1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát địa danh thừa thiên huế trong đồng khánh địa dư chí

94 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát địa danh thừa thiên - huế trong đồng khánh địa dư chí
Tác giả Trần Thị Phượng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Thân
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử nhân văn học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa Thiên - Huế trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo nên những danh xưng đất đai, sông núi, làng xã, công trình,… Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh nói chung và địa danh Thừa

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN - -

TRẦN THỊ PHƯỢNG

KHẢO SÁT ĐỊA DANH THỪA THIÊN - HUẾ

TRONG ĐỒNG KHÁNH ĐỊA DƯ CHÍ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 5/2015

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN - -

KHẢO SÁT ĐỊA DANH THỪA THIÊN - HUẾ

TRONG ĐỒNG KHÁNH ĐỊA DƯ CHÍ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hoàng Thân Các kết quả đưa ra trong khóa luận

là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Hoàng Thân, người

đã nhiệt tình, tận tâm và chu đáo hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP, Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức lý thuyết, thực tiễn quý báu và giúp đỡ cho em rất nhiều trong quá trình học tập

Emcũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Chú Dũng, chú Tưởng, người đã giúp đỡ, động viên và cung cấp cho em nhiều tài liệu nghiên cứu để thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học 7

1.1.1 Khái niệm địa danh 7

1.1.2 Khái niệm địa danh học 8

1.2 Chức năng, phân loại và một số đặc điểm địa danh 9

1.2.1 Chức năng và phân loại của địa danh 9

1.2.2 Khái niệm cấu trúc 12

1.2.3 Khái lược hiện tượng biến âm 12

1.2.4 Khái niệm tên riêng 14

1.3 Khái lược địa chí và Đồng Khánh địa dư chí 14

1.3.1 Địa chí và địa chí học 14

1.3.2 Sơ lược thư tịch địa chí Việt Nam thời phong kiến 15

1.3.3 Đồng Khánh địa dư chí 18

Tiểu kết 19

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA DANH VÀ SỰ BIẾN ÂM ĐỊA DANH THỪA THIÊN - HUẾ TRONG ĐỒNG KHÁNH ĐỊA DƯ CHÍ 21

2.1 Địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí - kết quả thu thập và phân loại 21

2.1.1 Kết quả thu thập 21

2.1.2 Phân loại 24

2.1.3 Những địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí không còn sử dụng hiện nay 29

2.2 Mô hình cấu trúc địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí 31

Trang 6

2.2.1 Mô hình cấu trúc địa danh 31

2.2.2 Địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh dịa dư chí nhìn từ mô hình cấu trúc 32

2.2.3 Đặc điểm cấu tạo tên riêng Thừa Thiên – Huế trong Đồng Khánh địa dư chí 33 2.2.3.1 Số lượng các yếu tố trong địa danh 34

2.2.3.2 Về cấu tạo 35

2.3 Hiện tượng biến âm của địa danh Thừa Thiên – Huế trong Đồng Khánh địa dư chí 38

2.3.1 Biến âm do sự kiêng kỵ 38

2.3.2 Biến âm do ngữ âm địa phương 40

2.4 Quá trình biến đổi địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí so với các bộ thư tịch khác 42

Tiểu kết 46

CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA ĐỊA DANH VÀ MỘT SỐ ĐỊA DANH GẮN VỚI ĐỜI SỐNG, LỊCH SỬ, VĂN HÓA THỪA THIÊN – HUẾ TRONG ĐỒNG KHÁNH ĐỊA DƯ CHÍ 48

3.1 Ý nghĩa địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí 48

3.1.1 Vấn đề ý nghĩa được phản ánh trong địa danh 48

3.1.2 Nhóm ý nghĩa địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí 49 3.1.2.1 Địa danh chỉ hình dáng, kích thước đối tượng 49

3.1.2.2 Địa danh mang tên người 50

3.1.2.3 Địa danh chỉ phương hướng, vị trí của đối tượng 51

3.1.2.4 Địa danh chỉ tâm lý, nguyện vọng 51

3.2 Một số địa danh gắn với đời sống, lịch sử, văn hóa 53

3.3 Vấn đề sử dụng lại địa danh cũ đã mất - một vài kiến nghị khoa học 56 Tiểu kết 58

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1: Phân loại địa danh cấp huyện 21 Bảng 2.2: Phân loại địa danh cấp tổng 22 Bảng 2.3: Phân loại địa danh cấp thôn, xã, ấp, giáp, sách 22 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp địa danh cấp tổng và cấp xã, thôn, phường, ấp, giáp,

mạn, sách 23 Bảng 2.5: Thống kê phân loại địa danh theo nhóm tự nhiên – không tự nhiên 25 Bảng 2.6: Thống kê địa danh tên Nôm và tên Hán – Việt Thừa Thiên - Huế

Trang 8

TTH Thừa Thiên – Huế h.HTr Huyện Hương Trà

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thừa Thiên - Huế, là một trong những vùng đất Nam tiến và là phủ

lị, kinh đô của các triều đại chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và Nguyễn Gia Long, nên đã để lại nhiều di sản văn hóa có giá trị cho đất nước Ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội của đất mẹ trong suốt ngàn năm lịch sử dân tộc, Huế - cố đô xưa của Việt Nam, mảnh đất mộng mơ hấp dẫn, luôn chiếm được tình cảm của nhiều người trong nước cũng như quốc tế bởi nhiều sản vật, đền đài, lăng tẩm, những câu chuyện lịch sử…Trải qua nhiều thế kỷ phát triển, Huế trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam nói chung và Thừa Thiên – Huế nói riêng Vì vậy, từ lâu đã có nhiều thư tịch hay các công trình ghi chép về vùng đất nơi đây mà địa danh của nó cũng là một bộ phận cấu thành

Địa danh có vị trí quan trọng đối với đời sống con người trên mọi lĩnh vực, là một trong những chứng cứ quan trọng để tìm hiểu về lịch sử hay quá trình hình thành của một tộc người Ngoài ra, địa danh còn cung cấp tư liệu quý giá cho nhiều ngành khoa học khác như ngôn ngữ, văn hóa học, lịch sử, địa lý Thừa Thiên - Huế trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo nên những danh xưng đất đai, sông núi, làng xã, công trình,…

Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh nói chung và địa danh Thừa Thiên – Huế nói riêng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về địa lí, lịch sử, văn hóa, di tích, thắng cảnh; đồng thời nhằm tìm lại sự ra đời và phát triển kinh tế, xã hội của một vùng đất qua từng thời kì

Trong số các thư tịch hay công trình ghi chép về địa danh Thừa Thiên

- Huế, Đồng Khánh địa dư chí, bộ thư tịch vô cùng giá trị của triều Nguyễn,

đã ghi chép địa danh của vùng đất này tương đối đầy đủ nhất Song, cho đến

Trang 10

nay đã hơn 100 năm kể từ khi bộ thư tịch này ra đời, vẫn chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về địa danh của Thừa Thiên - Huế mà nó đã thống kê và ghi chép Vấn đề này không khỏi gây nên sự tò

mò khám phá đối với với bản thân về những bí ẩn của ngành địa danh học, cùng với niềm háo hức muốn khám phá vẻ đẹp quê hương bản quán dưới

góc nhìn ngôn ngữ thông qua hệ thống địa danh Do vậy, tôi chọn đề tài Khảo sát địa danh Thừa Thiên Huế trong Đồng Khánh địa dư chí để nghiên cứu

nhằm nắm được đặc điểm và hiểu thêm giá trị của địa danh Thừa Thiên - Huế

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Địa danh là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học - Địa danh học Hay nói cách khác, Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh Không chỉ vậy nó còn nghiên cứu cấu tạo địa danh, phương thức đặt địa danh… Từ trước đến nay có rất nhiều chuyên khảo liên quan đến địa danh, trong khi đó thế hệ ông cha đi trước luôn có truyền thống thu thập và ghi chép lại trong các sách địa chí - sách được ghi chép đầy đủ các mặt địa hình, khí hậu, dân cư, phong tục, sản vật… tùy theo điều kiện khác nhau

mà các nhà nghiên cứu có thể viết theo phạm vi rộng hay hẹp Nếu rộng thì một nước, hẹp thì một phủ, một huyện, một tổng, một ấp, họ giải thích chi tiết nguồn gốc sự hình thành và ý nghĩa của từng địa danh ở đó

