1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học âm nhạc tại trường cao đẳng sư phạm gia lai

140 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đồng thời nắm bắt những thuận lợi, khó khăn của đơn vị để tìm ra những biện pháp quản lý hoạt độ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN LÊ QUÂN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC

TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Lê Quân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể đối tượng nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp mới của đề tài 5

9 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 6

1.1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1.1 Một số nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học âm nhạc ở khu vực Đông Nam Á 6

1.1.2 Một số nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở

trong nước 7

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 9

1.2.1 Quản lý, Quản lý giáo dục 9

1.2.2 Hoạt động dạy học 12

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 15

1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc 17

1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 17

1.3.1 Mục tiêu hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP 18

Trang 4

1.3.2 Chương trình dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP 19

1.3.3 Nội dung dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP 21

1.3.4 Phương pháp, hình thức dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP 23

1.3.5 Yêu cầu đối với dạy học Âm nhạc trong giai đoạn hiện nay ở trường CĐSP 26

1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 28

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP 28 1.4.2 Quản lý hoạt động dạy của giảng viên 29

1.4.3 Quản lý hoạt động học của học sinh - sinh viên 37

1.4.4 Quản lý môi trường dạy học 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 44

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI 44

2.2 TỔ CHỨC KHẢO SÁT 45

2.2.1 Nội dung khảo sát 45

2.2.2 Quy trình khảo sát 45

2.2.3 Phương pháp khảo sát 45

2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 48

2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV và HSSV về tầm quan trọng của dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai 48

2.3.2 Đánh giá của CBQL, GV, HSSV về nội dung, chương trình dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học do Bộ GD&ĐT quy định 49

2.3.3 Thực trạng hoạt động dạy Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai 50

Trang 5

2.3.4 Thực trạng hoạt động học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai 54

2.3.5 Thực trạng về môi trường phục vụ học tập Âm nhạc 60

2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 61

2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy Âm nhạc tại trường CĐSP

Gia Lai 61

2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học Âm nhạc tại trường CĐSP

Gia Lai 69

2.4.3 Thực trạng quản lý môi trường dạy học 72

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 75

2.5.1 Mặt mạnh 75

2.5.2 Mặt hạn chế 75

2.5.3 Cơ hội 76

2.5.4 Thách thức 76

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI 78

3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP 78

3.2 NGUYÊN TĂC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP 78

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 78

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính nhất quán 78

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 79

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 79

3.3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 79

Trang 6

3.3.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, SV về tầm

quan trọng của hoạt động dạy học Âm nhạc 79

3.3.2 Nhóm biện pháp tăng cường quản lý chương trình giảng dạy âm nhạc 83

3.3.3 Nhóm biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy Âm nhạc của GV 85

3.3.4 Nhóm biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động học Âm nhạc trong của HSSV trường CĐSP Gia Lai 96

3.3.5 Nhóm biện pháp phát triển, cải tiến công tác quản lý môi trường dạy học 99

3.4 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 104

3.5 KHẢO NGHIỆM VỀ MẶT NHẬN THỨC TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 105

3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 105

3.5.2 Quy trình khảo nghiệm 105

3.5.3 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai 106

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 109

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

DANG MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV, HSSV về ý nghĩa của

dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai 48

Bảng 2.2 Mức độ phù hợp của nội dung, chương trình dạy

Bảng 2.3 Đánh giá thực hiện mục tiêu giảng dạy Âm nhạc 51

Bảng 2.4 Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy

Bảng 2.5 Thực trạng sử dụng phương pháp, hình thức dạy học 53 Bảng 2.6 Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học Âm nhạc 54

Bảng 2.7 Đánh giá về việc thực hiện nề nếp, ý thức học tập

Bảng 2.13 Thực trạng quản lý thực hiện chương trình, nội dung

Bảng 2.14 Thực trạng quản lý giờ lên lớp của giảng viên 65

Bảng 2.15 Thực trạng quản lý dự giờ và phân tích sư phạm bài

Trang 8

Bảng 2.16 Thực trạng quản lý đánh giá kết quả học tập của

Bảng 2.17 Thực trạng quản lý hồ sơ chuyên môn 69

Bảng 2.18 Thực trạng quản lý việc giáo dục phương pháp học

Bảng 2.19 Thực trạng quản lý nề nếp, thái độ học Âm nhạc 71 Bảng 2.20 Thực trạng quản lý hoạt động tự học Âm nhạc 71 Bảng 2.21 Thực trạng quản lý hoạt động VHVN 72 Bảng 2.22 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất 73 Bảng 2.23 Thực trạng quản lý yếu tố môi trường xã hội 74 Bảng 2.24 Thực trạng quản lý chế độ, chính sách 74

Bảng 3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc

Bảng 3.2 Kết quả đánh giá mức độ cấp thiết và mức độ khả

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mỗi thời kì lịch sử, nền giáo dục Việt Nam đều có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đảng và nhà nước đã xác định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng

đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Cùng với khoa học công nghệ,

giáo dục và đào tạo được coi là nền tảng, là động lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc

đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn

lực con người - yếu tố cơ bản về phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững”

GD&ĐT nước ta những năm qua đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Song chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội, chưa giải quyết mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người, chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn đổi mới chậm, quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập, xu hướng thương mại hóa và sa sút

đạo đức trong giáo dục còn chậm được khắc phục, hiệu quả thấp

Để khắc phục tình trạng trên và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đổi mới giáo dục và vấn đề cấp thiết Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định:

“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng

Trang 10

cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội” [22] Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-

2020 cũng đã đề ra 8 giải pháp lớn để đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó

“Đổi mới quản lý giáo dục” là giải phát đột phá

Trong nhà trường Cao đẳng và Đại học, đội ngũ giảng viên đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo Nếu không có đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu với trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực sư phạm giỏi thì không thể nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học

Đổi mới cách dạy, cách học, cách quản lý quá trình dạy học trong các

nhà trường là để nâng cao chất lượng dạy học, quản lý dạy học Hoạt động dạy học giữ vai trò quan trọng chi phối cho các hoạt động khác, mọi hoạt

động trong nhà trường đều phải hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học Đây là

hoạt động đặc trưng trong nhà trường, bởi không có hoạt động dạy học cũng

đồng nghĩa là không có nhà trường và chất lượng của hoạt động dạy học là

thước đo về trình độ năng lực của người thầy nói chung và trình độ năng lực của người quản lý giáo dục nói riêng Việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đồng thời nắm bắt những thuận lợi, khó khăn của đơn vị để tìm ra những biện pháp quản lý hoạt

động dạy học có hiệu quả luôn là một vấn đề cần thiết và được nhiều người

quan tâm đặc biệt là những người làm công tác quản lý giáo dục

Giáo dục Âm nhạc là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần , Giáo dục Âm nhạc trong nhà trường các cấp nhằm

Trang 11

từng bước nâng cao trình độ văn hoá âm nhạc của HSSV góp phần phát triển

sự nghiệp giáo dục của đất nước, đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp Âm nhạc của HSSV Việt Nam và quốc tế Sự kết hợp giữa Âm nhạc với các mặt giáo dục

khác "không chỉ là một trong những phương tiện để nâng cao sản xuất xã hội

mà còn là phương thức duy nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện" [3]

