Ngữ văn là môn học chủ yếu của khoa học xã hội và nhân văn Khoa học xã hội – nhân văn bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử, địa lý nhân văn, tâm lý học – xã hội,… trong đó Ngữ văn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
PHAN THỊ MINH QUÝ
ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ HỨNG THÚ HỌC NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THPT HOÀNG DIỆU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS Nguyễn Đăng Châu
Các số liệu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Phan Thị Minh Quý
Trang 3Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Trường ĐHSP Đà Nẵng, Khoa Ngữ văn, các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia, học tập và nghiên cứu Cảm ơn các quý thầy cô, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận và quá trình học Đặc biệt, tôi xin cảm ơn đến Thầy Nguyễn Đăng Châu, người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này Đồng thời, tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo, quý thầy cô giáo và học sinh trường THPT Hoàng Diệu, tỉnh Quảng Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, dù tôi đã rất cố gắng song chắc chắn không thể tránh những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ các nhà khoa học, các quý thầy cô và mọi người để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Phan Thị Minh Quý
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục khóa luận 2
NỘI DUNG 3
Chương 1 MỘT VÀI VẤN ĐỀ TỪ LÍ THUYẾT ĐẾN THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGỮ VĂN HIỆN NAY 3
1.1 Ngữ văn là môn học có tính nghệ thuật 3
1.2 Ngữ văn là môn học chủ yếu của khoa học xã hội và nhân văn 5
1.3 Dư luận xã hội về dạy học ngữ văn hiện nay 6
1.4 Kĩ thuật điều tra xã hội học 8
Chương 2 ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ HỨNG THÚ HỌC NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THPT HOÀNG DIỆU 25
2.1 Tổng thuật quá trình điều tra 25
2.1.1 Đặc điểm học sinh ở trường THPT Hoàng Diệu 25
2.1.2 Sơ lược mục đích và nội dung điều tra 26
2.1.3 Các bước tiến hành điều tra 31
2.2 Phân loại kết quả điều tra 31
2.2.1 Kết quả theo từng đối tượng điều tra 31
2.2.1.1 Đối tượng học sinh 31
2.2.1.2 Đối tượng là giáo viên 32
2.2.2 Kết quả theo khối lớp 33
2.2.3 Kết quả phân theo ban 35
Trang 52.3.1.1 Đối với học sinh 37
2.3.1.2 Đối với giáo viên 39
2.3.2 Phân tích kết quả theo khối lớp 39
2.3.3 Phân tích kết quả theo ban 41
Chương 3 LÍ GIẢI KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ MỘT VÀI KHUYẾN NGHỊ 45 3.1 Nguyên nhân thực sự dẫn đến việc giảm hứng thú học ngữ văn 45
3.2 Một vài khuyến nghị 48
KẾT LUẬN 51
TƢ LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu cho sự phát triển và vững bền của một quốc gia Chính vì vậy mà giáo dục ngày càng được đầu tư, phát triển
và mở rộng trong thời hội nhập ở cả ban khoa học tự nhiên và ban khoa học
xã hội ở các cấp học Trong các môn học của khoa học xã hội, môn Ngữ văn
ở nhà trường phổ thông đóng một vai trò cực kì quan trọng Đây là môn học góp phần hình thành nhân cách, cá tính, năng lực và phẩm chất công dân cho học sinh
Có hay không có tình trạng giảm hứng thú ở học sinh? Dư luận thiên về thực trạng chán học văn của học sinh với nhiều biểu hiện ngày càng rõ rệt trong hoạt động dạy học ở trường THPT Từ bao đời nay văn chương là môn học truyền thống của dân tộc ta, hơn nữa ở bất kì thời đại nào thì văn học cũng luôn khoác trên mình và thực hiện nhiều chức trách đáng quý, đặc biệt trong đó có thiên chức giáo dục giúp bồi đắp, nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách
và các hệ giá trị đạo đức cho con người Văn học góp phần hình thành và hoàn thiện con người có ích cho gia đình và xã hội Chính vì vậy mà việc tạo tâm thế, giúp học sinh ham học, thích thú hơn đối với môn Ngữ văn là điều cần thiết và đáng được quan tâm Tuy nhiên trước dư luận xã hội về thực trạng học sinh không thích và chán học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay là vấn đề đáng xem xét, lưu tâm và cần phải có giải pháp khắc phục Và để có thể góp phần tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đưa ra đề tài nghiên
cứu ở một trường THPT cụ thể với tên đề tài là: Điều tra xã hội học về hứng thú học Ngữ Văn tại trường THPT Hoàng Diệu
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, chưa có một công trình điều tra nghiên cứu với đầy đủ số liệu chính thức nào về tỷ lệ hứng thú học ngữ văn của học sinh Việt Nam
Trang 7Chúng ta có thể bắt gặp đây đó trong các hội nghị, trên báo đài những lời phàn nàn về tình trạng dạy học văn hiện nay Về văn bản, có thể gặp vài ý kiến cụ thể hơn nhưng chỉ là những kết luận tư biện, thiếu số liệu thực tế; chẳng hạn, Hồ Quang Trung, 2011, trong khóa luận Thạc sỹ có nhắc đến tình trạng học Ngữ Văn của học sinh huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (http://123 doc.vn/document/891758-kiem-tra-danh-gia-trong-day-hoc-mon-ngu-van-o-truong-trung-hoc-pho-thong-huyen-anh-son-tinh-nghe-an-luan-van-thac-sy-ngu-van.htm) nhưng chỉ để giải thích kết quả kiểm tra, đánh giá chứ không đi sâu phân tích dưới góc độ tâm lí – xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh dưới góc độ điều tra xã hội học
- Phạm vi nghiên cứu: tại trường THPT Hoàng Diệu
4 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra xã hội học
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1
MỘT VÀI VẤN ĐỀ TỪ LÍ THUYẾT ĐẾN THỰC TRẠNG
DẠY HỌC NGỮ VĂN HIỆN NAY
1.1 Ngữ văn là môn học có tính nghệ thuật
Cũng như hội họa, ca nhạc, điêu khắc… văn học là một môn nghệ thuật
Và dĩ nhiên trong văn học ắt phải có tính nghệ thuật Tính nghệ thuật của văn học được thể hiện trong chính mỗi tác phẩm Đối tượng của văn học là con người – con người trong học tập, lao động, chiến đấu, con người trong tình yêu và những mối quan hệ xã hội khác, con người trong không gian, thời gian với thiên nhiên, vũ trụ Nói văn học là nhân học, đúng thế Văn học phản ánh nhận thức con người và đời sống con người, nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự
đa dạng, phong phú
Văn chương được hình thành rất lâu trong tâm thức và đời sống của người Việt, đây là môn học không chỉ có tính truyền thống mà còn có tính nghệ thuật Văn học hình thành và phát triển, trải dài theo năm tháng thăng trầm của lịch sử Từ xa xưa nó đã có sức ảnh hưởng, tác động lớn trong văn hóa tinh thần cũng như đi liền với đạo nghĩa, hành động trong cuộc sống sinh hoạt đời thường của dân tộc Đặc biệt ở thời phong kiến, văn chương rất được xem trọng, nó được dùng trong dạy học và thi cử để nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách cũng như thử thách, đo lường tài năng, trí tuệ của con người
Không chỉ trong văn học bác học mà địa hạt của văn chương vốn được hình thành và nuôi dưỡng trong văn học bình dân của dân gian; mà ở nơi đâu văn chương cũng toát lên nét đẹp thiên hướng của mình, những giá trị đầy tính thẩm mĩ và giáo dục cao Đồng thời cũng là món ăn tinh thần đầy hương
Trang 9vị đã ăn sâu, thấm nhuần trong đời sống Việt, góp phần tạo nên văn hóa bản sắc cho dân tộc Việt Đó có thể là câu ca dao về tình yêu, nỗi nhớ được diễn
tả đầy mộc mạc, chân chất, mà sâu sắc ý vị như:
“Nhớ ai nỗi nhớ bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.”
