Chính vì vậy, để góp phần bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá cũng như thúc đẩy sự phát triển bền vững dựa vào cộng đồng tại Cù Lao Chàm, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Điều
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ MAI HẠNH
ĐIỀU TRA NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG
VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC
(Gecarcoidea lalandii)
BỀN VỮNG CUA ĐÁ
TẠI CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ MAI HẠNH
ĐIỀU TRA NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG
VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC
(Gecarcoidea lalandii)
BỀN VỮNG CUA ĐÁ
TẠI CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS CHU MẠNH TRINH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, ngày 04 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Mai Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi nhận được sự hướng dẫn rất nhiệt tình của Thầy Chu Mạnh Trinh, Phó trưởng Phòng Nghiên cứu và Phát triển, Ban Quản lý Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Khoa Sinh – Môi trường, Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
và sự hỗ trợ nhiệt tình của cộng đồng người dân Cù Lao Chàm, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những giúp đỡ quý báu đó
Đà Nẵng, ngày 04 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Mai Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN 3
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng 3
1.1.2 Vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn 3
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÙ LAO CHÀM 5
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 5
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội 5
1.3 NHẬN THỨC VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHẬN THỨC 6
1.3.1 Khái niệm nhận thức và các khái niệm liên quan 6
1.3.2 Quá trình phát triển của nhận thức 7
1.4 GIỚI THIỆU VỀ CUA ĐÁ (Gecarcoidea lalandii) 8
1.4.1 Vùng phân bố của cua Đá (Gecarcoidea lalandii) 8
1.4.2 Đặc điểm sinh thái, sinh học của cua Đá (Gecarcoidea lalandii) 9
1.4.3 Hiện trạng khai thác cua Đá (Gecarcoidea lalandii) 10
Trang 61.5 HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG CUA ĐÁ
(Gecarcoidea lalandii) TẠI CÙ LAO CHÀM 11
1.5.1 Quá trình hình thành 11
1.5.2 Các hoạt động chính và một số kết quả đạt được 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 14
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 14
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
2.2.1 Điều tra nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 15
2.2.2 Đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm 15
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 15
2.3.2 Phương pháp xác định số lượng người phỏng vấn 15
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn 16
2.3.4 Phương pháp quan sát hành vi cộng đồng: 17
2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 19
3.1 HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG CUA ĐÁ (Gecarcoidea lalandii) CÙ LAO CHÀM 19
3.1.1 Nhu cầu xây dựng và phát triển hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm 19
3.1.2 Nội dung và ý nghĩa của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm 20
Trang 73.1.3 Mối liên hệ giữa các mức độ phát triển của nhận thức và hoạt động
bảo vệ, khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) 23
3.2 NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG CUA ĐÁ (Gecarcoidea lalandii) TẠI CÙ LAO CHÀM 24
3.2.1 Mức độ biết của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 24
3.2.2 Mức độ hiểu của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 27
3.2.3 Mức độ chấp nhận của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 29
3.2.4 Mức độ thực hiện các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá của cộng đồng 32
3.2.5 Mức độ duy trì các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá của cộng đồng 33
3.2.6 Đánh giá mức độ nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm 37
3.3 Đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm: 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 53
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian Nations)
IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên
(International Union for Conservation of Nature and Natural Resources)
NĐ-CP Nghị định Chính phủ
SPSS Phần mềm thống kê phục vụ xã hội học
(Statistical Package for the Social Sciences)
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.3: Mức độ ưu tiên của các biện pháp đã đề xuất………45
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ Hình 1.1: Các yếu tố tác động đến quá trình nhận thức – ý thức của cộng đồng người dân Cù Lao Chàm trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 7
Hình 1.2: Quá trình phát triển của nhận thức 8
Hình 1.3: Mô tả quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm 12
Hình 2.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu Cù Lao Chàm 14
Hình 2.2: Tỉ lệ mẫu phỏng vấn theo nghề nghiệp 17
Hình 2.3: Tỉ lệ mẫu phỏng vấn theo độ tuổi 17
Hình 3.1: Nguyên nhân – hậu quả suy giảm nguồn lợi cua Đá 19
Hình 3.2: Cơ sở của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 21
Hình 3.4 Mức độ biết của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 25
Hình 3.5: Mức độ hiểu của cộng đồng về về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá 28
Hình 3.6: Sự lựa chọn của cộng đồng về cua Đá dán nhãn sinh thái 30
Hình 3.7: Nguyên nhân giải thích sự lựa chọn của cộng đồng về cua Đá dán nhãn sinh thái và không dán nhãn sinh thái 31
Hình 3.8: Mức độ “Thực hiện” các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá của cộng đồng 33
Hình 3.9: Nguyên nhân cộng đồng cho rằng số lượng cua Đá đang suy giảm… 34
Hình 3.10: Hoạt động khai thác lén lút cua Đá bởi người dân địa phương 35
Hình 3.11: Hoạt động buôn bán lén lút cua Đá tại một cơ sở homestay…………35
Trang 10Hình 3.12:Mức độ chuyển biến nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và
khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm 37
Hình 3.13: Mức độ chuyển biến nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá theo yếu tố nghề nghiệp 38
Hình 3.14: Mức độ chuyển biến nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá theo yếu tố độ tuổi 40
Hình 3.15: Mô hình xây dựng biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng 41
Hình 3.16: Các biện pháp nghiên cứu đề xuất 43
Hình 3.17: Nhu cầu của cộng đồng đối với các biện pháp đã đề xuất 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cù Lao Chàm hay còn gọi là xã đảo Tân Hiệp, thuộc TP Hội An, tỉnh Quảng Nam là một địa điểm phát triển du lịch sinh thái mạnh mẽ với khí hậu thuận lợi và
hệ động thực vật đa dạng và phong phú như tôm hùm, cua Đá, bào ngư…
Trong đó, cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm là loài động vật
biển quan trọng, có đóng góp đáng kể vào sinh kế của người dân địa phương Tuy nhiên, do sức ép của du lịch, cua Đá đang dần bị khai thác kiệt quệ Số lượng cua
Đá đã và đang suy giảm, thậm chí có thể giảm đến 80% so với trước đây [10]
Để khắc phục tình trạng nguy cấp đó, năm 2009, UBND thành phố Hội An
đã ban hành Chỉ thị 04 về việc tạm dừng khai thác, vận chuyển, buôn bán cua Đá nhằm phục hồi đối tượng này tại xã Tân Hiệp [14] Năm 2010, với sự phối hợp của Quỹ Môi trường toàn cầu và TP Hội An, chính quyền địa phương Cù Lao Chàm đã triển khai hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá dựa vào cộng đồng [12]
Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, một số hoạt động khai thác và buôn bán trái phép cua Đá đã và đang diễn ra, đặc biệt là mùa du lịch từ tháng 3 đến tháng 9 hằng năm [12], [14] Hoạt động trái phép trên không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá mà còn làm nổi bật lên vai trò của cộng đồng cũng như sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn
Muốn thu hút sự tham gia đó, cộng đồng cần phải có nhận thức nhất định Điều tra và đánh giá mức độ nhận thức cộng đồng trở thành một yếu tố quan trọng, một nhu cầu cấp thiết để giúp cộng đồng thực hiện các hành vi tích cực ra bên ngoài
và đề xuất các công tác bảo tồn cua Đá phù hợp
Chính vì vậy, để góp phần bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá cũng như thúc đẩy sự phát triển bền vững dựa vào cộng đồng tại Cù Lao Chàm, tôi tiến hành
thực hiện đề tài nghiên cứu “Điều tra nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ
và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm, TP Hội An”
Trang 122 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chung
Góp phần bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại
Cù Lao Chàm dựa vào cộng đồng
Mục tiêu cụ thể
Nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
(Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm được xác định và đánh giá theo từng mức
độ
Các biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai
khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm được phân tích
và sắp xếp theo các mức độ ưu tiên phù hợp
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp thông tin khoa học về mức độ nhận thức của cộng đồng người dân
Cù Lao Chàm trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
Từ đó, đề xuất các biện pháp phù hợp góp phần định hướng công tác bảo tồn
trong tương lai, góp phần bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm dựa vào cộng đồng
Trang 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng (community) là một khái niệm được xuất hiện vào năm 1940 tại các thuộc địa Anh Năm 1950, Liên Hiệp Quốc công nhận khái niệm cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các công trình viện trợ quy mô lớn về kỹ thuật, phương pháp và tài chính trong thập kỉ 50-60 [24]
Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng trong đó chủ yếu được hiểu là tập hợp những người có chung lịch sử hình thành, có chung địa bàn sinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tập hợp những người có cùng những đặc điểm tương tự
về kinh tế, xã hội và văn hóa Cũng có khái niệm khác, cộng đồng là một nhóm người có chung sở thích và lợi ích, có chung địa bàn sinh sống, có chung ngôn ngữ (hoặc loại ngôn ngữ) và có những đặc điểm tương đồng [18] Tùy theo lịch sử hình thành hay đặc điểm của cộng đồng, có các loại cộng đồng sau :
Cộng đồng người địa phương là những người có quan hệ gần gũi với nhau, thường xuyên gặp mặt ở địa bàn sinh sống
Cộng đồng những người có chung quan tâm đặc điểm, tính chất (cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học, cộng đồng doanh nhân…)
Cộng đồng những người có chung những quan tâm đặc điểm, tính chất, màu
da (cộng đồng người dân tộc thiểu số, cộng đồng người da màu…)
Cộng đồng có quan niệm chung về các vấn đề quan hệ xã hội, có chung mục tiêu, quan điểm chung về giá trị, cùng tham gia vào quá trình ra quyết định (cộng đồng ASEAN, các nước Pháp ngữ…)
Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm cộng đồng được dùng để chỉ người dân (bao gồm nhà quản lý) đang sinh sống và làm việc tại Cù Lao Chàm, TP Hội
An
1.1.2 Vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn
Trang 14Cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn Các ý kiến, đề xuất tích cực từ cộng đồng là cơ sở để triển khai hoạt động bảo tồn tốt hơn, ngược lại các ý kiến tiêu cực hay chưa đúng là cơ sở để nhà quản lý điều chỉnh và áp dụng các phương thức phù hợp Vì vậy, mức độ nhận thức và hành vi cộng đồng là các nhân tố quyết định đến sự thành công của các công tác bảo tồn
Bảo tồn dựa vào cộng đồng là một phong trào nổi lên vào những năm 1980 thông qua các cuộc biểu tình leo thang và đối thoại tiếp theo với các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng bởi những nỗ lực quốc tế để bảo vệ sự đa dạng sinh học trên trái đất Bảo tồn dựa vào cộng đồng là kết hợp cải thiện cho cuộc sống của người dân địa phương trong khi bảo tồn các khu vực lại thông qua việc tạo ra các Vườn uốc gia, nơi trú ẩn của động vật hoang dã [7], [23]