QL HĐDH ở trường Cao đẳng là một công việc không hề đơn giản đối với nhà QL và còn khó khăn hơn đối với việc QL HĐDH Âm nhạc Do vậy,

đổi mới và nâng cao chất lượng QLGD, nâng cao trình độ nghiệp vụ QL cũng

như việc nhận thức đúng về công tác QL HĐDH Âm nhạc của nhà QL sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Âm nhạc ở bậc học Cao đẳng

Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung

và công tác quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP Gia Lai nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý đổi mới

giáo dục hiện nay Nhận thức rõ vấn đề này nên tác giả chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai " làm luận văn tốt nghiệp

Hoạt động dạy học môn Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học môn Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học Âm nhạc ở trường Cao đẳng Sư phạm

4.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP Gia Lai

4.3 Đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động dạy học Âm nhạc đã được trường CĐSP Gia Lai đã được quan tâm, tuy nhiên còn nhiều bất cập Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý có tính cấp thiết và khả thi cao sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy

và học Âm nhạc trong điều kiện hiện nay

6 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

Thời gian nghiên cứu: 2010-2015

Qui mô nghiên cứu: hệ Cao đẳng, hệ Trung cấp các ngành SP Âm nhạc, Mầm non, Tiểu học

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thu thập tư liệu và các công trình nghiên cứu, đọc, phân tích theo từng

bộ phận, từng mặt, theo lịch sử để hiểu một cách đầy đủ, toàn diện vấn đề nghiên cứu Từ đó liên kết các thông tin từ nguồn tư liệu đã đọc và phân tích

để xây dựng hệ thống lý thuyết phù hợp với vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra:

Sử dụng hệ thống câu hỏi đóng, và câu hỏi mở để khảo sát cán bộ, giảng viên và Sinh viên trường CĐSP Gia Lai nhằm tìm hiểu thực trạng dạy

Trang 13

học và quản lý dạy học Âm nhạc, những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học

âm nhạc của sinh viên

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên Nội dung xoay quanh vấn đề dạy và học Âm nhạc, thực trạng dạy và học Âm nhạc tại trường hiện nay

7.2.3 Phương pháp quan sát

Nghiên cứu các hoạt động dạy học Âm nhạc của cán bộ, giảng viên và biểu hiện của sinh viên nhằm thu thập thông tin

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Xây dựng trưng cầu ý kiến của những nhà giáo dục trực tiếp làm công tác dạy học cho sinh viên

7.2.5 Phương pháp xử lý số liệu thống kê toán học

Dùng chương trình SPSS (Statistical Package for Social Sciences)

8 Đóng góp mới của đề tài

Khảo sát và phân tích có hệ thống thực trạng dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại

trường CĐSP Gia Lai

9 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Cơ sở lí luận quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP

Chương 2: Cơ sở thực tiễn biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP Gia Lai

Kết luận, khuyến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

DẠY HỌC ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

1.1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Một số nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học âm nhạc ở khu vực Đông Nam Á

Giáo dục nghệ thuật nói chung và giáo dục Âm nhạc nói riêng là một thành phần không thể thiếu trong giáo dục bắt buộc ở hầu hết các nước trên thế giới, cho dù ở những nước có sự khác việt về địa lí, chính trị, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, xã hội… Những nước càng phát triển thì lại càng chú trọng tới giáo dục Âm nhạc và nghệ thuật cho học sinh, và ngược lại, chỉ những nước giàu mạnh mới đủ điều kiện để làm tốt công việc giáo dục nghệ thuật

Hai nhà tư tưởng lớn của châu Á và châu Âu, đã đánh giá rất cao vai trò

của giáo dục Âm nhạc và nghệ thuật Từ xưa, Khổng Tử đã nói: “Đi qua nhà nào nghe thấy tiếng nhạc, biết được nhà đó có hiền đức”, còn Vic-to-Huy-gô thì đánh giá: “Nghệ thuật làm cho một dân tộc nô lệ trở thành tự do, làm cho một dân tộc tự do trở thành vĩ đại” Những nghiên cứu ở Nhật Bản gần đây

cho thấy giáo dục Âm nhạc không chỉ đem lại sự phát triển nhân cách và những kỹ năng xã hội, người ta thấy rằng giáo dục Âm nhạc còn làm phát triển các năng lực của học sinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau như Toán, Khoa học, khả năng đọc và ngôn ngữ … Các nghiên cứu cũng đã mang lại những bằng chứng cho thấy, đơn thuần chỉ nghe nhạc từ lứa tuổi nhỏ có thể giúp cho trí não phát triển, vì thế một chương trình giáo dục Âm nhạc được soạn thảo dài hạn sẽ đem lại lợi ích nhiều hơn, giáo dục Âm nhạc khiến trẻ em trở nên thông minh và trở thành những nhân cách tốt hơn

Trang 15

Giáo dục Âm nhạc của một số nước trong khu vực Đông Nam Á mang tính mở Từ trường tiểu học đều có đào tạo Âm nhạc Tuy nhiên, dạy Âm nhạc không nằm trong chương trình bắt buộc chính khóa của hệ thống GD quốc gia mà được thực hiện chủ yếu trong chương trình ngoại khóa của các trường, môn học Âm nhạc ở trường trung học là môn tự chọn không bắt buộc Giáo dục Âm nhạc trong trường phổ thông khá phong phú với nhiều thể loại khác nhau kể cả âm nhạc dân gian và âm nhạc chuyên nghiệp Các trường học

đều được khuyến khích hình thành các ban nhạc, các đội hợp xướng Mặc dù

vậy, ở một số nước không có chương trình khung của môn Âm nhạc cho các cấp học, mà Âm nhạc được dạy theo cách riêng của mỗi trường Vì thế, HS muốn học thể loại Âm nhạc nào, tự đăng ký với nhà trường, nhà trường sẽ bố trí mời giáo viên đến dạy Đây là điểm khác biệt lớn giữa GD Âm nhạc các nước và Việt Nam

Ở bất cứ đâu trên thế giới, Âm nhạc cũng có vai trò quan trọng trong

cuộc sống Việt Nam với định hướng GD Âm nhạc đúng đắn nhằm đào tạo con người mới phát triển hài hòa và toàn diện

Như vậy, hoạt động dạy học Âm nhạc ở một số quốc gia Đông Nam Á

là hoạt động GD Âm nhạc, vì vậy vấn đề QL hoạt động GD và DH Âm nhạc cũng được thực hiện theo cách riêng của từng trường

1.1.2 Một số nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở trong nước

Giáo dục và Đào tạo trong thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi lớn,

đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã làm thay đổi

chức năng và nhiệm vụ của người quản lý nhà trường, của giáo viên, đòi hỏi người quản lý và các giáo viên phải có những kỹ năng, năng lực mới trong quản lý và giảng dạy Phương pháp quản lý của cán bộ quản lý và hoạt động

Trang 16

dạy học nói chung, môn Âm nhạc nói riêng cần phải có sự nghiên cứu đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với thời đại ngày nay