Đó còn là câu ru Kiều mượt mà của bà, của mẹ hát về những triết lý ở đời, về tấm lòng trắc ẩn, nhân văn của các cụ ta thuở trước như:
“Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) Không chỉ có thế mà còn có những bài học, những câu chuyện ngụ ngôn, truyền thuyết, cổ tích nó có sức hấp dẫn dễ đi vào lòng người và lay động tâm thức cao
Ngữ văn có tính nghệ thuật bởi trong mỗi tác phẩm văn học đã là một thế giới nghệ thuật, chúng được tác giả tái tạo từ hiện thực thông qua cảm quan, lăng kính thẩm mĩ của mình Ở phân môn văn học bằng tác phẩm văn học, giáo viên dạy cho học sinh năng lực thẩm mĩ Có thể qua một tác phẩm ngụ ngôn nào đó, giáo viên dùng phương pháp tiếp cận và gợi mở để dìu các em vào thế giới nghệ thuật, thế giới thẩm mĩ trong văn chương, giúp cho học sinh được phát huy trí tưởng tượng, năng lực cảm thụ và tiếp nhận những hệ giá trị đạo đức, triết lý từ sâu bên trong dưới tầng ngôn ngữ của tác phẩm Từ đó giáo viên định hướng tư tưởng đạo đức, giá trị Chân - Thiện - Mĩ cho học sinh, mở rộng và liên hệ những giá trị đạo đức, giá trị triết lý giáo dục từ trong chính tác phẩm với hiện thực cuộc sống, với quan hệ sinh hoạt, chuẩn mực trong đời sống thực tế, thời đại hiện nay Các tác phẩm văn học trong nhà
Trang 10trường nhìn chung là các tác phẩm được chọn lọc theo triết lý về cái đẹp, có ý nghĩa liên hệ hoặc trực tiếp với thời chúng ta đang sống, gần gũi và bắt nhịp với nhịp sống chung của xã hội và nhân loại Chúng đem đến sự phát triển trí tuệ, nhân cách cho học sinh, đồng thời cũng giúp hình thành nên những con người mới, phát triển tốt đáp ứng yêu cầu về một xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn Cũng như qua đó, góp phần bảo tồn, ổn định và phát huy những giá trị đẹp trong cuộc sống, tạo nên phông văn hóa cho dân tộc và xã hội thông qua những giá trị thẩm mĩ
Chính vì vậy mà giáo viên dạy môn Ngữ văn cần hiểu rõ đặc trưng có tính nghệ thuật của môn học này, phát huy hết được giá trị thẩm mĩ và tính nghệ thuật của nó Bên cạnh đó cần có sự đề xuất phương pháp để tổ chức dạy học cho phù hợp và đạt được hiệu quả giáo dục cao
1.2 Ngữ văn là môn học chủ yếu của khoa học xã hội và nhân văn
Khoa học xã hội – nhân văn bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử, địa lý nhân văn, tâm lý học – xã hội,… trong đó Ngữ văn là môn học hàng đầu và có vai trò lớn không chỉ ở riêng trong ngành khoa học xã hội – nhân văn mà còn có tầm quan trọng sánh ngang cùng với các môn học chính khác ở trường Phổ thông như Toán, tiếng Anh hiện nay
Ngữ văn là môn học có truyền thống lâu đời Mà ở bất kì thời đại nào thì văn học vẫn hướng đến giáo dục đời sống tinh thần của con người Nói như vậy không có nghĩa là đồng nhất văn học với bộ môn đạo đức học mà ở đây thấy được thiên hướng về cái đẹp dù ẩn náu ở dạng nào đi chăng nữa thì qua đó, văn học giúp cho học sinh được cảm nhận, được thẩm thấu và học nhiều điều quý báu thông qua những luồng sáng thẩm mĩ ánh lên trong mỗi tác phẩm
Từ đó Ngữ văn góp phần hình thành nhân cách học sinh Học Ngữ văn trước hết là học làm người Bởi lẽ cái mục đích cuối cùng của dạy học Ngữ văn đó chính là giúp cho các em có khả năng tiếp nhận và tạo lập được các
Trang 11phát ngôn trong giao tiếp và bồi đắp tư tưởng, tinh thần nhân văn tốt đẹp để từ
đó hình thành nên những đức tính, nhân cách phát triển tốt cho học sinh Bởi một điều trước hết không thể chối cãi được, chính là nhân cách và lễ nghĩa – điểm cốt yếu để làm nên một con người, và cũng chính điều này tạo ra ranh giới giúp con người giữ được bản lĩnh, lương tri của mình trước những cái xấu, cái bất lương, những biến động trong bão táp cuộc đời
1.3 Dƣ luận xã hội về dạy học ngữ văn hiện nay
Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong dạy học và cuộc sống nhưng hiện nay có không ít dư luận xã hội bàn tán về thực trạng học văn của học sinh Theo nhiều luồng thông tin trên báo giấy, báo mạng, đa số các tác giả đều cho rằng học sinh hiện nay đang chán học văn Không ít thầy cô và phụ huynh đều cho rằng học sinh đang dần giảm hứng thú học văn và năng lực Ngữ văn xuống cấp Trước hết phải nói đến là học sinh thụ động, quen nghe, quen ghi chép và lười tìm tòi, khám phá, suy nghĩ Các em chủ yếu dựa vào sách văn mẫu hay những lời nói vay mượn trong cuộc sống hằng ngày để làm văn mà thiếu sáng tạo Chính vì tâm thế chán học văn mà dẫn đến khả năng và