Công trình về địa danh Thừa Thiên - Huế có thể phân thành 3 nhóm tài liệu sau: (1) Nhóm tài liệu là thư tịch Hán Nôm dưới thời phong kiến; (2) Nhóm tài liệu là sách công cụ hay sách tham khảo; (3) Nhóm tài liệu là công trình nghiên cứu về địa danh

(1) Về nhóm tài liệu là thư tịch Hán Nôm dưới thời phong kiến có:

Dương Văn An qua tập sách Ô châu cận lục khắc in năm 1553 (Nxb

Thuận Hóa năm 2001) đã ghi lại đầy đủ tên của những xóm làng, núi sông,

Trang 11

chợ búa, danh lam thắng cảnh cũng như phong tục, tập quán, tín ngưỡng của cư dân xứ Thuận Hóa giữa thế kỷ XVI

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn khắc in năm 1776, là bộ sách gồm

8 quyển chia làm hai phần ghi chép lại những thông tin về kinh tế, xã hội cùng với các địa danh đến cấp xã, thôn ở đàng trong dưới thời các chúa Nguyễn nhất là hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam từ thế kỷ XVIII

Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định khắc in năm

1806 (Nxb Thuận Hóa năm 2005) là bộ địa chí đầu tiên của triều Nguyễn với số lượng 1855 trang tác giả đã mô tả chính xác về đường đi, các dịch trạm từ Kinh đô Huế vào Nam và từ Huế ra Thăng Long, qua mỗi nơi đều ghi sông núi, đặc điểm dân cư, phong tục, sản vật,… cách cụ thể giúp chúng ta hiểu hơn từng vùng đất nơi ấy

Đại Nam nhất thống chí là bộ sách lớn nhất và quan trọng do Quốc

sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm 1865 đã tổng hợp đầy đủ địa chí của rất nhiều tỉnh khác nhau và đơn vị hành chính của nước Đại Việt vào những năm nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sách ghi chép tường tận

về sự hình thành và thay đổi tên địa danh qua các đời, mô tả đầy đủ về sông núi, lãnh thổ, phong tục, ruộng đất…

Đồng Khánh địa dư chí với 3 tập giới thiệu từ tỉnh, huyện, đến tổng,

xã, thôn, kèm theo đó là những phong tục, sản vật, khí hậu, sông núi, danh thắng…của các vùng đất khác nhau ở nước ta Tuy không được ghi chép nhiều về địa danh Huế như những tập sách khác nhưng qua đó chúng ta có thể thấy được sự thay đổi tên của một số đường, làng xã cũng như sự phong phú đa dạng mang nét riêng biệt của vùng đất cố đô Thừa Thiên – Huế

(2) Nhóm tài liệu là sách công cụ hay sách tham khảo:

Đỗ Bang chủ biên “Từ điển lịch sử Thừa Thiên - Huế”, Nxb Thuận Hóa ấn hành năm 2000

Trang 12

“Dư địa chí Thừa Thiên Huế” , Nxb Khoa học xã hội(2005), đã tổng quan rất rõ các mặt tự nhiên, dân cư, hành chính, kinh tế – xã hội, các tên đường của các huyện qua những chặng đường phát triển

Dương Phước Thu (2004), “Huế, tên đường phố xưa và nay”, Nxb Thuận Hóa đã trình bày các đường ở, Thành phố Huế qua góc nhìn từ vị trí, lịch sử

“Huế xưa nay di tích danh thắng” (2008) của Phan Thuận An, Nxb Văn hóa thông tin, giới thiệu một số nội dung và những bức ảnh đề cập đến danh thắng Huế xưa và nay

“Cố đô Huế xưa và nay” (2005) của Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, Nxb Thuận Hóa, công trình tập hợp từ nhiều bài của nhiều tác giả nói về sự hình thành và phát triển của Huế, những con người lịch sử và việc bảo tồn phát triển di sản vùng đất cố đô nơi đây

(3) Nhóm tài liệu là công trình nghiên cứu về địa danh và địa danh Thừa Thiên - Huế

Từ trước đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về địa danh Có thể cho rằng công trình nghiên cứu “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” của Hoàng Thị Châu công bố từ năm 1964 là công trình nghiên cứu địa danh đầu tiên theo hướng ngôn ngữ học Bài viết “Tìm hiểu về địa danh học” của tác giả Nguyễn Kiên Trường công bố năm 1994 đã nêu lên vai trò, lợi ích của địa danh đối với các ngành khoa học nhân văn ở Việt Nam Với bài viết này, tác giả có một cái nhìn mới mẻ hơn, toàn diện hơn về chức năng của địa danh, đưa ra những cách lí giải đặc biệt là địa danh cổ

Nguyễn Văn Âu với công trình “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002) đã nêu lên những phương thức định danh của người Việt cho khu vực mình cư trú Việc tìm hiểu cách

Trang 13

khái quát về sông ngòi, núi, làng xã, huyện, tỉnh, thành phố, đã phần nào giúp chúng ta thấy sự đa dạng của địa danh Việt Nam

Tác giả Lê Trung Hoa với các công trình Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (địa danh Thành Phố Hồ Chí Minh), Nxb Khoa

học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (2002), “Địa danh – Những tấm bia

lịch sử” (2009), Địa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội (2011)

Năm 2010, Hoàng Tất Thắng, “Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ”, tạp chí Ngôn ngữ số 121 (tháng 3) đưa ra khái niệm địa danh và chỉ ra mối quan hệ giữa địa danh và ngôn ngữ Đồng thời, hướng dẫn cách nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc địa danh để có thể đạt được kết quả tốt, tránh sự nhầm lẫn Nguyễn Thái Liên Chi (2009),

“Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai”; Võ Văn Hòe (2011), Địa danh thành phố Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng; Phạm Thị Phượng (2012), “Địa danh Bình Định nhìn từ góc độ văn hóa”;…

Song song cùng với những bài viết ấy có một số công trình nghiên cứu về địa danh Thừa Thiên Huế điển hình: Bài viết “Thử xét lại từ nguyên địa danh Huế” của Phanxipang đăng trên Tiền Vệ

Trên đây là những vấn đề nghiên cứu tổng quát về địa danh học và địa danh học Việt Nam, hoặc xoay quanh địa danh của một vùng riêng biệt Tác giả Trần Trí Dõi cũng đã chỉ ra trên 30 công trình các loại có liên quan đến vấn đề nghiên cứu địa danh [7, tr.3-17] Riêng với vấn đề nghiên cứu

địa danh Thừa Thiên – Huế trong Đồng Khánh địa dư chí theo hướng ngôn

ngữ học là đề tài tương đối mới mẻ chưa được công bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà luận văn thực hiện là toàn bộ địa danh Thừa

Thiên - Huế được chép trong Đồng Khánh địa dư chí

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu địa danh của Thừa Thiên

- Huế trong Đồng Khánh địa dư chí cụ thể là địa danh chỉ địa hình như núi,

sông; địa danh xây dựng như cầu, đường, phà, chợ; địa danh hành chính như phủ, huyện, xã, ấp… Bên cạnh đó, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong phương thức cấu tạo của từng tên gọi, sự biến âm, từ ngữ, ngữ nghĩa trong từng địa danh ấy Đồng thời tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của địa danh Thừa Thiên - Huế