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các khu bảo tồn và Vườn quốc gia khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với nền văn hoá, quan điểm, lối sống của cộng đồng địa phương Như ở Vườn quốc gia Kakadu (Australia), những người thổ dân không những được sống trong Vườn quốc gia một cách hợp pháp mà họ còn được tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển Vườn quốc gia thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Điều này được thực hiện theo đạo luật EPBC (Đạo luật bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học) [7], [24] Tại Vườn quốc gia Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại bốn nhóm người bản địa thuộc các bộ tộc Kanume, Marind , Marori và Yei với dân số ước tính là 2500 sống trong 14 bản làng Họ dựa vào Vườn quốc gia để sinh sống đồng thời cũng ra sức bảo vệ đa dạng sinh học nơi đây trước các tác động tiêu cực [7], [18]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kiến thức của người dân bản địa cũng đã bắt đầu được quan tâm, trong đó có một số liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng Các nhóm cộng đồng được nghiên cứu chủ yếu là các nhóm dân tộc Dao, Mường, H’mong (Mèo), Tày, Nùng, Thái (ở vùng núi phía Bắc) và J’rai, M’nông ở Tây Nguyên hay Cơ Tu ở Thừa Thiên - Huế Các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Thường (2003), Lê Thị Diên (2002), Hoàng Xuân Tý (2000), Lê Trọng Cúc (1998), Hoàng Cầm (1998), Vương Xuân Tình (1998), Nguyễn Thị Quỳ
Trang 15(1998) và của nhiều tác giả khác là những nghiên cứu cụ thể về kinh nghiệm và thực hành bản địa, nghiên cứu về luật tục Những nghiên cứu này cho thấy kiến thức bản địa là nguồn lực quan trọng đối với bảo tồn và phát triển nếu chúng được phát huy và kết hợp sử dụng với các kiến thức khoa học tiên tiến, phù hợp (Hàn Tuyết Mai, 2004) [7], [24]
Trong nhiều năm qua, cả trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các khu bảo tồn gắn liền với phát triển
xã hội Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và cộng đồng dân cư [7]
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÙ LAO CHÀM
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
Cù Lao Chàm hay còn gọi là xã Tân Hiệp nằm ở tọa độ địa lý từ 15º15’20” đến 15º55’15” vĩ độ Bắc, từ 108º22’ đến 108º44’ kinh độ Đông Là một quần đảo bao gồm 8 đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Tai, Hòn Dài, Hòn Lá, Hòn Mồ, Hòn Nồm, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con [17]
Theo thống kê năm 2013, Cù Lao Chàm có tổng diện tích đất tự nhiên là 1549,13 ha và là một trong 5 Khu Bảo tồn biển của Việt Nam có sự đa dạng sinh học và có khả năng phát huy du lịch cao Hệ thực vật biển chủ yếu là rong mứt với
76 loài thuộc 4 ngành rong và 50 ha diện tích cỏ biển Hệ động vật biển bao gồm 66 loài thân mềm, các loại ốc; 270 loài cá; 200 ha diện tích san hô phân bố ở phía tây đảo, Ngoài ra, còn có các loài sinh vật có giá trị kinh tế như tôm hùm, cua Đá, cầu gai đen, hải sâm, trai tai tượng, [17]
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội
Cù Lao Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An Bản đồ Tây phương xưa thường ghi Cù Lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam-Ấn (Autronesian) "Pulau Champa" Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm [9]
Trang 16Theo Niên giám thống kê thành phố Hội An, dân số Cù Lao Chàm tính đến năm 2013 là 2265 người, mật độ dân số trung bình là 157 người/km2 Dân số tập trung tại hòn Lao – hòn đảo lớn nhất Cù Lao Chàm và chia thành 4 thôn: thôn Bãi Ông, thôn Bãi Làng, thôn Cấm, thôn Bãi Hương Kinh tế Cù Lao Chàm chia thành 3 lĩnh vực chủ yếu: ngư nghiệp, nông nghiệp và chăn nuôi Với khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào, san hô, Cù Lao Chàm là địa điểm phát triển du lịch sinh thái mạnh mẽ và đem lại giá trị kinh tế cao [17]
Ngày 26/5/2009, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju (Hàn Quốc) [17]
1.3 NHẬN THỨC VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHẬN THỨC 1.3.1 Khái niệm nhận thức và các khái niệm liên quan
Nhận thức và ý thức là hai khái niệm đã được nhắc đến rất nhiều nhưng để nâng cao nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển từ nhận thức lên ý thức không phải là một điều dễ dàng Nghiên cứu này tập trung các vấn đề nhận thức, ý thức cộng đồng, lấy con người là trọng tâm, là yếu tố quyết định đến sự thành bại của
hoạt động bảo vệ và khai khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù
Lao Chàm
Nhận thức là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về một đối tượng nào
đó, có các mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Ý thức là sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động cần phải có [4] Giữa nhận thức và ý thức luôn có mối quan hệ gắn kết với nhau Nhận thức là một cơ chế tâm lý đi trước trong hành vi có ý thức, là cơ sở để hình thành các hành vi tích cực [8] Trước một
sự vật, hiện tượng, con người cần phải có nhận thức, biết và hiểu rõ nó là gì, nó như thế nào và có ý nghĩa gì trong cuộc sống; để từ đó xuất hiện hành vi tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tượng đó
Sau đây là các yếu tố tác động đến quá trình nhận thức – ý thức của cộng đồng người dân Cù Lao Chàm trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
(Gecarcoidea lalandii):
Trang 17Hình 1.1 Các yếu tố tác động đến quá trình nhận thức – ý thức của cộng đồng
người dân Cù Lao Chàm trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
Trong khung phân tích trên, yếu tố trọng tâm là nhận thức, ý thức của cộng đồng Cù Lao Chàm về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Yếu tố này chịu sự tác động của các yếu tố liên quan khác như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, thị trường khách du lịch, cơ quan quản lý, phương tiện truyền thông Nhận thức, ý thức của cộng đồng và hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá là mối quan hệ hai chiều Khi nhận thức, ý thức cộng đồng được nâng cao thì hoạt động sẽ ngày càng phát triển; ngược lại, các phương thức quản lý đúng đắn của hoạt động trên cũng sẽ tác động lại yếu tố nhận thức, ý thức cộng đồng Hai yếu tố này luôn cần được phát triển, tồn tại song song với nhau, nhằm hướng đến sự phát triển bền vững dựa trên cân bằng lợi ích kinh tế và bảo tồn