Đã có nhiều tác giả trong ngoài nước nghiên cứu các đề tài Âm nhạc và

những vấn đề liên quan tới loại hình nghệ thuật này Các công trinh nghiên cứu

đã đưa ra được những vấn đề lý luận chủ yếu làm cơ sở cho sự phát triển các

lĩnh vực biểu diễn, đào tạo, nghiên cứu, lý luận, tạo điều kiện cho các nhà hoạt

động Âm nhạc nói riêng, nghệ thuật nói chung có một tư duy và cách nhìn

nhận vấn đề có cơ sở khoa học hơn Một số tác giả đề cập đến vấn đề dạy học,

đổi mới phương pháp giảng dạy môn Âm nhạc, hoặc nghiên cứu về lĩnh vực

biểu diễn, lý luận Âm nhạc hoặc các môn học cụ thể trong ngành Âm nhạc Các vấn đề nghiên cứu khoa học về QL GD, QL HĐDH được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, nhưng QL HĐDH Âm nhạc lại rất ít Các tài liệu như:

Nguyễn Minh Toàn và Nguyễn Hoành Thông (2000) “Âm nhạc và phương pháp dạy học T1 - T2”

- Hoàng Long, Hoàng Lân (2002), Phương pháp dạy học âm nhạc, Tập I,II,III, Nxb Giáo dục

- Hoàng Long, Hoàng Lân - Phương pháp dạy học âm nhạc- Nxb Đại

học sư phạm 2004

- Hoàng Long, Hoàng Lân (2005) [40], “Phương pháp dạy học Âm nhạc”

- Năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Cao đẳng sư phạm nhạc hoạ Trung ương (nay là trường Đại học sư phạm nghệ thuật Trung ương) tổ chức “Hội thảo khoa học về đổi mới nội dung, phương pháp dạy- học Âm nhạc ở các trường sư phạm, phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông”

- Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho xuất bản Tập 1 “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III môn Âm nhạc”

- Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho xuất bản Tập 2 “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III môn Âm nhạc”

Trang 17

Có thể đề cập ở đây công trình nghiên cứu của tác giả Đoàn Tiến Dũng với đề tài “ Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Âm nhạc ở các trường THCS Thành phố Thanh Hóa”, tác giả Mai Thị Cúc với đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở các trường THCS huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” Hai đề tài nghiên cứu khá sâu về lĩnh vực QL HĐDH và QL nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra được những tồn tại về hoạt động dạy học, chất lượng dạy học và điều kiện dạy học Âm nhạc,

đưa ra được hệ thống cơ sở lý luận của các biện pháp QL hoạt động của nhà

trường, đồng thời nghiên cứu các thực trạng QL HĐDH của môn học, đề ra giải pháp nhằm khắc phục thực trạng nhà trường Có thể coi đây là hai công trình nghiên cứu hiếm hoi trong lĩnh vực QL HĐDH về nghệ thuật

Tóm lại QL HĐDH không phải là nội dung mới nhưng QL HĐDH Âm nhạc là lình vực chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt

là đi sâu nghiên cứu vấn đề QL HĐ DH Âm nhạc cho HSSV trong trường CĐSP Gia Lai

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Quản lý, Quản lý giáo dục

a Khái niệm QL

QL là một nhân tố của sự phát triển xã hội QL là hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người C Mác coi QL là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội

"Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay một lao động chung nào tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu có một sự chỉ đạo để điều hoà các hoạt động

cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung cuả cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể

Trang 18

sản xuất đó "Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [1]

Theo tác giả Trần Kiểm, QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [11]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [4]

QL vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật, chính vì vậy trong hoạt

động QL người QL phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích

Khái niệm QL được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, song đều

có chung những dấu hiệu chủ yếu là: hoạt động QL được tiến hành trong một

tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tính hướng đích, phối hợp

sự nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Tóm lại: QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành

động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu

đề ra một cách hiệu quả nhất

QL có 4 chức năng, tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với chức năng khác Qúa trình ra quyết định QL là quá trình thực hiện các chức năng QL theo một trình tự nhất định Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào trong số các chức năng đều ảnh hưởng xấu tới kết quả QL Các chức năng tạo thành một chu trình QL của một hệ thuống, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 19

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các chức năng QL

b Khái niệm QL giáo dục

Giáo dục và QL giáo dục là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về QL giáo dục

Theo PGS-TS Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội” [1]

“QLGD là những tác động có kế hoạch, có mục đích của chủ thể QL

đến các mắt xích của hệ thống giáo dục, làm cho hệ thống vận hành hợp lý,

sử dụng tối ưu nguồn lục xã hội giành cho giáo dục để nâng cao tri thức, đào tạo nhân lực, bồi dường nhân tài.” [18]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: QLGD là tổ chức các hoạt động dạy

học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ thể hoá giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [7]

Như vậy dù theo tác giả nào thì khái niệm QLGD cũng đều chứa đựng các nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể QLGD, ở tầm vĩ mô là

QL của nhà nước mà cơ quan QL trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng giáo dục, còn ở

Kế hoạch

Chỉ đạo

Trang 20

tầm vi mô là QL của Hiệu trưởng nhà trường Phải có hệ thống tác động QL theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo của xã hội những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng

QLGD có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn

đề xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ cho công

tác giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QL giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng QL quan trọng nhất

1.2.2 Hoạt động dạy học

“Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, cùng với hoạt

động giáo dục, hoạt động dạy học góp phần tạo nên chất lượng giáo dục - đào

tạo của nhà trường” [22]

Dạy học là hoạt động kép gồm hai hoạt động: “Dạy” do giáo viên đảm nhận và “học” do học sinh đảm nhận Dạt hướng đến học, điều khiển học và làm cho học thành công, vì thế học là hoạt động trung tâm và là xuất phát

điểm của hoạt động dạy học Quá trình dạy học là hoạt động thống nhất giữa

người dạy và người học Trong đó dưới vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của người dạy, người học tự giác tích cực độc lập, sáng tạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

a Hoạt động dạy

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân

Tác dụng của hoạt động dạy: hoạt động tổ chức điều khiển của người dạy giúp cho quá trình của người học vận dụng được đúng hướng, đúng quy luật tạo điều kiện cho hoạt động học đạt được hiệu quả cao nhất tránh được sự

mò mẫn không cần thiết

Trang 21

Mục đích của hoạt động dạy là cải biến và hoàn thiện hoạt động nhận thức, kĩ năng thực hành của học sinh, là hình thành và phát triển nhận cách của các em phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của xã hội, mục đích của hoạt động học là nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, giá trị văn hóa của loài người để lại, trên

cơ sở đó hình thành năng lực sáng tạo trong việc cả tạo tự nhiên và xã hội

Phương tiện của hoạt động dạy bao gồm những công cụ vật chất, phương pháp, hình thức tổ chức tác động sư phạm, tổ chức quản lí, trong đó phải kể tới cả những phẩm chất nhân cách và năng lực sư phạm của giáo viên, phương tiện của hoạt động học bao gồm những công cụ vật chất, những phương pháp và hình thức tổ chức các loại hoạt động nhận thức, khoa học

định hướng giá trị, hoạt động sản xuất, chính trị xã hội, văn hóa - thẩm mĩ, thể

dục thể thao mà học sinh được tổ chức tham gia

Kết quả hoạt động của dạy là chất lượng và trình độ mới của hoạt động

và giao lưu của học sinh đã được hình thành, kể cả chất lượng và trình độ mới

về sự phát triển nhân cách của học sinh Kết quả của hoạt động dạy còn thể hiện ở sự hoàn thiện trình độ tri thức và kĩ năng giáo dục, sự thoả mãn những nhu cầu chính trị, đạo đức, nghiệp vụ của giáo viên