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận với đề tài: Khảo sát địa danh Thừa Thiên – Huế trong Đồng Khánh địa dư chí chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Khảo

sát, thống kê, lịch sử, phân tích

+ Phương pháp khảo sát, thống kê: Làm rõ sự đa dạng, phức tạp và mức

độ phổ biến của từng loại địa danh

+ Phương pháp lịch sử: Tìm về những cứ liệu lịch sử để lí giải sự biến đổi tên của địa danh qua từng thời kì

+ Phương pháp phân tích: Phân tích ngôn ngữ để thấy được ý nghĩa của địa danh

+ Phương pháp so sánh: Để thấy được sự sáng tạo mới của địa danh

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung

của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài Chương 2: Đặc điểm cấu trúc địa danh và sự biến âm địa danh Thừa

Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí

Chương 3: Ý nghĩa địa danh và một số địa danh gắn với đời sống, lịch

sử, văn hóa Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học

1.1.1 Khái niệm địa danh

Bước chân ra khỏi nhà là mỗi chúng ta đã có một ý niệm về địa danh, là tên của nơi mà chúng ta cần đi đến Đồng thời, mỗi con người từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành không ai là không gắn bó với những địa danh, nơi

ấy có biết bao kỉ niệm vui buồn khác nhau Theo năm tháng có hàng loạt tên người hay tên huyện, làng xã, núi, đồi, sông, suối… ra đời để định danh cho những vùng đất Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về địa danh

Lê Trung Hoa định nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [12, tr.7] Tác giả Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Địa danh là tên đất gồm: Sông, núi, làng mạc… hay là tên đất các địa phương, các tộc người” [4, tr.3]

Theo cách hiểu giản dị của cụ Đào Duy Anh trong Hán Việt Từ điển:

“Địa danh là tên gọi các miền đất” [3, tr.220]

Còn đối với cách hiểu của tác giả Nguyễn Kiên Trường: “Địa danh là tên gọi địa hình địa vật, địa điểm cư tụ dân cư… (thường gọi là tên đất) trong một lĩnh vực, một lãnh thổ, có tọa độ nhất định có thể ghi lại được trên bản

đồ, được cộng đồng thừa nhận và chuẩn hóa” [23, tr.56 - 62]

Còn định nghĩa trong Từ điển Bách khoa: “Địa danh là tên gọi các lãnh

thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông nghiệp, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển,

Trang 16

eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại được trên bản đồ Địa danh có thể phản ảnh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên

và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [27] Tóm lại, mỗi nhà nghiên cứu có mỗi cách hiểu và lí giải riêng nhưng trên lý thuyết chung đều có sự thống nhất Có thể hiểu địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên gọi về địa hình tự nhiên hay không tự nhiên Địa danh không chỉ là hiện tượng của ngôn ngữ học mà còn là hình thức thể hiện nét đặc thù riêng về văn hóa của địa danh nơi đó

1.1.2 Khái niệm địa danh học

Địa danh học (Toponymic) được đánh giá là ngành rất phức tạp

“nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và cả những chuyển biến của các địa danh”

Theo Đại từ điển tiếng Việt bách khoa toàn thư: “Địa danh học là khoa

học nghiên cứu các địa danh về mặt nguồn gốc, sự phát triển, ý nghĩa nội dung, hình thức tên gọi cách chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và những vấn đề liên quan đến hệ thống hoá và sử dụng địa danh Địa danh học nằm ở vị trí tiếp giáp giữa các khoa học địa lí, ngôn ngữ học và lịch sử Địa danh học đã được biết đến từ lâu, song phần lớn các công trình nghiên cứu mới bắt đầu trong thế kỉ XX”

Trong ngôn ngữ học, “địa danh học là bộ môn từ vựng học nghiên cứu tên và cách đặt tên các danh từ địa lí như tên sông, núi hoặc tên quốc gia và các địa danh khác”.[28]

Ở mỗi nơi khác nhau thì địa danh đều gắn với quá trình lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và được ấn định với mỗi thời điểm khác nhau, nó có thể thay đổi qua từng thời kì Vì vậy, tạm hiểu địa danh học là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa, cấu tạo, sự biến đổi từ ngữ, sức lan tỏa, phân bố của địa danh

Trang 17

1.2 Chức năng, phân loại và một số đặc điểm địa danh

Có nhiều cách hiểu khác nhau về địa danh, vì thế cách phân loại địa danh của các nhà nghiên cứu cũng không có sự đồng nhất

Mỗi địa danh gắn liền với lịch sử, văn hóa của mỗi vùng riêng biệt nên chúng có một vị trí quan trọng trong đời sống, là những chứng cứ giúp con người trở về với nguồn cội, tìm hiểu quá khứ hình thành của dân tộc và vùng đất quê hương

1.2.1 Chức năng và phân loại của địa danh

Ai trong chúng ta cũng biết ngôn ngữ có chức năng giao tiếp nhưng khi được dùng để đặt tên, chức năng giao tiếp sẽ bị thay thế bằng chức năng định danh Ngoài ra, địa danh là một loại tên riêng đặc biệt có chức năng đặc thù là

cá thể hóa đối tượng, nghĩa là mỗi vùng đất có từng tên gọi riêng khi nhắc đến người ta sẽ biết đó là nơi nào, vùng nào

Ví dụ: sông Hương, sông Bồ, núi Thúy Vân, núi Kim Phượng,… là địa danh ở Thừa Thiên - Huế Những con sông, ngọn núi ấy đều có đặc trưng riêng, tồn tại được nhờ tính phổ quát, lặp lại và nhờ nét khu biệt không lặp lại giữa các đối tượng trong cùng loại hình Vì vậy, chức năng định danh sự vật

và cá thể hóa đối tượng là hai chức năng quan trọng của địa danh Bên cạnh

đó còn có chức năng phản ánh và chức năng bảo tồn

Địa danh nào ra đời cũng gắn với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và phản ánh nhiều mặt của xã hội xung quanh nó Có những tên được đặt theo hình dáng địa hình, địa thế vùng đất: Tam Giang, Hải Vân, Ngọc Trản, cho chúng ta biết được địa hình địa thế nơi đó ra đời

Các địa danh còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương qua việc mang yếu tố “Phú”, “An”, “Bình”,… như muốn nói lên ước mong một cuộc sống yên ổn, giàu có: Phú Lộc, Phú Ốc, An Hòa, An Vân,…

Trang 18

Sở dĩ tên của những địa danh bảo lưu được là nhờ chúng tồn tại và được sự thừa nhận của cộng đồng Nhiều sự kiện lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ,… còn được lưu giữ lại Vì vậy, nghiên cứu địa danh mang lại nhiều giá trị cho các ngành khoa học như dân tộc học, ngôn ngữ học, địa lí học,…

Phân loại địa danh tức là phân chia chúng thành các nhóm khác nhau dựa vào những đặc trưng cơ bản Một số nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã đưa ra những tiêu chí khác nhau để phân loại địa danh

Hoàng Thị Đường trích dẫn trong luận văn Thạc sĩ Địa danh thành phố Thái Nguyên [Tr.20]: “A Dauzat trong “La topponymie Francaise” (1948) đã

chia địa danh làm bốn phần và mỗi phần đều gắn với nguồn gốc ngôn ngữ:

