Ảnh hưởng của phân bón và liều lượng đến mức độ tích lũy nitrat trong rau Theo các nhà khoa học thì có nhiều yếu tố gây tồn dư nitrat trong nông sản như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, nư
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ DIỄM KIỀU
ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG NITRAT TRONG MỘT SỐ LOẠI RAU TRỒNG TẠI VÙNG SẢN XUẤT RAU CHUYÊN CANH TÚY LOAN, HUYỆN HÒA VANG, TP.ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ DIỄM KIỀU
ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG NITRAT TRONG MỘT SỐ LOẠI RAU TRỒNG TẠI VÙNG SẢN XUẤT RAU CHUYÊN CANH TÚY LOAN, HUYỆN HÒA VANG, TP.ĐÀ NẴNG
Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Người hướng dẫn : Th.S ĐOẠN CHÍ CƯỜNG
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài: “Đánh giá hàm lượng nitrat trong một số loại rau trồng tại vùng sản xuất rau chuyên canh Túy Loan, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu nghiên cứu, kết quả điều tra, kết quả phân tích trung thực, chưa từng được công bố Các số liệu liên quan được trích dẫn có ghi chú nguồn gốc
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015
Lê Thị Diễm Kiều
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn rất nhiệt tình của thầy Đoạn Chí Cường thuộc Khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Khoa Sinh – Môi trường và sự hỗ trợ nhiệt tình của các gia đình tại vùng trồng rau Túy Loan, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những giúp đỡ quý báu đó
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 2
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
4 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Vị trí địa lí 4
1.1.2 Khí hậu 5
1.1.3 Sông ngòi 6
1.1.4 Diện tích 6
1.2 VAI TRÒ CỦA NITƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT 7
1.3 QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ NITƠ TRONG TỰ NHIÊN 8
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA NITRAT ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI 8
1.5 NHỮNG YẾU TỐ GÂY TỒN DƯ NITRAT TRONG CÂY 10
1.5.1 Ảnh hưởng của phân bón và liều lượng đến mức độ tích lũy nitrat trong rau 10
1.5.2 Ảnh hưởng của khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng đến mức độ tích lũy nitrat trong rau 12
1.5.3 Ảnh hưởng của đất trồng, nước tưới bị ô nhiễm tới mức độ tích luỹ nitrat trong rau 12
1.6 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 14
Trang 6CHƯƠNG 2 17
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17
2.1.1 Đối tượng 17
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu 18
2.3.2 Phương pháp thu và bảo quản mẫu 19
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 21
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn cộng đồng 23
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu 23
CHƯƠNG 3 24
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 24
3.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TẠI VÙNG TRỒNG RAU TÚY LOAN 24 3.2 HÀM LƯỢNG NITRAT TRONG ĐẤT 26
3.3 HÀM LƯỢNG NITRAT TRONG NƯỚC 28
3.4 HÀM LƯỢNG NITRAT TRONG RAU 32
3.1.1 Hàm lượng nitrat trong rau cải ngọt 35
3.1.2 Hàm lượng nitrat trong rau xà lách 38
3.1.3 Hàm lượng nitrat trong mướp đắng 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
4.1 KẾT LUẬN 43
4.2 KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7Bộ Nông nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Vị trí thu mẫu đất tại vùng trồng rau Túy Loan 20
Bảng 3 1 Hàm lượng nitrat trong các mẫu đất 26
Bảng 3 2 Hàm lượng nitrat trong các mẫu nước 30
Bảng 3 3 Hàm lượng nitrat trong cải ngọt, xà lách và mướp đắng 33
Bảng 3 4 Hàm lượng nitrat trên các mẫu rau cải ngọt 35
Bảng 3 5 Hàm lượng nitrat trên các mẫu rau xà lách 38
Bảng 3 6 Hàm lượng nitrat trên các mẫu mướp đắng 40
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2 1 Xà lách (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều) 17
Hình 2 2 Cải ngọt (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều) 17
Hình 2 3 Mướp đắng (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều) 18
Hình 2 4 Địa điểm thu mẫu đất tại vùng trồng rau Túy Loan 19
Hình 3 1 Hàm lượng nitrat trong các mẫu đất 27
Hình 3 3 Hàm lượng nitrat trong các mẫu nước 30
Hình 3 4 Hàm lượng nitrat trên các mẫu rau cải ngọt 35
Hình 3 5 Hàm lượng nitrat trên các mẫu rau xà lách 38
Hình 3 6 Hàm lượng nitrat trên các mẫu mướp đắng 40
Trang 102
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhằm tạo ra sản phẩm rau sạch đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường
và an toàn vệ sinh thực phẩm, hướng đến mô hình sản xuất nông nghiệp theo chương trình “Xây dựng Nông thôn mới” của Hòa Vang, hợp tác xã dịch vụ sản xuất và tiêu thụ rau an toàn Túy Loan đã được thành lập vào ngày 11/10/2011 Đến nay, hợp tác xã từng bước đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất với quy mô 20 ha, thu hút 40 hộ tham gia với một số mô hình sản xuất hướng theo chuẩn VietGap như: cải ngọt, xà lách, dưa leo, bí đao, mướp đắng, rau mầm, cải xanh…
Sản phẩm rau Túy Loan hiện được tiêu thụ ở các chợ trên địa bàn với quy trình bán lẻ Việc xây dựng thương hiệu rau sạch Túy Loan vẫn còn nhiều khó khăn Để cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng sạch hơn, có giá trị cao trên thương trường, việc hạn chế dư lượng nitrat trong nông phẩm là một yếu
tố quan trọng Tuy nhiên hiện nay, vì nhu cầu sử dụng lớn, con người đã áp dụng một số biện pháp canh tác mới, cũng như sử dụng một số loại phân để bón cho rau nhằm tăng nhanh năng suất Trong quá trình canh tác, việc sử dụng hệ thống nước tưới tiêu cũng như sự bón phân không hợp lý đã vô tình làm rau nhiễm lượng nitrat vượt quá tiêu chuẩn cho phép, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Vì vậy việc xác định hàm lượng nitrat trong rau xanh là vấn đề cần thiết giúp đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc canh tác và chăm sóc cây trồng, nhằm nâng cao chất lượng rau
Vì thế chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá hàm lượng nitrat trong một số loại rau trồng tại vùng sản xuất rau chuyên canh Túy Loan, huyện Hòa Vang,
TP Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu
Trang 11- Xác định được lượng nitrat trong rau tại khu vực nghiên cứu
- Tạo cơ sở để đưa ra các đề xuất cho người sản xuất có những biện pháp cải thiện chất lượng rau, từ đó hướng đến mục tiêu đạt tiêu chuẩn Việt Gap cho làng rau
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài giúp đánh giá được làm lượng nitrat trong rau trồng, từ đó góp phần đề xuất các khuyến cáo cho người dân khi sử dụng rau làm nguồn thực phẩm hàng ngày Bên cạnh đó, đưa ra các biện pháp kịp thời và hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động ảnh hưởng đến chất lượng rau ở đây
4 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận này ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị còn có 3
chương, trong đó:
- Chương 1 đề cập đến tổng quan những vấn đề nghiên cứu
- Chương 2 đề cập đến đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 trình bày kết quả và biện luận
Trang 124
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1.1 Vị trí địa lí
Vùng nghiên cứu thuộc thôn Túy Loan Tây xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, là một huyện ngoại thành bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành thành phố Đà Nẵng, huyện có toạ độ từ 15o55’ đến 16o13’ vĩ độ Bắc và
107o49’ đến 108o13’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên - Huế Phía Nam giáp hai huyện Điện Bàn, Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam Phía Đông giáp quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng Phía Tây giáp huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam
Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng trên địa bàn huyện tương đối thuận tiện Quốc lộ 1A là đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu Đỏ qua các xã Hoà Châu và Hoà Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hoà Khương, Hoà Phong, Hoà Nhơn nối Quảng Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua các xã Hoà Liên, Hoà Sơn, Hoà Nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã Vị trí địa lý, điều kiện giao thông thuận lợi là một điều kiện quan trọng để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài
Hoà Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng Vùng đồi núi phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, chiếm 79,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng phát triển trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit… Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và du lịch Vùng trung du chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình
Trang 135
từ 50 m đến 100 m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện; phần lớn đất đai bị bạc màu, xói mòn, chỉ có rất