1.3.2 Quá trình phát triển của nhận thức
Quá trình phát triển từ nhận thức lên ý thức là một quá trình dài, không chỉ chú trọng vào quá trình phổ biến thông tin mà còn hướng tới chia sẻ nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi về một phương thức sống bền vững
Trong nghiên cứu này, quá trình phát triển của nhận thức được chia thành 5 mức độ: biết, hiểu, chấp nhận, thực hiện và duy trì Điều này cũng phù hợp với diễn biến tâm lý con người đã được chứng minh trong các nghiên cứu trước đó [4] Với những mức độ khác nhau, nhận thức phát triển từ những bước đầu như biết, hiểu,
Trang 18chấp nhận cho đến bước biểu hiện của ý thức là thực hiện và duy trì Trong quá trình xây dựng và nâng cao nhận thức cộng đồng, các thông tin đưa ra không chỉ để cộng đồng biết, mà còn phải hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của nó Từ đó, thuyết phục cộng đồng chấp nhận, thực hiện các hành vi tích cực, và duy trì các hành vi đó thành thói quen, tập quán, phương thức sống bền vững
Hình 1.2 Quá trình phát triển của nhận thức
Qua quá trình phát triển từ nhận thức lên ý thức, ta có thể thấy rằng nhận thức đóng một vai trò quan trọng, nó chi phối thái độ, hành động biểu hiện ra bên ngoài, và tạo nên ý thức Hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm chỉ thật sự bền vững khi thú hút được sự quan tâm và chấp hành từ cộng đồng, cộng đồng có nhận thức đúng sẽ tạo ra hành động đúng Nắm bắt được mức
độ nhận thức, sự quan tâm của cộng đồng là điều quan trọng để đưa ra những đề xuất, hoạt động bảo tồn phù hợp
Vì vậy, nghiên cứu “Điều tra nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ
và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm, TP Hội An” sẽ góp phần bảo vệ và khai thác hợp lý, bền vững cua Đá dựa vào cộng đồng
1.4 GIỚI THIỆU VỀ CUA ĐÁ (Gecarcoidea lalandii)
1.4.1 Vùng phân bố của cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
Cua Đá (Gecarcoidea lalandii) ở Cù Lao Chàm - Quảng Nam thuộc họ cua
(Gecarcinidae), bộ giáp xác Mười chân (Decapoda) sống ở trên cạn Trên thế giới,
loài cua Đá (Gecarcoidea lalandii) phân bố trên các đảo ở Biển Đỏ, xung quanh
khu vực phía tây Thái Bình Dương, vịnh Bengal, đảo Chrismas, Philippin, Palau,
Trang 19Nhật Bản, Đài Loan, Quần đảo Solomon và Fiji Ở Việt Nam, loài cua Đá
(Gecarcoidea lalandii) có màu tím phân bố bố rộng khắp quần đảo Cù Lao Chàm,
và tập trung chủ yếu ở Hòn Lao – Hòn Cù Lao Chàm [1]
Ở Việt Nam, cua Đá là loài động vật biển quan trọng hiện diện tại Cù Lao Chàm và đóng góp đáng kể vào sinh kế của người dân nơi đây
1.4.2 Đặc điểm sinh thái, sinh học của cua Đá (Gecarcoidea
lalandii)
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của cua Đá Qua đó, ta cũng thấy được sự đa dạng và phong phú về thành phần loài cua Đá này
Cua Đá là loài cua ở cạn với phần lớn vòng đời ở trên đất Không giống như các loài giáp xác họ hàng như tôm hùm, cua Đá có màu sắc dao động từ màu xanh đậm, đỏ, cam và đen Cùng với sự đa dạng về màu sắc, cua Đá được tìm thấy ở nhiều địa điểm và môi trường sống khác nhau Một số loài cua Đá có thể được tìm thấy qua nhiều cây số cách xa biển và hằng năm chúng phải hoàn thành quá trình di
cư ra biển của mình [19] Điển hình như loài cua Đỏ (Gecarcoidea natalis) ở đảo
Christmas, sau gió mùa Ấn Độ Dương, chúng di cư hàng loạt, tạo thành một "thảm sống" cua Đá Những con cua này có thể đi 1,46 km trong một ngày và có thể đạt tối đa là 4 km [21]
Theo nghiên cứu của Hung-Chang Liu và cộng sự, một số khía cạnh sinh sản
của cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Đài Loan, nghiên cứu đã tiến hành điều tra
đặc điểm sinh sản của cua trên bán đảo Hengchun, phía nam Đài Loan Chiều rộng mai cua trung bình dao động từ 57 ± 7 mm trong tổng số 287 mẫu được thu thập Mùa sinh sản dao động tùy thuộc vào đầu mùa mưa Trong năm 2003, mùa sinh sản kéo dài từ tháng sáu - tháng mười, thời gian sinh sản tương đối dài hơn so với họ
hàng của nó là Gecarcoidea natalis [20]
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cua Đá ở Cù Lao Chàm Theo nghiên
cứu của Mariana, năm 2006, cua Đá Cù Lao Chàm có tên khoa học là Gecarcoidea lalandii, có màu tím và được phân bố rộng trên khắp quần đảo Cù Lao Chàm, tuy
nhiên tập trung nhất vẫn là tại Hòn Lao – Hòn Cù Lao Chàm Nghiên cứu đã tập
Trang 20trung vào một số đặc điểm sinh học và sinh thái, và đặc biệt đã làm rõ được vòng đời sinh sống của cua Đá Cù Lao Chàm [11]
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Phương Anh (2011), nghiên cứu một
số đặc điểm sinh học, sinh thái của cua Đá (Gecarcoidea lalandii) ở Cù Lao Chàm,
Quảng Nam Kết quả nghiên cứu đã xác định được sự phân bố, nơi ở, thành phần thức ăn tiềm năng, tập tính dinh dưỡng, mùa sinh sản, tập tính sinh sản của loài cua
Đá (Gecarcoidea lalandii) ở Cù Lao Chàm [1] Cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
thường cư trú tại hai kiểu hang (hang nền đất và hang nền đá), các hang này thường nằm dọc theo các dòng nước ngầm và nước chảy trên bề mặt hoặc nằm cách xa nguồn nước và phụ thuộc vào sương và lượng mưa Phổ thức ăn của cua Đá tương đối rộng, đã xác định được 13 loài thực vật là thành phần thức ăn tiềm năng của cua
Đá trong đó có 10 loài thức ăn trong điều kiện tự nhiên và 3 loài trong điều kiện nuôi nhốt Mùa sinh sản của loài cua Đá ở Cù Lao Chàm là từ tháng 6 tới tháng 9 [1] Cua Đá tuy là động vật biển nhưng lại sống trong các hang đá trên rừng Khi đến mùa sinh sản, cua Đá mang trứng len lõi theo những con suối, tìm về những bờ
đá ven biển đẻ trứng Và từ đó, con non lại ven theo suối đi ngược lên rừng [10]
1.4.3 Hiện trạng khai thác cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
