Hiện nay, càng ngày người ta càng hiểu rằng, các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ mới thực sự là một trong những đặc điểm cơ bản nhất của quá trình vận động ngôn ngữ, nhất là tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THỊ LỆ THÚY
CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TU TỪ
TRONG TẬP THƠ THƯ MÙA ĐÔNG CỦA HỮU THỈNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/2015
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TU TỪ
TRONG TẬP THƠ THƯ MÙA ĐÔNG CỦA HỮU THỈNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn:
GVC TS Bùi Trọng Ngoãn
Người thực hiện:
NGUYỄN THỊ LỆ THÚY (Khóa 2011 - 2015)
Đà Nẵng, tháng 5/2015
Trang 3Em cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Lệ Thúy
Trang 4Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự quan tâm, động viên giúp đỡ của Khoa Ngữ văn – trường Đại học
sư phạm Đà Nẵng, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Bùi Trọng Ngoãn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Khoa, đặc biệt
là thầy giáo – GVC TS.Bùi Trọng Ngoãn, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, quan tâm thường xuyên và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu, giúp em có thể hoàn thành Khóa luận này
Dù cố gắng nhưng bài Khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong sự góp ý của các thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 03 tháng 05 năm 2015
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc đề tài 4
Chương Một: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TẬP THƯ MÙA ĐÔNG CỦA HỮU THỈNH 6
1.1 Khái niệm các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ 6
1.1.1 Các hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng 6
1.1.1.1 Ẩn dụ từ vựng 6
1.1.1.2 Hoán dụ từ vựng 9
1.1.2 Các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ 14
1.1.2.1 Nhóm ẩn dụ tu từ 14
1.1.2.2 Nhóm hoán dụ tu từ 23
1.1.3 Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng với ẩn dụ, hoán dụ tu từ 29
1.2 Tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh 30
1.2.1 Đôi nét về Hữu Thỉnh và phong cách nghệ thuật của ông 30
1.2.2 Giới thiệu về tập thơ Thư mùa đông 33
Chương Hai : CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TU TỪ THEO PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ TRONG TẬP THƯ MÙA ĐÔNG 35
2.1 Ẩn dụ chân thực 35
2.2 Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác 47
2.3 Ẩn dụ tượng trưng 49
2.4 Nhân hóa 51
2.5 Vật hóa 55
Trang 63.1 Hoán dụ cải số 56
3.2 Hoán dụ bộ phận và toàn thể 57
3.3 Hoán dụ chủ thể và vật sở thuộc 59
3.4 Hoán dụ cụ thể và trừu tượng 59
Chương Bốn : VAI TRÒ CỦA CÁC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TU TỪ ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TẬP THƠ THƯ MÙA ĐÔNG 63
4.1 Tầm tác động của các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ đối với tính hình tượng trong Thư mùa đông của Hữu Thỉnh 63
4.1.1 Ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng, dồn nén 63
4.1.2 Hình ảnh chất chồng, đa nghĩa 64
4.2 Tầm tác động của các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ đối với nội dung thể hiện trong Thư mùa đông của Hữu Thỉnh 66
4.2.1 Mở ra trường liên tưởng xa rộng 66
4.2.2 Đem đến cho người đọc những tứ thơ gợi nghĩ 68
4.3 Tầm tác động của các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ trong tập Thư mùa đông đối với phong cách ngôn ngữ Hữu Thỉnh 69
4.3.1 Nhà nghệ sĩ ngôn từ lão luyện 69
4.3.2 Lối nói bình dị mà thâm trầm 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hữu Thỉnh là một trong những con chim đầu đàn của thi ca chống Mỹ nói riêng và thi ca cách mạng nói chung Ông đã tạo dựng một tiếng thơ mới mẻ cho nền thơ ca dân tộc bằng một loạt những tác phẩm thơ và trường ca có giọng điệu riêng, mang phong cách riêng Và ngôn ngữ thơ chính là một trong những nhân
tố góp phần làm nên điều đó Ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ là những phương tiện
tu từ ngữ nghĩa mang lại hiệu quả nghệ thuật cao cho thơ Hữu Thỉnh Có thể thấy trong toàn bộ sáng tác của ông thì những phương tiện này thể hiện nhiều và
rõ nhất trong tập thơ Thư mùa đông
Hiện nay, càng ngày người ta càng hiểu rằng, các phương thức chuyển nghĩa
ẩn dụ và hoán dụ mới thực sự là một trong những đặc điểm cơ bản nhất của quá trình vận động ngôn ngữ, nhất là trong quá trình định danh sự vật, hiện tượng Trong hơn 10 năm trở lại đây, ngôn ngữ học tri nhận cũng đặc biệt quan tâm đến hai đối tượng ẩn dụ tri nhận và hoán dụ tri nhận Nói như vậy để thấy rằng, những nghiên cứu về ẩn dụ và hoán dụ từ góc độ chuyển nghĩa trong ngôn ngữ hay về góc độ tư duy không bao giờ là thừa
Mặt khác, ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ là cách nói bằng hình ảnh cho nên chúng chính là phương thức làm nên tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật Như vậy, nghiên cứu về các hiện tượng chuyển nghĩa này trong một tập thơ cũng là cách tiếp cận hệ thống hình tượng của tác phẩm
Trong nhà trường phổ thông, hai hiện tượng chuyển nghĩa này cũng là những nội dung quan trọng được học trong phần Tiếng Việt và nếu người dạy nắm bắt sâu sắc về đối tượng thì không những giúp cho học sinh nắm được thế nào là ẩn
dụ, hoán dụ mà còn giúp học sinh tiếp cận được tác phẩm văn chương một cách hiệu quả hơn, đồng thời đảm bảo được tính tích hợp liên phân môn trong bộ môn Ngữ văn theo phương pháp dạy học hiện đại
Vì những lý do trên, chúng tôi xin chọn đề tài “Các hiện tượng chuyển nghĩa
tu từ trong tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh” làm đề tài nghiên cứu
Trang 82 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ là một trong những đặc điểm cơ bản của quá trình vận động ngôn ngữ, cũng vì thế nó đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu đào sâu, tìm hiểu
Ẩn dụ, hoán dụ xuất hiện đầy đủ trong Từ vựng học, Phong cách học Ẩn dụ
từ vựng và hoán dụ từ vựng được xem là hai phương thức chuyển nghĩa của tiếng Việt và vì thế chúng được trình bày trong các công trình từ vựng ngữ nghĩa
như: cuốn Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu; Từ vựng học tiếng
Việt của Nguyễn Thiện Giáp;…
Ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ là những cách thức xây dựng hình ảnh trong ngôn ngữ và chúng là những cách thức chuyển nghĩa lâm thời giàu tính nghệ thuật nên đã được nghiên cứu trong các công trình phong cách học như: cuốn
Phong cách học Tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc; cuốn Phong cách học tiếng Việt của nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú; Thực hành phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa; Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt và rất nhiều các bài viết khác…
Tất cả những công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ kể trên, xét về phương diện lý luận đều là những thành tựu có giá trị trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về tiếng Việt nói chung Song, những công trình nghiên cứu