ít đất phù sa bồi tụ hàng năm ven khe suối Địa hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, có nhu cầu nước ít, chịu được hạn như hoa màu, cây ăn quả Vùng đồng bằng bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước với tổng diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ cao thấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng Đất phù sa ven sông và đất cát là hai loại đất đặc trưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa màu Tuy nhiên, có yếu tố không thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn
1.1.2 Khí hậu
Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt
độ cao và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng
8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, với nhiệt độ trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23°C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình 20°C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng 10 - 11, trung bình khoảng 85-87%; thấp nhất vào các tháng 6 - 7, trung bình khoảng 76-77%
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tập trung vào hai tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp Tuy nhiên có những năm lượng mưa thấp, như năm 2013 đạt 1.375,1 mm gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Các hướng gió thịnh hành
là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2; gió mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5 đến tháng 7 Huyện thường xuyên bị chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hàng năm có một đến hai cơn bão đi qua, hai năm thường có
Trang 146
một cơn bão lớn Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất
là vào tháng 5, 6, trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng
12 và tháng 1 trung bình từ 58 đến 122 giờ/tháng
1.1.3 Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi của Hoà Vang bao gồm các sông chính là sông Cu
Đê, sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây Tịnh, Quá Giáng… và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên Nhìn chung chất lượng nước các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ sông Cẩm Lệ và sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô
từ tháng 5 đến tháng 6
Về nước ngầm, theo đánh giá sơ bộ Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn, mực nước ngầm cao Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Tại Đồng Nghệ (xã Hoà Khương) có nguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được khai thác với quy mô công nghiệp Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiều thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
1.1.4 Diện tích
Theo số liệu thống kê năm 2013, tổng diện tích đất huyện Hoà Vang
là 73.691 ha [19] Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là nhóm đất phù sa ở khu vực đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa quả và nhóm đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc Tài nguyên đất chia theo mục đích sử dụng như sau: đất nông lâm nghiệp 61.923,8 ha, chiếm 84,0% diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 6.201,1
ha chiếm 8,4% và đất chưa sử dụng 5.566,1 ha chiếm 7,6% [19] Diện tích đất đã được sử dụng của huyện chiếm 93,3% cho các mục đích nông nghiệp,
Trang 157
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cho các mục đích phi nông nghiệp khác Hiệu quả sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp tương đối cao Thu nhập thuần/ha đất nông nghiệp đạt 32 triệu đồng/ha Đối với lâm nghiệp, theo ước tính, chỉ số này chỉ vào khoảng 2 triệu đồng/ha rừng sản xuất
1.2 VAI TRÒ CỦA NITƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT
Nitơ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của các prôtêin, chất cơ bản biểu hiện sự sống Tỷ lệ nitơ trong cây biến động từ 1- 6% trọng lượng chất khô [29] Nitơ nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men Các bazơ nitơ là thành phần cơ bản của axit nucleic, trong các ADN và ARN của nhân tế bào, nơi cư trú các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp prôtêin Do vậy nitơ là yếu tố cơ bản trong việc đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng khác Cây trồng được bón đủ nitơ lá có màu xanh lá cây thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi búp phát triển nhanh, năng suất cao
Theo nghiên cứu của Trần Vũ Hải (1998) [10], đối với rau, nitơ là yếu