cơ hội diễn đạt của học sinh cũng ngày một giảm dần Soạn bài và làm bài chủ yếu là đối phó cho qua giờ hơn là chủ động tìm hiểu, học hỏi
Nhiều kiến thức cơ bản nhất của Ngữ văn các em cũng ít quan tâm, ít đọc sách để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn chương Và từ đó các em thấy văn chương là trừu tượng, xa vời không thực tế, không thiết thực cho các em Điều dễ thấy trong các tiết học văn là các em thường ngủ gục hoặc nói chuyện riêng không quan tâm đến bài, học chỉ là để đối phó mà không có tâm thế tích cực
Trong xã hội ngày càng phát triển, văn minh và hiện đại, các em hầu hết tiếp xúc với các trò chơi giải trí hiện đại và cũng như chạy theo xu hướng kinh tế hóa nên chú trọng các môn tự nhiên như: Toán, Lý, Hóa, Sinh nhiều
Trang 12hơn và ít coi trọng các môn xã hội, đặc biệt là môn Văn thì các em cảm nhận rằng không cần thiết
Mỗi năm con số thi tuyển vào các khối chuyên văn không nhiều nếu không muốn nói là ít Và trong thi cử tốt nghiệp nếu môn Văn không phải là môn bắt buộc thì chắc các em sẽ ít hoặc không lựa chọn, không muốn thi, thậm chí là vui mừng Phát biểu tại hội thảo Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn trong trường phổ thông, TS Chu Văn Sơn (khoa Văn, ĐH Sư phạm
Hà Nội) chia sẻ, do có dịp được đi khắp đất nước, được dự nhiều giờ giảng, nên cảm thấy rất lo ngại về tình trạng dạy và học văn hiện nay
Các bậc phụ huynh cũng cho rằng con em mình rất chán học văn vì nói đến môn Văn các em đều xem nhẹ và không quan tâm, về nhà cũng không thiết tha mấy với môn này, chủ yếu là mượn vở bạn bè chép soạn, hay văn mẫu để đối phó cho qua là chính
Tất cả những điều trên không phải chỉ từ học sinh; có nhiều nguyên nhân khiến môn Văn trở nên áp lực, mệt mỏi đối với các em; lí do thực sự dẫn đến tình trạng này sẽ được chúng tôi đi vào lý giải thông qua kết quả điều tra ở phần sau
Trên đây cũng chỉ là những bàn tán, ý kiến, nhận xét của dư luận chứ chưa phải là nguồn thông tin có kiểm chứng, khoa học, chưa có sự xác thực, tin cậy cao Theo đó, chúng tôi quyết định đề xuất đề tài khóa luận của mình với mong muốn góp phần làm rõ thêm vấn đề về thực trạng hứng thú học Ngữ văn ở trường Phổ thông hiện nay của học sinh, ở một quy mô cụ thể là trường THPT Hoàng Diệu bằng phương pháp điều tra xã hội học để khảo sát, làm rõ thêm vấn đề này Từ đó, góp một phần nhỏ nghiên cứu ấy vào sự nghiệp dạy học hiện nay, có cơ sở để tìm hiểu rõ hơn về đối tượng, thái độ, nhận thức của học sinh mà để có phương pháp, sự nhận thức đúng đắn trong sự nghiệp tiếp tục trồng người
Trang 131.4 Kĩ thuật điều tra xã hội học
Cuộc nghiên cứu xã hội học thực nghiệm hay nói cách khác là cuộc điều tra xã hội học là phương pháp thu thập thông tin về các hiện tượng và quá trình xã hội trong phạm vi không gian và thời gian cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Điều tra xã hội học có thể sử dụng các phương pháp khác nhau Điều tra xã hội học có thể tiến hành toàn diện (toàn bộ đối tượng trong diện nghiên cứu) hoặc điều tra chọn mẫu (chỉ điều tra trong các đối tượng được chọn một cách khoa học) Thực tế người ta hay dùng cách chọn mẫu và ít tốn thời gian và chi phí, kết quả suy rộng ra toàn diện
Có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về một cuộc nghiên cứu xã hội học thực nghiệm Các ý kiến dù có khác nhau chăng nữa thì bất kỳ một cuộc nghiên cứu xã hội học nào cũng trải qua những bước cơ bản sau:
- Xác định đề tài và mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng giả thuyết và thao tác hóa khái niệm
- Xác định phương pháp thu thập thông tin
- Xây dựng bảng hỏi
- Lựa chọn mẫu điều tra
- Lựa chọn và tập huấn điều tra viên, tiến hành điều tra ở địa bàn
- Xử lý thông tin
- Đánh giá, phân tích và báo cáo kết quả
Các bước trên có thể xếp vào ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thu thập thông tin và giai đoạn xử lý thông tin
Giai đoạn chuẩn bị:
Xác định đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định đề tài nghiên cứu:
Xác định đề tài nghiên cứu là công việc đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho bất kỳ một nghiên cứu khoa học nào và không ngoại trừ cuộc nghiên cứu
Trang 14xã hội học thực nghiệm Để xác định được đề tài phù hợp, người nghiên cứu phải trả lời được các câu hỏi:
Nghiên cứu gì (đối tượng nghiên cứu; khách thể nghiên cứu)?