1 Vấn đề những cơ sở tiền Ấn – Âu

2 Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học

3 Các từ nguyên Gô Loa – La Mã

4 Địa danh học Gô Loa – La Mã của người Auvergne và Velary

Theo Ch Rostaing trong “Les noms de lieux” (1963) chia địa danh thành 11 loại:

1 Những cơ sở tiền Ấn – Âu

2 Các lớp tiền Xentich

3 Lớp Gô Loa

4 Những phạm vi Gô Loa – La Mã

5 Các sự hình thành La Mã

6 Những đóng góp của tiếng Giecmanh

7 Các hình thức của thời phong kiến

8 Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo

9 Những hình thái hiện đại

10 Các địa danh và tên đường phố

11 Tên sông và tên núi

Trang 19

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra cách phân loại sau:

Nguyễn Văn Âu (2011) trong “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” đã sắp xếp địa danh thành các kiểu khác nhau theo đối tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội trong một hệ thống phân loại nhất định Ông phân địa danh thành hai loại bao gồm:

- Địa danh tự nhiên: Gồm các đối tượng địa lí tự nhiên như sông, núi, đảo…

- Địa danh kinh tế - xã hội: Bao gồm các đối tượng hoạt động của con người như làng, xã, huyện, thành…

Với nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa trong “Địa danh học Việt Nam” dựa theo đối tượng, căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, ông chia địa danh thành hai nhóm lớn:

- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên như: Núi, đồi, gò, sông, kênh,…

- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo như: Các công trình xây dựng cầu, chợ, đường,… các đơn vị hành chính như thôn, ấp, xã, phường, huyện, quận,… và địa danh gọi tên vùng

Mặt khác, căn cứ theo ngữ nguyên có thể chia địa danh thành hai nhóm:

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh không thuần Việt (Hán – Việt, Khmer, Pháp) Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên Trường cũng chia địa danh thành hai nhóm: Địa danh chỉ đối tựơng tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn, trong đó gồm địa danh cư trú hành chính; địa danh gắn với hoạt động con người và do con người tạo nên

Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên tác giả lại chia địa danh ra thành các loại như: Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt, địa danh có nguồn gốc thuần Việt, địa danh có nguồn gốc Pháp, địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt

Trang 20

Mường, Chăm, Môn - Khơme, địa danh có nguồn gốc hỗn hợp và địa danh chưa xác định rõ nguồn gốc

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đưa ra những cách phân loại khác nhau nhưng có thể xem cách phân loại của Lê Trung Hoa là chi tiết và dễ hiểu nhất

Đó là đã chia địa danh theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên và dựa và nguồn gốc ngữ nguyên Cụ thể:

Theo đối tượng: Địa danh chỉ địa hình, chỉ các công trình xây dựng, chỉ các đơn vị hành chính, chỉ vùng

Theo ngữ nguyên: Địa danh Hán – Việt, địa danh thuần Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, địa danh bằng các ngoại ngữ

Việc phân loại địa danh hết sức có ý nghĩa, đòi hỏi phải được ưu tiên đồng thời cũng cho thấy sự phong phú và phức tạp về địa danh nước ta

1.2.2 Khái niệm cấu trúc

Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "cấu trúc" nghĩa là "Toàn bộ nói

chung những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể" [16, tr.128] Địa danh bao giờ cũng liên quan chặt chẽ đến chủ thể đặt tên Mỗi vùng luôn gắn liền với dân cư, văn hóa, địa hình ở đó và mang lại mô hình nhất định Bên cạnh các điểm chung so với một số vùng khác thì cấu trúc địa danh mang những đặc điểm riêng cho khu vực nơi đó

1.2.3 Khái lược hiện tượng biến âm

Sự biến âm trong một số từ của tiếng Việt thường diễn ra mạnh mẽ, liên tục và buộc nó phải trải qua một thời gian dài để giữ lại hoặc biến đổi để hình thành hệ thống ngôn ngữ Hiện nay, có nhiều địa danh bị thay đổi hay sai lệch về ngữ âm và chữ viết Tìm hiểu một số hiện tượng biến âm, chúng ta sẽ hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của các địa danh Có thể xét sự biến

âm qua hai hiện tượng đó là biến âm trong ngữ lưu và biến âm văn hóa

Trang 21

+ Biến âm trong ngữ lưu tức là sự biến đổi âm thanh trong chuỗi ngữ

âm do các âm kết hợp với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau, thường xảy ra trong quá khứ được gọi là biến âm lịch sử

Một số kiểu thay đổi:

+ Đồng hóa đó là sự biến đổi hai âm tố khác nhau, đứng gần nhau, âm

tố này làm cho âm tố kia giống nó để thuận lợi cho việc phát âm

+ Dị hóa: Khi hai âm giống nhau đi gần nhau, gây khó khăn cho việc phát âm thì lập tức một âm sẽ bị biến đổi làm cho âm kia khác đi

+ Bớt âm: Do qui luật tiết kiệm, một số âm sẽ bị lượt đi và thường được xuất hiện trong khẩu ngữ

+ Biến âm do ngữ âm của địa phương: Mỗi vùng miền có mỗi giọng nói khác nhau, vì không biệt được các âm đầu tr - ch, d - gi, s - x, một số âm chính như o - ô, ă - â, vần cuối c - t, n - ng, dấu thanh hỏi - ngã nên một số nơi đã có sự thay đổi trong cách gọi tên địa danh

+ Do Tây hóa: Một số địa danh Việt Nam bị sai lệch do bộ phận người Tây đến nước ta đã nói và viết theo ngữ âm chữ viết tiếng mẹ đẻ

+ Biến âm do sự kiêng kỵ: Dưới chế độ phong kiến, có tục lệ kiêng tên gọi Do lòng tôn kính hoặc do sự bắt buộc mà khi nói đến địa danh hay tên gọi của vua quan, thần thánh có cùng âm thì phải đọc và viết chệch với yếu tố

đó hoặc thay bằng yếu tố khác

Tóm lại, do sự phát triển xã hội nên sự biến âm ngôn ngữ sẽ ngày càng

đa dạng và phức tạp hơn, làm cấu trúc địa danh có thể bị mờ đi và mất dần ý nghĩa ban đầu của nó Vì vậy, muốn tìm hiểu sự thay đổi của địa danh phải tìm được nghĩa nguyên và nghĩa gốc ban đầu của nó, có như vậy chúng ta mới hiểu sâu rõ địa danh và càng thêm yêu địa danh đất nước mình hơn

Trang 22

1.2.4 Khái niệm tên riêng

Địa danh là một đơn vị định danh có cấu trúc gồm hai thành tố A và B Thành tố A (thành tố chung) dùng để gọi tên chung cho một lớp đối tượng cùng loại sông, núi, hồ, huyện, xã,… Thành tố B (tên riêng) có thể là từ, cụm

từ (ngữ), có khi là cụm chủ vị, có thể là danh từ, động từ, tính từ nếu xét về mặt từ loại; có thể là đơn tiết hoặc đa tiết xét về mặt cấu tạo;… mang tính ổn định, chỉ đứng vị trí thứ hai so với thành tố chung A, có chức năng khu biệt cho tính cá thể của đối tượng gọi tên

Như vậy, thành tố B (tên riêng) là những từ hoặc ngữ cố định có chức năng khu biệt cho tính cá thể đối tượng trong loại hình

1.3 Khái lược địa chí và Đồng Khánh địa dư chí

1.3.1 Địa chí và địa chí học

Hiểu địa chí theo nghĩa của từ thì “địa” là đất, một vùng đất, địa phương nào đó; “chí” là ghi chép Như vậy, địa chí là sách được ghi chép lại đúng với hiện thực về lãnh thổ, vùng đất một cách khái quát và dễ hiểu

