì ảo, cổ tích sinh hoạt hay cổ tích hiện thực, cổ tích động vật Các loại truyện có sự đan xen, có tác phẩm nằm ở ranh giới giữa hai loại truyện nên phải có sự nghiên cứu riêng”
Thế giới trong cổ tích thần kì là thế giới huyền ảo và thơ mộng, có sự xâm nhập lẫn nhau giữa thế giới trần tục và thế giới siêu nhiên Ở đó, con người có thể đi váo thế giới siêu nhiên, thần linh có thể xuất hiện trong thế giới trần tục
1.2.2 Vai trò của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì
Trong truyện cổ tích thần kì, yếu tố thần kì có vai trò rất quan trọng ở việc hình thành thế giới cổ tích Đỗ Bình Trị đã bàn về vai trò của yếu tố thần kì như
Trang 18sau: “Thế giới cổ tích là một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian Thế giới ấy có mối quan hệ như thế nào với thực tại ? Ta đều biết "trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực tế" Điều này hết sức hiển nhiên không chỉ với truyện cổ tích sinh hoạt mà ngay cả với truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích về loài vật Nhưng "những yếu tố của thực tế" ấy đã được trí tưởng tượng dân gian cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhào nặn trong một chất "phụ gia" đặc biệt gọi là
"hư cấu" (hay "hư cấu kì ảo"), để xây dựng nên một thế giới khác với thế giới thực tại mà ta gọi bằng "thế giới cổ tích" Đó là thế giới không có thực”[15, tr.7]
Truyện cổ tích thần kì phản ánh chức năng nhận thức của con người qua việc thể hiện mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội Sự xuất hiện yếu tố thần kì có vai trò to lớn, không thể thiếu, trong sự phát triển tình tiết, giải quyết xung đột, mâu thuẫn của truyện Đó là xung đột giữa người tốt và kẻ xấu, giữa người lương thiện
và kẻ tham lam, độc ác, sau đó nhờ sự hỗ trợ đắc lực của yếu tố thần kì, mâu thuẫn luôn được giải quyết theo hướng thiện, mang lại hạnh phúc cho người tốt còn kẻ xấu bị thất bại, trừng trị thích đáng Trong thực tế xã hội bấy giờ, khi đã có sự phân hóa sâu sắc trong xã hội, xã hội đã có sự phân hóa giàu nghèo thì làm sao những người tuyến thiện lại có thể chiến thắng kẻ ác Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích thần kì cũng là niềm tin vào triết lí ở hiền gặp lành và ước mơ về một xã hội công bằng cho nhân dân Vì thế, cho dù là truyện không thật, chỉ là hư cấu, nhân hóa nhưng trải qua bao đời nay truyện cổ tích thần kì vẫn được nhân dân ta yêu mến và lưu truyền
1.3 Khái niệm không gian và thời gian nghệ thuật
1.3.1 Không gian nghệ thuật
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên , 2000), nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội cho rằng : “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách
Trang 19quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy không gian nghệ thuật có tính tương đối, không quy được vào không gian địa lí Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới - dùng để mô hình hóa các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng Không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở, để mô hình hóa các kiểu tính cách con người Không gian nghệ thuật có thể là không có tính cản trở, như trong cổ tích, làm cho ước mơ, công lý được thực hiện dễ dàng Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật”