Nghiên cứu trong phạm vi nào (quy mô về thời gian và không gian)? Đối tượng nghiên cứu xã hội học thường là các vấn đề xã hội nghiên cứu
và có nhu cầu tìm hiểu và hướng tìm cách giải quyết chúng.Thực tế đời sống
xã hội chúng ta gặp những sự không phù hợp hay sự khác biệt giữa cái đang xảy ra với cái cần phải là Sự không phù hợp hay sự khác biệt này có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhau Chính sự không phù hợp hay sự khác biệt đó được nêu ra để nghiên cứu, để tìm hiểu được gọi là vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu chỉ trở thành đề tài khi nó được chấp nhận và coi như
đối tượng nghiên cứu Lĩnh vực của thực tiễn xã hội chứa đựng các vấn đề
nghiên cứu đó thì được gọi là khách thể nghiên cứu
Như vậy, việc xác định đề tài là cần phải thấy được sự tồn tại thật sự của vấn đề xã hội, cũng như phạm vi, lĩnh vực xác định vấn đề đó
Tên đề tài cần được trình bày một cách ngắn gọn, khoa học với câu chữ
rõ ràng, chính xác Không cho phép tên đề tài có những từ ngữ câu chữ không xác định hoặc đa nghĩa
- Xác định mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu là các vấn đề, cái đích mà cuộc nghiên cứu phải đạt
đến, tức là cuộc nghiên cứu giải quyết được những gì có ích cho quá trình nhận thức và cải tạo xã hội theo đề tài đã chọn Thường thì người nghiên cứu phải chỉ ra được các yếu tố, các khía cạnh, các mặt của đối tượng nghiên cứu cần được làm rõ, cần được chứng minh Như vậy, mục đích nghiên cứu là giải thích thêm cho đề tài, cụ thể hóa đề tài, loại bỏ đi những yếu tố chưa xác định trong đề tài và trong chừng mực nào đó mục tiêu được xem xét như tiêu chuẩn cho đề tài Mỗi đề tài có thể xác định mục tiêu cơ bản và các mục tiêu cụ thể
Trang 15- Xác định nhiệm vụ nghiên cứu:
Là chi tiết hóa mục đích nghiên cứu, nêu ra những bộ phận của mục đích phải hoàn thành
Xây dựng giả thuyết và thao tác hóa khái niệm:
- Xây dựng giả thuyết:
Giả thuyết trong nghiên cứu xã hội học là sự giả định có căn cứ khoa học
về cơ cấu các đối tượng, về tính chất của các yếu tố và các liên hệ tạo nên các đối tượng đó, về cơ chế hoạt động và phát triển của chúng
Cũng có thể hiểu giả thuyết như là những giả định về vấn đề cần nghiên cứu mà chúng ta thu được qua cuộc điều tra Nó là những nhận thức sơ bộ về vấn đề được nghiên cứu cho ta biết những ý niệm về đặc trưng, xu hướng và tính quy luật của các quá trình xã hội mà chúng ta tiến hành khảo sát
Trong quá trình xây dựng các giả thuyết, cần lưu ý những vấn đề sau đây: Những giả thuyết đưa ra không được mâu thuẫn với những quy luật đã được xác định hoặc những kết quả đã được kiểm nghiệm là đúng trước đó Trong trường hợp đặc biệt, giả thuyết đưa ra có thể mâu thuẫn với kết quả xã hội xác nhận trước đó Lúc này người lập giả thuyết phải đưa ra các điều kiện mới hoặc phải giải thích…
- Giả thuyết đưa ra phải phù hợp với những nguyên lý xuất phát của chủ nghĩa duy vật lịch sử (mục đích của nó là dễ sàng lọc các giả thuyết lệch lạc, lựa chọn những giả thuyết đáng tin cậy, phù hợp với cuộc nghiên cứu)
Giả thuyết phải kiểm tra trong quá trình nghiên cứu hay trong thực
tiễn Xây dựng giả thuyết cần chú ý hai mặt: Tập hợp các nguyên nhân dẫn
đến m t hiện tượng nào đó và các nguyên nhân đó có thể kiểm tra được
Việc phân tích lôgíc của các giả thuyết phải khẳng định được tính không mâu thuẫn của nó, cho phép trả lời các câu hỏi về một số mệnh đề của giả thuyết xem có phải là giả tạo hay không (ở đây bao hàm các thao tác
Trang 16lôgíc, các định nghĩa thao tác và quy tắc ký hiệu)
Giả thuyết đưa ra có thể sẽ được kết quả của cuộc điều tra xác nhận là đúng song cũng có thể bác bỏ nó trong trường hợp bị phủ nhận, chúng ta cần xây dựng lại giả thuyết Tuỳ thuộc vào vấn đề nghiên cứu mà số lượng giả thuyết được đưa ra nhiều hay ít Song trong mỗi cuộc nghiên cứu thường là có một giả thuyết chính và một giả thuyết bổ trợ - các giả thuyết hỗ trợ có nhiệm
vụ bổ sung và giải thích cho giả thuyết chính
Ngoài hai loại giả thuyết chính và bổ trợ ra, người ta còn chia giả thuyết
ra làm 3 loại sau:
iả thuyết mô tả, nhằm chỉ ra những đặc trưng và thực trạng của đối
tượng; iả thuyết giải thích nhằm chỉ ra những nguyên nhân của một hiện tượng xã hội; iả thuyết xu hướng nhằm chỉ ra xu hướng sẽ diễn ra trong
tương lai của một hiện tượng hay một quá trình xã hội nào đó
- Thao tác hóa khái niệm:
Đây là khâu quan trọng của một công trình nghiên cứu thực nghiệm, nó cho phép chúng ta có thể tái tạo được vấn đề nghiên cứu và đo lường trực tiếp các vấn đề được nêu ra
Trong các đề tài nghiên cứu xã hội học, chúng ta thường gặp những khái niệm trừa tượng Mức độ trừu tượng của các khái niệm có thể nhiều ít khác nhau Song tất cả các khái niệm đó không thể trực tiếp sử dụng để thu thập thông tin, bởi những khái niệm đó thường gây ra sự khó hiểu Vì lý do đó, người ta cần thao tác hóa khái niệm để tạo ra các khái niệm dễ hiểu
Thao tác hoá các khái niệm là những thao tác lôgíc nhằm chuyển những