Nghiên cứu của Mariana, năm 2006, đã chỉ ra được sự tác động mạnh mẽ từ cộng đồng và phát triển du lịch đến nguồn lợi cua Đá kể cả về số lượng và kích thước của động vật này Nghiên cứu còn cho biết một trong những nguyên nhân làm gia tăng hoạt động khai thác cua Đá là do nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch Hiện tại, Cua Đá được bắt ở mọi kích thước Theo số liệu thống kê năm 2005, 70% cua
Đá được bắt ở kích cỡ từ 7 – 9 cm, số còn lại có kích cỡ lớn hơn [11] Tuy nhiên, cua Đá hiện tại được bắt phần lớn có kích thước nhỏ từ 4 – 7 cm và bị khai thác kể
cả con mang trứng [13] Đồng thời, nghiên cứu đã đề nghị một số nhóm giải pháp chung về quản lý bền vững như phân vùng bảo vệ, tổ chức khai thác hợp lý và thực hiện chương trình giám sát, phục hồi trên cơ sở cộng đồng tại Cù Lao Chàm Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện [10]
Theo kết quả nghiên cứu của Chu Mạnh Trinh, khi đến mùa cua Đá, trung bình một đêm, người dân có thể bắt được từ 30 - 50 con Cua Đá được khai thác tập
Trang 21trung nhất vào tháng 7 và tháng 8, trên 50 con một người, một đêm Kích thước bình quân cua Đá bắt được từ 9 - 10cm, tính theo chiều ngang mai cua Trong đó, con lớn nhất đã từng được khai thác có kích thước 17cm, con nhỏ nhất được bắt có kích thước là 2 cm [11] Trước đây người dân chỉ bắt cua Đá vào tháng 5 để ăn, vào tháng 7 cua mang trứng thì người dân không bắt Hiện nay do nhu cầu tiêu thụ quá lớn, cua Đá bị khai thác quanh năm, trong đó tập trung từ tháng 4 đến tháng 8 [13]
Trước tình hình đó, năm 2009, UBND thành phố Hội An đã ban hành Chỉ thị
04 về việc tạm dừng khai thác, vận chuyển, buôn bán cua Đá Cù Lao Chàm nhằm
để phục hồi đối tượng này tại xã Tân Hiệp Tuy nhiên, trên thực tế cua Đá vẫn bị bắt, khai thác, vận chuyển và buôn bán trái phép tại Cù Lao Chàm, nhất là trong mùa du lịch từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm Mặc dù, chính quyền địa phương đã
và đang có nhiều hoạt động giám sát, ngăn chặn, xử lý, nhưng cua Đá vẫn bị khai thác lén lút và kết quả là khó có thể kiểm soát và dự báo được sự phục hồi của cua
vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm” Dự án
được tiến hành từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2012 Trong thời gian 3 năm dự án đã cùng với cộng đồng và chính quyền địa phương nghiên cứu xây dựng được khung
lý thuyết nhằm vận động người dân tham gia bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm Thông qua các hoạt động điều tra, tuyên truyền, hội thảo, hội thi sáng tác logo xây dựng nhãn sinh thái cua Đá, thử nghiệm công năng của nhãn sinh thái, thành lập Tổ cộng đồng, xây dựng quy ước và trang thiết bị cho hoạt động của
Tổ cộng đồng này, mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã được hình thành [12]
Trang 22Hình 1.3 Mô tả quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá
(Gecarcoidea lalandii)Cù Lao Chàm
Năm 2013, Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm ra đời Tổ cộng này gồm 35 thành viên hoạt động theo quy ước được xây dựng từ ý kiến đóng góp của cộng đồng và được UBND xã phê chuẩn ban hành [12] Cùng với chính quyền địa phương, tổ cộng đồng đã thực nghiệm một phương thức khai thác cua Đá có kiểm soát Cua Đá được khai thác với số lượng cho phép, không mang trứng, theo mùa vụ và kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7cm Cua Đá đạt tiêu chuẩn quy định sẽ được dán nhãn sinh thái và được bán trên thị trường một cách hợp lệ [14] Từ đó, hoạt động bảo vệ và khai thác vững cua Đá
(Gecarcoidea lalandii) đã được hình thành và phát triển
1.5.2 Các hoạt động chính và một số kết quả đạt được
Hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá là hoạt động chính trong công tác bảo
vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm Nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm có 2 công năng lớn đó là: công cụ để quản lý về số lượng, kích cỡ cua được đánh bắt bởi cộng đồng và phương tiện truyền thông để bảo tồn và phát triển bền vững đối tượng quý này tại đảo Cù Lao Chàm [3]
Năm 2013, được sự cho phép của chính quyền địa phương, hoạt động bảo vệ
và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã được vận hành thử nghiệm Cua Đá được các thành viên của Tổ cộng đồng khai thác theo số lượng và kích thước quy
Trang 23định Những con cua có kích thước chiều ngang mai cua từ 7 cm trở lên, không mang trứng, khai thác trong thời gian từ ngày 1/3 đến 31/7 hằng năm sẽ được dán nhãn sinh thái Những trường hợp khai thác cua Đá không tuân thủ theo Quy ước của cộng đồng đã bị xử lý theo quy định của Chỉ thị 04 [12]
Năm 2014, để hỗ trợ cho sự phát triển này của quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm, với sự tài trợ của IUCN mà cụ thể là chương trình MFF, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã và đang tiếp nhận một dự án mới nhằm điều phối hoạt động của Tổ cộng đồng khai thác cua Đá thông qua đối thoại cơ chế chia
sẻ lợi ích, trách nhiệm và nâng cao năng lực quản lý nguồn tài nguyên cua Đá giữa
4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân [14] Hoạt động đã được sự quan tâm của cộng đồng bao gồm sự tham gia từ chính quyền thông qua các quy định, chỉ thị, sự hợp tác với các nhà tài trợ quốc tế về bảo tồn cua Đá; từ các nhà khoa học thông qua số lượng và chất lượng nghiên cứu tăng lên trong những năm gần đây; từ người dân thông qua sự hoạt động của Tổ cộng đồng khai thác, bảo vệ bền vững cua Đá và doanh nghiệp qua các hoạt động kinh doanh cua Đá hợp pháp
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, hoạt động trên đang đối mặt với những thách thức ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững thông qua bảo tồn cua Đá Theo kết quả khảo sát giữa tháng 7 và đầu tháng 8 năm 2014, cho thấy rằng hoạt động đang đối mặt với nhiều trở ngại hằng ngày Một số trường hợp khai thác trái phép