ấy còn nằm trên bình diện khái quát nhất Chỉ có thể thấy được tính uyển chuyển, sâu sắc và tính sáng tạo của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ khi khảo sát
chúng trong các tác phẩm cụ thể
Ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh cũng đã là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Họ tiếp cận ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh ở hai xu hướng nổi bật: thứ nhất, các tác giả đưa ra những nhận định chung về đặc trưng nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh; thứ hai là đi sâu vào phân tích và bình giá những cái hay, nét đẹp về nội dung, hình ảnh, cấu tứ, ngôn ngữ trong từng tập thơ cụ thể hoặc toàn bộ thơ ông
Có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Trang 9Nguyễn Nguyên Tản trong chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh: đã đi sâu
vào việc phân tích một cách cụ thể những biểu hiện của ngôn ngữ dân dã, đời thường trong thơ Hữu Thỉnh và xem đây như một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh [23, tr10]
Trong bài viết “Phong cách nghệ thuật của nhà văn là gì?”, Nguyễn Văn Tùng nhận định: “ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh thẩm thấu được nhiều vẻ đẹp của
ngôn ngữ dân gian”, “ông đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn những nét tinh túy nghệ thuật từ những câu tục ngữ, ca dao trong thơ mình và điều đó tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt” Và “Tính triết luận sâu sắc cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh Vì thế nhà thơ đã dâng tặng bạn đọc những cảm xúc đặc biệt, những nhận thức mới mẻ về thế giới tâm hồn con người ẩn chứa bao điều bất ngờ, thú vị” (Dẫn theo [23, tr13])
Cũng nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Thị Hoa trong đề tài:
“Phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh” đã đi sâu tìm hiểu hai
phương diện nghệ thuật nổi bật: phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp [24, tr107]
Về ngôn ngữ nghệ thuật trong tập Thư mùa đông, đã có những bài viết liên
quan đến nó Trên cơ sở nghiên cứu thơ ca của Hữu Thỉnh, các tác giả đưa ra những nhận định về ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh nói chung và ngôn ngữ trong tập
Thư mùa đông nói riêng hoặc đi sâu phân tích những khía cạnh của nghệ thuật
tập thơ trong đó có ngôn ngữ Nguyễn Nguyên Tản (chuyên luận Thi pháp thơ
Hữu Thỉnh) phát hiện: trong thơ ngắn Hữu Thỉnh, so sánh và nhân hóa là phương thức chủ yếu của giai đoạn sáng tác trong chiến tranh; trong khi ngôi vị thống ngự của nó trong giai đoạn sáng tác trong thời bình, tiêu biểu ở tập Thư mùa đông là phương thức ẩn dụ (Dẫn theo [23, tr10])
Sau khi phân tích những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tập thơ Thư
mùa đông, Nguyễn Thị Huấn (trong Khóa luận tốt nghiệp, đề tài: “Đặc sắc thơ Hữu Thỉnh qua tập thơ Thư mùa đông”) kết luận: “Ngôn ngữ thơ của Hữu Thỉnh vô cùng giản dị, quen thuộc, đậm tính dân tộc (…) giàu hình ảnh, triết lý
và hàm súc” [25, tr61]
Trang 10Vấn đề ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong Thư mùa đông, cũng đã có tác giả nghiên cứu Lê Thị Thanh Tịnh trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ thơ Hữu
Thỉnh, khi khảo sát tập Thư mùa đông đã nhận thấy: “…sự xuất hiện của phương thức ẩn dụ chân thực đã mang lại cho câu thơ những sắc thái biểu cảm đặc biệt
và tinh tế (…) Vận dụng phương thức ẩn dụ bổ sung, nhà thơ dường như muốn đánh thức mọi giác quan để khơi gợi trong trí tưởng tượng của bạn đọc những hình ảnh, cảm xúc độc đáo (…) Hoán dụ tu từ mang đến những giá trị nghệ thuật cao cho thơ Hữu Thỉnh….” [27, tr 28]
Tựu trung lại, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các bài viết đã có những nhận
định chung về ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh cũng như tập Thư mùa đông mà chưa
thấy một bài viết nào thực sự đi sâu, nghiên cứu kĩ về các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ trong tập thơ này Vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc khảo sát các ẩn dụ
tu từ, hoán dụ tu từ và tìm ra giá trị nghệ thuật của nó trong tập thơ là một việc làm cần thiết với mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn sâu sắc hơn
về ngôn ngữ nghệ thuật trong Thư mùa đông
3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ
trong tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản nghệ thuật của tập Thư mùa đông
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, miêu tả
Trang 11Chương Hai: Các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ theo phương thức ẩn dụ
trong tập Thư mùa đông
Chương Ba: Các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ theo phương thức hoán dụ
trong tập Thư mùa đông
Chương Bốn: Vai trò của các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ đối với thế
giới nghệ thuật tập thơ Thư mùa đông
Trang 12Chương Một: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TẬP THƯ
MÙA ĐÔNG CỦA HỮU THỈNH
1.1 Khái niệm các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ
1.1.1 Các hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng
1.1.1.1 Ẩn dụ từ vựng
Vì là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của quá trình vận động ngôn ngữ, nên ẩn dụ đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ nghiên cứu
a Khái niệm
Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt quan niệm: Cho A là
một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức
là x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi
A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu như x và y giống nhau
Ví dụ:
- Mũi: mũi người mũi giày, mũi dao, mũi kéo, mũi Cà Mau,…
- Tim: tim người tim gỗ, tim đèn, tim đường, tim sắn,…
Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt cũng cho rằng: Ẩn dụ là
sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được
so sánh với nhau
Ví dụ:
- Răng: răng cưa, răng bừa, răng lược,…
Nguyễn Đức Tồn trong Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy quan niệm: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính
của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng thuộc loại khác theo lối loại suy dựa trên cơ sở liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng”
Ví dụ:
-“tay” (vốn là tên gọi của “bộ phận phía trên của cơ thể người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm nắm: “Tay làm hàm nhai”) tay ghế, tay đòn, tay áo,…
Trang 13Tựu trung lại ta thấy, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi, lấy tên gọi của đối
tượng này gọi tên đối tượng khác dựa vào sự giống nhau giữa các đối tượng
Ẩn dụ từ vựng là những ẩn dụ diễn ra trong hệ thống từ ngữ, mang tính cố định xã hội (vì đã được đưa vào từ điển và sử dụng) Sự chuyển nghĩa của ẩn dụ từ
vựng tạo ra từ mới, nghĩa mới
Ví dụ:
- chân: chân người chân bàn, chân ghế, chân giường, chân giá, chân tủ, chân bình hoa, chân núi,…
b Phân loại
Trong ẩn dụ, sự giống nhau được dùng làm cơ sở cho sự chuyển nghĩa
Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt phân loại ẩn dụ thành 5 loại như sau:
(1) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức: ruột (người) – ruột (bút),…
(2) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa các hoạt động,
hiện tượng: cắt, nắm (một sự vật cụ thể)– cắt hộ khẩu, nắm tư tưởng,…
(3) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về chức năng: bến (xe, tàu) - bến (sông,
đò): chúng không giống nhau về hình dạng mà giống nhau ở chức năng là “đầu mối giao thông”
(4) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đối với con
người: nặng nề (một vật nào đó có trọng lượng lớn mà chúng ta phải mang, gánh, vác, làm chúng ta của động khó khăn, đi đứng chậm chạp) - ấn tượng nặng nề (tác
động của ấn tượng đối với lí trí, tình cảm của chúng ta)
(5) Ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác hay những “cảm giác” của trí tuệ, tình cảm:
chua, ngọt, mặn,…(vị giác) – lời nói ngọt, ăn nói chua,…
Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt chia ẩn dụ thành 8 kiểu như sau:
(1) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức: tim (người) – tim (đường), (2) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về màu sắc: màu da trời, màu da cam,
Trang 14(3) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về chức năng: “Túi đàn cặp sách đuề huề
dọn sang” (Nguyễn Du) ta không thể hiểu cặp sách là vật đựng sách bằng da ngày nay mà chỉ là cái kẹp gỗ đựng sách mà thôi
(4) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó: (cây)
khô – (tình cảm) khô – (lời nói) khô, ý nghĩ đắng cay,…
(5) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó: đàn
bà xấu được gọi là Thị Nở, đàn bà đẹp được gọi là Thúy Kiều hoặc Tây Thi,… (6) Những ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: hạt nhân (của quả) – hạt nhân
(của vấn đề),…
(7) Chuyển tên các con vật thành tên người: con chó con của mẹ, hắn là con
rắn độc,…
(8) Chuyển tính chất của sự vật, hiện tượng này sang sự vật khác hoặc hiện
tượng khác: thời gian đi, con tàu chạy, gió gào thét,…
Trong cuốn Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nguyễn Đức Tồn không phân chia ra các kiểu loại ẩn dụ cụ thể mà ông chỉ khẳng định:
“Chính các loại đặc điểm, thuộc tính khác nhau cùng có ở các sự vật, hiện tượng…được chọn làm cơ sở cho sự đồng nhất hóa chúng trong tư duy đã tạo nên các kiểu ẩn dụ khác nhau” và ông dẫn cách phân chia các kiểu ẩn dụ của Nguyễn
Thiện Giáp
Tổng hợp ý kiến và các cách phân loại của những tác giả trên, chúng tôi thấy,
ẩn dụ từ vựng gồm 10 loại sau:
(1) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức: lá lá phổi, lá bài,
(2) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa các hoạt động,
hiện tượng: cắt, nắm (một sự vật cụ thể)– cắt hộ khẩu, nắm tư tưởng,…
(4) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về màu sắc: màu rêu, màu cỏ úa, màu cứt
Trang 15(7) Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đối với con
người: nặng nề - ấn tượng nặng nề,…
(8) Ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác hay những “cảm giác” của trí tuệ, tình cảm:
nhạt (vị giác) – kể chuyện nhạt, câu chuyện vô vị,…
(9) Chuyển tính chất của sự vật, hiện tượng này sang sự vật khác hoặc hiện
tượng khác: rừng hú gọi, biển ồn ào,…
(10) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó: mực
thước (dụng cụ của nghề mộc để đo lấy các đường thẳng) – Anh ấy là người mực thước (chỉ tính cách thẳng thắn, đúng mực),…
(11) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó:
những người đàn ông đểu gọi là Sở Khanh,…
1.1.1.2 Hoán dụ từ vựng
a Khái niệm
Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt quan niệm: Cho A là
một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức
là x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để goi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế
Ví dụ:
- Cổ cổ áo
- Vai vai áo
Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt giải thích: “Ngược lại với
ẩn dụ, hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy”
Ví dụ:
“…Cả nước ôm em khúc ruột của mình…” (Tố Hữu)
“Cả nước”: tất cả những người trong nước
Trang 16Nguyễn Đức Tồn trong Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy quan niệm: “Hoán dụ là phép thay thế tên gọi của hai sự vật, hiện
tượng,…khác loại (khác phạm trù) dựa trên cơ sở sự đồng nhất hóa chúng do chúng luôn luôn cùng xuất hiện cặp đôi với nhau trong thực tế khách quan”
Ví dụ:
“Nhà” là “công trình kiến trúc…để ở” và “nhà” là “những người trong gia
đình”, chẳng hạn: cả nhà sum họp
Dựa vào ba khái niệm hoán dụ của ba nhà nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra
cách hiểu về hoán dụ như sau: Hoán dụ là sự chuyển đổi tên gọi, lấy tên gọi của đối
tượng này gọi tên đối tượng khác dựa vào mối quan hệ logic, khách quan giữa các đối tượng
Hoán dụ từ vựng là những hoán dụ diễn ra trong hệ thống từ ngữ, mang tính
cố định xã hội (vì đã được đưa vào từ điển và sử dụng) Sự chuyển nghĩa của hoán
dụ từ vựng tạo ra từ mới, nghĩa mới
b Phân loại
Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt phân loại hoán dụ thành
15 loại như sau (các cơ chế của phương thức hoán dụ):
(1) Hoán dụ dựa trên mối quan hệ bộ phận – toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu
vật x và y; x là bộ phận của y, hoặc x là toàn thể, y là bộ phận: miệng – nhà có bảy
miệng ăn,…
(2) Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa: Cả thành phố xem bắn
pháo hoa,…
(3) Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từ
nguyên liệu: bánh bột lọc, chè đậu xanh,…
(4) Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng: cây bút
trẻ (nhà văn), cây sáo (nghệ sĩ),…
(5) Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề: sân khấu (nơi biểu diễn các ngành nghệ thuật như kịch, tuồng, ) – ngành sân khấu điện ảnh, búa (dụng cụ)
– tay búa,…
Trang 17(6) Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vật chất được chứa đựng:
thúng – hai thúng gạo, ly – hai ly bia,…
(7) Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng: miệng lưỡi,
mồm miệng chỉ cách ăn nói, cách lập luận,…
(8) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế:
tắt thở, xuôi tay, chỉ cái chết; quỳ gối chỉ sự khuất phục nhục nhã,…
(9) Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: bịch (đấm vào ngực), bợp
(tát vào gáy),…
(10) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra từ
hoạt động đó: bó – một bó lúa, gói – gói quà,…
(11) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ: cuốc – cái cuốc,…
(12) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình
sản xuất: đóng – đóng bàn, cắt – cắt áo,…
(13) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên
liệu đó: muối dưa, thuốc chuột (diệt chuột bằng thuốc),…
(14) Hoán dụ dựa vào quan hệ sự vật và màu sắc: tên gọi của sự vật mang
màu sắc được chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc: da trời, da cam, nước biển,…
(15) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật:
tên gọi của tính chất, đặc điểm được dùng gọi thay cho sự vật: chất cay (rượu), chất