khái niệm trừu tượng, phức tạp thành khái niệm đơn giản, dễ hiểu
Muốn thao tác hóa khái niệm phải dùng hệ thống các chỉ báo Nói cách khác, quá trình thao tác hóa khái niệm chính là quá trình xác định hệ thống các chỉ báo Có hai loại chỉ báo thường dùng, đó là chỉ báo khái niệm và chỉ
Trang 17báo thực nghiệm
Chỉ báo khái niệm (chỉ báo trung gian) tức là các khái niệm có mức độ trừu tượng nhỏ hơn và cụ thể hơn so với khái niệm của đề tài Nhiệm vụ của các chỉ báo này là nhằm làm sáng tỏ, đầy đủ hơn các khái niệm của đề tài Chỉ báo thực nghiệm là những khái niệm ở mức độ cụ thể nhất, cụ thể tới mức có thể đo lường, quan sát được và hoàn toàn thích hợp cho việc điều tra thực nghiệm Nhiệm vụ của các chỉ báo thực nghiệm là làm sáng tỏ các chỉ báo trung gian
Khái niệm của đề tài > Chỉ báo khái niệm (chỉ báo trung gian) > Chỉ báo thực nghiệm
Nhờ có quá trình thao tác hoá các khái niệm và xác định các chỉ báo mà chúng ta có cơ sở để thu thập thông tin thực tế, sử dụng được các phương pháp định lượng để đo lường những hiện tượng và các dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của một đối tượng hoặc một nhóm xã hội nào đó, từ đó mà có thể hiểu được nội dung và bản chất ẩn dấu bên trong của đối tượng
Giai đoạn thu thập thông tin:
Xây dựng bảng hỏi:
- Bảng hỏi và vai trò của bảng hỏi
Bảng câu hỏi là công cụ cơ bản trong việc thu thập thông tin xã hội, là một tập hợp các câu hỏi được sắp xếp có hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc tâm lý và lôgic, nhằm thu được các nội dung cần thiết cho đề tài nghiên cứu,
là sự thể hiện bên ngoài của giả thuyết đã nêu ở phần quá trình nghiên cứu Bảng câu hỏi thường dùng trong các trường hợp sử dụng các phương pháp phỏng vấn, ankét, mêtric xã hội
Một bảng câu hỏi được xây xựng tốt sẽ cho phép thu được những lượng thông tin đáng tin cậy và khả quan, ngược lại sẽ làm thông tin thu được bị sai lệch hoặc méo mó
Trang 18Xây dựng bảng hỏi là một công việc trí tuệ vất vả, chất lượng của bảng hỏi phụ thuộc vào trình độ của tác giả và sự chuẩn bị chu đáo ở các khâu xác định đề tài và mục tiêu nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết, mô hình nghiên cứu và thao tác hóa các khái niệm
Thông thường, lập một bảng câu hỏi phải tính đến hai yêu cầu: Phải đáp ứng được mục tiêu của cuộc điều tra và phải phù hợp với trình độ và tâm lý của người được hỏi
Cơ sở chủ yếu để tạo nên bảng hỏi là các câu hỏi
* Các loại câu hỏi
Căn cứ vào nội dung câu hỏi, có:
Các câu hỏi đặc trưng cho một sự kiện, sự thật nào đó, trong một không gian và thời gian xác định
Các câu hỏi thể hiện sự mong muốn, đánh giá của cá nhân, của nhóm
về một vấn đề nào đó
Căn cứ vào tính chất câu hỏi, có:
Câu hỏi đóng: là câu hỏi có sẵn các phương án trả lời Thông thường
có hai dạng: câu hỏi đóng đơn giản là loại câu hỏi chỉ gồm hai phương án trả lời có – không; câu hỏi đóng phức tạp là câu hỏi có nhiều phương án trả lời
hơn, phân biệt chi tiết hơn các phương án trả lời, ví dụ:
nh ch có hài l ng với công việc của mình không
Trang 19Câu hỏi mở: Là loại câu hỏi không chuẩn bị phương án trả lời trước, người được hỏi trả lời theo sự hiểu biết, tâm trạng của mình, do đó, những câu trả lời nhận được cũng có nội dung khác nhau, mức độ dài ngắn cũng khác nhau
Ví dụ: Tại sao bạn chọn thi vào Trường Đại học Sư phạm hoặc nh ch
có thể cho biết ý kiến của mình về vấn đề thời trang học đường hiện nay
Câu hỏi mở có ưu điểm là người được hỏi không bị ảnh hưởng bởi các câu trả lời được chuẩn bị trước, do vậy, nó có khả năng chỉ ra những hiện tượng xã hội mà chính tác giải đôi khi cũng chưa dự đoán trước được Nhờ ưu thế này, câu hỏi mở thường được dùng cho những hiện tượng và quá trình chưa được hiểu biết một cách đầy đủ Ngoài ra, khi cần kiểm tra tính đầy đủ
và chất lượng của câu hỏi đóng, người ta cũng thường dùng câu hỏi mở
Tuy nhiên, câu hỏi mở cũng có nhược điểm là các câu trả lời thường có nhiều nghĩa rất khác nhau, nhiều cách trả lời khác nhau hay cách dùng từ đa nghĩa của người trả lời,… gây khó khăn lớn cho việc xử lý số liệu thống kê Câu hỏi kết hợp: Loại câu hỏi này vừa đưa ra sẵn các cách trả lời, vừa
có phần để ngỏ để người trả lời tự điền vào Loại câu hỏi này hay được dùng
vì nó kết hợp được ưu điểm của cả hai loại câu hỏi trên
Các loại câu hỏi khác: Trên thực tế, bảng hỏi còn có thể có nhiều loại câu hỏi khác nữa như:
Câu hỏi chức năng: loại câu hỏi này thường dùng để thực hiện ba mục đích: (1) Kiểm tra sự am hiểu của người được hỏi đối với vấn đề do nhà nghiên cứu đặt ra (câu hỏi lọc), (2) Kiểm tra tính trung thực của câu trả lời, (3) Chức năng tâm lý: tạo ra sự hứng thú, xoá bỏ các hàng rào tâm lý, giảm bớt sự căng thẳng, mệt mỏi cho người trả lời
+ Câu hỏi theo bảng với hai mặt đối cực
Câu hỏi theo dạng cho điểm
Trang 20* Yêu cầu đối với câu hỏi
- Các câu hỏi phải rõ ràng, cụ thể, không được hiểu theo nhiều nghĩa (đặc biệt là trong câu hỏi đóng, các phương án trả lời phải được phân chia