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Nếu như toàn thế giới tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa thì không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vật nào không có nền cảnh nào đó Nhưng không gian nghệ thuật có điểm đặc biệt Bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữ tình nào cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn nhất định Nhờ có điểm nhìn của chủ thể mà không gian có chiều cao thấp, rộng hẹp, sâu cạn, xa gần… Không gian nghệ thuật là hình tượng không gian có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng trưng Trong văn học chiều của không gian ngoài chiều rộng, chiều cao, chiều dài còn có không gian tâm tưởng trong mơ ướt của con người Do vậy không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối ít được quy vào không gian địa lí
Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống và không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sáng tạo
Trang 20nghệ thuật của nhà văn cũng như thành công của tác phẩm không gian nghệ thuật thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người, đó là nơi nhân vật bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm Do vậy, ứng với những kiểu không gian khác nhau thì lại có những kiểu nhân vật khác nhau Việc chiếm lĩnh và tái tạo không gian trong văn học không chỉ là hoạt động tái hiện thế giới hiện thực mà còn
là hoạt động biểu hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm, cảm thụ về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm mang đầy tính biểu trưng và tính quan niệm Tất cả các cặp đối lập không gian trong thế giới đều có nội hàm tư tưởng - đạo đức: cao -thấp, khép kín - mở ra, trái - phải, trước - sau, to - bé, thẳng - cong, xa
- gần, rỗng - đặc, chật - rộng, qua đó biểu hiện quan niệm của nhà văn về không gian nghệ thuật
Tóm lại, không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật
Sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian các miền, phương vị, các chiều… tạo thành các ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm Sự lặp lại của các hình thức không gian tạo thành tính loại hình của không gian nghệ thuật Và có thể nói không gian nghệ thuật trong văn học là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật do nhà văn tìm tòi xây dựng nên mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Chính vì vậy, khi đi vào phân tích một tác phẩm văn học chúng ta không chỉ chỉ ra nhà văn thể hiện không gian như thế nào mà điều quan trọng là qua việc miêu tả không gian đó nhà văn muốn truyền đến mọi người thông điệp gì, ý nghĩa gì
1.3.2 Thời gian nghệ thuật
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (chủ biên, 2000), nhà xuất Đại học Quốc gia, Hà Nội nhận định rằng: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một
Trang 21hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật Thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một thời gian dài trong chốc lát thành vô tận Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác… tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại” [6, tr.272 - 273] Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới Có thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như cổ tích, có thời gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm trạng và ý thức như tiểu thuyết, có tác phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ, khép kín trong tương lai, có thời gian nghệ thuật trôi trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian nghệ thuật gắn với các vận đọng của thời đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có tính vĩnh viễn, đứng ngoài thời gian như thần thoại Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tao của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhận được: hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoăc đắm chìm vào quá khứ Thiếu sự thụ cảm, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ thuật không xuất hiện Nhưng thời gian nghệ thuật cũng không phải là một hiện tượng của tâm lí cá nhân người đọc, muốn cảm thụ nhanh chậm thế nào cũng được Thời gian nghệ thuật là một sáng tạo khách quan trong chất liệu Nếu như một tác phẩm có thể gây hiệu quả hồi hộp đợi chờ thì đối với ai, lúc nào, khi cảm thụ, thời gian ấy đều xuất hiện
Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu
có tính tiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống hoạt động cũng như đời sống tình
Trang 22cảm trong tác phẩm cho thấy đặc điểm tư duy, suy nghĩ của tác giả Gắn với phương thức, phương tiện thể hiện, mỗi thể loại văn học có kiểu thời gian nghệ thuật riêng Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử
Như vậy, thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của thi pháp học, bởi vì nó thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Thời gian nghệ thuật là phạm trù thi pháp càng ngày, càng có tầm quan trọng bởi vì con người muốn cảm nhận toàn bộ thế giới qua thời gian và trong thời gian một cách sâu sắc nhất Thời gian nghệ thuật còn là phạm trù đặc trưng của văn học, bởi văn học là nghệ thuật thời gian Chính vì vậy khi đi sâu vào nghiên cứu truyện cổ tích chúng ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật - yếu tố góp phần làm nên sự thành công và chỗ đứng của truyện cổ tích
Tiểu kết : Ở chương này, chúng tôi xác định truyện cổ tích và nêu đặc trưng và
vai trò của các yếu tố siêu nhiên trong truyện cổ tích thần kì Đồng thời chúng tôi nêu ra khái niệm và quan điểm về không gian - thời gian nghệ thuật trong văn học để phục vụ quá trình nghiên cứu truyện cổ tích thần
kì
Trang 23Chương 2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ 2.1 Các kiểu không gian trong truyện cổ tích thần kì
Đã từ lâu, văn học dân gian là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân lao động Qua những sáng tác dân gian nhất là truyện cổ tích thần kì, nhân dân ta mong muốn khám phá những bản chất đích thực của cuộc sống trong xã hội Không gian nghệ thuật là phương tiện của tác giả dân gian qua cách cảm nhận
về thực tế cuộc sống Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng: “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan điểm nhất định về cuộc sống” [14, tr.30] Trong truyện cổ tích thần kì cũng vậy, để đi sâu tìm hiểu về giá trị biểu đạt và quan điểm về cuộc sống của nhân dân chúng ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu đặc điểm không gian nghệ thuật
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phân loại không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kì thành hai dạng: Không gian trần thế và không gian phi trần thế Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát từng dạng không gian và rút ra hiệu quả biểu đạt của nó trong việc xây dựng nhân vật và cốt truyện
2.1.1 Không gian trần thế
Không gian trần thế xuất hiện hầu hết trong truyện cổ tích thần kì, bởi đây là không gian quen thuộc cho nhân vật cổ tích hoạt động Có thể nói, yếu tố góp phần tạo nên sự thành công cho truyện cổ tích là việc xây dựng không gian, hầu hết không gian đều gắn bó và quen thuộc với người dân lao động
2.1.1.1 Không gian tự nhiên
Không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì bao gồm không gian rừng núi, không gian sông, biển và không gian đảo Không gian tự nhiên góp phần mở ra một khoảng không rộng lớn giúp nhân vật không chỉ sinh hoạt trong phạm vi hẹp về địa lý mà mở rộng không gian để nhân vật có thể tự hoạt động thoải mái, dễ dàng, thúc đẩy cốt truyện phát triển Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 70 truyện cổ tích thần kì và thống kê không gian tự nhiên xuất hiện trong 47 truyện