khói (thuốc lá),…
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ, Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt chia hoán dụ thành 10 loại như sau:
(1) Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận: gốc – vườn có ba gốc cam,…
(2) Lấy không gian, địa điểm thay cho những người sống ở đó: nhà bếp
(những người làm trong nhà bếp), nhà tôi (vợ tôi),…
(3) Lấy cái chứa đựng thay cho cái được chứa đựng: bát cơm, chai bia, cốc
cà phê,…
(4) Lấy quần áo, đồ trang phục chung thay cho con người: “Mỗi mai hồng áo
trắng đến thăm tôi” (Chế Lan Viên) áo trắng: bác sĩ
Trang 18(5) Lấy bộ phận con người thay cho bộ phận quần áo: tay áo, cổ áo, vai áo…
(6) Lấy địa điểm, nơi sản xuất thay cho sản phẩm được sản xuất ở đó: Kẹo
chú Xìu Châu sao sánh được/Bánh bà Hạnh Tu cũng thua xa (Tú Xương) kẹo xìu
vốn được sản xuất ở huyện Thiều Châu,…
(7) Lấy địa điểm thay cho sự kiện được xảy ra ở đó: trận Điện Biên phủ, hội
(10) Lấy âm thanh thay cho đối tượng: con tu hú, còn mèo,…
Theo Nguyễn Đức Tồn trong Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy, các mối quan hệ cùng xuất hiện cặp đôi…của các biểu vật làm cơ sở cho
sự đồng nhất chúng trong hiện tượng hoán dụ có thể xảy ra ở những cặp tương liên phổ biến sau đây:
(1) Cái chứa đựng và cái được chứa đựng: cả lớp ra chơi,…
(2) Cái chứa đựng và lượng vật chứa được đựng trong đó: ly – một ly
rượu,…
(3) Hành động và kết quả của hành động đó: đã gói được ba gói quà,… (4) Chất liệu và sản phẩm được làm từ chất liệu đó: đồng, bạc (kim loại) –
nhiều bạc (tiền),…
(5) Tác giả và tác phẩm của tác giả đó: đọc Chế Lan Viên,…
(6) Đối tượng hoàn chỉnh (chỉnh thể) và bộ phận của nó: nuôi 30 đầu lợn,… (7) Quần áo, trang phục, đồ dùng, và người sử dụng: “Áo chàm đưa buổi
phân li/Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” (Tố Hữu),…
(8) Bộ phận cơ thể con người và bộ phận quần áo tương ứng: cổ áo, tay áo,… (9) Địa điểm và sự kiện xảy ra ở đó: trận Điện Biên Phủ, hội nghị Paris,… (10) Âm thanh và đối tượng phát ra: mèo, cuốc,…
Trang 19(11) Cơ quan chức năng và chức năng của nó: đầu chỉ trí tuệ, lí trí, tim chỉ
tình cảm, …
(12) Hoạt động và công cụ: cuốc đất– cái cuốc, cưa gỗ - cái cưa,…
Tập hợp những cách phân chia các loại hoán dụ từ vựng của những tác giả trên, có 20 loại hoán dụ sau đây:
(1) Hoán dụ dựa trên mối quan hệ bộ phận – toàn thể: Ngôi làng chỉ có vài
nóc nhà nóc ( một bộ phận của ngôi nhà) dùng để chỉ cả ngôi nhà
(2) Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa: Toàn trường tham gia cuộc thi tìm hiểu về biển đảo Tổ quốc toàn trường: toàn bộ học sinh và giáo viên
(3) Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vật chất được chứa đựng:
chai - hai chai thuốc bắc,…
(4) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa âm thanh và đối tượng phát ra: con cuốc,
(5) Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từ
nguyên liệu: bánh bột lọc, bánh bột mì,…
(6) Lấy địa điểm, nơi sản xuất thay cho sản phẩm được sản xuất ở đó: Kẹo
chú Xìu Châu sao sánh được/Bánh bà Hạnh Tu cũng thua xa (Tú Xương) kẹo xìu
vốn được sản xuất ở huyện Thiều Châu,…
(7) Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng: cây bút
trẻ (nhà văn), cây sáo (nghệ sĩ),…
(8) Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề: sân khấu (nơi biểu diễn các ngành nghệ thuật như kịch, tuồng, ) – ngành sân khấu điện ảnh,…
(9) Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng: đầu chỉ trí
tuệ, lí trí,…
(10) Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: bịch (đấm vào ngực),…
(11) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế:
tắt thở, xuôi tay, chỉ cái chết; quỳ gối chỉ sự khuất phục nhục nhã,…
(12) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và kết quả, sản phẩm được tạo
ra từ hoạt động đó: gói – gói quà,…
(13) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ: cưa gỗ- cái cưa,
Trang 20(14) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình
sản xuất: đóng bàn, cưa gỗ,…
(15) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên
liệu đó: thuốc chuột (diệt chuột bằng thuốc),…
(16) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa địa điểm và sự kiện xảy ra ở đó: trận
Điện Biên Phủ,…
(17) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa sự vật và màu sắc: da trời, da cam,…
(18) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật:
chất cay (rượu), chất khói (thuốc lá),…
(19) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận cơ thể con người và bộ phận
quần áo tương ứng: cổ áo, tay áo, vai áo,…
(20) Lấy tên tác giả thay cho tác phẩm: “Suốt mười năm tôi đọc Nguyễn Du”
(Chế Lan Viên),…
1.1.2 Các hiện tượng chuyển nghĩa tu từ
Trong các biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng (ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ, tượng trưng) thì có hai biện pháp tu từ mang chức năng chuyển nghĩa lâm thời là ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ (và các biến thể của chúng)
1.1.2.1 Nhóm ẩn dụ tu từ
a Khái niệm
Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình
trong cuốn Phong cách học tiếng Việt định nghĩa: Ẩn dụ là cách lấy tên gọi
của một đối tượng này để lâm thời biểu thị một đối tượng khác, trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng
Ví dụ:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay, Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời
(Nguyễn Du)
Trang 21Vàng, ngọc là những vật quý được ví ngầm với nàng Kiều để biểu lộ sự quý
trọng của người nói (Kim Trọng) đối với tấm thân và phẩm giá của người yêu Kẻ
chân mây cuối trời cũng là một ẩn dụ vì đây có sự khai thác những nét giống nhau
trong cách so sánh ngầm giữa ý “xa vời cô quạnh” của thành ngữ này với tấm lòng người nói là Kim Trọng sắp xa cách và cô đơn buồn nhớ người yêu
Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt định
nghĩa: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng
để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng”
Ví dụ:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao) Trong tâm trí người bình dân Việt Nam xa xưa, hình ảnh “cây đa bến cũ” thường gắn với cái gì không thay đổi, vẫn còn nguyên vẹn Người ta liên tưởng đến
dấu hiệu tương tự như vậy ở một con người thủy chung Và Bến trong câu ca dao chính là ẩn dụ cho người có tấm lòng thủy chung, thường là người con gái Thuyền
(hay di chuyển, không cố định) ẩn dụ cho người con trai
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Phong cách học tiếng Việt
quan niệm: “Ẩn dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi
chỉ còn lại vế được so sánh Như vậy, phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét tương đồng nào đó”
Ví dụ:
Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông dường nào Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu…
(Xuân Quỳnh)
Trang 22Hình ảnh chiếc thuyền di động khắp nơi trên biển cả mênh mông sóng vỗ, mối quan hệ khăng khít giữa thuyền và biển cũng chính là hình ảnh tâm trạng của đôi trai gái đang yêu nhau tha thiết