Địa chí là công trình khoa học ghi chép, khảo tả, điều tra cơ bản theo một bút pháp riêng, cô đọng, khách quan, đúng sự thật về một vùng đất ở những nét tổng thể nhất, trong thời gian lịch sử nhất định, bằng bất cứ ngôn ngữ nào Trong lịch sử thư tịch nhân loại, địa chí là thể loại tồn tại lâu đời [5, tr.5-6]

Từ điển Bách Khoa toàn thư đưa ra định nghĩa: “Địa chí hay địa

phương chí là thể loại sách ghi chép, biên soạn, giới thiệu về địa lí, lịch sử, phong tục, nhân vật, sản vật, kinh tế, văn hóa,… của một địa phương (làng,

xã, huyện, tỉnh, thành phố…)”

Theo Từ điển Từ nguyên do nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc)

xuất bản năm 1914 hiểu địa chí là “sách ghi chép về địa dư bao gồm hình thể, núi sông, phong tục và sản vật của vùng đất”.[dẫn theo 28]

Trang 23

Như vậy, địa chí là loại sách khoa học phản ánh đầy đủ các yếu tố đất đai, khí hậu, con người về một vùng miền xác định trong đó chứa đựng nguồn tri thức xác thực và khái quát

Địa chí học hay địa phương học là bộ môn khoa học mà đối tượng nghiên cứu là vùng đất, địa phương trong một quốc gia Nó có mối liên hệ với các ngành nghiên cứu khác như địa lí, văn hóa học, lịch sử học, Vì vậy, nghiên cứu địa chí trên một vùng lãnh thổ sẽ giúp chúng ta phác dựng bức tranh toàn cảnh về truyền thống văn hóa, lịch sử của một cùng đất nhất định,

có cơ hội nâng cao sự hiểu biết, phát huy và quan trọng là bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống làng xã, vùng miền, dân tộc

1.3.2 Sơ lược thư tịch địa chí Việt Nam thời phong kiến

Có thể nói, địa chí là thể loại đã được hình thành, phát triển và tồn tại

từ lâu đời Ngay từ thời Chiến quốc đến Tần Hán, Trung Quốc đã có những

bộ sách viết về địa hình sông, núi của vùng đất kinh đô của họ Riêng đối với vùng đất Việt Nam đã có một số thư tịch địa chí ra đời ngay từ thời phong kiến mà đến nay vẫn còn giá trị tiêu biểu phải kể đến những tác phẩm lớn:

An nam chí lược của Lê Tắc là bộ sách ghi chép viết bằng văn xuôi chữ

Hán vào năm 1307 khi ông lưu vong tại Trung Quốc, đến năm 1333 mới hoàn tất, nguyên bản có 20 quyển nhưng hiện tại chỉ còn lại 19 bản, nội dung sách tổng hợp rất nhiều về địa lí, lịch sử, văn hóa,… đây là bộ thư tịch địa chí Việt Nam lâu đời nhất còn lại

Dư địa chí hay còn gọi bằng những cái tên Ức Trai di tập dư địa chí, Đại Việt địa dư chí, An Nam vũ cống, Nam quốc vũ cống, Lê triều cống pháp

của Nguyễn Trãi là sách viết bằng chữ Hán, biên soạn năm 1435, hiện đang lưu truyền là bản khắc in năm Mậu Thìn (1868), dưới triều vua Tự Đức Sách gồm 54 mục, bố cục không xếp thành chương hay phần, trình bày về địa lí, hình thế sông núi, lịch sử, thổ nhưỡng, đặc sản, nghề thủ công truyền thống,

Trang 24

tập quán của cư dân các đạo Trong đó, có một số mục kèm theo tên gọi địa danh đơn vị hành chính như: Phủ, huyện, xã, thôn ở các đạo Đây là một trong

số tác phẩm “địa lí học lịch sử đầu tiên của Việt Nam” còn giữ lại

Ô Châu cận lục do Dương Văn An biên soạn, là tập sách địa chí Việt

Nam được viết từ năm 1553, dưới triều vua Mạc Tuyên Tông Đây là tài liệu

“địa phương chí” sớm nhất viết tập trung về vùng đất Thuận Hóa giữa thế kỉ XVI Tác phẩm chỉ được gói gọn trong vài trăm trang bằng chữ Hán Nội dung được quy tụ lại trong 6 phần và chia thành 6 quyển:

Quyển 1: Núi sông đầu nguồn, cửa biển

Quyển 2: Phú thuế, sản vật

Quyển 3: Phân chia đơn vị hành chính (sách gọi là bản đồ) Quyển 4: Thành quách, thấp chợ, bến đò

Quyển 5: Đền chùa, danh lam

Quyển 6: Quan chế, nhân vật

Với nội dung như vậy, Ô châu cận lục đã trở thành một tài liệu quý giá

cho việc nghiên cứu vùng đất miền Trung nơi đây

Hoàng Việt nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định được biên soạn

năm 1806 dưới thời vua Gia Long Gồm 10 quyển, nội dung chủ yếu viết về các trấn sở và hệ thống giao thông Việt Nam lúc bấy giờ Bộ sách có tính quy

mô lớn, mô tả rất cụ thể về đường đi, các dịch trạm, địa danh, sông núi, cửa biển, của nước ta đầu thế kỷ XIX Việc ghi chép tổng thể của từng địa phương giúp chúng ta dễ hình dung được vùng đất của nước Việt Nam Về

sau, công trình này trở thành tài liệu nghiên cứu cho bộ Đại Nam nhất thống chí

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, được biên soạn

trong 10 năm từ 1809 – 1819 với 49 quyển ghi lại về địa lí, lịch sử qua các triều đại, các ngạch thuế, luật lệ và hình phạt, việc tuyển lính… là tài liệu cũ

Trang 25

viết về hiến chương, chế độ nước ta trước đời Nguyễn Nhờ vậy, các nhà nghiên cứu lấy đó để khảo thêm các sách sử ký, địa chí nước ta thời cổ

Đời Minh Mệnh có Hoàng Việt dư địa chí được viết hoàn thành năm

1833 về sự thay đổi địa lí, hành chính, nhân vật, sản vật, nghề thủ công… của

các địa phương Việt Nam thời bấy giờ Tập Bắc Thành địa dư chí do Lê Chất

soạn khi còn giữ chức Tổng trấn Bắc Thành đã ghi tên thôn xã của 12 trấn thành Đến đầu đời Thiệu Trị, bản thảo này được bổ sung chỉnh lý mới và

được hoàn tất vào năm 1845 Sau này, xin lấy tên sách là Đại Nam nhất thống chí và đến 10 năm sau thì hoàn thành một tập Đại Nam nhất thống dư đồ trong đó có 76 bản đồ, 31 tỉnh và 45 phủ Đại Nam nhất thống chí bộ sách

được viết dưới thời vua Tự Đức song mãi đến năm Ất mùi 1865, Quốc sử

quán triều Nguyễn mới tổ chức biên soạn dựa trên cơ sở của bộ Đại Nam nhất thống dư đồ, đến năm 1882 thì hoàn thành Đây là bộ sách rất quan trọng về

địa chí Việt Nam thời phong kiến với 28 tập và 31 quyển, mỗi quyển chép một tỉnh viết về hình thể, khí hậu, phong tục, thành trì, đền miếu, bến đò,… rất chi tiết

Bộ Đồng Khánh địa dư chí - thư tịch địa chí cuối cùng của Triều Nguyễn -

được tập hợp và bổ sung từ những bộ thư tịch trước đó Nội dung ngắn gọn hơn nhưng có tính bao quát và đầy đủ từ huyện, tổng, xã, ấp, phong tục, sản vật, danh thắng…