Trang 24Bảng 2.1: Bảng thống kê không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì
Không gian tự nhiên Không
gian rừng núi
Không gian sông, biển
Không gian đảo
Trang 2524 Sự tích thằng Cuội cung trăng X
Khi tiến hành khảo sát không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì, ta thấy không gian rừng chiếm tỉ lệ lớn so với không gian đảo, không gian sông, biển Trong 56 lần xuất hiện không gian tự nhiên, không gian rừng núi xuất hiện 28 lần, chiếm 50% so với không gian biển, đảo, sông nước Ta biết rằng, từ nền nông nghệp lúa nước, tín ngưỡng đa thần và sùng bái tự nhiên nhân dân ta đã sống gần gũi với thiên nhiên, vừa thần phục vừa chinh phục rừng núi Rừng là không gian
Trang 26quen thuộc, từ xa xưa nhân dân ta đã biết lấy rừng núi là nơi sinh sống, ven núi là những ngôi làng trú ngụ của con người, họ chăn nuôi trồng trọt, lấy rừng là một trong những nơi kiếm kế sinh nhai qua ngày Ở đó con người biết lấy rừng làm nương rẫy trồng dưa (Nàng Út), là nơi săn bắn (Cứu vật vật trả ơn), đốn củi (Sự tích giếng Tiên), đốt than, gieo lúa (Sự tích Bàu Hương) Không những vậy, không gian rừng cũng là nơi cưu mang, cứu giúp con người vượt qua tai ương, bất trắc (Chiếc gậy thần, Bà chúa ong và anh học trò) Do cuộc sống còn nhiều nghèo khổ, do những mâu thuẫn trong gia đình nên một số nhân vật hiền lành thường bị áp bức, rừng là nơi xuất hiện các yếu tố thần kì giúp con người có cuộc sống tốt đẹp hơn (Hòn đá cười ra vàng, Hà rầm hà rạc) Theo quan niệm người xưa, rừng cũng là nơi
có mối quan hệ gần gũi với cõi tiên hư ảo, là cầu nối giữa con người với chốn thần tiên (Sự tích giếng Tiên) Không những vậy, chính không gian bao la, u ám của núi rừng cũng là nơi ẩn náu của các nhân vật phản diện như yêu tinh (Người thợ săn và
mụ Chằng), quỷ (Hai cô gái và cục bướu)… Trong truyện cổ tích, yếu tố thần kì cùng với không gian rừng là nơi giúp nhân vật tìm được hạnh phúc, rừng núi là không gian bộc lộ tính cách và thử thách nhân vật (Người hóa thành chồn, Sọ dừa) Hơn nữa, rừng là không gian của sự khẳng định tài năng, nhân vật phải dũng cảm vượt qua khó khăn và lập được công lao: Chàng trai trẻ tuổi tiêu diệt mãng xà trong hang núi (Tiêu diệt mãng xà), Thạch Sanh giết đại bàng cứu công chúa và con trai vua Thủy Tề (Thạch Sanh) Ta thấy rằng, rừng núi, nơi có những hoạt động sinh sống diễn ra, qua đó nhân dân ta đã gửi gắm tất cả những gì tinh túy và linh thiêng nhất, có cả hiện thực và ước mơ về sự công bằng xã hội
Trong truyện cổ tích thần kì, không gian thiên nhiên không còn bó hẹp trong phạm vi rừng núi mà được mở rộng ra không gian biển, sông nước Không gian biển, sông nước cũng được nhân dân ta thể hiện khá nhiều trong truyện cổ tích thần
kì Ở Việt Nam, số ngư dân sống ven biển khá đông, họ vừa làm nông nghiệp vừa đánh bắt hải sản hoặc chỉ chuyên về nghề đánh bắt hải sản, bởi vậy trong đời sống của nhân dân ta biển luôn đóng một vai trò quan trọng Vì thế, không gian biển cả xuất hiện trong các câu chuyện mang một ý nghĩa thiết thực, là nơi nhân dân ta gắn
Trang 27bó và duy trì hoạt động đánh bắt cá, ở đó có sự xuất hiện của của hoạt động giao thương, buôn bán sầm uất với thuyền, bến cảng, thị trấn (Con chó, con mèo và anh chàng nghèo khổ) Tuy nhiên, do phương thức và phương tiện sản xuất của họ còn khá thô sơ nên trong truyện cổ tích thần kì hoạt động sản xuất đánh bắt cá ở nước ta chủ yếu để làm kế sinh nhai, kiếm miếng cơm qua ngày (Con gái thần nước mê chàng đánh cá, Hai anh em) Chính vì sự nghèo khổ, cơ cực nên nhân dân vùng biển