và buôn bán lén lút cua Đá không dán nhãn sinh thái đã và đang xảy ra, công tác tuần tra, giám sát còn lỏng lẻo [14] Và hoạt động đó sẽ còn tiếp diễn mạnh mẽ hơn nữa khi trong quá trình phát triển du lịch sinh thái Cù Lao Chàm, kinh tế và môi trường địa phương chưa được đảm bảo; sinh kế người dân và các hoạt động bảo tồn tài nguyên địa phương chưa được cân bằng Để góp phần khắc phục hạn chế đó, việc nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng một cộng đồng tích cực trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá trở thành một nhu cầu cấp thiết
Vì vậy, nghiên cứu “Điều tra nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ
và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm, TP Hội An” đã được thực hiện và là một cơ sở khoa học để góp phần bảo vệ và khai thác
bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm, TP Hội An
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
(Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm, TP Hội An
Trong đề tài nghiên cứu này, cộng đồng được dùng để chỉ người dân (bao gồm nhà quản lý) đang sinh sống và làm việc tại Cù Lao Chàm, TP Hội An
2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại quần đảo Cù Lao Chàm và tập trung tại 4 thôn
có dân cư sinh sống, bao gồm: thôn Cấm, thôn Bãi Làng, thôn Bãi Ông, thôn Bãi Hương
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu Cù Lao Chàm
Nguồn: [6]
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 7/2014 đến tháng 4/2015
24/7/2014 - 24/9/2015: Xây dựng đề cương nghiên cứu
25/9/2014 - 25/1/2015: Thiết kế phiếu khảo sát, phỏng vấn thử, kiểm tra bảng hỏi 26/1/2015 - 27/3/2015: Phỏng vấn và thu thập số liệu
Khu vực có dân cư sinh sống
UBND xã Tân Hiệp
Trang 2528/3/2015 - 30/4/2015: Thống kê, phân tích dữ liệu và viết báo cáo
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Điều tra nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai
thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
Nội dung điều tra nhận thức của cộng đồng về các hoạt động bảo vệ và khai
thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) bao gồm các nội dung mô tả, xác định
và đánh giá các mức độ biết, mức độ hiểu, mức độ chấp nhận, mức độ thực hiện và mức độ duy trì về các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm
2.2.2 Đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt
động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm
Sau khi phân tích dữ liệu thu thập, xác định các vấn đề tồn tại, nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Các biện pháp này đã được tham vấn ý kiến bởi cộng đồng qua hoạt động khảo sát và được phân tích, sắp xếp theo các mức độ ưu tiên phù hợp
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp này áp dụng để thu thập số liệu, thông tin thứ cấp từ các nghiên cứu trước đây về đặc điểm sinh học, sinh thái của cua Đá trong và ngoài nước cũng như hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá dựa vào cộng đồng Đồng thời, những thông tin này được tham khảo để thiết kế bảng câu hỏi và viết báo cáo
2.3.2 Phương pháp xác định số lượng người phỏng vấn
Nghiên cứu xác định số lượng người phỏng vấn dựa trên công thức của Nancy J Helen F Clair E, 2004 [22]:
1+𝑁(𝑒)2Trong đó: n: Số lượng mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra
N: Số lượng tổng thể e: Sai số tiêu chuẩn (mức độ chính xác mong muốn)
Trang 26Trong nghiên cứu này, số nhân khẩu tại khu vực nghiên cứu N = 2265 nhân khẩu (2013, [17]) Sai số tiêu chuẩn được chọn e = 0.07 (ứng với mức độ tin cậy là 93%) Theo công thức trên, ta có lượng mẫu cần xác định là:
1+2265(0.07)2 = 187,21 Nghiên cứu chọn số phiếu điều tra là 190 phiếu
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn
Để thu thập thông tin tối đa, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp phỏng vấn sâu đã được thực hiện Sau khi thiết kế phiếu khảo sát, nghiên cứu
đã tiến hành phỏng vấn thử để kiểm tra độ tin cậy của phiếu khảo sát
a Nội dung phiếu khảo sát (được đính kèm ở Phụ lục 1)
Nhận thức của cộng đồng về các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
Mức độ biết của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá: câu 6, câu 7, câu 8, câu 9, câu 10, câu 11, câu 12, câu 14, câu 15
Mức độ hiểu của cộng đồng về ý nghĩa của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá: câu 13
Mức độ chấp nhận các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá: câu
b Đối tượng, thời gian và cấu trúc mẫu phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn: Cộng đồng người dân thuộc 4 thôn: thôn Cấm, thôn
Bãi Làng, thôn Bãi Hương, thôn Bãi Ông (190 người)
Thời gian phỏng vấn: Phỏng vấn được tiến hành từ 26/01/2015 đến
27/3/2015
Trang 27Cấu trúc mẫu phỏng vấn theo các yếu tố phụ thuộc
Nghiên cứu cần kiểm định sự phụ thuộc của nhận thức, hành vi cộng đồng theo yếu tố nghề nghiệp và độ tuổi nên cấu trúc mẫu phỏng vấn đã được phân theo các yếu tố trên Kết quả tỉ lệ mẫu phỏng vấn theo nghề nghiệp, độ tuổi được thể hiện lần lượt qua các biểu đồ 2.1 và 2.2:
Hình 2.2 Cấu trúc mẫu phỏng vấn theo nghề nghiệp
Hình 2.3 Cấu trúc mẫu phỏng vấn theo độ tuổi
2.3.4 Phương pháp quan sát hành vi cộng đồng:
Để góp phần điều tra nhận thức cộng đồng, phương pháp quan sát hành vi cộng đồng đã được áp dụng Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2014 đến tháng 4/2015, nghiên cứu đã tiến hành 5 đợt khảo sát thực địa bao gồm phỏng vấn và quan sát hành vi Tiêu chí đặt ra trong quá trình quan sát là mức độ chấp hành và tham gia các quy định, quy chế phục vụ cho công tác bảo vệ và khai thác bền vững cua
Tiểu thương Dịch vụ du lịch Khác
Trang 28Đá Cụ thể ở đây là xác định tần suất xảy ra hoạt động khai thác và buôn bán trái phép cua Đá, tần suất tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn cua Đá được tổ chức tại địa phương
2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Tất cả dữ liệu nghiên cứu thu thập được đều xử lý bằng phần mềm SPSS
22.0 Phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) là phần mềm