Hữu Đạt trong cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại nói: “Ẩn dụ là kiểu
so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn
dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy
Trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các hình ảnh một con cá lội, mấy
người buông câu sẽ có những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau Trong ý nghĩa chung nhất,
hai hình ảnh ấy ẩn dụ cho mối lợi và những người cầu lợi
Tựu trung lại, chúng tôi hiểu về ẩn dụ tu từ như sau: Ẩn dụ tu từ là cách cá
nhân lâm thời lấy tên gọi một đối tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào sự giống nhau giữa hai đối tượng
b Phân loại
Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình phân
ẩn dụ tu từ thành 3 loại : Ẩn dụ chân thực, ẩn dụ tượng trưng, ẩn dụ bổ sung ; ngoài
ra còn có các biến thể của ẩn dụ như : phúng dụ, nhân hóa và vật hóa
Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
không phân chia các loại ẩn dụ tu từ, ông khẳng định: “Trên lý thuyết, nếu như có
bao nhiêu khả năng tương đồng thì sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ tu từ”
Ông nêu ra một số khả năng tương đồng đã được dùng làm cơ sở để tạo ra các ẩn dụ
tu từ như sau:
- Tương đồng về màu sắc
Trang 23Hứng đủ trăm dòng và nhận giải quyết mọi việc có hành động (tiếp nhận)
giống nhau, hứng đủ trăm dòng biểu thị nhận giải quyết mọi việc
- Tương đồng về cơ cấu
Ví dụ :
“Thầy quen nhẫn nại như một người đan rổ: tay bắt từng nan một, uốn nắn cho khéo, vào khuôn vào khổ Nhiều nan bị gẫy nhưng rổ vẫn thành rổ” (Chu Văn)
Rổ có nhiều nan có cơ cấu tương tự lớp có nhiều trò, rổ biểu thị lớp học trò
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Phong cách học tiếng Việt chia ẩn dụ tu từ thành 6 loại :
- Ẩn dụ chân thực
Trang 24- Ẩn dụ nhân hóa : gồm hai khía cạnh có quan hệ biện chứng:
+ Gán cho vật, đồ vật, những hành động, cảm nghĩ của như con người Ví dụ:
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
(ca dao) + Gán cho con người những hành động, cảm nghĩ như vật, đồ vật Ví dụ:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi
thắt đáy lưng ong biểu thị người con gái có dáng người đẹp
- Ẩn dụ ngụ ngôn (phúng dụ): là loại ẩn dụ dùng cách nói để nêu ra những giáo lý về đạo đức, về cách ứng xử giữa con người với con người Ví dụ:
Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở sách xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Trang 25Chim ri ríu rít bò ra lấy phần
(ca dao)
Ý nghĩa của bài ca dao không không phải là ở tính chất bi hài của xã hội chim chốc mà là sự phê phán tệ nạn ma chay đám cỗ và sự trục lợi từ tệ nạn này trong xã hội nông thôn ngày trước
Tập hợp những cách phân chia về các loại ẩn dụ tu từ của các tác giả ở trên, chúng ta thấy, ẩn dụ tu từ gồm 6 loại sau:
(1) Ẩn dụ chân thực
Ẩn dụ chân thực là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những
nét tương đồng giữa các sự vật hiện tượng
Ví dụ:
Tre non đủ lá đan sàng được chăng ? Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non vừa đủ lá non chăng hỡi chàng ?
(ca dao)
Tre non đủ lá ẩn dụ cho người con gái mới lớn, đan sàng ẩn dụ cho việc đi
lấy chồng hoặc có người yêu
Quá trình liên tưởng bị quy định bởi cách cảm cách nghĩ của một dân tộc tức
là bị quy định bởi những đặc trưng văn hóa Vì thế, có những ẩn dụ không thể giải thích được cơ cấu tổ chức của nó mà chỉ có thể xác định ý nghĩa lâm thời của nó trong từng ngôn bản cụ thể, như trường hợp câu ca dao :
Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay (2) Ẩn dụ bổ sung
Ẩn dụ bổ sung (còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) là loại ẩn dụ dựa
trên cơ sở thay đổi cảm giác [4, tr156-157]
Hay nói một cách cụ thể hơn, ẩn dụ bổ sung là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngữ
Trang 26Chẳng hạn trong giao tiếp hàng ngày ta vẫn thường nghe: thấy nóng, thấy
lạnh, thấy nhớ, thấy đau, thấy ngon, thấy chua, thất đắng, giọng hát ngọt ngào, giọng nói chanh chua,…
Hoặc màu cánh sen, màu xanh nõn chuối, màu lông chuột, màu
huyết, màu da báo,…
Trong văn chương, ẩn dụ bổ sung được sử dụng khá phổ biến và tạo ra một hiệu quả nghệ thuật rõ rệt Có thể thấy trong câu thơ sau trong bài thơ
Tây Tiến của Quang Dũng:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Mưa xa khơi là mưa giữa biển khơi chỉ có mông lung trời nước (rộng, lờ
mờ, không rõ nét), trong khi đó Pha Luông là núi, Tây Bắc là địa bàn không
có biển Vì vậy, đây là hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, Quang Dũng sâu
xa muốn nói đến cái mông lung, mờ ảo giữa bốn bề trời khơi
Hay, trong câu thơ sau của nhà thơ Tố Hữu :
Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh
Dòng thơ tươi xanh là hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, vì tươi xanh là từ dùng để chỉ trạng thái, màu sắc của những vật cụ thể, nhưng ở đây
tác giả đã dùng nó để chỉ một khái niệm trừu tượng dòng thơ
Ẩn dụ bổ sung xuất hiện nhiều trong văn xuôi, đặc biệt trong văn
Nguyễn Tuân biện pháp tu từ này được thể hiện rất hiệu quả Ví dụ: Chao ôi,
trông con sông, vui sướng thấy nắng giòn tan Sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng… (Nguyễn Tuân)
Giòn tan là từ ngữ biểu thị đặc điểm của những vật cứng khi bị bẻ
gãy, vỡ như bánh tráng, gỗ, kính,…nhưng ở đây, tác giả đã dùng để chỉ hiện
tượng tự nhiên nắng Như vậy, hình ảnh nắng giòn tan là một hình ảnh ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác của nhà văn (từ vị giác, thính giác sang thị giác)
(3) Ẩn dụ tượng trưng
Trang 27Ẩn dụ tượng trưng là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng, mang ý nghĩa
biểu tượng [19, tr34]
Ví dụ:
Ngọn lửa sống không bao giờ tắt
Hình ảnh ngọn lửa sống là biểu tượng đẹp của người cách mạng trong
cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
(4) Nhân hóa:
Theo quan niệm truyền thống, nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người khiến cho đối tượng đó trở nên sinh động và
gần gũi hơn Ví dụ, trong ngôn ngữ thường ngày ta vẫn thường nghe : cửa
cổng kêu rống lên, lúa chín quá giấc, na mở mắt, đá đổ mồ hôi, lúa đang thì con gái,…
Trong ca dao, nhân hóa khá phổ biến :
Vì sương nên núi bạc đầu Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa
Nhân hóa có thể khiến cho ngoại giới trở nên gần gũi với với thế giới con người, vì thế trong thơ hiện đại, nhân hóa cũng là một phương thức tu từ đắc dụng:
(Xuân Diệu)
Về mặt hình thức, nhân hóa có được cấu tạo theo hai cách:
- Dùng những từ chỉ tính chất hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người Chẳng hạn:
“Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù Tre xung phong vào
xe tăng đại bác Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa
Trang 28chín Tre hi sinh để bảo vệ con người Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!” (Thép Mới)
- Coi đối tượng không phải con người như con người và tâm tình trò chuyện với nhau:
Đêm nằm than thở, thở than Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi?