tố tác động rất lớn đến sinh trưởng phát triển như chiều cao cây, diện tích lá Với cải bẹ xanh khi sử dụng lượng nitơ từ 120N - 180 N/ha thì chiều cao cây, chỉ số diện tích lá tăng dần Chiều cao cây cải tăng dần khi tăng lượng nitơ, ở mức 120 kg N/ha chiều cao cây là 23,7 cm so với 10,5 cm khi không bón nitơ; sự ra lá, trọng lượng trung bình cây cũng tăng dần khi tăng lượng nitơ bón, đạt cao nhất ở mức bón 120 kg N/ha [23] Cây thiếu nitơ lá có màu vàng, sinh trưởng kém, còi cọc, có khi bị thui chột, thậm chí rút ngắn thời gian tích luỹ hoàn thành chu kỳ sống Với cải bắp liều lượng nitơ có quan hệ với năng suất ở mức 200 kg N/ha, năng suất cải bắp đạt cao nhất 430 tạ/ha, ở mức dưới 200 kg N/ha thì năng suất đạt thấp 320 tạ/ha [17] Bón thừa nitơ lá cây có màu xanh tối, thân lá mềm, tỷ lệ nước cao, dễ mắc sâu bệnh, dễ lốp
Trang 168
đổ và thời gian sinh trưởng kéo dài Bón nhiều nitơ và không cân đối thì dẫn đến sự tích luỹ nitrat trong cây và làm ô nhiễm nitrat trong nước ngầm [17]
1.3 QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ NITƠ TRONG TỰ NHIÊN
Việc cung cấp nitơ và các chu trình vật chất trong tự nhiên phụ thuộc nhiều vào quá trình phân huỷ sinh học các hợp chất chứa nitơ trong môi trường Toàn bộ nitơ trong chu trình nitơ sinh học diễn ra chủ yếu qua hoạt động cố định nitơ của các vi khuẩn sống trong cây, các tảo lục và các vi khuẩn cộng sinh trong rễ của một số loài thực vật Mức độ hấp thu nhiều hoặc ít nitrat của cây trồng phụ thuộc vào tuổi, loại cây trồng, môi trường
và các yếu tố khác Một số loại rau như bắp cải, củ cải sử dụng được cả amonium và nitrat nhưng cải xoăn, cần tây, bí, các loại đậu sinh trưởng tốt hơn khi cung cấp nitơ ở dạng NO, các loại cây như cà chua, khoai tây lại thích hợp môi trường dinh dưỡng có tỷ lệ N-NO3/N-NH4 cao Nhiệt độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hấp thu nitrat hơn amoniac, đặc biệt ở nhiệt
độ 2-16oC
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA NITRAT ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
Trên thực tế nitrat không độc nhưng khi vào cơ thể nitrat được chuyển hóa thành nitrit nhờ vi khuẩn đường ruột Ảnh hưởng độc hại của nitrat đối với cơ thể người là do quá trình chuyển nitrat thành nitrit Ion này còn nguy hiểm hơn nitrat đối với sức khỏe con người Do vậy, khi ăn uống nước có chứa nitrat thì cơ thể sẽ hấp thu nitrit Nitrit có tác dụng oxy hóa hemoglobin (huyết sắc tố) chứa trong hồng cầu, biến hemoglobin thành methemoglobin Methemoglobin không có khả năng vận chuyển oxi và thán khí giống như hemoglobin gây ra hội chứng Methaemoglobin Trẻ sơ sinh rất mẫn cảm với hội chứng này vì trẻ sơ sinh không có đủ enzyme trong máu để chuyển hóa methaemoglobin trở lại thành hemoglobin Bệnh này khiến trẻ em mắc phải thường xanh xao và dễ bị đe dọa đến mạng sống, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi Khi bị ngộ độc nitrat thì cơ thể sẽ không thể làm tròn chức năng hô hấp,
Trang 179
có các biểu hiện như khó thở, ngột ngạt Thông thường, trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và người lớn ít bị ảnh hưởng bởi methemoglobin do hệ tiêu hóa có khả năng hấp thụ và thải loại nitrat1
Mặc dù đã có những nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng gây ung thư
do ăn uống nước bị ô nhiễm nitrat và nitrit (ở nồng độ cao) trong thời gian dài, nhưng cho đến nay các kết quả nghiên cứu chưa đủ để khẳng định mối tương quan giữa ăn uống nước bị nhiễm nitrat và nitrit trong thời gian dài và ung thư Tuy nhiên, nitrat và nitrit vẫn được khuyến cáo là có khả năng gây ung thư ở người do nitrit sẽ kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một hợp chất nitrosamin (một hợp chất tiền ung thư) Hàm lượng nitrosamin cao khiến cơ thể không kịp đào thải, tích lũy lâu ngày trong gan có thể gây ra hiện tượng nhiễm độc, ung thư gan hoặc ung thư dạ dày Trường hợp nhiễm độc trầm trọng nếu không được cứu chữa kịp thời dẫn đến nguy cơ
tử vong cao Sự tích luỹ nitrat cao trong mô cây không gây độc đối với cây nhưng khi sử dụng cây có hàm lượng nitrat cao có thể làm hại gia súc và con người đặc biệt là trẻ em do nitrat được tích lũy trong bộ máy tiêu hoá có khả năng khử thành nitrit Trong dạ dày con người, do tác dụng của hệ vi sinh vật, các loại enzym và do các quá trình hoá sinh mà nitrit dễ dàng tác dụng với các acid amin tự do tạo thành Nitrosamine gây nên ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày
1 http://nioeh.org.vn/nitrat_anhhuongcuanitratdensuckhoe
Trang 1810
1.5 NHỮNG YẾU TỐ GÂY TỒN DƯ NITRAT TRONG CÂY
1.5.1 Ảnh hưởng của phân bón và liều lượng đến mức độ tích lũy
nitrat trong rau