thống kê, phân tích dữ liệu thường được sử dụng trong nghiên cứu xã hội đặc biệt là trong tâm lý học, tiếp thị và xã hội học
Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS để xác định tần suất của các tiêu chí đánh giá qua lệnh Descriptive statistics - Frequencies; xác định sự phụ thuộc của các mức độ nhận thức theo yếu tố nghề nghiệp và độ tuổi qua lệnh kiểm định Chi-Square (Chi bình phương) với độ tin cậy là α = 0,05
Để xác định sự phụ thuộc của các mức độ nhận thức theo yếu tố nghề nghiệp
và độ tuổi, nghiên cứu đặt ra giả thuyết:
Giả thuyết H0: “Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các mức độ nhận thức của cộng đồng theo yếu tố nghề nghiệp/độ tuổi” Và giả thuyết H1: “Có sự khác biệt
có ý nghĩa giữa các mức độ nhận thức của cộng đồng theo yếu tố nghề nghiệp/độ tuổi” Nghiên cứu thực hiện kiểm định Chi-bình phương, xác định giá trị p-value và
so sánh với độ tin cậy α = 0,05
Chấp nhận H 0 nếu p-value > α (các mức độ nhận thức của cộng đồng không
có phụ thuộc vào yếu tố nghề nghiệp/độ tuổi) và bác bỏ H 1
Bác bỏ H 0 nếu p-value α (các mức độ nhận thức của cộng đồng có phụ thuộc vào yếu tố nghề nghiệp/độ tuổi) và chấp nhận H 1
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG CUA ĐÁ
(Gecarcoidea lalandii) CÙ LAO CHÀM
3.1.1 Nhu cầu xây dựng và phát triển hoạt động bảo vệ và khai thác
bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm
Dựa trên khung phân tích“Các nguyên nhân khiến số lượng cua Đá suy giảm” [12], nghiên cứu phân tích mối quan hệ nguyên nhân – hậu quả của sự suy giảm nguồn lợi cua Đá (Gecarcoidea lalandii) tại Cù Lao Chàm
Hình 3.1 Nguyên nhân – hậu quả suy giảm nguồn lợi cua Đá
Giảm số lượng Giảm kích thước
Ô nhiễm môi trường Sức ép từ du lịch Chất thải của cộng đồng địa phương
Không còn cua để khai thác
Nhu cầu khách du lịch tăng
Giá cua tăng cao
không phù hợp
Trang 30Qua sơ đồ phân tích trên, ta có thể thấy được nguyên nhân khiến nguồn lợi cua Đá suy giảm Việc xây dựng các công trình công cộng đã làm mất khá lớn diện tích bãi đẻ của loài cua này Bên cạnh đó, các chất thải từ người dân địa phương và khách du lịch vẫn chưa có kế hoạch xử lý phù hợp, điều này có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đời sống của cua Đá, đặc biệt khi động vật này sống phụ thuộc vào cả hai môi trường rừng và biển Hoạt động khai thác trái phép, cạn kiệt nguồn lợi cua Đá cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến nguồn lợi cua Đá suy giảm Các tài liệu nghiên cứu cho thấy số lượng cua Đá có thể giảm 80% so với trước đây [10, 11, 13], và qua kết quả khảo sát ý kiến cộng đồng, có đến 59,9% cộng đồng cho rằng hoạt động khai thác trái phép cua Đá là nguyên nhân chính dẫn đến số lượng cua Đá suy giảm Sự suy giảm nguồn lợi cua Đá nếu không có kế hoạch bảo vệ và khai thác hợp lý thì sẽ dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng loài, không chỉ ảnh hưởng đến
sự đa dạng sinh học, tài nguyên bản địa mà còn là sinh kế người dân nói riêng và tình hình phát triển du lịch sinh thái, kinh tế - văn hóa – xã hội Cù Lao Chàm nói chung Hậu quả của các vấn đề trên không chỉ dừng lại ở sự tận diệt nguồn lợi cua
Đá mà còn là nguyên nhân khiến cộng đồng quay sang hướng khai thác mới và tận diệt nguồn tài nguyên khác
Đứng trước thực trạng trên, hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
(Gecarcoidea lalandii) ngày càng đóng một vai trò quan trọng và trở thành nhu cầu
cấp thiết đảm bảo sự cân bằng giữa sinh kế cộng đồng và hoạt động bảo tồn – một vấn đề đáng lưu tâm tại các Khu bảo tồn hiện nay
3.1.2 Nội dung và ý nghĩa của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững
cua Đá ( Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm
a Nội dung của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm
Sau nhiều năm nghiên cứu và thực nghiệm, hoạt động bảo vệ và khai thác
bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm là một hoạt động ý nghĩa đã
được triển khai áp dụng Các quy định, quy chế bảo vệ và khai thác bền vững cua
Đá được ban hành dựa trên sự kế thừa từ nguồn tri thức khoa học, tri thức địa phương và sự tham gia của cộng đồng
Trang 31Hình 3.2 Cơ sở của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
Tri thức khoa học đã chứng minh được thời gian sinh sản của cua Đá kéo dài
từ tháng 6 đến tháng 9, cua Đá trưởng thành phải đạt từ 7cm trở lên [1,11] Đó là cơ
sở để tiến hành khai thác hợp lý cua Đá dựa trên phương diện sinh học và là tiền đề cho quy định khai thác cua Đá ra đời Tri thức địa phương cũng đã được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống cua Đá, kích thước và thời gian khai thác cua phù hợp Tri thức này còn thể hiện qua sự tham gia của cộng đồng ngay từ bước đầu xây dựng hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Các quy định, quy chế ban hành đã được sự thống nhất của cộng đồng qua các cuộc họp tổ; các cuộc hội thảo, tập huấn, hội thi sáng tác logo nhãn sinh thái dành cho cua Đá cũng được sự hưởng ứng từ cộng đồng Dựa trên tri thức khoa học, tri thức địa phương và
sự tham gia của cộng đồng, hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá đã dần được hình thành và cụ thể hóa bằng việc ban hành các quy chế, quy định sau:
Quy định khai thác cua Đá: chỉ khai thác cua Đá có kích thước chiều ngang
mai cua từ 7cm trở lên, không khai thác cua mang trứng, khai thác đúng mùa vụ (từ ngày 01 tháng 03 đến ngày 31 tháng 7 hằng năm)
Quy chế hoạt động của Tổ cộng đồng khai thác cua Đá: thành lập Tổ cộng
đồng bảo vệ và khai thác cua Đá, chỉ có Tổ này mới được phép khai thác cua Đá và
số tiền thu được từ bán cua Đá hợp pháp sẽ được trích 10% vào công tác quản lý và bảo tồn cua Đá
Quy định về nhãn sinh thái: cua Đá đạt chuẩn theo quy định khai thác cua
Đá sẽ được dán nhãn sinh thái, trở thành cua hợp pháp và được buôn bán ra thị trường Cua Đá không dán nhãn sinh thái buôn bán ra thị trường là cua Đá bất hợp
Tri thức khoa học Tri thức địa phương Sự tham gia của cộng đồng
Hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
Ban hành các quy chế, quy định