Với tư cách là chủ thể của hoạt động học: người học chủ động xây dựng mục tiêu, kế hoạch, nội dung, phương pháp cho việc thực hiện mục tiêu riêng phù hợp với điều kiện của bản thân Hoạt động này giúp cho người học biến những yêu cầu học tập thành nhận thức khả năng thái độ của mình, phù hợp với bản thân

Trang 22

Hoạt động học chỉ có thể được tiến hành khi con người có khả năng

điều khiển hành động của mình bằng mục đích tinh thần được đặt trước một

cách ý thức

“Hoạt động dạy và hoạt động học có mục tiêu riêng của mình nhưng lại

có mục tiêu chung chính là sự phát triển nhân cách của học sinh Thể hiện tốt hoạt động dạy giúp người học có điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu của hoạt động học một cách thuận lợi, tránh được sự mò mẫm không cần thiết Hoạt động học giúp người học trực tiếp chiếm lĩnh tri thức phát triển kỹ năng, kỹ xảo phát triển nhân cách đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động dạy” [23]

Để đạt được hiệu quả của hoạt động giáo dục - đào tạo, cần có sự phối

hợp hài hòa, tích cực giữa chủ thể của hoạt động dạy và chủ thể của hoạt động học Trong đó, hoạt động dạy điều khiển hoạt động học, hoạt động học tuân thủ hoạt động dạy Hoạt động dạy và hoạt động học luôn được thực hiện

đồng thời với cùng một nội dung, hướng tới cùng một mục đích Việc dạy tốt

sẽ tạo điều kiện cho học tốt, việc học tốt đòi hỏi phải dạy tốt Nếu hai hoạt

động này tách rời, chỉ có hoạt động của người dạy hoặc chỉ có hoạt động của

người học sẽ không tồn tại quá trình dạy học, và dĩ nhiên sẽ không còn ý nghĩa gì khi bàn đến chất lượng đào tạo Sự tác động qua lại giữa người dạy

và người học là mối quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng hướng tới mục đích chung - vì người học, hoàn thiện nhân cách, phát triển trí tuệ cho người học Sự tác động qua lại này quy định sự tồn tại của qua trình dạy học, quy định sự tồn tại của các nhân tố khác: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học…Sự tác

động thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học tạo nên sự

phát triển không ngừng của quá trình dạy học

Trang 23

c Hoạt động dạy học Âm nhạc

Dạy học Âm nhạc là một quá trình tác động qua lại giữa GV và HSSV

nhằm truyền thụ hệ thống kiến thức Âm nhạc, hình thành và phát triển kỹ

năng, kỹ xảo và tháo độ cần thiết trong lĩnh vực Âm nhạc cho HSSV, HSSV

nhận thức và lĩnh hội chúng, qua đó thực hiện được mục đích giáo dục

Âm nhạc

Trong quá trình dạy học Âm nhạc, hoạt động dạy và hoạt động học

thống nhất biến chứng với nhau, trong đó sự nỗ lực của GV và HSSV tạo nên

sự cộng hưởng của chính quá trình dạy học Hai mặt hoạt động này phối hợp

chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và

ngược lại

Hoạt động dạy học Âm nhac là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức,

điều khiển của người GV, HSSV tự giác, tích cực, chủ động biết tự tổ chức, tự

điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm thực hiện những

nhiệm vụ dạy học

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác

động cho mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho

hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện

được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm

hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái

mới” [16]

Quản lý hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thể

quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học

sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình

thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của

nhà trường

Trang 24

Quản lý hoạt động dạy học cũng là quản lý quá trình dạy học vì mục

đích, nhiệm vụ dạy học được thực hiện đồng thời, thống nhất với nhau trong

quá trình dạy của thầy và quá trình học của học sinh

Quản lý quá trình dạy học là quản lý quá trình cân bằng động Các thành

tố của quá trình dạy học của hệ thống tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện nhiêm vụ dạy học để đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học Như vậy, quản lý hoạt động dạy học là làm cho các thành tố của hệ thống dạy học vận hành và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò nhằm biến đầu vào (trình độ ban đầu của học sinh) thành đầu ra (sản phẩm dạy học) phát triển cả

số lượng và chất lượng theo yêu cầu phát triển KT-XH và GD&ĐT

Ngoài ra, quản lý hoạt động dạy học cần đảm bảo mối quan hệ giữa các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, kết quả, mối quan hệ giữa thầy và trò của quá trình dạy học Do đó, quản lý hoạt động dạy học cần quản lý đồng bộ các thành tố đó và phải được tiến hành đồng bộ

từ quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, quản lý đội ngũ sư phạm, quản lý

điều kiện và môi trường làm việc đến cơ chế tổ chức, hoạt động điều hành,

kiểm tra, đánh giá, phối hợp các lý luận giáo dục trong và ngoài nhà trường

Trong điều kiện đổi mới giáo dục, dạy học hiện nay, nội dung quản lý hoạt động giảng dạy và học tập bao gồm cả việc tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy Đây chính là một nội dung vừa có tính lâu dài, vừa

có tính thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục, đồng thời cũng là nội dung quan trọng số một của lãnh đạo các cơ sở giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tạo động cơ thúc đẩy nâng cao động lực lao động có vị trí quan trọng của quá trình quản lý hoạt động dạy học

Quản lý HĐDH có thể hiểu là hoạt động quản lý những tác động dạy và học, theo những mục tiêu xác định Đó là hoạt động có tính mục đích, được tổ

Trang 25

chức một cách khoa học của hiệu trưởng nhằm tổ chức, chỉ đạo một cách khoa học các hoạt động dạy và học trong nhà trường, hướng vào những mục tiêu đã định

1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc

QL HĐDH Âm nhạc là hệ thống các tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đầy mạnh hoạt động dạy học Âm nhạc của GV và hoạt động học Âm nhạc của HSSV để đạt được mục tiêu dạy học Âm nhạc đề ra

QL HĐDH Âm nhạc thực chất là QL quá trình truyền thụ tri thức Âm nhạc của đội ngũ GV và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, hình thành thái

độ tình cảm cần thiết trong lĩnh vực Âm nhạc của HSSV, quản lý CSVC phục

vụ dạy học, quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong đó cơ bản là QL quá trình dạy học Âm nhạc của GV với quá trình học Âm nhạc của HSSV trong nhà trường

QL HĐDH Âm nhạc chính là quá trình QL hoạt động dạy môn Âm nhạc của thầy, vì thế đòi hỏi người quản lý phải nắm vững mục đích, nội dung, yêu cầu của hoạt động dạy học Âm nhạc để đưa ra những quyết định

QL đúng đắn, đồng thời đảm bảo mềm dẻo, linh hoạt để đưa hoạt động dạy của GV vào kỷ cương, nề nếp, nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình,

1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM

Với tư cách là một chức năng xã hội, giáo dục - đào tạo con người là nhiệm vụ trực tiếp của nhà trường các cấp, trong đó có đào tạo và giáo dục thẩm mỹ, giáo dục nghệ thuật Nó được tiến hành trong một quá trình có tổ chức kế hoạch chặt chẽ với nhiều giai đoạn và nhiều hình thức, nội dung hoạt