Qua những tài liệu thư tịch địa chí của Việt Nam thời phong kiến trên,

có thể thấy, thể loại địa dư, địa chí trong kho tàng lưu giữ Việt Nam từ xưa đến nay là không ít Hầu hết các nhà địa chí học đều có cách nhìn khách quan

về cương vực, phong tục, thắng cảnh,… của từng khu vực để từ đó thấy được toàn cảnh của một đất nước Nhờ những thư tịch địa chí của ông cha mà các nhà nghiên cứu, những người con của quê hương có thể hình dung toàn bộ đất

Trang 26

nước mình ở thời đại cũ dưới ống kính thu nhỏ Từ đó, thể hiện tinh thần yêu dân tộc, có ý chí bảo vệ lãnh thổ, truyền thống văn hóa của người Việt

1.3.3 Đồng Khánh địa dư chí

So với những bộ thư tịch trước, Đồng Khánh địa dư chí là tập sách đồ

sộ, được xem là một hồ sơ quan trọng của triều Nguyễn, ngày nay đã trở thành di sản thư tịch cổ cuối cùng của Việt Nam về địa lý học ở thế kỉ XIX Sách được viết hoàn thành dưới thời vua Đồng Khánh (1886 - 1887), do quan chức các tỉnh biên soạn theo sắc chỉ của Đồng Khánh Sau khi hoàn thành thì được lưu giữ tại Nội các của triều đình Huế, nay được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và đã được Đông dương thư khố của Nhật Bản ở Tokyo xuất

bản tháng 7 - 1945 dưới nhan đề Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí đồ Đến

năm 2003, Nguyễn Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên

dịch và biên soạn lại, xuất bản tại Việt Nam với tên Đồng Khánh địa dư chí Cuối đời Tự Đức đến đầu thời Đồng Khánh bộ sách Đồng Khánh địa

dư chí được biên soạn Toàn bộ tập Đồng Khánh địa dư chí nguyên bản gốc là

một bộ sách Hán - Nôm đồ sộ gồm 25 tập, 2832 trang và 314 bản đồ khổ lớn Nội dung mỗi tập gồm: Địa lý các tỉnh, phủ, huyện, danh sách các cấp hành chính, thành trì, binh, dân số, đền miếu, phong tục, sản vật

Sau này bộ Đồng Khánh địa dư chí được biên soạn lại gồm 3 tập, gồm

bản nguyên văn chữ Hán - Nôm và các bản dịch tiếng Việt, Anh, Pháp

Tập I có 1084 trang, gồm: Lời cảm ơn, giải pháp, nguyên tắc và quy ước dùng trong bộ sách, Từ vựng các đơn vị đo lường, Tài liệu tham khảo và

bản chữ viết tắt, Lời giới thiệu Thư tịch địa lý học cuối thế kỷ XIX, kèm bản

dịch tiếng Anh, tiếng Pháp; Phần giới thiệu các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Quảng Yên, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Sơn Tây, Ninh Bình

Trang 27

Tập II có 958 trang gồm: Phần giới thiệu các tỉnh Thanh Hóa Nghệ An, đạo Hà Tĩnh, tỉnh Quảng Bình, đạo Quảng Trị, phủ Thừa Thiên; Bản dịch tiếng Anh, Pháp phần giới thiệu các tỉnh từ Hà Nội đến Thừa Thiên Bản tra cứu bằng tiếng Việt theo thứ tự abc, bản tra cứu tiếng Hán - Nôm theo thứ tự

số nét của chữ bao gồm toàn bộ các danh từ địa lý, nhân vật, công trình kiến trúc, di tích lịch sử,

Tập III toàn bộ là bản đồ có 312 trang gồm: 20 bản đồ các tỉnh Việt Nam, kèm theo 278 bản đồ tỉnh, phủ thuộc 19 tỉnh từ Hà Nội đến Thừa Thiên Như vậy, với tổng số 2354 trang viết về địa lý các tỉnh trong nước thời Đồng Khánh, trong đó phủ Thừa Thiên có 29 trang và 564/21500 địa danh chiếm 2,6% Tập sách đã cung cấp cho chúng ta hệ thống hàng ngàn địa danh cấp hành chính từ xã, thôn, ấp, giáp và các công trình xây dựng lẫn thiên nhiên tự tạo trong thời phong kiến

tố chung và thành tố riêng của địa danh để thuận tiện cho việc nghiên cứu Địa chí học là ngành khoa học nghiên cứu liên quan mật thiết với dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học Vì vậy, muốn hiểu được vùng đất nơi đó có mang những nét đặc thù gì về phong tục, sản vật, danh thắng,… bắt buộc người nghiên cứu phải tìm lại những cứ liệu lịch sử xưa để gần gũi, sát với thực tế để nắm rõ được tình hình

Trang 28

Nước ta từ rất lâu đã có nhiều sách ghi chép, biên soạn về địa chí để lưu truyền làm cứ liệu cho thế hệ đời sau mà bộ sách gần nhất với chúng ta ngày

nay là Đồng Khánh địa dư chí đã mang lại cái nhìn về lịch sử, tình hình kinh

tế xã hội nước ta dưới triều Nguyễn nói riêng và chế độ quân chủ nói chung

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA DANH VÀ SỰ BIẾN ÂM ĐỊA DANH

THỪA THIÊN - HUẾ TRONG ĐỒNG KHÁNH ĐỊA DƯ CHÍ

2.1 Địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí - kết quả

thu thập và phân loại

Địa giới tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay trùng với địa giới Phủ Thừa Thiên dưới thời Nguyễn Do vậy, trong phần trình bày phía sau, tên gọi Phủ Thừa Thiên ngầm hiểu là tên gọi của tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay với địa giới tương ứng, như cũ

2.1.1 Kết quả thu thập

Dựa vào đối tượng, phạm vi, mục đích và nguyên tắc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát kết quả thu được tất cả Phủ Thừa Thiên trong

Đồng Khánh địa dư chí gồm 564 địa danh, chia làm 31 loại Trong đó, gồm

91 địa danh thuộc về tự nhiên, văn hóa, lịch sử,…và 473 địa danh xét ở cấp hành chính phủ hạt (trong đó 6 huyện, 31 tổng và 436 xã, thôn, ấp, giáp, phường, mạn, sách), cụ thể như bảng sau:

Bảng 2.1: Phân loại địa danh cấp huyện

5 Huyện Quảng Điền

6 Huyện Phong Điền

Trang 30

Bảng 2.2: Phân loại địa danh cấp tổng

Tỉ lệ (%)

Trang 31

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp địa danh cấp tổng và cấp xã, thôn, phường, ấp,

giáp, mạn, sách

Số lượng địa danh cấp tổng

Số lượng địa danh cấp xã, thôn, ấp, phường, giáp, mạn, sách

Tổng số địa danh

Từ số liệu trên ta so sánh với Phủ Thừa Thiên cho thấy:

Phủ Thừa Thiên - Huế có số huyện, tổng nhiều hơn đạo Quảng Trị, Quảng Bình

Có thể lí giải cho hiện tượng này là, Phủ Thừa Thiên có diện tích rộng, phía tây giáp núi, phía nam giáp với địa giới huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam, phía bắc giáp với địa giới huyện Hải Lăng đạo Quảng Trị Với diện tích kéo dài như vậy, sẽ tạo điều kiện cho việc phân bố, di cư, lập ấp theo từng vùng, từng cụm dân cư để từ đó đặt thêm tên địa danh cho khu vực có người

Trang 32

mới cư trú Đồng thời, đây cũng là nơi người Việt đặt chân đến sớm nhất và các chúa Nguyễn cũng đã cho xây dựng phủ lị của chính quyền dẫn đến sự hình thành nhiều địa danh làng xã trong khu vực