(ca dao)
Hay, trong thơ:
Gà gáy sáng Thơ ơi mang cánh lửa Hãy bay đi Con chim kêu trước cửa
Dừa ơi dừa, người bao nhiêu tuổi?
Mà lá tươi xanh mãi đến giờ?
(5) Vật hóa
Vật hóa (còn gọi: vật cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, trong đó
người ta dùng môt hình thức di chuyển thuộc tính, dấu hiệu ngược chiều lại với nhân hóa, tức là lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của loài vật, đồ vật để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người, nhằm mục đích châm biếm, đùa vui, và nhiều khi qua đó để thể hiện tình cảm thái độ sâu kín của mình [14, tr64]
Ví dụ: nổ là âm thanh của pháo, của súng đạn thường được gán cho
những người có tính ồn ào vô lối hoặc ba hoa, khoe khoang, phô trương:
“Nãy tới giờ thằng đó nó nổ đấy thôi, chứ thực ra con bồ nó không lộng lẫy đến mức đấy đâu!”; kẻ hay xu nịnh thì bị gọi là hót (tiếng chim): “Bình thường con Hoa nó ăn nói cọc cằn, thô lỗ dễ sợ, hôm nay thấy nó tay bắt mặt mừng và hót lia lịa trước lão giám đốc ngân hàng làm mình thấy sởn tóc gáy”; tương tự như cách dùng các từ sủa (tiếng chó), gáy (tiếng gà), ong ỏng,
Trang 29gầm gừ (tiếng chó, mèo),…để biểu thị hoạt động nói của ai đó Trong văn
chương trào phúng, vật hóa để lại những tiếng cười rất thú vị:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên, bỏ lọ gánh chồng đi chơi
Trong hai câu thơ trên, tác giả sử dụng biện pháp vật hóa bằng cách lấy
đặc điểm tiêu biểu của từng loài như mắt mèo, mũi chó, râu dê để chỉ lũ giặc
xâm lược nhằm thể hiện thái độ, tư tưởng của mình
Nhân hóa và vật hóa vừa có chức năng nhận thức vừa có chức năng biểu cảm, được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ văn chương
(6) Phúng dụ
Phúng dụ là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng hình ảnh
cụ thể, sinh động để biểu thị một triết lý nhân sinh hay một bài học luân lý đạo đức nhằm làm cho nội dung vấn đề thâm thúy hơn Có thể hiểu rõ biện pháp này thông qua ví dụ của Hữu Đạt ở trên
1.1.2.2 Nhóm hoán dụ tu từ
a Khái niệm
Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình trong
cuốn Phong cách học tiếng Việt đưa ra khái niệm: “Hoán dụ là cách chuyển đổi
lâm thời tên gọi ở đối tượng này sang biểu thị một đối tượng khác, dựa trên mối quan hệ khách quan, vật chất hoặc logic có tính chất gần gũi nhau giữa hai sự vật”
Ví dụ:
Trang 30Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Tố Hữu)
Áo chàm là một hoán dụ, biểu thị đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc
Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt cũng
cho rằng: “Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này
dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng”
Ví dụ:
Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa chừng chưa thôi
(Nguyễn Du)
Đầu xanh biểu thị con người ở độ trẻ trung mới bước vào đời “Má hồng”
biểu thị người đàn bà sống kiếp lầu xanh
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Phong cách học tiếng Việt:
“Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó”
Hữu Đạt trong cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại: “ Hoán dụ là cách
tạo tên gọi mới cho đối tượng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn tả sinh động nội dung thông báo mà người nói muốn đề cập (…) Nguyên tắc của hoán dụ là lâm thời chuyển đổi tên gọi, trong đó “sự vật được nói tới” phải không xuất hiện trên văn bản”
Ví dụ:
“Thằng mũi lõ đã làm hại dân mình”
Thằng mũi lõ là hoán dụ biểu thị cho bọn Tây
Tựu trung lại, chúng tôi hiểu về hoán dụ tu từ như sau: Hoán dụ tu từ là cách
cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng, nhằm nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện
Trang 31Ví dụ:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm lỡ để trên đầu
Trái tim sẽ thay đổi nhịp đập theo từng trạng thái khác nhau nên được dùng
để chỉ tình cảm Đầu là nơi chứa bộ óc, điều khiển tư duy, suy nghĩ nên được dùng theo nghĩa lí trí
Về mặt cấu tạo, hoán dụ tu từ cũng có hai yếu tố là cái được hoán dụ và cái dùng để hoán dụ Nhưng trên bề mặt ngôn ngữ, cái được hoán dụ không xuất hiện trực tiếp
b Phân loại
Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình trong cuốn Phong cách học tiếng Việt chia hoán dụ tu từ thành 4 kiểu sau :
(1) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
(2) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa vật chứa đựng và vật bị chứa đựng Ví dụ:
Vì sao trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên Người Hồ Chí Minh
(Tố Hữu) (3) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung (cải danh) (4) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa số ít và số nhiều
Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt chia hoán dụ từ thành 8 kiểu như sau :
(1) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
(2) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc
(3) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa hành động tính chất và kết quả của hành động tính chất
(4) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa hành động và chủ thể
(5) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa số lượng và số lượng
Trang 32(6) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa đựng (7) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng
(8) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa tên riêng, tên nhân vật và tính cách con người
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Phong cách học tiếng Việt chia hoán dụ tu từ thành 4 loại :
(1) Hoán dụ (dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể)
(1) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
(2) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa đặc điểm của sự vật và sự vật (thực ra đây là hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc)
(3) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa đựng