Theo các nhà khoa học thì có nhiều yếu tố gây tồn dư nitrat trong nông sản như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, nước tưới, biện pháp canh tác nhưng nguyên nhân chủ yếu được các nhà nông học khẳng định đó là phân bón đặc biệt là phân nitơ Hàm lượng nitrat trong rau ở mức độ ô nhiễm là do bón quá liều nitơ, bón không đúng cách Giảm lượng nitơ bón sẽ làm giảm sự tích lũy n i t r a t trong rau [34] Trong các loại phân bón dùng cho cây trồng thì phân nitơ được sử dụng nhiều nhất và cũng là yếu tố then chốt quyết định năng suất cây trồng Thực tế cây trồng được cung cấp đủ nitơ sẽ phát triển mạnh, tổng hợp được nhiều chất tạo nên sinh khối và tăng sản phẩm Nhưng bón nhiều nitơ trong điều kiện quang hợp, hô hấp kém, không đủ xetoaxid để chuyển hóa N-NO3 thành N-NH4 rồi thành axitamin, nitơ sẽ tích luỹ trong cây ở dạng nitrat hoặc xianogen [8] Hiện nay do chạy theo năng suất và lợi nhuận, người sản xuất đã lạm dụng quá nhiều phân đạm (nitơ) Trong khi sử dụng phân đạm theo chiều hướng gia tăng thì việc sử dụng phân lân và phân kali rất ít, phối hợp theo tỷ lệ không hợp lý điều đó
đã làm cho hàm lượng nitrat trong thương phẩm rất cao [14]
Kết quả điều tra ở 3 huyện Thanh Trì, Gia Lâm và Đông Anh của thành phố Hà Nội (2000) [15] cho thấy, người nông dân sử dụng lượng nitơ lớn và mất cân đối với phân lân và kali; đặc biệt đối với cây rau đậu, lượng phân nitơ sử dụng phổ biến ở mức 500 kg N/ha với xu hào, bắp cải là 550
kg N/ha, cà chua là 640 kg N/ha Khi khảo sát tình hình sử dụng phân bón cho rau ở một số vùng chuyên canh rau của Hà Nội cũng cho kết quả tương
tự, lượng phân nitơ nông dân sử dụng thường gấp từ 2-3 lần so với quy trình sản xuất rau an toàn, trong khi đó phân lân và kali sử dụng rất ít thậm chí không sử dụng Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định sử dụng lượng lớn
Trang 19và tích luỹ nitrat nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào từng loại rau Hầu hết các loại rau có hàm lượng nitrat đạt cao nhất sau khi bón thúc nitơ lần cuối từ 3 đến 10 ngày Hàm lượng nitrat ở cải bắp đạt cao nhất vào ngày thứ 7 kể từ khi bón thúc lần cuối ở tất cả các liều lượng nitơ khác nhau và chỉ thu hoạch sau 14 ngày thì hàm lượng nitrat trong cải bắp mới giảm hẳn dưới ngưỡng an toàn [12] Tồn dư nitrat trong rau ăn lá và rau ăn quả cao nhất trong khoảng thời gian từ 10 đến 15 ngày từ lúc bón lần cuối đến khi thu hoạch, đối với rau ăn củ là khoảng 20 ngày Thời gian bón thúc sau cùng càng xa ngày thu hoạch thì lượng nitrat trong rau càng giảm
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón thúc nitơ lần cuối đối với một số loại rau trồng tại Tỉnh Lâm Đồng, tác giả Bùi Cách Tuyến (1998) [26] cho biết đối với xà lách tồn dư nitrat đạt cao nhất khoảng 21 ngày khi ngừng bón (1569 mg/kg rau tươi) sau đó giảm dần theo thời gian và đến 25 ngày thì giảm hẳn dưới ngưỡng cho phép (426 mg/kg rau tươi) Đối với đậu Hà lan, đậu côve tồn dư nitrat đạt cao nhất vào thời điểm 7 ngày sau bón thúc
Trang 2012
lần cuối và được giảm dần ở các ngày sau đó, nhưng nếu bón nitơ ở mức cao (>300 kg N/ha) thì sau 10 ngày tồn dư nitrat mới giảm tới mức cho phép [13] Đối với cà rốt tồn dư nitrat được tích luỹ cao nhất ở thời điểm 20 ngày sau khi ngừng bón nitơ và giảm dần ở các ngày tiếp theo
1.5.2 Ảnh hưởng của khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng đến mức độ tích
lũy nitrat trong rau
Dư lượng nitrat trong rau chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố khí hậu thời tiết Trong giai đoạn cuối chuẩn bị thu hoạch, nếu gặp thời tiết lạnh, trời
âm u thì khả năng tích luỹ nitrat rất lớn Các cây trồng trong điều kiện bình thường có dư lượng nitrat thấp hơn cây trồng trong nhà kính từ 2 đến 12 lần, nhất là các cây ăn lá, với cùng một lượng phân nitơ cải bắp trồng trong nhà kính có hàm lượng nitrat cao hơn so với khi trồng ngoài đồng [35] Mật độ cây trồng cũng là yếu tố làm tăng hoặc giảm lượng nitrat trong cây Khi trồng dày, lượng nitrat sẽ tăng lên do điều kiện chiếu sáng yếu Thời gian chiếu sáng trong ngày dài thì hàm lượng nitrat trong cây sẽ giảm, nếu giảm mức chiếu sáng 20% thì hàm lượng nitrat trong quả dưa chuột tăng lên 2,5 lần Nhiệt độ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hàm lượng nitrat trong rau, nhiệt độ quá lớn gây trở ngại cho quá trình khử nitrat ở rễ nên hàm lượng nitrat trong rau sẽ cao [31]
1.5.3 Ảnh hưởng của đất trồng, nước tưới bị ô nhiễm tới mức độ
tích luỹ nitrat trong rau
Môi trường đất, nước luôn là nơi tiếp nhận các nguồn thải Tại những vùng sản xuất nông nghiệp thì môi trường đất, nước chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình canh tác và từ môi trường theo vòng tuần hoàn, các chất ô nhiễm sẽ đi vào nông sản Các nghiên cứu nước ngoài với việc sử dụng nguyên tử nitơ đánh dấu đã chỉ ra rằng bón phân nitơ có hệ thống và lớn hơn