rạch ròi theo một cơ sở thống nhất, không được chồng chéo lên nhau)
- Hạn chế dùng các khái niệm như thường xuyên, đôi khi mà tăng những câu hỏi đo lường cụ thể…
- Câu hỏi phải có trật tự, lôgíc, phù hợp với trình độ và đặc điểm của từng người và từng nhóm đối tượng cụ thể Hạn chế dùng các ngôn ngữ bác học hoặc quá thô thiển
- Đối với các câu hỏi tìm hiểu về chính kiến hoặc tâm tư, tình cảm riêng của đối tượng, nên dùng nhiều câu hỏi gián tiếp; còn khi câu hỏi liên quan đến các hiện tượng tiêu cực thì nên tìm các từ ngữ và câu nói thích hợp để giảm nhẹ mức độ mới có thể thu được câu trả lời đáng tin cậy
* a chọn các câu hỏi đ đưa vào ng câu hỏi
Để xây dựng được một bảng câu hỏi khoa học, đáp ứng yêu cầu của cuộc điều tra, phải biết lựa chọn các câu hỏi một cách nghiêm túc và bảo đảm một
tỷ trọng thích hợp giữa các loại câu hỏi
Thông thường, để chọn câu hỏi, căn cứ vào các tiêu chí: tính tiết kiệm của câu hỏi, tính chắc chắn của câu hỏi, tính xác thực của câu hỏi
Trên cơ sở của ba tiêu chí đó, ta có nhận xét sau: câu hỏi đóng tiết kiệm hơn, tính xác thực cao hơn, và dễ xử lý bằng máy vi tính hơn, câu hỏi mở khó xác định hơn và xử lý bằng phương pháp định lượng khó hơn, song lại có thể cho ta những thông tin nhiều chiều hơn, sâu sắc hơn
Giữa các câu hỏi, những câu hỏi về nội dung phải chiếm ưu thế cả về mặt số lượng và về quỹ thời gian Nó phải được ưu tiên trong việc xây dựng bảng câu hỏi cũng như trong thực hành điều tra
Trang 21* Bố cục b ng hỏi
Thông thường, bảng hỏi trong điều tra xã hội học thường có 3 phần:
- Phần mở đầu: bao gồm tên bảng hỏi, tên người hay tổ chức nghiên cứu, lời giới thiệu nêu rõ mục đích nghiên cứu, các giải thích và hướng dẫn cách trả lời Phần này nên ngắn gọn, dễ hiểu, tạo sự tin tưởng cho đối tượng trả lời
- Phần nội dung: Bao gồm hệ thống các câu hỏi nhằm thu thập thông tin cho đề tài Vấn đề cơ bản cần lưu ý trong phần này là việc xếp thứ tự các câu hỏi Thông thường, thứ tự câu hỏi là chung đến riêng, đơn giản đến phức tạp, tổng quát đến cụ thể, khách quan đến riêng tư,… hoặc xếp theo thứ tự thời gian Ngoài ra, còn tính đến một vài câu hỏi mang tính chất kiểm tra – nhắc lại một câu hỏi ở trên hoặc hỏi theo cách khác để xem có gì mâu thuẫn không
- Phần kết luận: Một vài câu hỏi kết thúc cuộc điều tra, thường là những câu hỏi về thông tin của đối tượng điều tra
Bảng hỏi cần được trình bày khoa học, rõ ràng, chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho người trả lời đọc và ghi chép
Lựa chọn mẫu điều tra:
* S cần thiết chọn mẫu
Mục tiêu cơ bản của các cuộc điều tra xã hội học là để cung cấp các thông tin từ thực tế xã hội cho việc phát triển lý luận xã hội học cũng như cho công tác quản lý xã hội Về nguyên tắc, thông tin thu được từ các cuộc nghiên cứu xã hội học cần đảm báo hai đặc tính cơ bản Thứ nhất, thông tin phải có tính đại diện, nghĩa là thông tin thu được phải có giá trị cho cả tổng thể điều tra Thứ hai, thông tin đó phải đảm bảo mức độ chính xác, nghĩa là thông tin thu được phải phản ánh đúng với thực tế khách quan
Gắn liền với đặc tính thứ hai của thông tin chính là các phương pháp và
kỹ thuật được sử dụng để thu thập thông tin
Gắn liền với đặc tính thứ nhất của thông tin, chúng ta đang nói đến cách
Trang 22chọn mẫu Nghĩa là phải chọn mẫu như thế nào đó để thông tin thu được có ý nghĩa, có giá trị và có thể đại diện cho cả tổng thể nghiên cứu
Như vậy, chọn mẫu chính là quá trình sử dụng các phương pháp khác nhau nhằm tìm ra được một tập hợp các đơn vị (nhóm xã hội, người) mà những đặc trưng và cơ cấu được nghiên cứu của chúng có thể đại diện cho một tập hợp xã hội lớn hơn; hay nói một cách khác, những kết luận được rút
ra từ nó có thể suy rộng cho cả tổng thể
Thông qua nghiên cứu chọn mẫu người ta có thể đảm bảo được tiến độ công việc nghiên cứu, tiết kiệm thời gian, tiền bạc…
* Các loại mẫu và cách lấy mẫu
Trong các cuộc điều tra xã hội học, các nhà nghiên cứu thường tiến hành một số cách lấy mẫu sau:
- Ngẫu nhiên đơn giản:
êu cầu của cách lấy mẫu này là phải có một danh sách kê khai đầy đủ các thành viên của tổng thể (tập hợp tổng quát) Trên cơ sở danh sách này, có thể lựa chọn một cách hoàn toàn ngẫu nhiên (thí dụ: rút thăm theo kiểu hú họa) các thành viên sao cho đủ số người cần thiết để nghiên cứu
Đặc điểm của phương pháp này là: mọi thành viên đều có cơ hội như nhau để rơi vào mẫu
- Hệ thống khởi đầu bằng ngẫu nhiên
Khi lập mẫu kiểu này, thay cho việc rút hú họa (theo kiểu lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản), có thể chọn mẫu bằng cách lựa chọn một thành viên bất kỳ nào đó trong bảng danh sách đã đánh số thứ tự, sau đó cứ cách một khoảng cách K ta lại chọn một người (độ lớn của K là tuỳ thuộc vào việc chúng ta chọn mẫu lớn hay nhỏ)
Lúc này chúng ta có được công thức: K N n
n: Số người (đơn vị) của mẫu
Trang 23N: Số người (đơn vị) của tổng thể
K: Khoảng cách giữa hai người trong mẫu
- Lấy mẫu nhiều giai đoạn