Tập hợp những cách phân chia về các loại ẩn dụ tu từ của các tác giả trên, chúng ta thấy, hoán dụ tu từ gồm 8 loại sau:
(1) Hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Hoán dụ bộ phận và toàn thể là hoán dụ tu từ theo quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Ví dụ:
Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên
Trang 33Chẳng hạn, trong đời sống thường ngày ta thường nghe: uống chục li bia,
vài bao lúa, cả làng đổ ra xem, cả hội trường im lặng,…
Trong văn chương nghệ thuật, hoán dụ cải dung được dùng nhiều và mang lại hiệu quả nghệ thuật cao
Ví dụ:
Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy Đang xông lên chống Mỹ tuyến đầu
Miền Bắc, miền Nam (vật chứa đựng) biểu thị nhân dân sống ở miền Bắc,
miền Nam (vật dược chứa đựng)
(3) Hoán dụ cải danh
Tức là loại hoán dụ biểu thị mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung [19, tr36]
Ví dụ:
Những hồn Trần Phú vô danh Sóng xanh biển cả cây xanh ngút ngàn
(Tố Hữu)
Trần Phú – người chiến sĩ cách mạng kiên cường
(4) Hoán dụ cải số
Hoán dụ cải số, tức là hoán dụ theo quan hệ giữa số lượng với số
lượng Theo Đinh Trọng Lạc (trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng
Việt), hoán dụ cải số là hoán dụ tu từ được cấu tạo theo mối liên hệ giữa số ít
và số nhiều, giữa con số cụ thể và con số tổng quát
Chẳng hạn, trong đời sống hằng ngày ta thường hay nghe: trăm công
nghìn việc, trăm phương nghìn kế, trăm người như một, ba chân bốn cẳng,
ba cái thằng ranh con,…
Trong ca dao, hoán dụ cải số cũng xuất hiện khá nhiều:
Cầu này cầu ái cầu ân Một trăm con gái rửa chân cầu này
Trang 34Một trăm (số lượng xác định) biểu thị rất nhiều, không kể hết (số
lượng không xác định
(5) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc
Hoán dụ chủ thể và vật sở thuộc là hoán dụ tu từ được xây dựng từ quan
hệ giữa chủ thể với vật sở thuộc [19, tr37]
Ví dụ:
Mồ hôi mà đổ xuống đồng Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương
Mồ hôi” (kết quả) biểu thị lao động căng thẳng, vất vả (hành động)
(7) Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa hành động và chủ thể
Trang 35Đê vỡ, nạn đói (cụ thể) biểu thị sự tàn phá, kiệt quệ (trừu tượng), mùa vàng năm tấn, bảy tấn (cụ thể) cuộc sống mới ấm no (trừu tượng)
Cơ sở để tạo nên hoán dụ là quan hệ logic khách quan, quan hệ tiếp cận giữa các sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm giác Vì thế có bao nhiêu mối quan hệ sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo hoán dụ tu từ
1.1.3 Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng với ẩn dụ, hoán dụ tu từ
Ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ đều dùng tên gọi của đối tượng này để gọi tên đối tượng kia dựa vào sự giống nhau giữa hai đối tượng,
Hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ đều dùng tên gọi đối tượng này gọi tên đối tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng
Tuy nhiên, giữa ẩn dụ, hoán dụ từ vựng và ẩn dụ, hoán dụ tu từ có những
điểm khác biệt, cụ thể biểu hiện thông qua bảng sau:
Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng là hai
phương thức chuyển nghĩa tạo nghĩa từ
vựng cho từ, nó diễn ra trong hệ thống từ
ngữ
Ẩn dụ và hoán dụ tu từ: cách cá nhân lâm thời, lấy tên gọi của sự vật này để gọi cho sự vật khác (ẩn dụ: dựa trên cơ
sở liên tưởng về những nét tương đồng giữa hai sự vật; hoán dụ: dựa trên mối quan hệ logic khách quan giữa hai sự vật)
Ẩn dụ, hoán dụ từ vựng bao giờ cũng
mang tính cố định xã hội, vì nó đã được
đưa vào từ điển va sử dụng phổ biến
Cá nhân lâm thời, mang tính sáng tạo của người viết
Sự chuyển nghĩa của ẩn dụ, hoán dụ từ
vựng sẽ tạo ra từ mới, nghĩa mới
Không tạo ra từ mới, nghĩa mới mà chỉ
là cách nói hình ảnh, cách nói đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật mà thôi
học)
Trang 361.2 Tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh
1.2.1 Đôi nét về Hữu Thỉnh và phong cách nghệ thuật của ông
a Đôi nét về nhà thơ Hữu Thỉnh
Nhà thơ Hữu Thỉnh tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942 huyện Tam Dương (nay huyện Tam Đảo), tỉnh Vĩnh Phúc Ông sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học và từng trải qua một tuổi thơ nhiều vất
vả Hữu Thỉnh học tập ở trường quê, năm 20 tuổi ông vào bộ đội tăng thiết giáp, đi vào cuộc chiến tranh bằng công việc cụ thể là chiến đấu trực tiếp ở các chiến trường Trải qua các trận chiến, với một tâm hồn đa cảm, mỗi ngày sống là lại thêm bao thương nhớ ngổn ngang, và nó trở thành thơ ông
Năm 1982, Hữu Thỉnh về làm việc tại Tạp chí văn nghệ Quân đội, đến năm
1989, được cử làm Tổng biên tập báo Văn nghệ
Hữu Thỉnh đã từng tham gia vào Ban chấp hành Hội nhà văn các khóa 3, 4,
5 Hiện nay ông là bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật trung ương, Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du
Gần 30 năm cầm bút, Hữu Thỉnh đã để lại một số lượng khá lớn những tác
phẩm có giá trị Thơ thời kháng chiến chống Mỹ: tập thơ Tiếng hát trong rừng (22 bài, trong đó, bài Mùa xuân đi đón đoạt giải Ba, Chuyến đò đêm giáp ranh đoạt giải
A trong cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ), trường ca Đường tới thành phố (với
trường ca này, năm 1980, Hữu Thỉnh đã được nhận giải thưởng Hội nhà văn Việt
Nam), trường ca Sức bền của đất (giải A), Thơ sau 1975: tập Trường ca biển ( năm 1994, được Bộ quốc phòng trao tặng giải xuất sắc), tập thơ Thư mùa đông (nhận được giải văn học ASEAN), Thương lượng với thời gian,…
b Hữu Thỉnh – một phong cách nghệ thuật độc đáo
Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ
đã khẳng định vị trí và bản lĩnh sáng tạo của mình qua hai chặng đường lớn: thơ ca những năm chống Mỹ cứu nước và thơ ca đương đại Việt Nam
Trang 37Chiến trường Trường Sơn không chỉ là không gian, địa điểm ông làm nhiệm