động giáo dục khác nhau, hợp thành một hệ thống, mà ta vẫn gọi là Trí - Đức -

Trang 26

Thể - Mĩ, hướng vào việc lĩnh hội những giá trị văn hóa, những kinh nghiệm xã hội của con người, xây dựng và phát triển ở con người những nhân cách mới, căn cứ vào mục đích, yêu cầu, điều kiện giáo dục của xã hội qui định

Việc “coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mĩ, giáo dục âm nhạc” là mặt giáo dục đến nay đã được quan tâm cao, nên đòi hỏi chúng ta hơn lúc nào hết phải đặt mạnh vấn đề không chỉ là triển khai rộng khắp mà còn tổ chức học tập môn Âm nhạc một cách có kết quả ở các cấp học

Nếu ở con người, nhu cầu về thẩm mĩ là nhu cầu tinh tế và cao quý, ý thức về cái đẹp, cái hay là ý thức có tính nhân loại cao, thì trong cấu trúc nền giáo dục phổ thông hiện đại, giáo dục thẩm mĩ nói chung và giáo dục Âm nhạc nói riêng, phải là bộ phận mang tính đặc thù, có cấp độ cao tương xứng với nó

Giáo dục Âm nhạc là một hình thức giáo dục nghệ thuật mang tính đặc thù Nó có khả năng liên kết, sử dụng cũng như hỗ trợ vào tất các các hình thức nội dung giáo dục khác, để đạt hiệu quả cao trong công việc thực hiện những yêu cầu mục tiêu giáo dục, Ở từng cấp học, từng đối tượng có những hình thức đào tạo khác nhau, nhưng chức năng chủ yếu của giáo dục Âm nhạc

là giáo dục thẩm mĩ

1.3.1 Mục tiêu hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP

a Đối với HSSV hệ không chuyên Nhạc (ngành Tiểu học, Mầm non)

- Trang bị cho HSSV một số kiến thức, kỹ năng ca hát, đọc và nghe nhạc, lý thuyết âm nhạc, kiến thức về sử dụng Nhạc cụ đơn giản, để HSSV có thể tham gia vào các hoạt động âm nhạc cộng đồng, cũng như tham gia giảng dạy những môn năng khiếu có sử dụng Âm nhạc, hoặc tích hợp Âm nhạc vào các môn học khác để giảng dạy

Trang 27

- Hình thành cho HSSV nhận thức và có khả năng truyền đạt cho học sinh những hiểu biết về cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc, về ý nghĩa

và tác dụng của âm nhạc với đời sống

- Mở rộng hiểu biết về truyền thống âm nhạc dân tộc Việt Nam, tinh hoa âm nhạc thế giới, góp phần bồi dững tình cảm đạo đức, trí tuệ, tạo không khí vui tươi lành mạnh, làm phong phú thế giới tinh thần nhằm phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách người học

b Đối với sinh viên chuyên ngành SP Âm nhạc

Bên cạnh những mục tiêu đối với hệ không chuyên, sinh viên chuyên ngành Âm nhạc còn đòi hỏi nhiều yêu cầu về đào tạo

- Trang bị những kiến thức Lý thuyết Âm nhạc chuyên sâu như: Hòa

động phong trào

1.3.2 Chương trình dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP

Chương trình dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP bao gồm nhiều môn khác nhau đối với hệ chuyên và không chuyên Cho nên, có thể nhóm các môn học thành 2 nhóm chính là Lý thuyết và Thực hành

a Đối với HSSV hệ không chuyên Nhạc (ngành Tiểu học, Mầm non)

Đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp giúp HSSV có kiến thức chuyên

môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo Trong đó:

Trang 28

- Ngành SP Tiểu học với môn Âm nhạc và PP Dạy học Âm nhạc gồm các phân môn: Nhạc lý, Xướng âm, Học hát, Nhạc cụ, PPDH Âm nhạc

- Ngành SP Mầm non với các môn: Nhạc lý, Nhạc cụ (dành riêng cho

hệ Cao đẳng), Hát, Âm nhạc và PP giáo dục Âm nhạc cho trẻ, Múa và PP dạy trẻ vận động theo Âm nhạc

- Ngành SP Tiếng anh, SP Ngữ văn với môn Thường thức Âm nhạc Dạy Âm nhạc cho các ngành này không đặt ra yêu cầu quá cao về kiến thức, kỹ năng Âm nhạc SV ngành Sp Tiếng anh, SP Ngữ văn học môn Thường thức Âm nhạc để nắm được, hiểu được về Âm nhạc và vận dụng vào trong công tác phong trào ở nơi công tác HSSV ngành SP Tiều học, Mầm non vận dụng vào giảng dạy ở trường Tiều học và Mầm non

b Đối với HSSV hệ chuyên nhạc

SV tốt nghiệp ngành SP Âm nhạc có những phẩm chất cơ bản của người GV nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nắm vững lý luận chính trị

Có đủ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ đảm bảo được những yêu cầu đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy và học, kiểm tra

đánh gia kết quả GD dạy học môn Âm nhạc Có tiềm lực để không ngừng

giàn thiện trình độ đào tạo ban đầu, vươn lên đáp ứng yêu cầu mới

Đối với ngành này, đào tạo chuyên sâu các kiến thức Âm nhạc gồm: Lý

thuyết Âm nhạc cơ bản, Hình thức thể loại Âm nhạc, Lịch sử Âm nhạc Việt nam và Thế giới, Hòa thanh ứng dụng, Phân tích tác phẩm, Đọc ghi nhạc, Nhạc cụ, Hát, Chỉ huy dàn dựng hát tập thể, Âm nhạc cổ truyền Việt nam, PPDH Âm nhạc, Múa, Dàn dựng chương trình tổng hợp,

Mục đích để SV có kiến thức về Âm nhạc, vận dụng giảng dạy Âm nhạc tại các trường Tiểu học, Phổ thông Ngoài ra, họ cũng chính là những người phát hiện, tìm kiếm, bồi dưỡng và đào tạo học sinh có năng khiếu Âm nhạc, nâng cao khả năng hoạt động Âm nhạc cho học sinh

Trang 29

Ngoài nội dung giảng dạy các học phần Âm nhạc vừa nêu trên thì một nội dung khá quan trọng trong việc dạy học Âm nhạc chính là việc nâng cao kỹ năng thực hành Âm nhạc cho HSSV dưới nhiều hình thức: nâng cao nội dung thực hành các môn đào tạo kỹ năng cơ bản (Đọc ghi nhạc, Đàn Organ, Hát, Chỉ huy dàn dựng hát tập thể, Múa ), hướng dẫn thực hành cho SV trong hoạt động biểu diễn VHVN, hướng dẫn cách tổ chức thiết kế các hoạt động VHVN

1.3.3 Nội dung dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP

a Nhóm môn Lý thuyết

- Lý thuyết Âm nhạc: HSSV sẽ có những kiến thức cần thiết và hệ thống cho việc nghiên cứu các nhân tố cơ bản như: độ cao, đọ dài, tiết tấu, quãng, điệu thức, hợp âm, mối tương quan của hợp âm… giúp HSSV có đủ trình độ hiểu biết về lý thuyết âm nhạc để thực hiện tốt việc giảng dạy môn