200 kg N/ha có ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn nitơ trong sinh thái đồng ruộng: nitrat hoá dẫn tới rửa trôi nitrat làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước
Trang 2113
ngầm khi có nồng độ N-NO3 > 10 mg/l [1 7 ] Trong điều kiện yếm khí bón phân nitơ dạng nitrat cho đất lúa ngập nước có thể xảy ra quá trình phản nitrat hoá (denitrification) gây mất nitơ và làm gia tăng thành phần khí nhà kính (N2O) tiền đề gây mưa axit [32]
Trong vùng trồng rau, đất thoáng khí, độ ẩm thích hợp cho quá trình ôxy hoá, nitrat được hình thành, rau dễ hấp thu Sự hấp thu nitơ ở dạng nitrat không chuyển hoá thành prôtêin là nguyên nhân làm giảm chất lượng rau quả Mặt khác do sử dụng phân vô cơ không hợp lý sẽ làm cho đất bị ô nhiễm: chua đất, nhiễm nitrat, và tích luỹ kim loại nặng trong đất Trong đất các dạng nitơ dễ tiêu mà cây trồng hấp thu được gồm 2 dạng chính: amonium và nitrat Các dạng nitơ này chủ yếu do quá trình phân giải chất hữu cơ trong đất hoặc do bón phân nitơ vào đất chuyển hoá tạo thành Nitơ hữu cơ trong đất ở điều kiện thoáng khí và xúc tác của các enzim được khoáng hoá thành amonium Trên đất trồng cạn, amonium hình thành kể cả
từ khoáng hoá chất hữu cơ trong đất và bổ sung chất hữu cơ vào đất, cũng như từ việc phân vô cơ bón vào được ôxy hoá tạo thành nitrit và nitrat Quá trình này xảy ra theo hai bước nhờ hoạt động của vi sinh vật nitrosomonas, nitrosolobus và nitrosopira
Nitrat hình thành trong đất, tuỳ vào điều kiện một phần được cây hút, một phần bị rửa trôi hoặc bị mất do quá trình phản nitơ hoá Bởi vậy bón phân nitơ với lượng lớn và quá muộn sẽ hình thành nitrat quá nhiều so với nhu cầu của cây trồng sẽ làm rửa trôi và gây nhiễm môi trường hoặc tích luỹ nitrat trong nông sản Tuy vậy ion NO3 lại được hấp phụ rất yếu và rất ít trong đất nhờ phức hệ keo đất, tính chất này làm cho nitrat linh động
di chuyển sâu hơn và ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm [18] Trong các loại rau, lượng nước chứa từ 90% trở lên do vậy chất lượng nước tưới ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Sông hồ là nguồn tiềm tàng các chất độc hại trong đó có nitrat nhưng đã được người nông dân sử dụng
Trang 2214
hàng ngày để tưới cho rau và hậu quả tất yếu là chúng sẽ dần được tích luỹ trong rau quả [2]
1.6 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC
Nghiên cứu của Hoàng Thị Thái Hòa và cộng sự (2009) [14] được thực hiện tại hai xã chuyên sản xuất rau là Hương An và Hương Chữ thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Mục đích của nghiên cứu này nhằm khảo sát tình hình sản xuất rau, xác định hàm lượng nitrat trong đất trồng rau và đề xuất giải pháp phù hợp cho phát triển các loại rau ăn lá chính tại địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân đã đầu tư các loại phân bón cho rau, trong đó lượng phân bón chứa nitơ sử dụng cho rau thường cao hơn so với các loại phân bón khác Hàm lượng nitrat trong các loại đất trồng rau dao động từ 19-55 mg/100g đất ở tầng 0-20cm và 50-67 mg/100g đất ở tầng 20-50 cm Có
sự tương quan cao (R2 = 0,9) giữa lượng nitơ bón với hàm lượng nitrat trong đất trồng rau tại các điểm nghiên cứu
Tương tự trong nghiên cứu về tình hình sản xuất, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của các hộ trồng rau trên địa bàn phường Hương Long
vụ xuân hè 2012-2013, thời gian từ tháng 12/2012-5/2013 [27] Kết quả phân tích hàm lượng nitrat trong một số loại rau tại đây cho thấy: hàm lượng nitrat trong rau xà lách phân tích được là 748,1 mg/kg, so sánh với TCCP là 1500 mg/kg thì lượng nitrat tích lũy trong rau xà lách được trồng tại đây thấp hơn nhiều so với quy định và đảm bảo mức độ an toàn cho người sử dụng; đối với rau muống có hàm lượng nitrat là 637,3 mg/kg, cao hơn giới hạn cho phép về hàm lượng nitrat trong rau là 1,06 lần Còn trong cải xanh lượng nitrat tồn dư trong rau là 542 mg/kg cao gấp 1,1 lần so với tiêu chuẩn quy định Tương tự, rau mồng tơi có lượng nitrat là 596,5 mg/kg, cao hơn so với quy định là 1,2 lần Đối với rau gia vị: các mẫu hành lá phân tích được hàm lượng nitrat là
559 mg/kg, cao gấp 1,4 lần so với tiêu chuẩn Việt Nam cũng như tiêu chuẩn FAO
Trang 2315
Việc xác định hàm lượng nitrat trong rau quả cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu của Nguyễn Minh Đông, Ngô Ngọc Hưng (2007) [5] về khảo sát dư lượng nitrat trong cây rau trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu cho thấy hàm lượng nitrat tích lũy rất khác nhau giữa hai nhóm rau ăn trái và ăn lá Sự khác biệt này là do đặc tính hấp thụ nitrat khác nhau giữa hai nhóm rau, điều kiện đất đai, lượng phân bón sử dụng và canh tác khác nhau Trong nhóm rau ăn trái thì dưa leo có hàm lượng nitrat dao động
từ 195 mg/kg đến 421 mg/kg, vượt ngưỡng cho phép 1-3 lần, với mức sử dụng phân đạm khá cao so với khuyến cáo Hàm lượng nitrat thường cao trong trường hợp phân tích toàn bộ trái so với chỉ phân tích phần ăn được Hàm lượng nitrat trong cải ngọt (1840- 2980 mg/kg) và xà lách (1038-2442 mg/kg) cao so với qui định cho phép từ 1,5 đến 3 lần do sự thâm canh liên tục của nhóm rau này với mức phân bón cao hơn khuyến cáo
Trong nghiên cứu của Hoàng Hải (2007) [8] về ảnh hưởng của phân hữu cơ vô sinh đến hàm lượng nitrat cho thấy các công thức bón kết hợp phân hữu cơ vô sinh với phân vô cơ cho hàm lượng nitrat trong rau quả thấp hơn công thức chỉ bón phân khoáng Nghiên cứu của Hoàng Thị Thái Hòa và Nguyễn Đo (2009) [13] về ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón đạm đến năng suất và hàm lượng nitrat trong rau cải xanh và xà lách tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy hàm lượng nitrat trong rau cải xanh và xà lách tăng lên tương ứng với liều lượng đạm được bón Hàm lượng nitrat đạt cao nhất ở công thức bón 120 kg N/ha đối với 2 loại rau là cải xanh và xà lách Và vượt mức cho phép ở thời điểm bón trước thu hoạch 7 ngày Thời điểm bón đạm kết thúc trước thu hoạch 15 ngày có hàm lượng nitrat trong rau thấp hơn so với kết thúc trước thu hoạch 7 ngày ở tất cả các liều lượng đạm bón
Nghiên cứu về đánh giá rủi ro của nitrat đến sức khỏe con người của Cristina Proca và cộng sự [37] đã đánh giá sự tương quan của hàm lượng nitrat trong thực phẩm đến sức khỏe con người Nghiên cứu cho thấy sự có
Trang 2416
mặt của hàm lượng lớn nitrat trong thực phẩm như rau bina, rau trộn, khoai tây và nước uống Nếu sử dụng riêng mỗi sản phẩm thì nó không ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, nhưng sự kết hợp của nhiều sản phẩm trong quá trình ăn uống gây tác động lớn đến sức khỏe, đặc biệt là trẻ em
Tương tự, Anjana và cộng sự (2006) [30] trong nghiên cứu về sự tích lũy của nitrat trong rau, nghiên cứu này tập trung vào sự đóng góp của các loại rau theo hướng chế độ ăn uống của con người, xem xét các yếu tố dinh dưỡng, môi trường và sinh lý ảnh hưởng đến sự tích lũy nitrat trong thực vật, các tác động có hại và có lợi của nitrat trên sức khỏe con người, và các chiến lược có thể thực hiện để giảm thiểu hàm lượng nitrat trong thực vật và trong
cơ thể người khi sử dụng qua đường tiêu hóa DU Shao-ting và cộng sự (2007) [39] trong nghiên cứu về ảnh hưởng của nitrat trong rau đến sức khỏe con người cho thấy hàm lượng nitrat phân tích được trong rau cải ngọt ở đây nằm trong khoảng từ 500 mg/kg đến 1000 mg/kg Theo Surendra Prasad (2008) [36] trong nghiên cứu về hàm lượng nitrat trong rau, tác động của việc bảo quản lạnh và nấu nướng đến hàm lượng nitrat, đã xác định hàm lượng nitrat trong rau xanh dao động từ 1297 mg/kg đến 5658 mg/kg
Nhìn chung hầu hết các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều cho thấy mức tồn dư nitrat trong rau là khá cao, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng Vùng trồng rau Túy Loan là một trong những vùng được quy hoạch thành vùng cung cấp rau sạch trọng điểm của Thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về xác định hàm lượng nitrat trong rau quả tại đây Vì vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi tập trung xác định hàm lượng nitrat trong đất, nước và rau tại vùng trồng rau Túy Loan nhằm giúp người sản xuất điều chỉnh hình thức canh tác, liều lượng phân bón hợp lí, nâng cao chất lượng nông sản
Trang 25- Xà lách (Lactuca sativa)
Hình 2 1 Xà lách (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều)
- Cải ngọt (Brassica integrifolia )
Hình 2 2 Cải ngọt (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều)
Trang 2618
- Mướp đắng (Momordica charantia)
Hình 2 3 Mướp đắng (Ảnh: Lê Thị Diễm Kiều) 2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại làng rau Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng; trong thời gian từ tháng 9/2014 đến tháng 4/2015
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, chúng tôi tập trung thực hiện một số nội dung sau:
- Xác định hàm lượng nitrat trong đất, nước tưới và rau tại vùng trồng rau Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Đề ra một số kiến nghị nhằm giảm ô nhiễm nitrat trong các đối tượng nghiên cứu (nếu có)
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp hồi cứu số liệu để thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và dân số tại xã
xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang; đặc điểm, tính chất của đất trồng và đặc điểm của rau cải ngọt, rau xà lách và mướp đắng; một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Trang 2719
2.3.2 Phương pháp thu và bảo quản mẫu
a Phương pháp thu và bảo quản mẫu đất
Để xác định hàm lượng nitrat có trong đất, chúng tôi tiến hành lấy mẫu theo TCVN 7538-2:2005 Chất lượng đất - Hướng dẫn kĩ thuật lấy mẫu Tiến hành lấy 10 mẫu đất vào tháng 11/2014, mẫu lấy theo nguyên tắc đường chéo, các mẫu được lấy là mẫu cụm (cluster sample): mẫu tổ hợp lấy ở nhiều điểm gần nhau
Xử lý sơ bộ bằng cách loại bỏ đá, rễ cây, mảnh vụn, phơi khô, nghiền nhỏ và rây qua rây có kích thước 0,2 mm Mẫu đất thu về sẽ được bảo quản theo TCVN 7538-6:2010 Trong đó, mẫu được đựng trong túi polyethylene, không để mẫu đất bị sũng nước trong thời gian bảo quản Địa điểm thu mẫu đất được mô tả qua hình 2.4
Hình 2 4 Địa điểm thu mẫu đất tại vùng trồng rau Túy Loan
Trang 2820
Bảng 2 1 Vị trí thu mẫu đất tại vùng trồng rau Túy Loan
Kí hiệu mẫu Tọa độ điểm lấy mẫu đất
STL1 16.002899 0 B, 108.130829 0 N STL2 16.002480 0 B, 108.131181 0 N STL3 16.002160 0 B, 108.131491 0 N STL4 16.001819 0 B, 108.131851 0 N STL5 16.001452 0 B, 108.132454 0 N STL6 16.001068 0 B, 108.132864 0 N STL7 16.001863 0 B, 108.130534 0 N STL8 16.001884 0 B, 108.131440 0 N STL9 16.001371 0 B, 108.132166 0 N STL10 16.001684 0 B, 108.133220 0 N
b Phương pháp thu và bảo quản mẫu rau
Để tiến hành xác định hàm lượng nitrat trong rau, chúng tôi tiến hành thu và bảo quản mẫu rau theo TCVN 9016:2011 Rau tươi- Phương pháp lấy mẫu trên ruộng sản xuất Trong đó, đối với mỗi loại rau, chúng tôi lấy 10 mẫu tại 10 điểm ngẫu nhiên đại diện cho vùng trồng rau Sử dụng các dụng cụ sạch, khô, sắc bén, không gỉ, không gây dập nát để tránh sự thay đổi thành phần hóa học của mẫu cần thu
Mẫu rau sau khi thu được cho vào các túi polyetylen và đựng trong thùng sạch, khô, có tác dụng bảo vệ mẫu và không làm ảnh hưởng đến kết quả phân tích hóa học của mẫu Sau đó chuyển mẫu về phòng thí nghiệm Khoa Sinh - Môi trường, Đại học Sư Phạm Đà Nẵng Tiến hành tách lấy phần ăn được, rửa sạch, để ráo, thái nhỏ Bảo quản mẫu rau theo hướng dẫn của TCVN 9016:2011 Rau tươi- Phương pháp lấy mẫu trên ruộng sản xuất
c Phương pháp thu và bảo quản mẫu nước
Mẫu nước được lấy theo TCVN 6663-6:2008 Chất lượng nước – Lấy mẫu - Phần 6: Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
Cách lấy mẫu trực tiếp tạo ra ít nhất nguy cơ nhiễm bẩn đồng thời đảm
Trang 2921
bảo mẫu là đại diện Không nên sử dụng các bình chứa chất bảo quản Trước khi tiến hành lấy mẫu trực tiếp, các bình chứa mẫu cần được súc rửa kỹ và được tráng lại bằng chính nước nơi chúng ta lấy mẫu
Nhúng ngập bình vào trong nước của thủy vực được lấy mẫu, hướng miệng bình về phía thượng nguồn dòng chảy của nước, mở nút bình (nếu vẫn còn đậy) và giữ bình trong một tay Đưa cổ bình đã mở nút xuống dưới mặt nước cho đến khi ngập ở độ sâu khoảng 25 cm Nếu nước nông thì phải đảm bảo mẫu nước lấy không bị nhiễm bùn đáy Nghiêng cổ bình sao cho bình hướng hơi nghiêng về phía mặt nước và về phía dòng chảy Để cho nước chảy vào bình với lượng mẫu cần yêu cầu Trong phần lớn các trường hợp, lấy mẫu đầy đúng đến miệng bình để đẩy được hết không khí trong bình ra, vì trao đổi khí có thể làm thay đổi nhanh chất lượng của mẫu Khi đã lấy đúng lượng mẫu cần lấy, nhấc bình ra khỏi nước và đậy nắp bình lại thật kỹ Quay lên bờ
và dán nhãn lên bình
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành lấy 5 mẫu nước tại sông Túy Loan và 5 mẫu nước giếng khoan tại vùng trồng rau Túy Loan Tất cả các mẫu được lấy và bảo quản theo TCVN 6663-6:2008, và được đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Sinh - Môi trường, Đại học Sư phạm Đà Nẵng
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
a Phương pháp phân tích mẫu đất
Để phân tích hàm lượng nitrat trong các mẫu đất, chúng tôi tiến hành
xử lí sơ bộ mẫu đất theo hướng dẫn của TCVN 6647 : 2000 Chất lượng đất-
Xử lí sơ bộ để phân tích lý hóa Sau đó sẽ xác định hàm lượng nitat có trong mẫu đất theo hướng dẫn của TCVN 6643:2000 Chiết đất được làm khô trong không khí bằng dung dịch 0,01 mol/l canxi clorua (CaCl2) theo tỷ lệ 1:10 (m/V) ở 200C ± 10C Sau khi đạt được cân bằng (2 giờ), li tâm các dung dịch
để xác định các phần nitơ khác nhau