Huyện Hương Trà và Phú Vang chiếm số lượng cao nhất về tổng, xã Huyện Quảng Điền, Phong Điền và Phú Lộc có ít tổng nhưng ngược lại số xã lại chiếm tỉ lệ cao hơn đứng vị trí thứ 3 sau huyện Phú Vang Vì là hai trong

ba số huyện được thành lập sớm, tuy vậy Quảng Điền có số tổng và xã ít hơn

vì địa hình phía Tây giáp với vùng núi đồi, phía Bắc giáp biển lớn nên khó khăn cho việc lập ấp để cư trú, còn Hương Trà và Phú Vang là nơi địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi, là nơi đóng đô, triệu tập binh lính dưới thời các chúa Nguyễn Không chỉ vậy, dân số, diện tích của hai vùng đất Hương Trà và Phú Vang cũng cao hơn nên số tổng và xã, thôn nhiều hơn các huyện khác

2.1.2 Phân loại

Dựa vào cách phân loại của nhà nghiên cứu có thể chia địa danh Thừa

Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí theo sơ đồ sau:

Địa danh Thừa Thiên - Huế

Theo thuộc tính của đối

Tên NômVD:

trường Súng

Tên Hán – ViệtVD: xã

An Phú

Trang 33

Địa danh là địa hình tự nhiên gồm: Sơn danh, thủy danh Sơn danh: Là tên gọi các dạng địa danh có bề mặt lồi khác nhau: Núi,

5

7

2

Sông Hương Đầm Hà Trung Phá Tam Giang

Địa danh hành chính

Huyện Tổng

Xã Cư Chánh

Trang 34

14 Phường 3 Phường Thanh Tân

Như vậy, địa danh Thừa Thiên - Huế phân loại theo thuộc tính đối tượng tự nhiên - không tự nhiên gồm 31 loại Trong đó, về tự nhiên: Sơn danh xuất hiện với tần số cao nhất là: Núi 16; Thủy danh: Bến đò 11; Nguồn 11; Không tự nhiên gồm địa danh hành chính: Xã 236, Ấp 128; công trình xây dựng là trạm 7 và địa danh chỉ công trình giao thông là cầu 5 Ở thời điểm này

đã xuất hiện một số tên địa danh mang yếu tố văn hóa (như: chùa Thánh

Trang 35

Duyên, miếu Quan Công, đình Tiến Sảng…), các công trình giao thông được xây dựng nhưng còn rất ít

Thừa Thiên - Huế xưa vốn là vùng đất có địa hình chủ yếu là núi, sông,

bến Trong các sách thư tịch cổ, đặc biệt là Đại Nam nhất thống chí đã nói rất

rõ về hình thế của Huế “phía Đông giáp biển, phía Tây dựa núi, núi rừng trùng điệp,… núi sông bảo vệ…” Núi sông hiểm trở trở thành nơi để che chắn an toàn trong các trận đánh và cũng là nơi ngự trị của các chúa Nguyễn một thời “lấy núi đằng trước làm án”, mở lối cho vua nên có rất nhiều tên địa danh mang yếu tố chung là núi ra đời gắn với các sự kiện lịch sử khác nhau Điều đó phần nào giúp lí giải tại sao địa danh mang yếu tố chung là núi nhiều hơn các địa danh thuộc yếu tố chung là sông, đầm, đèo,…

Địa danh hành chính cấp xã, ấp, thôn nhiều hơn giáp, mạn, sách Vì Huế là vùng đất di dân, mô hình thôn, xã, ấp có từ miền Bắc sau đó do cuộc đánh chiếm nên phần lớn dân số di cư từ miền Bắc vào Huế mang theo mô hình hành chính trên rồi lấy đó thành lập nên thôn, xã, ấp Ngoài ra, dưới thời Đồng Khánh, chúa Nguyễn hầu như quản lí hết cả nước Việt Nam, thống nhất tên gọi xã, ấp, thôn Song song với nó là dưới các triều đại vua cho thực hiện chính sách chia để trị, tức là chia nhỏ để cai quản và trị vì dựa vào những người đứng đầu của các đơn vị hành chính “Dưới phủ là huyện, tổng, xã, thôn Quan chức của triều đình chỉ phân ra đến cấp phủ, huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của người dân Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra cai quản mọi việc tại địa phương” Như vậy, dưới tổng có các đơn vị hành chính nhỏ hơn, người dân có cơ hội thành lập cách tự phát,

họ đề cử và bầu những người có uy tín, trình độ trong dân lên làm người đứng đầu Vì thế mà số xã và ấp trong tổng của phủ dần dần hình thành và ngày càng nhiều lên, các thôn, giáp, mạn, sách, phường vẫn còn ít do sự phân bố

Trang 36

dân cư chưa đều ở các vùng ven nhỏ lẻ làm ảnh hưởng đến việc hình thành và đặt tên cho địa danh

Nếu chỉ phân loại địa danh theo đối tượng thì chúng ta sẽ chưa tìm ra được cái hay, sự lí thú, phức tạp trong tên gọi của địa danh Vì thế, chúng tôi còn tiếp cận địa danh ở tiêu chí ngữ nguyên của nó

Phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ Theo các nhà ngôn ngữ học, nguồn gốc tiếng Việt có hai thành phần: từ thuần Việt và từ vay mượn

Địa danh Thừa Thiên - Huế theo dạng từ thuần Việt: “Bao gồm vốn từ vựng cơ bản, vốn từ sống từ lâu đời làm thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong tiếng Việt Những từ thuần Việt là những từ được nhân dân ta dùng từ thời thượng cổ cho đến nay Những từ đó có quan hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á: Tiếng Thái, tiếng Môn Khmer”… [24, tr.254] Địa danh Thừa Thiên - Huế theo dạng từ Hán - Việt (từ vay mượn): Là

từ vay mượn tiếng Hán, nhưng đọc theo cách phát âm của tiếng Việt Trong

hệ thống ngôn ngữ, tiếng Việt nước ta đã vay mượn từ tiếng Hán với số lượng rất nhiều và đa số từ Hán - Việt là từ đa âm tiết

Qua khảo sát chúng tôi thống kê được kết quả như sau:

Bảng 2.6: Thống kê địa danh tên Nôm và tên Hán – Việt Thừa Thiên - Huế

Trang 37

“Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây” Có thể nói, nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc hàng ngàn năm Bởi vậy, từ gốc Hán đi vào vốn từ tiếng Việt là điều tất yếu Nhờ tiếng Hán mà nhân dân ta dựa vào đó để sáng tạo ra chữ viết riêng là chữ Nôm Trước đây, địa danh Việt Nam chủ yếu là tên Nôm Sau này, khi nhà Nguyễn lên nắm quyền thống trị thì đã cải cách từ địa danh Nôm sang Hán - Việt Vì thế, địa danh có nguồn gốc Hán - Việt chiếm số lượng đa số trong hệ thống địa danh nước ta thời Đồng Khánh, còn địa danh tên Nôm thì rất ít sử dụng trong hành chính mà chỉ thân thuộc trong chốn hương dã

Qua việc thống kê và phân loại địa danh mà chúng tôi vừa tiến hành cho thấy sự đa dạng và phức tạp của hệ thống địa danh Thừa Thiên – Huế Đồng thời cũng là công việc rất quan trọng không thể thiếu, bởi có phân loại

và thống kê địa danh chúng ta mới có cơ sở để xác định đặc điểm, cấu tạo của địa danh