âm nhạc tại trường

- Lịch sử Âm nhạc thế giới và Việt Nam: Trang bị cho HSSV những kiến thức khái quát và có hệ thống về lịch sử phát triển âm nhạc của loài người nói chung, thông qua một số hiện tượng âm nhạc, tiêu biểu của các quốc gia trên thế giới, của Việt Nam, thông qua các thành tựu âm nhạc trong từng giai đoạn hoặc qua những đóng góp của tác giả nổi tiếng

- Hình thức và thể loại Âm nhạc: HSSV được trang bị những kiến thức

về hiểu biết nguyên tắc cấu trúc các hình thức âm nhạc đơn giản và tính chất một vài thể loại âm nhạc phổ biến Đồng thời có khái niệm ban đầu về một vài hình thức thể loại âm nhạc lớn và phức tạp Sau đó, HSSV sẽ vận dụng kiến thức đã học để phân tích hình thức, thể loại của các ca khúc, dân ca trong chương trình giảng dạy

Trang 30

- Âm nhạc cổ truyền Việt Nam: HSSV có được những kiến thức sơ giản

về các loại nhạc khí, các thể loại ca nhạc cổ truyền và một số nét khác biệt giữa các cùng âm nhạc trong nước Tập sử dụng bước đầu một vài kỹ thuật cơ bản của một loại nhạc cụ cổ truyền đơn giản hoặc phổ biến của địa phương hoặc các vùng dân tộc khác trong nước Qua đó, củng cố và nâng cao lòng yêu mến,

tự hào với những di sản âm nhạc cổ truyền của dân tộc để có thể truyền lại cho học sinh trong những bài giảng Âm nhạc thường thức sau này

- Hòa âm ứng dụng và phối bè: giúp HSSV nắm vững những kiến thức

cơ bản về hòa âm, hình thành kỹ năng nối tiếp các hợp âm, các lối tiến hành kết để ứng dụng vào việc phối bè cho ca khúc

- Phương pháp dạy học Âm nhạc: HSSV có kỹ năng thực hiện phương pháp dạy học âm nhạc và tổ chức các hoạt động ngoại khóa âm nhạc thông qua việc nắm vững cơ sở lý luận chung về dạy học âm nhạc, cũng như các mục tiêu nội dung chương trình giảng dạy

b Nhóm môn Thực hành

- Đọc ghi nhạc: Rèn luyện cho HSSV đọc và ghi được các bản nhạc có

từ 0 đến 7 dấu ở cả ba dạng tự nhiên - hòa thanh - giai điệu, trong phạm vi chuyển điểu cấp 1 ở cả khóa Sol và Fa, ở các loại nhịp đơn, nhịp phức, nhịp hỗn hợp Đọc và ghi các bài ở dạng cơ bản của điệu thức 5 âm hoặc một số làn điệu dân ca quen thuộc

- Hát; Hát dân ca: Trang bị cho HSSV kiến thức về tư thế hát, biết sử dụng âm thanh tự nhiên để hát rõ lời, có diễn cảm Biết thể hiện các bài hát phổ thông và ca khúc quần chúng đúng phong cách, thể loại, thể hiện các kỹ năng hát tập thể cơ bản để sử dụng trong giảng dạy Nghe, thể hiện và phân biệt được các loại hình dân ca của các dân tộc, vùng miền…

Trang 31

- Nhạc cụ: Giúp HSSV nắm được những kỹ thuật cơ bản cần thiết của

đàn phím điện tử, tập phối hòa thanh đệm đàn, tập đàn một số tác phẩm có kỹ

thuật ngón phục vụ cho công tác giảng dạy và tổ chức phong trào

- Đệm đàn: Sau khi HSSV đã nắm được những kỹ thuật cơ bản cần thiết của đàn phím điện tử, những kiến thức tối thiểu về hòa thanh trên đàn để

có thể soạn đệm và đệm đàn một cách thành thạo cho các bài hát phục vụ giảng dạy và công tác phong trào trong ngoài nhà trường

- Múa: bước đầu HSSV biết thể hiện các động tác múa theo tính chất nhịp điệu âm nhạc, có đường nét và có xúc cảm Nắm được phương pháp biên soạn động tác phụ họa cho những bài hát có tính chất âm nhạc khác nhau

- Phương pháp dựng chương trình tổng hợp: Với môn học này, HSSV

được trang bị những kiến thức hiểu biết về hoạt động âm nhạc trong trường

học, nguyên tắc trong việc dàn dựng chương trình biểu diễn Có kỹ năng tổ chức, dàn dựng các hoạt động âm nhạc và biết áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế

- Vi tính chuyên ngành: để cập nhật với những tiến bộ về công nghệ thông tin đối với các môn chuyên ngành âm nhạc, HSSV cần biết cách cài đặt

và sử dụng chương trình viết nhạc trên máy vi tính, có thể sử dụng soạn một bài giáo án điện tử, ghi chép một ca khúc, soạn nhạc đơn giản trên máy tính…

- Thực hành sư phạm âm nhạc: học phần cung cấp cho HSSV một số kiến thức và kỹ năng thực hành sư phạm và sâu trong việc dạy học của giáo viên âm nhạc Đồng thời giúp HSSV tập làm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực âm nhạc

1.3.4 Phương pháp, hình thức dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP

a Phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy,

Trang 32

phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định

Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của người dạy và người học nhằm đạt được mục đích dạy học

Theo tác giả Jean - Mare Dennommé & Madeleime Roy trong cuốn

“Pour Pédagogie Interactive: La triade étudiant - éneignant - Fnvironement” thì các quan điểm về phương pháp dạy học còn được hiểu như các trào lưu sư phạm đương đại Jean - Mare Dennommé & Madeleime Roy cho rằng: thông thường người ta thừa nhận trong giới sư phạm có 4 trào lưu chính:

Quan điểm dạy học tự do: Đây là phương pháp sư phạm tập trung hoàn

toàn vào người học Có thể hiểu đây là phương pháp dạy học hướng vào ý

định chủ quan của người học Người học dựa vào nhu cầu bản thân và thông

tin giáo dục để tự đặt ra mục tiêu, tự chọn nội dung, tự xây dựng kế hoạch, tự chọn người dạy, đồng thời họ học một cách tự do, phiêu lưu nhờ kinh nghiệm cá nhân và hứng thú từng lúc của mình Người dạy phải chiều theo

mong muốn riêng của người học

Quan điểm dạy học đóng: Phương pháp sư phạm đóng dựa vào chương

trình học Dạy học được tuân thủ theo một trật tự lôgic đã có trong chương trình môn học Giáo viên dạy học sinh một cách gò ép theo nội dung và chương trình có sẵn chứ không để ý đến nguyện vọng và phương pháp học

của người học

Quan điểm dạy học bách khoa: Phương pháp này hướng rất rõ vào ý

định chủ quan của người dạy Người dạy đòi hỏi người học phải học những gì

mà người dạy biết và truyền đạt cho người học, nhằm đạt được những kết quả

do người dạy mong đợi Người học bằng lòng tích luỹ những gì mà người dạy

truyền cho mình và chỉ làm chủ các kỹ năng mà người dạy giới thiệu cho mình

Trang 33

Quan điểm dạy học mở (được gọi là không hình thức): Thực chất của phương pháp sư phạm này là dạy học tích cực, hướng vào bộ ba: người học -

người dạy - môi trường Phương pháp này đòi hỏi sự gắn kết giữa người học, người dạy và môi trường, trong đó người học giữ vai trò chủ động, người dạy giữ vai trò chủ đạo, đồng thời họ cùng nhau tận dụng và xử lý những tác động của môi trường (tự nhiên và xã hội) Có tác giả đã gọi phương pháp này là

phương pháp sư phạm tương tác

Mỗi quan điểm thực hiện phương pháp dạy học nêu trên có thế mạnh riêng và đã được vận dụng trong những hoàn cảnh nhất định Tuy vậy, trong thực tế các phương pháp này không hoàn toàn được chủ thể dạy học vận dụng