Trong chọn mẫu loại này, việc chọn mẫu được mẫu thực hiện qua hai hoặc nhiều bước hơn Giai đoạn một: chia tập hợp tổng quát ra thành các nhóm lớn theo một dấu hiệu nhất định, lập danh sách liệt kê các nhóm, chọn trong danh sách ra một số nhóm theo nguyên tắc ngẫu nhiên Tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản hoặc mẫu ngẫu nhiên hệ thống bắt đầu từ ngẫu nhiên (trong các nhóm đã được lựa chọn)
Cách lấy mẫu này dùng trong các trường hợp tập hợp tổng quát khá lớn, thí dụ, một tỉnh, một ngành, một tầng lớp xã hội, một quốc gia
Loại lấy mẫu này rất khó vì vậy cần hiểu thực địa kỹ lưỡng Nếu không
có một tấm bản đồ xã hội thì nhà nghiên cứu phải làm việc cẩn thận với những nhà lãnh đạo, quản lý ở địa phương nơi tiến hành khảo sát, vì họ là những người am hiểu tình hình, đặc điểm của địa phương mình Ngoài ra, người ta còn tiến hành chọn mẫu cụm, mẫu xêri, mẫu phân xuất, chọn mẫu theo hành trình …
Để bảo đảm cho mẫu có tính đại diện cao, giảm được đến mức thấp nhất
độ sai lệch về cơ cấu thống kê của mẫu so với cơ cấu của tập hợp tổng quát, ngoài việc tuân thủ các quy trình chọn mẫu một cách nghiêm ngặt, chúng ta còn phải quan tâm đến dung lượng của mẫu
Không có một giải pháp vạn năng về dung lượng cần thiết của mẫu, song
về mặt nguyên tắc, dung lượng của nó phụ thuộc vào số lượng dấu hiệu có trong tập hợp tổng quát và mức độ chính xác cần thiết của các kết quả trong mẫu Nếu trong tập hợp tổng quát có nhiều dầu hiệu, thì dung lượng của mẫu
sẽ tăng lên và ngược lại mẫu sẽ nhỏ nếu tập hợp tổng quát thuần nhất về mặt dấu hiệu
Trang 24Sai số của mẫu cũng sẽ tăng lên, nếu như trong quá trình thực hành điều tra đã vi phạm những yêu cầu quy trình chọn mẫu Chính vì vậy, việc theo dõi
và điều hành một cách nghiêm túc, sát sao các điều tra viên trong quá trình điều tra theo mẫu đã chọn là một việc làm cần thiết
Lựa chọn và tập huấn điều tra viên, tiến hành điều tra ở địa bàn
* Lựa chọn và tập huấn điều tra viên:
Trong mỗi cuộc điều tra, tuỳ theo quy mô, tính chất phức tạp của đề tài nghiên cứu và phương pháp điều tra mà người tổ chức cuộc điều tra chuẩn bị lực lượng điều tra viên nhiều hay ít, chất lượng và những yêu cầu về năng lực, phẩm chất cao hay trung bình Trong những cuộc điều tra bằng phương pháp ankét, trình độ chuyên môn không đòi hỏi cao lắm, song trong các cuộc điều tra bằng phương pháp phỏng vấn sâu hay quan sát đầy đủ, người ta tiến hành công việc phải có nhiều kinh nghiệm và trình độ văn hoá cao (nhất là về mặt chuyên môn)
Tuy có sự khác nhau về mức độ tập huấn, song nhìn chung, mọi cuộc tập huấn cho điều tra viên trong điều tra xã hội học đều phải thực hiện các bước sau:
- Giới thiệu mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, thông qua đó giúp cho điều tra viên có thể giải thích được mục đích, ý nghĩa của các cuộc điều tra cho đối tượng được điều tra
- Làm cho mọi điều tra viên đều hiểu được như nhau về các khái niệm, các câu hỏi và những vấn đề cần khai thác
- Làm cho điều tra viên biết cách ghi chép thông tin
- Giới thiệu trước đặc điểm của đối tượng điều tra, giúp cho các điều tra viên tiếp cận và ứng xử linh họat, thích hợp nhằm thâm nhập vào đối tượng và thu được tối đa những thông tin cần thiết
- Xác lập tiến độ thực hiện cho các thành viên
Trang 25* Điều tra th và hoàn ch nh lại toàn ộ ng câu hỏi c ng như các
ch áo
Để hoàn thiện cũng như nâng cao chất lượng của bảng câu hỏi, nhiều nghiên cứu cần thiết phải điều tra thử Chính nhờ quá trình này mà chúng ta tìm ra được những sai sót trong quá trình xây dựng bảng câu hỏi, loại bỏ được những phần thiếu lôgíc trong trình tự các câu hỏi, chuẩn hoá thêm một bước của cuộc điều tra và cuối cùng là tạo ra được một bảng câu hỏi tối ưu, phù
hợp với đố tượng của cuộc điều tra
Điều đáng lưu ý là: nên tiến hành điều tra thử trên chính đối tượng sẽ điều tra; tất nhiên không nên để khoảng cách quá xa so với thời gian tiến hành điều tra chính
* Tiến hành điều tra ở địa bàn
Giai đoạn xử lý thông tin:
Giai đoạn này gồm ba công đoạn: Tập hợp tài liệu, phân nhóm và miêu
tả, giải thích; Kiểm tra giả thuyết nghiên cứu; Trình bày báo cáo và xã hội hoá kết quả
Tập hợp tài liệu, ph n nhóm và miêu tả, giải thích
- Tập hợp các tài liệu, sắp xếp chúng vào các nhóm dấu hiệu riêng Thí dụ: Tài liệu kinh tế, chính trị, pháp luật
Tài liệu thống kê hay các văn bản báo cáo
Tài liệu về mức sống hay các dấu hiệu khác về học vấn, nghề nghiệp Trong giai đoạn xử lý thông tin bước đầu, có thể sử dụng cả các biện pháp đơn giản để phân loại đối với các tài liệu kết hợp với xử lý bằng máy vi tính
Xử lý bằng máy vi tính theo ba bước:
- Lập sơ đồ lôgíc, xử lý và phân tích thông tin
Mẫu tài liệu thu thập thông tin
Thống kê các phương pháp xử lý bảo đảm kiểm tra được giả thuyết
Trang 26Lập sơ đồ phân tích kết quả thu được - nếu hướng phân tích chính
- Lập trình để xử lý trên máy vi tính (do chuyên gia vi tính đảm nhiệm) Người lãnh đạo cuộc điều tra phải đưa ra những yêu cầu cụ thể để các chuyên gia vi tính lập trình theo phương án tối ưu, đáp ứng được tối đa yêu cầu của giả thuyết nghiên cứu
- Chuẩn bị tài liệu để đưa vào máy vi tính (thông thường là các phiếu ankét) Đánh số làm sạch số liệu (xử lý thô)
Đóng các câu hỏi mở, mã hoá các nhóm dấu hiệu Theo kinh nghiệm, khâu này phải làm trước lúc lập trình, hoặc nếu đã lập trình rồi phải xử lý, chỉnh lý bổ sung vào số liệu
Công việc tiếp theo là do chuyên gia vi tính đảm nhiệm Như vậy, nhiệm
vụ của giai đoạn này là chuyển các thông tin cá biệt thành các thông tin tập hợp Trên cơ sở của những thông tin tập hợp (lại được đặt trong các bảng phân nhóm liên hợp) ta mới có thể có cơ sở lựa chọn phương tiện quan trọng
để tiếp tục phân tích hoặc áp dụng các phương pháp thống kê tinh vi hơn Sau khi đã tiến hành xử lý, sàng lọc thông tin, phân nhóm các tài liệu thì bước tiếp theo là phân tích thông tin Có hai cách phân tích thông tin: miêu tả
và giải thích
Miêu tả: là sự ghi lại những kết quả nghiên cứu xã hội học kinh nghiệm bằng hệ thống các ký hiệu đã được lựa chọn và biểu đạt những kết quả đó trong những khái niệm khoa học Nó là khâu trung gian từ kinh nghiệm đến giải thích khoa học, có nghĩa là nó chưa vạch ra được bản chất và mối liên hệ
có tính quy luật của các sự kiện, do vậy nó vẫn nằm trong khuôn khổ của kinh nghiệm Thành phần của miêu tả thường có ít nhất ba thành tố:
Những tài liệu nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm
Hệ thống ký hiệu đem lại cho các miêu tả (các đồ thị, biểu bảng, các
sơ đồ…)
Trang 27Những khái niệm có liên quan đến hệ thống ký hiệu Người ta thường tiến hành miêu tả hay lý giải các kết quả của công việc nghiên cứu xã hội học kinh nghiệm bằng các biểu đồ của các chuỗi biến phân như lược đồ tổ chức,
đa giác phân chia, lược đồ tích luỹ, đường cong phân chia …
Ưu điểm chính của sự mô tả bằng biểu đồ là tích trực quan của nó
Giải thích: là sự phát hiện ra bản chất của đối tượng quan sát trên cơ sở những tài liệu kinh nghiệm và lý thuyết xã hội học bằng cách chỉ ra ở đối tượng được giả thích những vấn đề mà giả thuyết của cuộc nghiên cứu đặt ra Nó xác nhận hoặc loại bỏ một giả thuyết nào đó hay toàn bộ hệ thống giả thuyết
Kiểm tra giả thuyết nghiên cứu:
Theo quan điểm lôgíc học, kiểm tra là một quá trình xác nhận bằng kinh nghiệm những kết quả rút ra từ giả thuyết đưa ra ban đầu Có thể tiến hành kiểm tra giả thuyết bằng thực nghiệm xã hội học, phương pháp thống kê hoặc biện pháp áp dụng các biến số kiểm tra
Theo quan điểm duy vật khoa học, họat động thực tiễn xã hội của con người là tiêu chuẩn cao nhất và có uy tín để kiểm tra tính chân thật của một kết quả nghiên cứu nào đó Bởi vậy, việc kiểm tra giả thuyết một cách toàn diện và có sức thuyết phục cao đòi hỏi nhà nghiên cứu phải vượt ra khỏi khung cảnh của những suy luận lôgíc đơn thuần (chỉ từ kết quả đến sự luận chứng) Ở đây, sự khẳng định bằng kinh nghiệm hệ thống những giả thuyết là rất có ý nghĩa
Điều quan trọng là phải biết kết hợp sự kiểm tra giả thuyết bằng chính các thao tác lôgíc với những tri thức có được bằng kinh nghiệm; đồng thời không nên coi là sai lầm nghiêm trọng nếu như một giả thuyết nào đó đã bị kết quả của cuộc điều tra phủ nhận Trong thực tế, chính sau những sự kiện như vậy thì đồng thời lại là điểm khởi đầu của một giả thuyết nghiên cứu đúng đắn Hơn nữa, chính sự bác bỏ các giả thuyết bằng những kết quả kinh
Trang 28nghiệm của cuộc nghiên cứu, tự nó cũng có giá trị nhất định
Trình bày bản báo cáo và xã hội hóa kết quả:
- Báo cáo và tờ trình có thuyết minh:
Kết quả điểu tra xã hội học thực nghiệm thường được trình bày dưới dạng báo cáo Kèm theo nó là tờ trình có thuyết minh về việc giải quyết những nhiệm vụ đã đặt ra và các phụ lục kèm theo Trong tờ trình có thuyết minh quá trình thực hiện chương trình của cuộc nghiên cứu, có thông báo các
tư liệu tính toán, luận chứng Trong phụ lục kèm theo có các chỉ tiêu, bảng số,
đồ thị, các bảng ankét, những mẫu, những phiếu ghi, những phép thử Sau các bản báo cáo là những cuốn sách chuyên khảo, những bài báo, tuyển tập, các bản luận …
- Những yêu cầu đối với bản báo cáo:
Chỉ ra mục đích, nhiệm vụ của cuộc điều tra (tương quan giữa mục đích lý luận và mục đích thực hiện)
Làm sáng tỏ tình trạng nghiên cứu (vấn đề hiện nay và những quan điểm hiện có đối với đề tài)
Phần đặc biệt của bản báo cáo cần trình bày những vấn đề có tính chất phương pháp luận cho việc lựa chọn và luận chứng bộ công cụ phương pháp của cuộc nghiên cứu, phân loại việc lựa chọn, các phương pháp thu thập thông tin xã hội
Trình bày một cách đầy đủ mọi giai đoạn nghiên cứu đã được tiến hành với đối tượng, sự liên kết lẫn nhau giữa tất cả các khâu của nó và lôgíc của bản thân sự tìm kiếm khoa học, chỉ ra được vị trí và vai trò của thể thức nghiên cứu …
Chỉ ra mức độ thích ứng của kế họach nghiên cứu so với nhiệm vụ và
sự phù hợp của giả thuyết nghiên cứu so với những kết quả của cuộc nghiên cứu mang lại độ tin cậy của hệ thống mã hoá thông tin và sự tái hiện của nó