Trang 32pháp Các đối tượng khai thác và buôn bán lén lút cua Đá sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Đối với các đối tượng thuộc Tổ cộng đồng khai thác cua Đá, nếu vi phạm sẽ
bị khai trừ ra khỏi Tổ
Đối với các đối tượng kinh doanh, nếu vi phạm lần đầu sẽ bị phạt hành chính 500.000VNĐ và đình chỉ 3 ngày hoạt động kinh doanh; nếu vi phạm lần 2, sẽ phạt hành chính, và đình chỉ 1 tuần hoạt động kinh doanh; nếu vi phạm lần 3, sẽ phạt hành chính và thu hồi giấy phép kinh doanh
Bên cạnh đó, điểm nổi bật của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua
Đá Cù Lao Chàm là hoạt động dán nhãn sinh thái dành cho cua Đá Nhãn sinh thái
có 2 công năng lớn: vừa là công cụ để quản lý về số lượng, kích cỡ cua được đánh bắt bởi cộng đồng và vừa là phương tiện truyền thông để bảo tồn và phát triển bền vững đối tượng quý này tại địa phương [3] Với những công năng trên, tiêu chí và ý nghĩa của hoạt động dán nhãn sinh thái được xem như là một chỉ số đánh giá nhận thức của cộng đồng về tiêu chí và ý nghĩa của các hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm
b Ý nghĩa của hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm
Kể từ khi xây dựng (Trinh, 2012 [12]), hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm phải đảm bảo được các lợi ích sau:
Lợi ích cho hoạt động dịch vụ du lịch
Cua Đá phải là một sản phẩm du lịch mang lại lợi ích không chỉ cho nhóm khai thác cua Đá mà còn các nhóm cộng đồng khác tại Cù Lao Chàm
Lợi ích mang lại cho việc bù đắp các dịch vụ sinh thái, môi trường đặc biệt là đảm bảo sự bền vững cho sự tồn tại và phát triển của cua Đá
Lợi ích mang lại cho sự phát triển sinh kế của cộng đồng Cù Lao Chàm
Lợi ích mang lại từ việc khẳng định dấu ấn của cua Đá tại Cù Lao Chàm đối với du khách
Cua Đá là tài sản chung của cộng đồng Cù Lao Chàm
Trang 33Dựa trên cơ sở những lợi ích đó, nghiên cứu cũng đã đưa ra 5 ý nghĩa của
hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm, đó là:
Tạo cơ hội cho nguồn lợi cua Đá được phục hồi, khai thác hợp lý
Góp phần tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo sinh kế cộng đồng
Đem lại thương hiệu riêng cho cua Đá Cù Lao Chàm nhằm phát triển các hoạt động du lịch sinh thái
Bảo tồn đa dạng sinh học, bù đắp các dịch vụ sinh thái môi trường
Bảo vệ môi trường rừng, biển Cù Lao Chàm thông qua các hoạt động bảo tồn cua Đá
Thông qua các hoạt động khai thác dựa trên phương diện sinh thái, sinh học
đã được xác định, nguồn lợi cua Đá sẽ được phục hồi và khai thác hợp lý Điều này
sẽ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên bản địa Nhãn sinh thái dành cho cua Đá đã đưa cua Đá trở thành thương hiệu riêng của du lịch sinh thái của Cù Lao Chàm Hoạt động này không chỉ góp phần tăng thu nhập cho người dân sinh sống bằng nghề khai thác cua Đá mà còn đảm bảo sinh kế cho cộng đồng khi hoạt động
du lịch phát triển Bên cạnh đó, hoạt động trích quỹ bảo tồn từ 10% số tiền bán được cua Đá dán nhãn sinh thái là hoạt động mang nhiều ý nghĩa, đại diện cho sự bù đắp các dịch vụ sinh thái môi trường tại địa phương Vì cua Đá là loài động vật sống ở cả hai môi trường rừng và biển nên nếu các hoạt động bảo tồn cua Đá được xây dựng hợp lý thì môi trường rừng biển Cù Lao Chàm cũng sẽ được bảo vệ
3.1.3 Mối liên hệ giữa các mức độ phát triển của nhận thức và hoạt động
bảo vệ, khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii)
Hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm chỉ thật sự bền vững khi nó gắn liền với sự phát triển của nhận thức cộng đồng Cộng đồng không chỉ cần biết các thông tin về các quy định, quy chế đã ban hành mà còn phải hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của nó mang lại Từ đó, thu hút sự quan tâm của cộng đồng, thuyết phục cộng đồng chấp nhận, thực hiện các hành vi tích cực bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Đặc biệt là duy trì các hành vi đó thành thói quen, tập quán, thành phương thức sống bền vững dựa trên sự cân bằng giữa hoạt động bảo tồn cua Đá và sinh kế người dân
Trang 34Hình 3.3 Mối liên hệ giữa các mức độ phát triển của nhận thức và hoạt động bảo
vệ, khai thác bền vững cua Đá
3.2 NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ
VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG CUA ĐÁ (Gecarcoidea lalandii) TẠI CÙ LAO CHÀM
Trong nghiên cứu này, nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai
thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm được đánh giá qua 5
mức độ: biết, hiểu, chấp nhận, thực hiện và duy trì
3.2.1 Mức độ biết của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền
vững cua Đá
Nắm bắt được mức độ biết của cộng đồng về hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá là bước đầu quan trọng để xây dựng nhận thức cộng đồng Các thông tin về quy chế hoạt động của Tổ cộng đồng khai thác cua Đá, quy định khai thác cua Đá, quy định nhãn sinh thái là những thông tin cộng đồng cần phải biết rõ
và nắm bắt tất cả chứ không nghiêng về bất kì quy định hay quy chế cụ thể nào Vì khi cộng đồng thiếu thông tin hay nhận biết về thông tin không đúng sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi cộng đồng về sau
Bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá
Tri thức khoa học Tri thức địa phương Sự tham gia của cộng đồng
Quy định, quy chế bảo
vệ và khai thác cua Đá
Nguồn lợi được phục hồi, phát triển
Đảm bảo sinh kế
Phát triển DLST
Bảo vệ môi trường
Bảo tồn ĐDSH
Trang 35Vì vậy, để lượng hóa được mức độ biết của cộng đồng, nghiên cứu áp dụng công thức tính trung bình cộng cho tỉ lệ phần trăm cộng đồng biết về các quy chế, quy định đã ban hành
B =
∑𝑛 𝐵(𝑖)𝑖=1 𝑛
Trong đó, n: số lượng quy định, quy chế đã ban hành (n=9)
B(i): tỉ lệ phần trăm cộng đồng biết về quy chế, quy định với số thứ tự i B: tỉ lệ phần trăm cộng đồng biết về các quy định, quy chế trên hay là mức
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy mức độ biết các quy định, quy chế bảo vệ
và khai thác bền vững cua Đá trong cộng đồng là khác nhau