độc lập, mà chúng thường được vận dụng lồng ghép với nhau, “vay mượn” ít

nhiều cách thao tác của nhau, nhằm hạn chế việc dạy học máy móc (hay thụ

động) và nhằm phát huy việc dạy học có tổ chức (hay chủ động) [24]

b Hình thức tổ chức dạy học

Hình thức tổ chức dạy học là cách tổ chức quá trình học tập cho người học phù hợp với mục đích, nội dung chương trình nhằm đạt tới chất lượng và hiệu quả cao

Hình thức tổ chức dạy học là cách thức sắp xếp và tiến hành quá trình dạy học Hình thức tổ chức còn được coi là cách sắp xếp tổ chức các biện pháp sư phạm thích hợp, tương đối phụ thuộc mục đích, nhiệm vụ dạy học: mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, quan hệ giữa học sinh với nhau, theo

số lượng người học, theo không gian diễn ra quá trình dạy học, theo cơ sở vật chất, thiết bị kĩ thuật phục vụ cho quá trình dạy học

Trong hình thức tổ chức dạy học, yếu tố tổ chức là cực kì quan trọng, bởi nó phản ánh trình tự sắp xếp tương hỗ và sự liên hệ qua lại giữa các yếu tố tồn tại trong một bài học hay quá trình dạy học nói chung Tổ chức dạy học cũng được hiểu như là một trình tự xác định cả về mặt ý nghĩa, chức năng

Trang 34

trong quy trình dạy học, cũng như ý nghĩa cấu trúc tạo ra sự khác nhau giữa các loại bài học

Quá trình dạy học đại học cao đẳng, là quá trình tổ chức, điều khiển và

tự tổ chức, tự điều khiển, trong đó GV là người thiết kế quy trình dạy học, vừa góp phần thi công, còn HSSV vừa thi công, vừa tự thiết kế qui trình tự học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học

Hoạt động dạy học được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Thường có những HTTCDH như: lên lớp (dạy học theo hệ thống bài học ở trên lớp), học ở nhà (tự học), thảo luận, thực hành, tham quan, hoạt động ngoại khoá, giúp đỡ riêng (phụ đạo), vv Ngoài ra còn có các hình thức như diễn giảng, thảo luận, nghiên cứu khoa học, ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, đặc biệt là ở các trường dạy nghề, còn có hình thức thực tập nghề nghiệp Các hình thức tổ chức dạy học thường được thực hiện dưới dạng tổ chức dạy học khác nhau: dạng toàn lớp, dạng nhóm và dạng cá nhân

1.3.5 Yêu cầu đối với dạy học Âm nhạc trong giai đoạn hiện nay ở trường CĐSP

Dạy Âm nhạc ở trường CĐSP không đòi hỏi cao như đào tạo diễn viên chuyên nghiệp ở các trường Văn hóa nghệ thuật, Học viện Âm nhạc, nhưng lại đòi hỏi phải nắm chắc các kiến thức-kỹ năng Âm nhạc để vận dụng vào giảng dạy Âm nhạc và chỉ đạo hoạt động Âm nhạc ở trường học Việc ươm mầm tài năng Âm nhạc cho đất nước đặt ra cho các SV khi ra trường công tác phải có chuyên môn Âm nhạc thật vững vàng, phải nắm được PPDH Âm nhạc, vận dụng được vào trong giảng dạy

Bên cạnh đó, một nội dung khá quan trọng nữa, đó là việc GD cho HSSV thẩm mỹ Âm nhạc đúng đắn, tư chất và năng lực của người làm nghệ thuật… và đặc biệt là GD PPDH Âm nhạc, SV học để làm GV, các em sẽ có

Trang 35

được cách nhìn nhận, đánh giá và thưởng ngoạn Âm nhạc một cách văn minh,

có được phong cách lên lớp, PPDH hiệu quả thông qua việc tích lũy từ chính các giảng viên Âm nhạc trong các giờ lên lớp, các giờ học ngoại khóa, tập luyện và biểu diễn VHVN

Dạy học Âm nhạc cho SV trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi các giảng viên phải thực sự say sưa, hết mình trong việc cung cấp kiến thức, rèn luyện

kỹ năng, rèn nghề, rèn PPDH cho SV, phải thực sự coi trọng công việc giảng dạy, phải là tấm gương sáng không chỉ về tư cách, đạo đức mà cả về khả năng chuyên môn Âm nhạc và phong cách lên lớp giảng dạy bộ môn nghệ thuật Các bài giảng, các hoạt động VHVN của thầy cô chính là khuôn mẫu để SV học tập và đúc rút kinh nghiệm Mục tiêu đào tạo của các thầy cô là mục tiêu kép: Đào tạo giáo viên âm nhạc để các em đào tạo học sinh

Với đặc trưng của các môn thực hành Âm nhạc, lối dạy “truyền nghề” kết hợp với “thị phạm” được sử dụng như một phương pháp riêng biệt GV phải có những giáo án riêng cho từng nhóm HSSV nhằm phát triển tài năng riêng biệt

Hoạt động giảng dạy Âm nhạc chủ yếu là hình thức giảng dạy cơ bản

và hướng dẫn thể hiện bài tập được thể hiện qua hai đặc trưng cơ bản sau:

- Kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết và hướng dẫn thực hành:

Đặc thù của Âm nhạc là thể hiện bài tập, chủ yếu thể hiện qua quá trình

rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên Vì vậy, đặc thù của hoạt động giảng dạy của GV là kết hợp giảng dạy lý thuyết của GV và thực hành tay nghề của sinh viên Đây là quá trình sinh viên hình thành những kỹ năng kỹ xảo cần thiết để có thể tự mình rèn luyện và phát huy khả năng vốn có

- Kết hợp chặt chẽ giữa dạy học tĩnh tại và học tập thực tế:

Hoạt động giảng dạy Âm nhạc cũng đòi hỏi HSSV tham gia học tập từ các hoạt động thực tế như các học phần: Chỉ huy dàn dựng hợp xướng, Tổ

Trang 36

chức hoạt động tổng hợp, Múa… Bên cạnh đó, HSSV tham gia trực tiếp vào các hoạt động phong trào, hoạt động văn hóa văn nghệ Ngoài ra, HSSV phải giảnh thời gian tự học thêm, rèn luyện trong thời gian rảnh rỗi để nâng cao năng lực của mình