và sông nước luôn mong ước cuộc sống sung túc, ấm no, họ mong có sự hỗ trợ đắc lực từ các lực lượng thần kì: “Ngày ấy, vùng đất bây giờ là Trà Vinh còn là một vùng biển cả Trên bờ biển, người sống rất cơ cực Phật thấy vậy thương tình, bèn hóa phép làm cho biển nổi lên thành những dải đất nối liền với bờ” (Ao phật) Song song với sự hỗ trợ kì diệu, tác giả dân gian còn phản ánh những hiểm họa: Chằn tinh, thuồng luồng, cá sấu ăn thịt người trên biển cả (Ao phật) hay những tai ương trên biển thường xuyên xảy ra (Sọ dừa, Lấy chồng dê) Không gian biển, sông nước cũng là nơi phản ánh sự giao lưu, gắn kết duyên tình giữa con người với thế giới kì ảo: mối tình đằm thắm của công chúa thủy phủ với chàng đánh cá (Con gái thần nước mê chàng đánh cá) Nhưng đó cũng là không gian giao tranh của sự bất bình, xung đột: quận công họ Điền mâu thuẫn với Thủy thần (Âm dương giao chiến) Bên cạnh không gian biển, sông nước thì không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì còn có sự xuất hiện của không gian đảo Nếu như rừng núi, sông biển là không gian quen thuộc của cộng đồng người Việt thì không gian đảo là nơi ít xuất hiện sự sống do điều kiện đi lại còn khó khăn nên sự khám phá ít nhiều bị hạn chế Không gian đảo là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi giao thương giữa vùng này với vùng khác (Sự tích dưa hấu) Không gian đảo thể hiện sự cách biệt với đất liền, là nơi không có sự sống và thử thách con người vượt qua khó khăn, gian khổ Mai An Tiêm trong “Sự tích quả dưa hấu” đã biết đổi dưa lấy lương thực để duy trì cuộc sống trên đảo, qua đó cũng phản ánh tư duy kinh tế của người Việt xưa Khi xây dựng cốt truyện nhân dân ta đã khéo lồng ghép những tai ương biết trước, họ biết duy trì sự sống bằng nhiều cách: Sau khi trôi dạt vào một hòn đảo, vợ Sọ Dừa đã
“xẻo thịt cá muối mắm ăn dần”, dùng dao đánh lửa, nuôi gà để sống (Sọ Dừa) Ở
Trang 28không gian biển đảo, hình ảnh con thuyền vừa gắn với sự dịch chuyển không gian của nhân vật từ đất liền ra đảo vừa là phương tiện để cứu con người (Lấy chồng dê), nhưng có khi con người phải tự cứu lấy mình, tự giành lấy sự sống mà không có ai
hỗ trợ (Ba anh em chôn xác cha) Cùng với sự hỗ trợ của nhân vật thần kì, không gian đảo một mặt giúp nhân vật vượt qua nghèo khổ, đem lại giàu sang, mặt khác khẳng định tính cách nhân vật Đó cũng chính là tư tưởng, quan niệm của nhân dân:
ở hiền gặp lành, kẻ ác, tham lam sẽ nhận được kết cục bi thảm (Cây khế; Nhân tham tài nhi tử, điểu tham thực nhi vong)
Không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì là không gian hiện thực gắn
xung đột xã hội Không gian tự nhiên dù chỉ được nêu sơ lược nhưng đó là những khung cảnh gần gũi thân thuộc và bình dị nhất của xã hội Việt Nam, đậm đà hương
vị dân dã, nó cho thấy sự gắn bó với quê hương, mọi cảm xúc đều được in dấu trên mảnh đất quê hương mình
2.1.1.2 Không gian xã hội
Bên cạnh không gian tự nhiên, không gian trần thế trong truyện cổ tích thần kì còn có kiểu không gian xã hội Đây là không gian đặc trưng trong truyện cổ tích thần kì, nó bao gồm không gian làng quê, không gian gia đình, không gian chợ, không gian kinh thành và không gian tâm linh Ở đó tồn tại nhiều vấn đề vừa trong phạm vi gia đình, vừa liên hệ đến phạm vi xã hội, đất nước Truyện cổ tích thần kì không chỉ phản ánh đơn lẻ, rời rạc, mà nó luôn hướng tới tầm khái quát xã hội
Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành lập bảng thống kê tần số xuất hiện của không gian xã hội trong truyện cổ tích thần kì như sau:
Trang 29Bảng 2.2: Bảng thống kê không gian xã hội trong truyện cổ tích thần kì
Không gian xã hội
25 Tại sao sông Tô Lịch và sông
Thiên Phù hẹp lại
26 Sinh con rồi mới sinh cha, sinh
cháu giữ nhà rồi mới sinh ông
Trang 30STT Tên truyện
Không gian xã hội
Trang 31Trong 70 truyện được khảo sát thì hầu hết các truyện đều xuất hiện không gian
xã hội, bởi không gian xã hội chính là nơi nhân vật sinh sống và hoạt động Truyện
cổ tích thần kì thường chú trọng phản ánh những bất công, mâu thuẫn trong xã hội, cho nên việc không gian xã hội xuất hiện nhiều giúp phản ánh chân thực cuộc sống của nhân dân ta Qua bảng thống kê trên, chúng ta thấy rằng không gian xã hội trong cổ tích thần kì xuất hiện không đồng đều Cụ thể là không gian làng quê xuất hiện 26 lần (chiếm 22,81%), không gian gia đình xuất hiện 37 lần (chiếm 32,45%), không gian chợ 6 lần (chiếm 5,26%), không gian kinh thành 26 lần (chiếm 22,81%)
và không gian tâm linh xuất hiện 19 lần (chiếm 16,67%) Như vậy, không gian làng quê, gia đình và không gian kinh thành xuất hiện với tần số lớn vì đó là môi trường hoạt động chính của các nhân vật Không gian chợ và không gian tâm linh chỉ là sự
di chuyển của các nhân vật chứ không phải là không gian chính của truyện cổ tích Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu từng không gian tự nhiên trong truyện cổ tích thần kì
Ta biết rằng, Việt Nam là đất nước phát triển lâu đời với nền văn hóa làng xã
và văn minh lúa nước Từ ngàn năm nay, không gian làng quê mang âm hưởng của cuộc sống trần thế, là không gian quen thuộc và gần gũi với cộng đồng người Việt Không gian làng quê với những hình ảnh giếng nước, gốc đa, lũy tre…đã làm cho truyện cổ tích người Việt mang đậm màu sắc dân tộc độc đáo Qua đó, những truyện cổ tích cũng thể hiện cái nhìn về cuộc sống của nhân dân lao động Trong truyện cổ tích thần kì, rất hiếm khi tác giả dân gian tập trung miêu tả khung cảnh nguy nga, lộng lẫy của cung đình, kinh thành mà ngược lại không gian làng quê thường xuyên hiện hữu Có khi, trong truyện cổ tích thần kì, không gian cung đình cũng rất gần gũi với cảnh làng quê, nơi đó có sự xuất hiện của những hình ảnh quen thuộc, dân dã: Tấm làm hoàng hậu nhưng vẫn trèo hái cau, trong cung vua có sào, hoàng hậu tự giặt quần áo, xoan đào mắc võng nằm, nhà vua ăn trầu (Tấm Cám); nhà vua quyền quý gánh hành rao bán (Ai mua hành tôi) Tất cả đó là sản phẩm tinh thần đích thực của nhân dân qua đó còn thể hiện tính cộng đồng, không gian ấy phù hợp với tính chất dân dã của làng quê Những không qian quen thuộc đó đã được
Trang 32tầng lớp nhân dân lao động sáng tác, họ thừa nhận và lưu truyền cho đến ngày nay,
nó phản ánh xã hội với cuộc sống được gần gũi hóa, không có sự phân biệt nhiều giữa làng quê và kinh thành Qua đó, truyện cổ tích cũng thể hiện ước mơ của nhân dân ta về việc xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các tầng lớp vua chúa, quan lại với người dân lao động
Không gian làng quê cũng là nơi tổ chức những ngày lễ hội, trong truyện cổ tích thần kì, lễ hội không những mang đến niềm vui cho dân làng sau những thời gian lao động vất vả mà còn là không gian thử thách, thể hiện sự tài năng của nhân vật Trong truyện Tấm Cám, lễ hội là dịp người ta nô nức sắm sửa đi chơi cũng là dịp để nhà vua tìm hoàng hậu, cũng chính nhờ lễ hội này mà cuộc đời Tấm đã bước sang một không gian hoàn toàn mới (không gian hoàng cung) Qua các truyện cổ tích chúng ta thấy, người dân khi đến lễ hội đều mong ước những điều tốt đẹp, là không gian mọi người gặp gỡ, giao tiếp, chia sẻ mọi tâm tư, tình cảm (Sự tích động
Từ Thức) Tuy nhiên, lễ hội cũng là dịp một số kẻ độc ác lợi dụng để hãm hại nhân vật hiền lành tốt bụng: Lợi dụng lúc chồng Dê đi vắng, hai cô chị rủ em đi trẩy hội, trên đường đi thì đẩy em xuống biển (Lấy chồng dê) Tuy không gian lễ hội được đề cập trong truyện cổ tích nhưng không gian ấy không được miêu tả cụ thể, không gian lễ hội là không gian di chuyển của nhân vật chứ không phải không gian chính của truyện cổ tích
Việt Nam là nước từ xưa đã xuất hiện sự phân chia giai cấp (giai cấp bóc lột
và giai cấp bị bóc lột), có sự phân biệt về thân phận, địa vị giữa con người với con người với nhau Ở phạm vi nhỏ hơn, làng quê vừa là không gian sinh hoạt của gia đình, vừa là không gian sống của một tập thể cộng đồng, ở đó có sự phân biệt giàu- nghèo và tồn tại mối quan hệ giữa tầng lớp địa chủ, nhà giàu với nông dân lao động Nói như vậy không phải khẳng định tất cả địa chủ, nhà giàu nào cũng là những kẻ bóc lột xấu xa, trong xã hội vẫn tồn tại những người nhân hậu, tốt bụng Tuy nhiên, trong các truyện cổ tích, tác giả dân gian chủ yếu thể hiện tầng lớp nhà giàu lấy địa
vị, tiền của để ức hiếp dân lành cho nên quan hệ giữa địa chủ, nhà giàu với người nông dân nghèo trong xã hội cũ luôn tồn tại nhiều mâu thuẫn Giữa hai tầng lớp đó
Trang 33luôn có sự phân biệt về tiền tài, địa vị và cả hình thức bên ngoài Điển hình trong truyện cổ tích Cây tre trăm đốt thể hiện sự xung đột về địa vị và sự bóc lột sức lao động đối với kẻ giàu (trưởng giả) và người ở (anh Khoai) Trong truyện Lấy chồng
dê, Dê là con của một vợ chồng nghèo khi ngỏ ý muốn cưới con gái phú ông nhưng phú ông và hai cô con gái đầu chê bai về ngoại hình, khinh bỉ vì nghèo khó Như vậy ta thấy rằng sự phân biệt giai cấp thể hiện rất rõ, nó gần gũi và là bộ mặt chân thực của không gian làng quê trong cộng đồng người Việt
Làng quê là một xã hội được thu nhỏ, khép kín và có những luật lệ riêng biệt Trong truyện cổ tích thần kì, không gian làng thường được giới thiệu: làng ven biển, làng trên đảo, làng gần chân núi, làng ven sông… Theo quan niệm của tác giả dân gian, sự yên bình của cuộc sống cũng gắn bó với không gian làng quê Nếu không gian sống bị dịch chuyển, xáo trộn đồng nghĩa với việc tai ương, bất trắc sẽ ập đến : Thạch Sanh đi khỏi gốc đa bị mẹ con Lý Thông lừa gạt, hãm hại (Thạch Sanh); Dê
đi xa, vợ Dê bị hai chị ruột hãm hại (Lấy chồng Dê); bốn chị em lên kinh kỳ tìm chồng hoàng tử và bị yêu tinh hãm hại (Bốn cô gái lấy chồng hoàng tử)… Không gian làng quê một mặt vừa gắn với đặc điểm, tính cách nhân vật mặt khác quyết định số phận, cuộc đời nhân vật: ông già nhân hậu cùng người con trai quay trở về làng quê sống cuộc đời dân dã (Lòng người khó đo); bốn chàng trai tài giỏi trở về sống vui vẻ ở quê nhà sau khi cứu được công chúa (Cho con học nghề); sau khi bị
mẹ con Cám mưu hại nhiều lần trong cung, Tấm trở về quán nước bà lão và sống yên bình (Tấm Cám) Trong làng có những quy tắc chuẩn mực riêng, những ai có đạo đức phẩm chất sáng ngời được làng tự hào, khen ngợi và giao phó những việc quan trọng: dân làng khen ngợi biết ơn lòng tốt của Mít (Sự tích cây mít và cây bí đỏ); người em thật thà, tốt bụng được dân làng yêu mến (Cây kim thần) Nơi đó cũng có những quy tắc riêng, nếu cá nhân nào phạm tội sẽ bị làng trừng trị và xử phạt thích đáng: các vị trưởng tộc và các bô lão đại diện trong làng là những người
xử tội Đinh vì những việc làm độc ác (Cái lưỡi chết biết nói) Như vậy ta thấy làng quê là tổ chức cộng đồng bậc thấp nhưng có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người Việt, đây là mô hình xã hội mang tính quy mô nhỏ ở đó có những luật lệ,