2.1.3 Những địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa dư chí không còn sử dụng hiện nay

Địa danh nói chung bao gồm cả tên núi, tên sông, cửa biển, các trạm, cầu đường,… Mỗi tên gắn liền với vùng đất nhất định Do sự phát triển của đất nước qua từng thời kì và do yêu cầu của xã hội nên sau một thời gian, những đơn vị hành chính hay các công trình xây dựng trước đây giờ đã có sự

thay đổi hoặc không còn sử dụng Có thể thấy rõ, Đồng Khánh địa dư chí

được viết và hoàn thành từ đời vua Đồng Khánh (1886 – 1887) đến nay là 128 năm, đất nước đã bao lần đổi thay Một số vùng đã chuyển ấp lên thôn, thôn phát triển xã, từ xã cũng đã trở thành thị trấn, thị xã Chính vì lẽ đó mà các địa danh cũ thời Đồng Khánh bị mất đi theo thời kì lịch sử, đó âu cũng là lẽ dĩ nhiên Xét ở cấp xã và thôn hiện nay theo tài liệu Dương Phước Thu tính đến

Trang 38

năm 2006, một số địa danh hành chính cấp xã, ấp, giáp, thôn không còn sử dụng hiện tại như:

Huyện Hương Trà: xã Đức Bưu, xã Bồi Thành, xã Lễ Khê, xã Bao Mỹ,

xã Thọ Hàm, xã Thạc Lại, xã Tân An, ấp Tả Chí, ấp Lạc Hộ, xã Vạn Xuân, xã

An Quán, ấp Trung Bộ, xã Trạc Linh, xã An Hội, ấp Xuân An, ấp Nội Bình,…

Huyện Hương Thủy: tổng Võng Nhi, thôn Quảng Tế, thôn Trọng Đức, thôn Phụ Quảng, thôn Nghĩa Quán, thôn Kinh Dân, thôn Xuân Hồi, thôn An, mạn Giang Hồ, thôn Trung An,…

Quảng Điền: giáp Lai Trung, xã Mông Dưỡng, xã Lai Xá và xã Lãnh Thủy

Phong Điền: xã Chính Lộc, xã Đường Long, xã Phú Nông, ấp Phú Xuân, ấp Thượng Nguyên, thôn Mỹ Cương, Xã Xuân Lộc, Ấp Lương Sĩ, ấp Xuân Điền, xã Đông Dã Thượng

Huyện Phú Vang: xã Thế Lộc, xã Giang Triều, xã Phù An, xã Phổ Trì,

ấp Thọ Vực, ấp Hà Nhuận, ấp Hà Thanh, ấp Hà Áo, giáp Tây xã Văn Giang,

xã Bình Lực, xã Phao Võng, xã Diễn Phái, ấp Đường Xiên

Huyện Phú Lộc: xã La Hào, ấp An Trạch, ấp Phúc Lâm, ấp An Cừ, ấp Thọ Hàm, ấp Quý Lộc La Chữ, ấp Đồng Dần, ấp Tiên Non Phụ Ổ, ấp Tế Xuân, ấp Thái Bình Dã Lê, ấp Phú Sủng, ấp Tế Xuân, thôn Mậu Lâm,

Các địa danh thuộc nhóm tự nhiên, công trình xây dựng không còn sử dụng hay được thay đổi ngày nay như: cửa Quán, cửa Lạc, đầm Lai Hà, cửa tấn Cảnh Dương, cửa tấn Chu Mãi, bến đò ngang xã Xuân Dương, nguồn Dược Trường, trạm Thừa Nông, Thừa Hóa, Thừa Mỹ, Thừa An, Thừa Phúc, Thừa Lưu,… Tên các loại địa danh như núi, phá, đèo, đầm, tháp, gác, chợ, cửa biển, đàn, chùa hầu như vẫn còn được sử dụng ngày nay

Trang 39

Sự mất đi của địa danh cũ không chỉ do sự phát triển xã hội, mà có thể

do sự di cư của các vùng khác đến xây dựng nền kinh tế mới như xã Lộc Bổn chiếm phần lớn là làng cổ An Nông giờ đổi thành 5 thôn trong đó có xã Bình

An, ở khu này dân từ làng Lương Miêu, xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy đến để lập nghiệp Tuy tên của một số địa danh cổ thuộc cấp hành chính là ấp không còn sử dụng hiện nay, nhưng người dân trong vùng vẫn thỉnh thoảng dùng tên gọi cũ để chỉ định rõ hơn về một vùng có tên thay đổi nhằm định hướng đúng cho đối tượng Trước đây, ấp Hà Thanh huyện Phú Vang, sau thay đổi tên gọi cấp hành chính thành xã Vinh Thanh huyện Phú Vang, những người lớn tuổi ở các làng lân cận vẫn gọi là Hà Thanh

Nhìn chung, những địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa

dư chí phần lớn vẫn còn được sử dụng lại, bên cạnh đó vẫn có trường hợp

hoàn toàn mất đi và một số tên địa danh có sự thay đổi nhỏ về ngữ âm

2.2 Mô hình cấu trúc địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh

địa dư chí

2.2.1 Mô hình cấu trúc địa danh

Mỗi địa danh đều có mô hình cấu trúc và dù dựa vào tiêu chí nào thì chúng ta cũng phải xem xét nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo của nó Mô hình cấu tạo địa danh bao gồm hai thành tố A và B, trong đó thành tố A là danh từ

chung và thành tố B là danh từ riêng Ví dụ: xã Phụng Chính, núi Ngọc Trản, đèo Hải Vân, bến Hương Long, đầm Hà Trung, sông Hương, chùa Thánh Duyên, miếu Quan Công, phá Tam Giang, cửa biển Tư Hiền, chợ Gia Lạc, cầu Trường Lợi,… Trong đó, “xã”, “núi”, “đèo”, “bến”, “phá”, “cầu”, “chợ”,

“miếu”, “chùa”… là thành tố chung; còn “Phụng Chính”, “Ngọc Trản”, “Hải Vân”, “Thánh duyên”, “Quan Công”, “Tam Giang”, “Tư Hiền”, “Gia Lạc”,

“Trường Lợi”,… là tên riêng

Trang 40

Như vậy, “địa danh mang trong mình hai thông tin: a/ đối tượng được gọi tên thuộc địa hình địa lí (đồi, sông, phố, làng…) thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b/ có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó) thể hiện qua tên riêng” [9, tr 43] Như ví dụ trên thì xã, núi, chùa, đèo, sông, chùa, miếu, chợ,

cầu… là thành tố chung (A), còn tên riêng (B) là Phụng Chính, Ngọc Trản, Hải Vân, Hương Long, Hà Trung, Thánh Duyên…

Mỗi thành tố đóng một vai trò và chức năng riêng Thành tố A chỉ là đơn vị đi kèm và thành tố B mang tính cụ thể đóng vai trò quan trọng cho việc làm sáng nghĩa địa danh Tuy nhiên, việc xác định thành tố A và B không hề đơn giản bởi sự phức tạp và gắn với nét đặc trưng riêng Đồng thời, người ta cũng có quy định riêng về cách viết của địa danh theo tiếng Việt như sau: Thành tố chung là A được viết thường Thành tố riêng B viết hoa tên riêng đối với từ đơn âm tiết Hán - Việt và nếu tên riêng từ thuần Việt đa âm tiết thì viết hoa cả hai âm tiết

Như vậy, để hình dung một mô hình cấu trúc địa danh cần phải xác định được thành tố A và thành tố B, không chỉ thế còn phải hiểu và viết đúng quy định chính tả hiện hành của tiếng Việt

2.2.2 Địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh dịa dư chí nhìn từ

mô hình cấu trúc

Qua việc khảo sát thống kê và căn cứ vào số lượng âm tiết, chúng tôi

khái quát mô hình cấu trúc địa danh Thừa Thiên - Huế trong Đồng Khánh địa

dư chí như sau:

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w