vụ của một người lính mà đó còn là nơi đem đến cho nhà thơ nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật vô tận Nhân dân, tổ quốc và những người lính đánh trận là các đối tượng và nguồn cảm hứng lớn cho thơ ông nói riêng, thơ ca thời chống Mỹ nói chung Tuy cùng viết về một đề tài nhưng mỗi tác giả lại có cách thể hiện riêng, Hữu Thỉnh cũng vậy Nếu hình tượng tổ quốc trong thơ chống Mỹ được thể hiện ở những phương diện như truyền thống văn hóa, lịch sử, đặc điểm địa lý,…thì tổ quốc trong thơ ông được hóa thân vào hình tượng quê hương qua cái nhìn chủ quan của nhân vật trữ tình:
Mùa xuân hẳn bắt đầu Trên quê mình lất phất Mấp máy lúa chiêm lên
Cỏ đội bờ thả sức
Ở đây nghe rõ nhất
Bao lời quê nhắn nhe
Đất nước, nhân dân trong thơ ông cũng mang những dáng dấp riêng, đặc biệt
biệt: “Bao trùm lên toàn bộ sáng tác của Hữu Thỉnh là cảm về đất nước, nhân dân
Đất nước của anh là một Việt Nam kiên cường, bất khuất đã khẳng định và hoàn thiện tư cách dân tộc của mình Nhân dân của anh là những số phận thầm lặng, những con người biết chịu đựng và biết hi sinh” (dẫn theo [27, tr73] Có thể thấy rõ
điều này qua đoạn thơ sau trong trường ca Sức bền của đất:
Chiến dịch mở ra khi thời vụ bắt đầu Mang cái rét giêng hai đi đánh giặc Mang chất thép định hình trên bàn cát Qua những cánh đồng đang sủi tăm phù sa
Ta chao chân trên những mảnh bờ Lặng lẽ nhận ra sức bền của đất
Trang 38Trong hoàn cảnh ác liệt, Hữu Thỉnh luôn gắn bó hồn thơ mình với hiện thực chiến trường Ông đã nói thật sâu sắc, thấm thía những hi sinh gian khổ, những tổn thất đau thương của đời sống chiến tranh nhưng không yếu đuối, bi lụy:
Một tháng vã hành quân Hai chân phồng dộp cả Quấn băng vẫn còn đau Nhiều lúc đi bằng đầu
(Mùa xuân đi đón)
Đi bằng đầu là hình ảnh hoán dụ cho ý chí, đi bằng đầu là đi bằng sức mạnh
Dù viết về chiến tranh, quê hương, đất nước hay tình yêu, thơ Hữu Thỉnh luôn thấm đẫm sắc vị dân gian Ông thường đi sâu khai thác cái hay, cái đẹp của nền văn hóa dân tộc từ đó sáng tạo nên những vần thơ mang màu sắc, tâm lý của con người hiện đại Đó là con đường đi rất riêng của nhà thơ Hữu Thỉnh, ông không
hề tô vẽ quá hào nhoáng để thể hiện phong cách riêng cho mình mà ông bám rễ vào dân tộc, quê hương, đất nước để thỏa sức sáng tạo
Sau năm 1975, hòa bình lập lại, con người trở về với cuộc sống đời thường với muôn màu muôn vẻ của nó, đồng thời phải đối mặt với nhiều khía cạnh phức tạp của đời sống thì văn học cũng đã kịp thời thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại: thay đổi về quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người, đề tài, thi pháp,…Hòa vào dòng chảy chung ấy, Hữu Thỉnh đã có những đổi mới hòa quyện với sự vận động chung của nền văn học, song cũng đã tạo cho mình một chỗ đứng, một phong cách riêng đặc biệt
Trang 39Cảm hứng chủ đạo trong thơ Hữu Thỉnh giai đoạn này là cảm hứng đời tư thế sự Với một hồn thơ nhạy cảm, Hữu Thỉnh luôn trăn trở về số phận con người,
về cuộc đời, nhân tình thế thái, điều này thể hiện rõ qua hai tập thơ Thư mùa đông
và Thương lượng với thời gian.Thơ ông thường có sự kết hợp giữa phẩm chất dân
tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ dâng trào của xúc cảm,… Và đây cũng chính là những đóng góp, tìm tòi của Hữu Thỉnh góp phần vào sự đổi mới cho thi ca Việt Nam
Với thơ tình yêu, ông không có những say đắm, mạnh mẽ của tuổi trẻ nhưng lại có một giọng điệu riêng trong tâm tình Hữu Thỉnh dường như biết nói khác
những điều trong tình yêu dường như đã cũ Chính vì vậy, người ta nhớ Thơ viết ở
biển của Hữu Thỉnh, nhớ những si mê: “Anh muốn bế cả chiều/ Hôn lên ngày gặp mặt” (Bình yên)
1.2.2 Giới thiệu về tập thơ Thư mùa đông
Thư mùa đông thuộc giai đoạn sáng tác sau 1975, được viết trong khoảng
thời gian từ năm 1981-1989 Tập thơ gồm 36 bài: Đi dưới cây , Ấm lạnh, Bình yên,
Buổi sáng thức dậy, Chạm cốc với Xa-in, Chăn-đa em ơi, Chiếc vó bè, Cuối năm,
Em, Em còn nhớ chăng, Hạnh phúc, Hỏi, Im lặng, Lời thưa, Một ngày, Mưa đá, Mười hai câu, Nghe tiếng cuốc kêu, Người ấy, Những kẻ chặt cây, Phan Thiết có anh tôi, Qua cầu Tràng Hương, Tám câu, Tìm người, Tôi bước vào thành phố, Tạm biệt Sầm Sơn, Tạp cảm, Thành phố bạn bè, Thảo nguyên, Thơ dưới mái hiên, Thơ viết ở biển, Thư mùa đông, Trông ra bờ ruộng, Trước tượng Bay-on , Vu vơ Đây là
tập thơ đánh dấu sự đổi mới trong thi ca của Hữu Thỉnh Tập thơ mang tính hướng
nội sâu sắc, đó là một cuộc hành trình đi tìm mùa nhân nghĩa, những giá trị nhân
bản của hạnh phúc và tình yêu thương con người trước sự đổi thay của xã hội
Tập thơ Thư mùa đông là mốc quan trọng trong hành trình thơ Hữu Thỉnh,
nó cho thấy sự đổi mới và biến chuyển của thơ ông sau kháng chiến chống Mỹ Thư
mùa đông thể hiện cảm hứng của tác giả về quê hương, đất nước và con người trong
cuộc sống đời thường, tiểu biểu với các bài thơ: Hỏi, Cuối năm, Trông ra bờ ruộng,
Phan Thiết có anh tôi, Nghe tiếng cuốc kêu, Chiếc vó bè,…Đây là các bài thơ thể
Trang 40hiện cái nhìn gần gũi của nhà thơ đối với quê hương, đất nước với những con người của cuộc sống đời thường Bên cạnh cảm hứng về quê hương, đất nước thì cảm hứng thế sự - đời tư đươc xem là cảm hứng chủ lưu trong tập thơ này Đây chính là những trăn trở, lo âu, day dứt, suy tư của nhà thơ về cuộc sống con người trước
những đổi thay liên tục của xã hội: Hỏi, Tôi bước vào thành phố, Buổi sáng thức
dậy, Đi dưới cây, Nghe tiếng cuốc kêu, Hạnh phúc, Đó còn là một hồn thơ có sự
trăn trở về văn chương, nghề nghiệp: Tạp cảm, Mười hai câu, Chạm cốc với
Xa-in,…Và đôi khi còn là những trăn trở về chính cuộc sống gia đình tác giả Cảm
hứng về tình yêu là cảm hứng chi lưu trong Thư mùa đông: Ấm lạnh, Thơ viết ở
biển, Em còn nhớ chăng, Chăn-đa em ơi, Thư mùa đông, Im lặng,…
Với những cách tân, đổi mới về mặt nội dung cũng như hình thức, năm 1995,
tập thơ Thư mùa đông đã được trao giải A – giải thưởng Hội nhà văn và cũng nhờ
tập thơ này, tác giả đã được nhận giải thưởng văn học ASEAN