Mặc dù yêu cầu khắt khe, nghiêm túc nhưng vẫn phải hết sức quan tâm tới việc tạo không khí của buổi học, tạo tâm thế vui tươi, thoải mái cho người học, giúp người học mạnh dạn, tự tin, say sưa nghiên cứu học tập, không nên quá miễn cưỡng và quan trọng nhất đối với học nghệ thuật chính là sự sáng tạo

1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc tại trường CĐSP

Nghị quyết hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa VII đã ghi rõ “Đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỹ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước…”

Điều 5 của Luật giáo dục đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục Cao đẳng

a Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế

b Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc, có ý thức phục vụ nhân dân

c Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý,

Trang 37

qui luật tự nhiên-xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn

đề thông thường thuộc ngành được đào tạo

Từ những chỉ đạo trên, trong quá trình thực hiện mục tiêu dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP, cần nhận thức đầy đủ mục tiêu trước mắt trong thời gian nhất định, đồng thời phải hình dung những mục tiêu lâu dài cần đạt được HDDH là hoạt động diễn ra thường xuyên và liên tục trong quá trình giáo dục tại nhà trường Do đó, để tổ chức và thực hiện có hiệu quả chất lượng dạy học thì người quản lý cần phải biết phân tích những yếu tố khách quan và chủ quan của các lực lượng, của tình hình kinh tế xã hội địa phương có tác động

đến nhà trường, để xác định mục tiêu chung cho trường, trong đó có mục tiêu

cho việc QL HĐDH

QL HĐDH Âm nhạc tại trường CĐSP:

- QL việc thực hiện đầy đủ nội dung, chương trình, kế hoạch giảng dạy

Âm nhạc ở tất cả các chuyên ngành có học môn Âm nhạc

- QL dạy và học Âm nhạc phải đem lại các hiệu quả thiết thực, HSSV nắm được kiến thức cơ bản, chính xác, có kỹ năng cần thiết, để phát triển tư duy, sáng tạo vận dụng vào đời sống lao động

- Quản lý nề nếp giảng dạy, khắc phục những yếu kém trong quá trình giảng dạy, tiến hành giảm dần và không còn những tiết dạy không đạt yêu cầu, ngày càng có nhiều GV giỏi về chuyên môn

- Xây dựng nề nếp và phương pháp học tập Âm nhạc, giúp HSSV có

động cơ, thái độ học tập đúng đắn, có phương pháp học tập hợp lý

1.4.2 Quản lý hoạt động dạy của giảng viên

a Quản lý đội ngũ giảng viên giảng dạy Âm nhạc

Đội ngũ GV là những thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ giảng

dạy và quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, bồi dưỡng cán bộ

Trang 38

Quản lý đội ngũ GV theo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giảng dạy cần phái chú trọng các phương diện:

* Quản lý số lượng:

Trên cơ sở dự báo về quy mô số lượng HSSV, căn cứ chương trình đào tạo, bồi dưỡng Trên quan điểm tăng cường GV cơ hữu để đảm bảo chủ động trong việc phân công giảng dạy và công tác tại trường, cần bổ sung đội ngũ

GV về số lượng theo quy tắc sau:

Số lượng GV cần thiết bằng tổng số giờ 1 năm/Số giờ định mức của mỗi

GV, tổng số giờ trong một năm bằng số giờ của tất cả các lớp trong 1 năm

Việc phát triển đủ số lượng GV cần thiết để đảm bảo số giờ giảng dạy của GV không vượt quá số giờ qui định theo Thông tư số 36/2010/TT ngày 15/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đôi, bổ sung một số điều của quy định chế độ làm việc đối với GV ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/11/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội)

Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy được quy đổi từ quỹ thời gian giảng dạy cho từng chức danh quy định như sau: GV: 280 giờ chuẩn, GV chính: 300 giờ chuẩn, GV cao cấp: 320 giờ chuẩn

* Quản lý chất lượng

Theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của các trường Đại học, Học viện, chất lượng đội ngũ GV được xác định theo hai mức sau:

Mức 1: có ít nhất 40% đội ngũ GV có trình độ thạc sỹ trở lên và biết

ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyên môn, trong đó có từ 10-25% GV

có trình độ tiến sỹ, 10 đến 20% GV có trình độ ngoại ngữ để làm việc trực tiếp với người nước ngoài

Mức 2: có ít nhất 40% đội ngũ GV có trình độ thạc sỹ trở lên và, trên

25% GV có trình độ tiến sỹ, và trên 20% GV có trình độ ngoại ngữ để làm

Trang 39

việc trực tiếp với người nước ngoài, phát huy quyền tự chủ về học thuật Luật

giáo dục đại học có hiệu lực từ 1/1/2013, GV giảng dạy lý thuyết phải có bằng

thạc sĩ trở lên

* Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ:

Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ GV là một yêu cầu, một

tiêu chuẩn không thể thiếu được trong qúa trình quản lý nhà trường Nó thể

hiện cụ thể ở hai nội dung sau:

- Sử dụng đội ngũ GV : Phân công hợp lý trong chuyên môn, phối hợp

với năng lực chuyên môn trên cơ sở chú ý đến điều kiện của từng GV

- Bồi dưỡng đội ngũ : Bao gồm việc bồi dưỡng thường xuyên theo

chương trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo, theo hình thức bồi dưỡng tại trường

hoặc tham gia các lớp bồi dưỡng do cấp trên mở, bồi dưỡng nâng cao trình độ

nhằm chuẩn hoá đội ngũ GV, bồi dưỡng nâng chuẩn

Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ GV có vai trò quan trọng

Nó có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà

trường Vì vậy, người quản lý phải có chương trình, kế hoạch, chủ động trong

việc bồi dưỡng GV, nhằm từng bước nâng cao trình độ và năng lực sư phạm

cho GV

b Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giảng dạy

Âm nhạc

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo

mục tiêu của nhà trường Nó là pháp lệnh của nhà nước trên cơ sở chương

trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành và chương trình chi tiết do nhà trường

biên soạn

* Quản lý mục tiêu:

Nghị quyết hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa VII đã ghi rõ:

“Đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề

Trang 40

nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỹ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước ”

Điều 5 của Luật Giáo dục đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục đại học cao đẳng:

- Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế

- Đào tạo người học có những phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức,

kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc,

có ý thức phục vụ nhân dân

Từ những tư tưởng chỉ đạo trên, người quản lý trước hết phải có quan

điểm rõ ràng trong việc quản lý mục tiêu và chỉ đạo toàn bộ hoạt động dạy

học môn Âm nhạc Phải có cách nhìn nhận đúng đắn về giáo dục toàn diện

Từ đấy, người quản lý phải giáo dục tư tưởng cho giảng viên và HSSV có nhận thức đúng đắn về dạy và học môn Âm nhạc

* Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình giảng dạy:

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường Là pháp lệnh của nhà nước trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành và chương trình chi tiết do nhà trường biên soạn Kế hoạch dạy học cho từng năm, học kỳ là căn cứ pháp lý để các cấp quản lý tiên hành chỉ đạo, giám sát hoạt động dạy học trong nhà trường, và quản lý công tác giảng dạy của giáo viên Yêu cầu đối với người quản lý là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho giảng viên tuân thủ một cách nghiêm túc, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học Năm vững chương trình dạy học là việc bảo đảm để người quản lý thực hiện tốt chương trình dạy học Bao gồm:

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm