giáo viên phải “chạy đua” với chương trình và với thành tích của trường,… vì thế mà giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc hướng học sinh tới sự phát triển tư duy khoa học, giúp học sinh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới
tất cả các thầy cô giáo trong khoa Vật lý - Trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã quan tâm, dạy dỗ
và tạo mọi điều kiện cho em học tập và rèn luyện tốt
trong suốt 4 năm học qua Đặc biệt, em xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Mỹ Đức thời gian
qua đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em
rất nhiều để em hoàn thành được khóa luận này
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn tới sự
động viên khích lệ của gia đình và bạn bè, những
người đã luôn sát cánh bên em trong quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành khóa luận trong
phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ
không tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo tận
tình và góp ý của quý thầy cô và các bạn
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2015 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Khách thể nghiên cứu: 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu: 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu: 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp của đề tài 3
8 Dự kiến cấu trúc khóa luận 4
Chương 1 5
CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông 5
1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông 5
1.1.2 Mục tiêu giáo dục môn học vật lí THPT ở Việt Nam hiện nay 5
1.1.3 Nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông 6
1.2 Những định hướng chung của việc đổi mới PPDH vật lí ở trường THPT 7 1.2.1 Những khó khăn của việc đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2.2 Những định hướng chung của việc đổi mới PPDH vật lí ở THPT 8
1.3 Cơ sở lí luận chung của mô hình dạy học tích cực 10
1.3.1 Mô hình dạy học truyền thống và những hạn chế 10
1.3.2 Mô hình dạy học tích cực 11
Chương 2 13
DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ (PROBLEM BASED LEARNING – PBL) 13
2.1 Một số định nghĩa về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) 13
2.2 Mục tiêu của phương pháp dạy học vật lí dựa trên vấn đề (PBL) 13
2.2.1 Mục tiêu của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề 13
2.2.2 Mục tiêu của phương pháp dạy học vật lí dựa trên vấn đề 14
2.3 Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) 15
2.4 Phân loại vấn đề 20
Trang 42.4.1 Vấn đề có cấu trúc (well- structured problem) 20
2.4.2 Vấn đề phi cấu trúc (ill- structured problem) 20
2.5.1 Một số mô hình của tiến trình thực hiện PBL 22
2.5.2 Thẩm định và đánh giá 24
2.6 Phân biệt phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) với các phương pháp: dạy học chủ đề, dạy học giải quyết vấn đề và dạy học dự án 26
2.6.1 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học dự án 26
2.6.2 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học giải quyết vấn đề 27
2.6.3 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học chủ đề 28
2.7 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề 28
2.8 Áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trên thế giới 29
2.9 Áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trong bối cảnh giáo dục ở Việt Nam 30
2.9.1 Thực trạng về công tác giảng dạy ở Việt Nam 30
2.9.2 Tính khả thi của việc áp dụng phương pháp PBL tại Việt Nam 31
Kết luận chương 1 và 2 32
Chương 3 33
THIẾT KẾ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC” – VẬT LÍ 11 NC 33
3.1 Phân tích kiến thức của chương “Mắt và các dụng cụ quang học” 33
3.1.1 Cấu trúc nội dung 33
3.1.2 Phân tích nội dung 35
3.1.3 Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy chương “Mắt và các dụng cụ quang học” 39
3.2 Yêu cầu cần đạt được 40
3.2.1 Yêu cầu về kiến thức 40
3.2.2 Yêu cầu về kĩ năng 41
3.2.3 Yêu cầu về thái độ 41
3.3 Thiết kế các vấn đề của chương và kế hoạch thực hiện giải quyết vấn đề 41
3.3.1 Các bước cần thực hiện khi thiết kế các vấn đề 41
3.3.2 Xây dựng vấn đề 43
3.3.3 Tiến trình hướng dẫn học sinh tham gia giải quyết vấn đề 43
3.4 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập 45
Trang 53.5 Giáo án dạy học dựa trên vấn đề, áp dụng cho các bài học của chương
“Mắt và các dụng cụ quang học” 50
3.6 GIÁO ÁN CHO CÁC BUỔI 55
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế đang dần trở thành một nền kinh tế tri thức, tức là một
nền kinh tế mà trong đó có sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết
định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống
Do đó trên thế giới hiện nay việc nâng cao chất lượng nền giáo dục đào tạo cũng được
quan tâm đầu tư phát triển mạnh mẽ
Vì vậy, để nhanh chóng hòa nhập vào xu thế phát triển chung của thế giới, cũng
như đáp ứng được các yêu cầu thách thức đã và đang đặt ra hiện nay thì đòi hỏi nền
giáo dục đào tạo nước ta cần phải có sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy và nâng
cao chất lượng dạy và học Bên cạnh phương pháp dạy học truyền thống cũ như hiện
nay, thì ngành giáo dục cũng cần chú trọng đổi mới và hiện đại hóa các phương pháp
dạy học
Nếu phương pháp dạy học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho
học sinh làm theo một điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưu điểm trên
Song cái khác căn bản ở đây là phương pháp giảng dạy cũ đã phần nhiều “bỏ quên học
sinh” Nên bình thường, học sinh bị động trong tiếp nhận Còn phương pháp giảng dạy
mới phải phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
Đổi mới phương pháp giảng dạy không phải là tạo ra một phương pháp khác
với cái cũ, để loại trừ cái cũ Sự phát triển hay một cuộc cách mạng trong khoa học
giáo dục mới thực chất là tạo được một tiền đề để cho những nhân tố tích cực của cái
cũ vẫn có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, đồng thời tạo ra cái mới tiến bộ hơn, tốt hơn
cái đã có để đáp ứng được đòi hỏi của sự tiến bộ
Theo quan điểm truyền thống, khi giáo viên là trung tâm thì học sinh không
phải là người chủ động tìm đến với kiến thức, do đó trong cách học của các em có
phần thụ động Chính sự thụ động trong học tập sẽ làm hạn chế sự động não, tìm tòi,
thể hiện sự suy nghĩ đa chiều, sự trao đổi chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết và cảm xúc của
người học, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế Đặc biệt là đối với bộ môn
vật lí – một môn học có rất nhiều sự liên hệ với thực tế nhưng thực trạng hiện nay có
một số bộ phận học sinh không có động cơ học môn vật lí Sở dĩ có tình trạng này là
do chương trình học vật lí quá nặng nề học sinh phải lo “vật lộn” với những con điểm,
Trang 7giáo viên phải “chạy đua” với chương trình và với thành tích của trường,… vì thế mà
giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc hướng học sinh tới sự phát triển tư duy khoa
học, giúp học sinh hình thành kĩ năng học tập, trao đổi, chia sẻ thông tin,…và vận
dụng những kĩ năng đó vào giải quyết các vấn đề thực tế cũng như các vấn đề sau này
khi ra đời
Là một sinh viên sư phạm, sắp ra trường và trở thành một người thầy giáo trên
bục giảng, bản thân tôi tồn tại trong mình dòng suy nghĩ: Làm thế nào để học sinh có
hứng thú với môn Vật lí? Làm thế nào để khuyến khích các em động não và tập trung,
chủ động tham gia vào quá trình học tập? Do đó, tôi đã chọn bộ môn phương pháp
giảng dạy để làm khóa luận tốt nghiệp Tôi nhận thấy rằng phương pháp dạy học dựa
trên vấn đề (PBL) có khả năng đáp ứng được nhu cầu của phương pháp đổi mới dạy
học hiện nay Vì vậy, tôi đã chọn và thực hiện đề tài: “Áp dụng phương pháp dạy học
dựa trên vấn đề trong tổ chức dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang” (Vật lý
11- nâng cao)” Hy vọng rằng với đề tài này, tôi có thể chuẩn bị cho mình hành trang
để trở thành người giáo viên tốt trong tương lai Đồng thời tôi cũng hy vọng đề tài này
sẽ giúp ích cho giáo viên và các bạn sinh viên sư phạm trong vấn đề đổi mới phương
pháp dạy và học vật lí
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chủ yếu của đề tài là: Xây dựng một tiến trình tổ chức và hướng dẫn
học sinh các hoạt động giải quyết các vấn đề thực tiễn để từ đó tìm kiến thức mới hoặc
vận dụng kiến thức mới Nội dung này được xây dựng xung quanh chương VII “Mắt
và các dụng cụ quang học” – Vật lý 11 – Nâng cao
3 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống các vấn đề phi cấu trúc có tính thử thách,
những sự kiện không nhất quán gắn liền với thực tế sẽ là khởi điểm thúc đẩy hoạt động
nhận thức của học sinh và thôi thúc học sinh đi tìm kiếm kiến thức để có câu trả lời
thỏa đáng cho vấn đề đặt ra Đây sẽ là điểm góp phần đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, lấy người học làm trung tâm, nâng
cao chất lượng của việc dạy và học Vật lí ở trường phổ thông
Trang 84 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Quá trình dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang” lớp 11 nâng cao và phương
pháp dạy học dựa trên vấn đề áp dụng đối với chương này
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Qui trình thiết kế phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trong giảng dạy chương
VII “Mắt và các dụng cụ quang học” – Vật lý 11 – Nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới PPDH
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lớp 11 – nâng cao
- Nghiên cứu thiết kế các vấn đề phi cấu trúc của chương VII “Mắt và các dụng cụ
quang học”
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: các văn kiện Đảng về đổi mới nội dung, chương trình, phương
pháp dạy học, các tài liệu về giáo dục và các phương pháp giảng dạy vật lí, cơ sở lý
luận của việc dạy học dựa trên vấn đề (PBL), chương trình vật lí 11 – nâng cao
- Nghiên cứu, khai thác tài liệu liên quan đến việc thiết kế các vấn đề phi cấu trúc
- Nghiên cứu, thiết kế tiến trình dạy học dựa trên vấn đề
- Xây dựng được tiến trình học tập theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
đối với chương “Mắt và các dụng cụ quang học”
Trang 98 Dự kiến cấu trúc khóa luận
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Dạy học dựa trên vấn đề (Problem based learning – PBL)
Chương 3: Thiết kế một số vấn đề và định hướng tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề
chương “Mắt và các dụng cụ quang học” – Vật lí 11 Nâng cao
Kết luận
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông
1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông
- Mục tiêu giáo dục ở mỗi quốc gia là do nhà nước đề ra, căn cứ vào yêu cầu phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đó trong hiện tại và tương lai Mục tiêu này sẽ
thay đổi để phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước
- Điều 23, Luật Giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: "giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
1.1.2 Mục tiêu giáo dục môn học vật lí THPT ở Việt Nam hiện nay
* Mục tiêu tổng quát: là phát triển kết quả học tập ở trung học cơ sở, hoàn thiện học
vấn phổ thông, chuẩn bị kiến thức, kĩ năng cho học sinh học đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp cũng như các trường đào tạo nghề, tạo động lực để học sinh tham
gia vào các hoạt động, thích ứng với cuộc sống trong xã hội hiện đại
* Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu kiến thức
+ Chương trình ban khoa học tự nhiên có mục tiêu hoàn thiện cho học sinh hệ thống
kiến thức phổ thông, cơ bản ở trình độ tú tài về vật lí để giúp các em đi vào những
ngành khoa học, kĩ thuật và để sống trong một xã hội công nghiệp hiện đại Đó là:
Những khái niệm tương đối chính xác về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí
thường gặp trong đời sống, sản xuất
Những định luật và những nguyên lí cơ bản được trình bày phù hợp với năng lực
toán học và năng lực suy luận logic của học sinh
Những nét chính về các thuyết vật lí
Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình
Những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng trong đời sống và sản xuất
+ Chương trình ban khoa học xã hội: cũng có đầy đủ các mục tiêu như trên tuy nhiên
ban khoa học xã hội coi trọng việc xây dựng một bức tranh đa dạng, thống nhất về vật
Trang 11lí hơn là đi vào lập công thức tính toán
- Mục tiêu kĩ năng
+ Thu thập thông tin từ quan sát, thí nghiệm vật lí, từ tài liệu và các nguồn thông tin
đại chúng Xử lí thông tin về vật lí
+ Truyền đạt thông tin về vật lí, thảo luận, báo cáo
+ Quan sát, đo lường và sử dụng các công cụ và máy móc đo lường phổ biến
+ Giải thích các hiện tượng vật lí Các kĩ năng thực hành vật lí
+ Đề xuất các dự đoán khoa học, các phương án thí nghiệm
+ Sử dụng các thao tác tư duy logic
- Mục tiêu thái độ:
+ Giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội
+ Sự hứng thú, yêu thích các môn khoa học nói chung và Vật lí nói riêng
+ Ý thức sẵn sàng áp dụng hiểu biết của mình vào các hoạt động của gia đình, xã hội
để cải thiện đời sống và bảo vệ môi trường
+ Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, chu đáo, sáng tạo và trung thực
+ Tinh thần phấn đấu nỗ lực cá nhân cũng như khả năng giao tiếp, làm việc nhóm
trong học tập, nghiên cứu
+ Ý thức quý trọng thành quả lao động
1.1.3 Nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông
1.1.3.1 Đặc điểm của môn học vật lí ở trường phổ thông
- Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho nên
những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên
- Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm Phương pháp của nó chủ
yếu là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức có hiệu quả trên con
đường đi tìm chân lí khách quan
- Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến
thức vật lí có liên quan với các vấn đề của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới
quan khoa học của học sinh
- Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị sử dụng trong đời sống
và sản xuất
- Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kĩ năng quan sát tinh tế,
Trang 12khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy logic chặt chẽ,
biện chứng, vừa phải trao đổi, thảo luận để kiểm định chân lí
1.1.3.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông
- Trang bị cho học sinh những kiến thức vật lí cơ bản, khoa học, hiện đại, có tính hệ
thống, bao gồm: các khái niệm vật lí, các định luật vật lí cơ bản, nội dung chính của
các thuyết vật lí, các ứng dụng của vật lí trong đời sống và sản xuất, các phương pháp
nhận thức phổ biến trong vật lí Bên cạnh đó cần trang bị cho học sinh những kĩ năng,
kĩ xảo tương ứng nhằm làm nền tảng cho họ có thể tham gia lao động sản xuất và tiếp
tục theo học những chuyên ngành khoa học tự nhiên cao hơn ở bậc đại học hoặc tự bồi
dưỡng trong quá trình lao động sản xuất
- Góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, bồi dưỡng năng lực sáng tạo và
khả năng tự học cũng như khả năng hoạt động độc lập của học sinh
- Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, làm cho học sinh
nắm được những nguyên lí cơ bản về cấu tạo, hoạt động của các máy móc được dùng
phổ biến trong nền kinh tế quốc dân Có kĩ năng sử dụng những dụng cụ vật lí, dụng
cụ đo lường, vẽ biểu đồ, xử lí số liệu
1.2 Những định hướng chung của việc đổi mới PPDH vật lí ở trường THPT
1.2.1 Những khó khăn của việc đổi mới phương pháp dạy học
Hằng năm, ngành giáo dục vẫn tổ chức những hội thảo bàn bạc về việc thay đổi
PPDH, áp dụng những phương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới vào điều kiện Việt
Nam nhưng hầu hết các mô hình dạy học quen thuộc phổ biến ở nước ta vẫn là “thầy là
chủ thể”, trung tâm quyết định sự phát triển của trò Với những lợi thế như dạy học tiết
kiệm nhất, nhanh nhất, có năng suất lí thuyết cao nhất vì truyền đạt được số kiến thức
tối đa trong thời gian tối thiểu nên mô hình này vẫn tồn tại Phương pháp này có thể
coi là an toàn nhất đối với giáo viên vì họ có thể chủ động lên kế hoạch về bài giảng,
giảng dạy theo một khuôn mẫu đã xác định trước để đáp ứng cho việc thi cử Nhưng
bên cạnh đó, phương pháp này vẫn tiềm ẩn những nguy cơ Đó là đôi khi người thầy
có thể là bức tường chắn sự phát triển tư duy, khả năng sáng tạo và tính tích cực của
học sinh Cũng do vai trò độc tôn của người giáo viên thì sẽ làm cho họ có xu hướng
ngại “làm mới” phương pháp dạy học của mình, họ không phấn đấu và ngại tiếp nhận
cái mới trong giáo dục Chính những điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học
Trang 13tập của học sinh, đến mục tiêu đào tạo con người mới cho xã hội
1.2.2 Những định hướng chung của việc đổi mới PPDH vật lí ở THPT
- Nghiên cứu áp dụng một cách sáng tạo một số chiến lược dạy học hiện đại
Bên cạnh các PPDH truyền thống thì người giáo viên cần vận dụng một số quan
điểm tích cực của các chiến lược dạy học hiện đại vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta
Dạy học không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà phải chú trọng đến các
phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt là
quan điểm kiến tạo trong dạy học Quá trình dạy học là quá trình giải quyết các vấn đề
thực tiễn trên cơ sở các kiến thức được học Do đó, giáo viên phải luôn tìm cách làm
cho học sinh có thể tiếp thu kiến thức và kĩ năng một cách chủ động, tạo ra sự động
não thực sự của học sinh trong giờ học
Ngoài ra các chiến lược dạy học hiện đại còn hướng tới các mục tiêu khác như:
coi trọng sự phát triển hiểu biết vượt ra khỏi chương trình học, hướng tới phát triển tư
duy bậc cao, coi trọng sự phát triển đa dạng nhân cách của người học, chú trọng đến
thái độ sống và làm việc của con người trong thế kỉ XXI Một số phương pháp dạy
học hiện đại đã và đang được áp dụng trên thế giới: Dạy học Chủ đề (Themse based
learning - TBL), Dạy học Dự án (Project based learning - PJBL), Dạy học dựa trên
Vấn đề (Problem based learning - PBL) Những mô hình dạy học này đã thu được
những kết quả khả quan đối với các nước áp dụng Chính vì thế mà giáo viên cần phải
nghiên cứu các phương pháp này và áp dụng những tư tưởng của phương pháp, của
chiến lược đó vào Việt Nam một cách phù hợp nhất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả của việc dạy và học
- Dạy học bằng hoạt động và thông qua hoạt động
Trong học tập, việc học của học sinh có bản chất là hoạt động, bằng hoạt động
và thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển
năng lực trí tuệ cũng như quan điểm, đạo đức, thái độ Theo chiến lược này học sinh sẽ
không còn thụ động chờ sự “nhỏ giọt” trong việc cung cấp kiến thức bởi người giáo
viên mà các em sẽ chủ động tìm hiểu nội dung, quan sát hiện tượng, tranh luận để rút
ra những kiến thức, sự hiểu biết cho bản thân Do vậy, nhiệm vụ chính của người giáo
viên là phải tổ chức, hướng dẫn và tìm cách kiểm tra kết quả hoạt động học tập của
học sinh, giúp học sinh lĩnh hội được nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triển những
Trang 14phẩm chất tâm lí, hình thành nhân cách
- Bồi dưỡng khả năng tự học cho học sinh
Đổi mới PPDH nhằm đạt tới mục tiêu là đặt học sinh vào vai trò trung tâm, chủ
thể của quá trình học vì thế bồi dưỡng khả năng tự học cho học sinh là việc làm quan
trọng và cần thiết Dù ở môi trường học tập nào đi nữa thì học sinh vẫn phải là người
động não để tiếp thu các kiến thức Chính vì thế mà ngay trong giờ học trên lớp giáo
viên cũng phải rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ và hành động để giải
quyết vấn đề
- Nghiên cứu đổi mới quá trình thực hành, thí nghiệm
Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm nên cần phải coi thực hành vật lí là
một trong những biện pháp quan trọng để thu lượm thông tin từ thực tế Thông qua
thực hành ta xây dựng những biểu tượng cụ thể về sự vật và hiện tượng mà không một
lời lẽ nào có thể mô tả đầy đủ được Trong thực hành, các kĩ năng quan sát, lắp ráp thí
nghiệm, đo đạc, vẽ đồ thị, suy đoán phát triển rất mạnh Vì vậy, trong giờ thực hành
giáo viên không nên hướng dẫn học sinh theo kiểu chỉ đâu làm đấy một cách máy móc
mà nên giúp học sinh nắm được mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm,
cách tiến hành đo đạc, xử lí kết quả thí nghiệm, rút ra kết luận Cách tốt nhất là nên
cho học sinh làm việc theo các nhóm để các em phát huy được tính chủ động, sáng tạo
- Nghiên cứu, sử dụng các phương tiện dạy học và các tài liệu hỗ trợ khác
Ngoài phương tiện chúng ta vẫn hay sử dụng là phấn và bảng thì gần đây chúng
ta cũng nghiên cứu và sử dụng một số phương tiện dạy học hiện đại: máy vi tính, máy
chiếu, các phần mềm dạy học, internet những phương tiện này làm tăng giá trị lượng
thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Tuy nhiên, bên
cạnh những lợi ích tích cực thì các phương tiện hiện đại cũng có một số hạn chế nhất
định nên giáo viên không nên quá lạm dụng sẽ gây phản tác dụng Ví dụ như thí
nghiệm ảo, giáo viên chỉ nên dùng ở những bài học mà không thể làm thí nghiệm trên
lớp được để học sinh dễ hình dung, không nên thay thế các thí nghiệm có thể thực hiện
được bằng thí nghiệm ảo vì nó sẽ gây sự hiểu sai và xa rời thực tế cho học sinh
- Nghiên cứu cách soạn giáo án
Cần phải thay đổi cách soạn giáo án của giáo viên theo mục tiêu đào tạo Trước
kia chúng ta học theo kiểu thầy đọc, trò chép, nên giáo án cũng chỉ dựa theo tiêu chí
Trang 15này, và chính cách học này làm học sinh trở nên thụ động hơn Đổi mới PPDH, giáo
viên cũng cần đổi mới cách thức tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, cụ thể:
+ Trong giáo án phải tổ chức các hoạt động học tập của học sinh thật cụ thể, phần nào
thì học sinh phải làm việc, phần nào thì giáo viên sẽ hướng dẫn, phần nào học sinh
phải tự tìm hiểu ở nhà
+ Cần chuẩn bị trước hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh thông qua các hoạt
động
+ Chuẩn bị các trang thiết bị cũng như đồ dùng dạy học cần thiết cho tiết học
- Nghiên cứu và đổi mới cách kiểm tra đánh giá
Đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì đánh giá cũng phải đổi mới theo
hướng phát triển mọi năng lực của học sinh
Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả
quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn
học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục Như vậy, giáo viên cần nghiên cứu
các hình thức đánh giá, các phương thức và các phương tiện, các tiêu chí để đánh giá
Nên phối hợp nhiều hình thức đánh giá, kiểm tra như trắc nghiệm, tự luận, làm
thí nghiệm Nếu như trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh thì trong
phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh
giá và đánh giá lẫn nhau để tự điều chỉnh cách học Tự đánh giá đúng và điều chỉnh
hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường
phải trang bị cho học sinh
1.3 Cơ sở lí luận chung của mô hình dạy học tích cực
1.3.1 Mô hình dạy học truyền thống và những hạn chế
Mục tiêu giáo dục xác lập trong ba lĩnh vực: nhận thức, kĩ năng và thái độ trong
đó qui định cụ thể những yêu cầu trong lĩnh vực nhận thức, các kĩ năng cơ bản và trình
độ hoàn thiện từng kĩ năng Các mục tiêu này cụ thể hoá thành những tiêu chí đánh
giá chung cho thành quả học tập của học sinh Từ đó cũng hình thành kiểu dạy học
truyền thụ một chiều để đáp ứng các yêu cầu về mức độ đồng hoá kiến thức Mục tiêu
dạy học kiểu truyền thống thể hiện sự chờ đợi kết quả học tập định sẵn ở tất cả các học
sinh, cho dù học sinh có sự khác nhau cá nhân tất yếu như thế nào đều phải đạt đến
Trang 16một chuẩn nhất định sau một môn học, một khóa học nào đó
Mục tiêu này trong một thời gian đã khẳng định được sự ưu việt của nó nhưng
ngay lập tức, nó cũng thể hiện những hạn chế lớn Đó là sự chưa quan tâm đến nhu cầu
cá nhân, sự phát triển toàn diện đa phong cách, đa dạng của mỗi cá nhân, chưa định
hướng tương lai, nghề nghiệp và kĩ năng sống cho học sinh Hiện nay ở các nước có
nền giáo dục phát triển, mục tiêu giáo dục do Unessco đưa ra lại là sự kết hợp hài hòa
giữa các mục tiêu nhân văn đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của cá nhân, của các
phong cách học tập khác với mục tiêu truyền thống của chúng ta Nó hướng tới những
nội dung kiến thức và kĩ năng cần thiết phục vụ cho nhu cầu sự phát triển có định
hướng nguồn nhân lực cho xã hội Để bắt kịp với sự phát triển của thế giới, chúng ta
cũng cần thay đổi quan điểm về mục tiêu giáo dục, nên tìm hiểu và áp dụng những mô
hình dạy học tích cực và hiệu quả hơn vào điều kiện Việt Nam
1.3.2 Mô hình dạy học tích cực
Phương pháp giáo dục mới hướng vào người học, quan tâm đến các nhu cầu
phát triển cá nhân, tạo ra những cơ hội học tập cho học sinh Hình thức tổ chức của các
mô hình dạy học tích cực chủ yếu là theo nhóm hợp tác, trong đó mỗi học sinh đảm
trách một vai trò, thực hiện công việc và phối hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ
được giao Trong nhóm mỗi cá nhân có điều kiện để phát huy năng lực của mình đồng
thời học sinh còn có thể tự điều chỉnh và học tập lẫn nhau Việc phân loại phong cách
học tập và tư duy này còn giúp giáo viên có những can thiệp và giúp đỡ cụ thể đối với
từng học sinh, giúp họ khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt tích cực Các
mô hình dạy học tích cực quan niệm rằng học sinh chỉ thực sự chủ động và tích cực
tham gia vào quá trình học tập khi vấn đề học tập cần giải quyết có mối liên hệ với
thực tiễn đích thực mà họ đang sống và cũng chỉ những vấn đề như vậy mới thực sự
cuốn hút họ phát huy hết khả năng của mình để giải quyết Các mô hình này luôn đặt
học sinh làm trung tâm cho nên học sinh phải được quyết định một phần (hay toàn bộ)
chiến lược học tập, đồng thời học sinh cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết
quả học tập của mình
* Một số phương pháp dạy học tích cực hiện nay như:
- Dạy học theo nhóm: là PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới làm cho bài học
Trang 17trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp thu thụ động từ giáo
viên Sự thành công của bài học sẽ phụ thuộc chủ yếu vào sự tham gia nhiệt tình của
các thành viên trong nhóm
- Dạy học Chủ đề (Themse based learning): là sự kết hợp cách tổ chức học theo lớp
truyền thống với học theo nhóm hợp tác nhưng chủ yếu vẫn là theo nhóm Không gian
học không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn Thời gian học một chủ đề
không nhất thiết trong một hay hai tiết học mà có thể kéo dài trong một vài tuần tuỳ
thuộc vào ý nghĩa và mức độ quan trọng, khó khăn của chủ đề
- Dạy học Dự án (Project based learning): được thực hiện trong những điều kiện xác
định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia
của giáo viên nhiều môn học Hình thức dạy học này phù hợp với việc yêu cầu học
sinh huy động kiến thức tổng hợp hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực để phân tích, tổng
kết, đưa ra kết quả triển khai thực hiện một công việc Hình thức làm việc chủ yếu là
theo nhóm, kết quả của dự án là những sản phẩm có thể được giới thiệu được như các
bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể
- Dạy học dựa trên Vấn đề (Problem based learning): là phương pháp học tập mà chủ
yếu là hướng dẫn học sinh cách học, cách hợp tác với các thành viên trong cùng một
nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống và đồng thời liên
quan đến chương trình học Những vấn đề này được sử dụng để khơi dậy trí tò mò và
khởi xướng nhu cầu học tập Rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy nghiêm túc, kĩ
năng phân tích chuyên sâu cũng như các kĩ năng tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài
liệu hỗ trợ
Trang 18Chương 2 DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ (PROBLEM BASED LEARNING – PBL)
2.1 Một số định nghĩa về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
Theo một số tác giả, PBL được hiểu như sau:
- “PBL là bất kì môi trường học tập nào mà vấn đề đặt ra sẽ điều khiển quá trình học
tập Như vậy một vấn đề nào đó sẽ được giao cho người học trước khi họ được học
các kiến thức Vấn đề đặt ra sao cho người học khám phá rằng họ cần phải học một số
kiến thức nào đó trước khi họ có thể giải quyết vấn đề”– Don Woods
- “PBL là một ví dụ về mô hình người học là trung tâm của việc học và dạy Đó là
phương pháp học tập dựa trên nguyên tắc sử dụng các vấn đề như là khởi điểm cho
việc tiếp thu và tích hợp kiến thức mới” – H.S Barrows
- “PBL vừa là chương trình, vừa là quá trình Chương trình bao gồm những chủ đề
được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người học trong quá trình học phải tích lũy kiến thức
then chốt Quá trình là sự rèn luyện các kĩ năng giải quyết vấn đề thành thạo, phương
pháp tự học, kĩ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện trong những quá trình, những
phương pháp được sử dụng phổ biến trong cuộc sống, trong giải quyết vấn đề” –
Barrows và Kelson
Từ những định nghĩa đã tham khảo, PBL có thể được hiểu là phương pháp
hướng dẫn học sinh cách tự học, cách hợp tác với các thành viên trong nhóm để tìm ra
giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống, đồng thời liên quan đến chương
trình học Những vấn đề này được sử dụng để khởi xướng nhu cầu học tập, rèn luyện
cho học sinh những kĩ năng phân tích vấn đề, tìm kiếm và sử dụng các nguồn tư liệu
hỗ trợ , đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề
2.2 Mục tiêu của phương pháp dạy học vật lí dựa trên vấn đề (PBL)
2.2.1 Mục tiêu của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
* Kiến thức
- Giúp người học nắm chắc và ghi nhớ lâu hơn về kiến thức học được theo chiều rộng
lẫn chiều sâu Đó là do trong quá trình tìm hiểu và giải quyết vấn đề, người học hoàn
toàn chủ động trong việc xác định nội dung có liên quan để nghiên cứu và tìm hiểu,
vận dụng
- Giúp người học tìm hiểu các kiến thức liên môn, có liên quan đến môn học khi họ
Trang 19tham gia giải quyết vấn đề Điều này làm cho kiến thức mà người học thu nhận được
có tính cập nhật và đa dạng
* Kĩ năng
- Hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp, tìm kiếm giải pháp, làm việc nhóm: chia
sẻ kinh nghiệm, thuyết trình, thảo luận, đánh giá trong quá trình học tập nhằm phát
triển kĩ năng giải quyết vấn đề
- Phát triển các kĩ năng sống thông qua việc tham gia vào quá trình học tập
* Thái độ
- Giúp người học cảm thấy gắn bó và yêu thích môn học
- Giúp người học thấy được những giá trị của hoạt động nhóm, chấp nhận những quan
điểm khác nhau, phát triển tư duy phê phán và sáng tạo, nỗ lực học tập không ngừng
để phát triển tư duy
2.2.2 Mục tiêu của phương pháp dạy học vật lí dựa trên vấn đề
Học tập để vận dụng vào cuộc sống, “học đi đôi với hành” đó là mục tiêu cần
phải đạt đến của bất kì môn học nào Căn cứ vào mục tiêu chung của phương pháp dạy
học dựa trên vấn đề, đối với bộ môn vật lí cũng đề ra những mục tiêu riêng
* Kiến thức
- Giúp học sinh tìm kiếm và phát hiện các định luật, các thuyết, các nguyên lí cũng
như các hiện tượng vật lí chứa đựng trong các sự kiện thực tế
- Giúp học sinh có những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm
- Nắm được những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của Vật lí trong
đời sống và sản xuất
- Xây dựng được mối liên hệ giữa các kiến thức vật lí với các kiến thức của các môn
học khác: Toán học, Sinh học, Địa lí, Hoá học
* Kĩ năng
- Biết thu thập thông tin từ quan sát, thí nghiệm vật lí, từ tài liệu và các nguồn thông
tin đại chúng liên quan đến vấn đề đang tìm hiểu
- Biết cách làm việc với thông tin theo nhóm, khai thác, so sánh, sắp xếp thông tin, liên
hệ, suy luận để giải quyết các vấn đề vật lí
- Rèn luyện kĩ năng thực hành vật lí, sử dụng các dụng cụ, chế tạo những thí nghiệm
vật lí đơn giản, đề xuất được các dự án khoa học, phương án thí nghiệm
Trang 20* Thái độ
- Sự hứng thú học tập môn vật lí, có lòng yêu thích khoa học, có tác phong làm việc
khoa học, có tính trung thực khoa học, có ý thức sẵn sàng áp dụng những hiểu biết vật
lí vào thực tế giải quyết sáng tạo các vấn đề thực tiễn đích thực, chế tạo, tìm hiểu, cải
tiến các thí nghiệm, máy móc
2.3 Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
Để thấy rõ những đặc trưng cơ bản, tiến bộ của PBL ta có thể tham khảo bảng
nhận xét sau để có cái nhìn tổng quan hơn về phương pháp dạy học mới này
Chương trình học
- Dựa vào kinh nghiệm, kĩ năng sẵn có
của học sinh và khuyến khích khả năng
“biết nhiều hơn thế” của học sinh
Vai trò của giáo viên
- Huấn luyện viên
- Giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi về quá
- Nắm giữ và truyền thụ kiến thức
- Quản lí học sinh trong giờ lên lớp
Trang 21+ Khám phá, giải quyết vấn đề từ bên
trong
+ Tổng hợp, xây dựng và tích luỹ kiến
thức để giải quyết vấn đề trong những
điều kiện tự thiết lập
+ Thụ động theo sự hướng dẫn của giáo viên và đi theo kết cấu bài học trong sách giáo khoa
+ Tái tạo kiến thức, thu nhận và kiểm nghiệm thông qua những ví dụ do giáo viên đưa ra hoặc gợi ý trong sách giáo khoa
bánh xe luân chuyển trong quá trình học
- Vấn đề có cấu trúc (well – structured
problem): theo khuôn mẫu đã được định
sẵn, có sẵn một giải pháp đúng duy nhất
- Được trình bày như một nhiệm vụ để nhớ Thông qua vấn đề người học bắt buộc phải sử dụng kiến thức bài mới sẽ học để giải quyết vấn đề
Vai trò của thông tin
- Chỉ được giới thiệu một phần bởi người
dạy (trừ khi được yêu cầu) Phần lớn được
tập hợp và phân tích bởi người học
- Được tổ chức và giới thiệu bởi người dạy
Bảng 2.1 Bảng so sánh phương pháp dạy học truyền thống
và dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
Trên đây là những nét cơ bản để so sánh sự khác biệt giữa PBL với các phương
pháp truyền thống mà chúng ta đã và đang sử dụng Sau đây là những đặc trưng cụ thể
hơn của PBL
* Vấn đề là bối cảnh trung tâm của hoạt đông dạy và học
Vấn đề là đơn vị cấu trúc cơ bản của PBL Người học được tiếp cận với vấn đề
ngay ở giai đoạn đầu của một đơn vị bài học Một trong những nguyên tắc chủ yếu của
sự giảng dạy theo xu hướng tạo dựng là giáo viên gợi ý cho học sinh tìm ý tưởng trong
những vấn đề đặt ra Để đi đến một khái niệm mới, đầu tiên học sinh phải nhận ra
được vấn đề cũng như sự bất lực của họ khi giải quyết nó Sự bất lực của người học
Trang 22xảy ra bởi sự hiện diện của một sự kiện vấn đề không nhất quán: Đó là những điều
kiện, những tình huống, mâu thuẫn mà họ không giải thích được Vì thế sẽ dẫn đến
sự thắc mắc, sự tò mò và cần phải nghiên cứu, tìm hiểu để làm giảm bớt những nghi
ngờ và trở lại trạng thái cân bằng
Như vậy, từ những vấn đề đặt ra sẽ tạo hứng thú, lôi cuốn học sinh tham gia vào
bài học Sự hứng thú đạt đỉnh cao khi nó thôi thúc học sinh đi tìm câu trả lời Trong
nhiều trường hợp, câu trả lời không hẳn là một câu kết luận chính xác, một phương án
duy nhất đúng mà nó có thể là những giải pháp chấp nhận được, người ta gọi đó là
những giải pháp mở hay kết luận mở Trong những giải pháp hay kết luận mở đó lại
chứa đựng những vấn đề mới, nó lại tiếp tục lôi cuốn học sinh tham gia vào quá trình
học Như vậy trong suốt quá trình học, các vấn đề xuất hiện luôn điều khiển quá trình
học tập của học sinh
Đối với bộ môn vật lí – một môn học gắn liền với thực tế thì vấn đề lại đóng vai
trò quan trọng Từ vấn đề lớn đưa ra trong quá trình giải quyết, học sinh sẽ dần dần
phát hiện ra những vấn đề chi tiết hơn Chính điều này là cơ hội để học sinh tìm hiểu
kĩ lưỡng và sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề
* Người học tự tìm tòi để xác định nguồn thông tin giải quyết vấn đề
Finkle và Torp cho rằng: “Tìm hiểu vấn đề cơ bản là cơ sở của sự phát triển
chương trình học và hệ thống hướng dẫn, đồng thời phát triển cả việc giải quyết các
vấn đề chiến lược, những cơ sở tri thức, những kĩ năng, kỉ luật bằng việc đặt học
sinh trong vai trò người đang bị đương đầu với vấn đề cần giải quyết” Như vậy, trên
cơ sở vấn đề đặt ra, người học phải tìm tòi, nghiên cứu các nguồn thông tin và sử dụng
nó một cách hữu ích nhất Học sinh sẽ làm việc theo từng nhóm Các nhóm sẽ lập ra
một danh sách những cái đã biết và những cái chưa biết liên quan đến vấn đề Sự liệt
kê này sẽ giúp học sinh gợi lên những kiến thức đã biết và bàn luận, phân tích về
những cái chưa biết Có thể sự phân tích này thỉnh thoảng lại đi sai hướng nhưng nó lại
là một khởi nguồn để những giả thuyết mới xuất hiện một cách tự nhiên Với câu hỏi
“Chúng ta cần biết gì?”, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi và câu trả lời để những kiến
thức thiếu hụt được làm sáng tỏ Câu hỏi “Chúng ta nên làm gì?” sẽ giúp học sinh đi
tìm câu trả lời theo hướng: ai là người tìm ra? Nguồn thông tin nào để tham khảo hoặc
những hành động cụ thể nào được áp dụng? Trong quá trình đi tìm câu trả lời cho
Trang 23mình học sinh có thể nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia, giáo viên, những người có
trách nhiệm liên quan đến vấn đề Tuy nhiên sự giúp đỡ của những người này chỉ
dừng ở mức độ gợi ý, còn việc xác định giải pháp trả lời cuối cùng cho vấn đề thì đó
vẫn là nhiệm vụ của học sinh Nguồn thông tin mà học sinh tiếp cận từ nhiều nguồn
khác nhau: thư viện, báo chí, các buổi thảo luận, internet, nhà chuyên môn nhưng học
sinh phải là người phân tích và lựa chọn thông tin phù hợp để giải quyết vấn đề Chính
vì sự đa dạng trong phong cách học tập theo phương pháp này mà học sinh phải là
người chủ động đi tích lũy kiến thức cho chính bản thân mình
* Thảo luận nhóm là hoạt động cốt lõi
Thông qua thảo luận ở nhóm nhỏ, người học chia sẻ nguồn thông tin và cùng
nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết
luận Ngay từ bước tiếp cận với vấn đề thì thảo luận nhóm là việc không thể thiếu để
cả nhóm thống nhất ý kiến với nhau, xác định vấn đề nào là quan trọng cần tập trung
Khi đã xác định được vấn đề, nhóm cũng cần phải xác định những thuật ngữ, khái
niệm còn chưa rõ nghĩa trong vấn đề đặt ra, sau đó các thành viên sẽ chia sẻ kiến thức,
sự hiểu biết của mình về vấn đề hoặc phân tích thông tin để cả nhóm đều thống nhất
cách hiểu về vấn đề, xác định những khoảng trống, những sự thiếu hụt trong kiến thức,
trong sự hiểu biết hiện nay Đây cũng là cơ sở cần thiết và rất quan trọng để đi tìm giải
pháp hợp lý
Trên cơ sở xác định sự thiếu hụt về kiến thức đó, học sinh phải đi tìm kiếm kiến
thức bổ sung cho bản thân cũng như để giải quyết vấn đề Để có được những giải pháp
khả dĩ và thuyết phục, mỗi thành viên trong nhóm sẽ phải có thời gian làm việc cá
nhân, tự nghiên cứu và tìm hiểu Tuy nhiên sự nghiên cứu cá nhân chưa hẳn là một
nghiên cứu thành công và thuyết phục Kết quả nghiên cứu cần phải được đưa ra thảo
luận với các thành viên khác trong nhóm Thông qua các câu hỏi, sự chất vấn lẫn nhau
giữa các thành viên sẽ làm cho nhóm tập trung hơn, cùng nhau đóng góp ý kiến để có
được giải pháp hoàn chỉnh
Thảo luận nhóm cũng là cơ sở để phát triển kĩ năng giao tiếp hiệu quả Điều
quan trọng là mỗi thành viên khi tham gia giao tiếp phải đóng góp những kiến thức và
những ý tưởng độc đáo của mình để học hỏi lẫn nhau Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra
rằng chỉ thông qua các hoạt động thực tiễn, con người mói có thể cải thiện những khả
Trang 24năng của chính mình Cũng thông qua thảo luận mà học sinh có thời gian và cơ hội để
thể hiện mình Học sinh sẽ được tinh chỉnh, khuyến khích để sự hiểu biết của họ chính
xác hơn và họ đạt được mục tiêu học tập nhanh chóng và hiệu quả hơn
* Vai trò của giáo viên chỉ mang tính hỗ trợ
Vai trò của giáo viên khi thực hiện giảng dạy theo phương pháp này thì khác
với các phương pháp giảng dạy truyền thống Ở đây giáo viên không phải là người
cung cấp kiến thức cho học sinh mà giáo viên chỉ là người cung cấp các sự kiện, tình
huống có vấn đề trong thực tế để lôi cuốn học sinh vào tham gia giải quyết vấn đề Khi
học sinh đã tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề thì giáo viên sẽ giúp đỡ họ trong
quá trình học tập với vai trò của một huấn luyện viên, một người hướng dẫn tạo điều
kiện Sự hướng dẫn có thể thực hiện thông qua các câu hỏi gợi ý và những định hướng
để đảm bảo cho các nhóm đang đi đúng hướng và có những lựa chọn hợp lí – những
lựa chọn này có thể coi là chìa khóa của việc học Việc đặt câu hỏi thích hợp với học
sinh là một trong những phương tiện để làm cho việc học trở nên nhẹ nhàng hơn Câu
hỏi hợp lí sẽ thu hút sự chú ý của nhóm, tránh sự phân tán của các thành viên Tuy
nhiên, không phải trường hợp nào giáo viên cũng có thể hỏi Các câu hỏi phải được
đưa ra vào thời điểm hợp lí mới phát huy tác dụng Các câu hỏi giáo viên đưa ra phải
gợi ra những lập luận của học sinh, nếu họ có hỏi thêm thông tin về trường hợp nào đó
thì giáo viên có thể hỏi: Các em hi vọng tìm ra cái gì? Cái gì là lí do cho câu hỏi của
em? Các câu hỏi này có giải quyết được vấn đề thực tế đặt ra không? Những thông tin
cốt lõi mà các em cần biết cho những tình huống tương tự sau này là gì? Có bất kì vấn
đề nào phát sinh ngoài vấn đề này không?
Giáo viên phải khuyến khích học sinh trao đổi và nhấn mạnh những câu hỏi mở
để thúc đẩy việc thảo luận hơn là tập trung vào những câu hỏi mà câu trả lời chỉ là có
hoặc là không Nếu học sinh gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề, hãy cho học
sinh những gợi ý, không nên trả lời thay các em và can thiệp vào hầu hết các ý kiến
tranh luận của các em hoặc làm gián đoạn buổi thảo luận
Vai trò người hướng dẫn của giáo viên thể hiện ở chỗ giáo viên tham gia định
hướng học tập, giới thệu tài liệu thích hợp, chuẩn bị các buổi gặp gỡ đối với học sinh,
có những đánh giá nhận xét về hoạt động phối hợp của học sinh trong nhóm cũng như
toàn bộ nhóm theo những mục tiêu đã đề ra
Trang 25* Kiến thức mang tính liên môn
Vấn đề học tập đưa ra trong PBL là những vấn đề xuất phát từ thế giới thực
Khi tham gia giải quyết vấn đề HS phải huy động tất cả các kiến thức liên quan đến
vấn đề, có thể sử dụng thông tin của những môn học khác nhau để giải quyết nó Đôi
khi HS còn phải làm các bài tập liên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức Ví dụ khi học
bài tổng hợp lực, giáo viên có thể đề cập đến hình ảnh kéo pháo trong kháng chiến,
qua đó một phần hướng đến lịch sử và giáo dục cho học sinh lòng yêu nước
* Quan hệ với môi trường bên ngoài
Xuất phát từ những vấn đề thực mà việc học của HS theo PBL chịu ảnh hưởng
bởi các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh Việc học có thể được nâng
cao khi người học có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với người khác qua những công việc
hướng dẫn Các môi trường học cho phép tạo ra các mối tương tác xã hội, tôn trọng
tính đa dạng, khuyến khích lối tư duy linh hoạt và hình thành, phát triển kĩ năng sống
trong cộng đồng
2.4 Phân loại vấn đề
2.4.1 Vấn đề có cấu trúc (well- structured problem)
Đó là những vấn đề khi đưa ra đã có sẵn câu trả lời đúng, một giải pháp đúng
duy nhất Đa số các vấn đề mà sách giáo khoa đưa ra trong các lĩnh vực toán học, khoa
học tự nhiên là các vấn đề luôn có câu trả lời sẵn
Vấn đề có cấu trúc thường xuất phát từ những sự kiện được sắp đặt trước, nó đã
xảy ra và đã có kết quả, giải pháp xử lí rồi Khi nêu lại vấn đề này giáo viên mong
muốn hướng học sinh đến những kết quả có trước đó Có thể nói vai trò của vấn đề có
cấu trúc chỉ được trình bày như một nhiệm vụ để nhớ và được tổ chức, giới thiệu bởi
- “Những vấn đề mà học sinh thường phải đối mặt trong cuộc sống hằng ngày, chúng
bao gồm những vấn đề về chính trị, xã hội, kinh tế và khoa học” – Simon
“Là những vấn đề mà mục đích thông tin không đầy đủ, rõ ràng” – Wash
Trang 26“Là những vấn đề hỗn độn, phức hợp trong tự nhiên, nó đòi hỏi sự khảo sát, thu thập
thông tin để giải quyết Tuy nhiên các giải pháp giải quyết vấn đề không đơn giản và
không cố định, không có giải pháp nào lập thành công thức và không có giải pháp
chính xác”
“Là các vấn đề mà các dữ liệu đang mâu thuẫn nhau, những người tham gia tranh
luận không đồng ý nhau về giả định hay về những giải pháp khác nhau Người giải
quyết vấn đề phi cấu trúc phải thấy trước những quan điểm khác nhau và có những lí
luận biện minh cho giải pháp đề nghị” – Carleton College
* Ví dụ minh họa về vấn đề phi cấu trúc
Đối với bộ môn vật lí: Khi học về hạt nhân và phóng xạ hạt nhân, vấn đề phi
cấu trúc sau được đưa ra: “Bạn là một khoa học gia, làm việc tại ủy ban an toàn hạt
nhân Một số người dân cảm thấy sức khỏe bị đe dọa vì một công ty cất giữ pin thôri
phía dưới tòa nhà mà họ đang ở Bạn có hành động gì không? Và những hành động
nào?” – Summer Challenge 1992, IMSA Vấn đề này sẽ làm cho người học giải quyết
vấn đề theo nhiều chiều hướng khác nhau nhưng họ phải đi tìm hiểu Thôri là chất gì
mà sự ảnh hưởng của nó lại ghê gớm như vậy? Từ đó HS sẽ tiếp cận đến vấn đề hạt
nhân và phóng xạ của nó
* Tại sao lại phải sử dụng vấn đề phi cấu trúc trong PBL?
Sở dĩ phải sử dụng vấn đề phi cấu trúc vì vấn đề này:
- Tăng cường kĩ năng nhận thức: Phát triển tốt những kiến thức “nền” (có sẵn) là nhân
tố quan trọng trong việc giải quyết vấn đề phi cấu trúc Khi giải quyết vấn đề phi cấu
trúc học sinh áp dụng kiến thức nền một cách có ý nghĩa thay vì giữ kĩ nó trong kí ức
- Tăng cường kĩ năng tranh luận: Từ những vấn đề phi cấu trúc, HS phải tìm ra những
giải pháp, họ sẽ phải thu thập tài liệu, tranh luận và lí giải cho các giải pháp của mình
một cách logic và thuyết phục người khác
Như vậy, vấn đề phi cấu trúc giúp cho học sinh nhận thức được vấn đề một cách
tự nhiên mà không bị ép buộc Từ nhận thức đó, học sinh phải đi tìm câu trả lời cho
những thắc mắc của mình cùng nhau thảo luận để đưa ra những giải pháp tốt nhất để
giải quyết vấn đề Giải pháp ở đây không chờ đợi câu trả lời đúng hay sai mà quan
trọng là chiến lược giải quyết vấn đề sao cho hợp lí và thuyết phục nhất
2.5 Tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
Trang 272.5.1 Một số mô hình của tiến trình thực hiện PBL
Để cụ thể hóa chu trình học tập này nhiều nhà giáo dục đã đưa ra các bước để
thực hiện Sau đây là một vài mô hình đề nghị:
Mô hình đề nghị bởi James Busfield và Ton Peijs đưa ra tiến trình 7 bước như sau:
- Bước 1:Giải thích các diễn đạt, câu chữ, khái niệm
Mỗi học sinh tự xem xét vấn đề đưa ra từ kịch bản, nhận dạng tất cả các từ ngữ
và thuật ngữ, khái niệm chưa rõ ràng và thảo luận để giải thích trong nhóm
Kết quả: Lập ra một bảng những khái niệm đã thảo luận
- Bước 2: Xác định vấn đề
+ Từ vấn đề được giao, nhóm phân tích, thảo luận xem vấn đề cần giải quyết là gì?
Xem xét vấn đề dưới nhiều quan điểm khác nhau Trình bày vấn đề Giới hạn vấn đề
+ Giáo viên khuyến khích học sinh đóng góp quan điểm của họ về vấn đề và mở rộng
thảo luận
Kết quả: Lập bảng danh sách các vấn đề
- Bước 3: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
+ Sử dụng phương pháp Brainstorming để tìm cách giải quyết vấn đề đã nêu ra Mỗi
thành viên trong nhóm viết các giải pháp đề nghị lên một tờ giấy hoặc tấm bảng, lúc
này không có giải pháp nào được ưu tiên, mọi giải pháp đều được coi trọng như nhau
Các giải pháp khả thi được đưa ra thảo luận chi tiết
Kết quả: Lập bảng danh sách các giải pháp
- Bước 4: Xây dựng một bảng liệt kê có hệ thống các giải pháp
+ Nhóm quay lại bước 2 và 3 để tổng kết các giải pháp đề nghị, so sánh các giải pháp,
tìm những giải pháp có mối liên hệ với nhau và xếp theo trình tự các bước giải quyết
Kết quả: Lập bảng các giải pháp khả thi được xếp theo thứ tự và thiết lập mối quan hệ
giữa các giải pháp
- Bước 5: Xác định các bài tập cá nhân tự học
+ Nhóm lên danh sách các mục tiêu học tập dưới dạng các câu hỏi để giao cho mỗi bạn
trong nhóm, xác định thời gian giải quyết, thời gian họp nhóm lần tới
Kết quả: Lập danh sách các nhiệm vụ mà mỗi thành viên trong nhóm phải thực hiện
- Bước 6: Thực hành các bài tập cá nhân
+ Mỗi học sinh làm việc cá nhân và chịu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao
Trang 28+ Thử nghiệm điều tra thông tin và làm thí nghiệm nếu có thể
Kết quả: Ghi chép của mỗi người
- Bước 7: Báo cáo và đánh giá bài tập cá nhân
+ Trong lần họp nhóm lần hai, các nhóm báo cáo, thảo luận, chia sẻ thông tin, giúp đỡ
nhau, xác định bài tập tiếp theo hoặc nhờ giáo viên (người hướng dẫn giúp đỡ ở một số
vấn đề)
Kết quả: Ghi chép của mỗi người học
Mô hình đề nghị bởi Barrows, Greewald, Barett
- Bước 1: Chạm trán vấn đề
- Bước 2: Đặt câu hỏi IPF (Interesting, Puzzling, Find)
+ What is this Interesting? (Tại sao lại quan tâm đến vấn đề này?)
+ What is Puzzling? (Sự thử nghiệm là gì?)
+ What do we need to Find out? (Chúng ta cần tìm ra cái gì?)
- Bước 3: Lập kế hoạch nghiên cứu
- Bước 4: Thâm nhập vấn đề
- Bước 5:Lặp lại quá trình học tập
- Bước 6:Khai thác lời giải, gợi ý
- Bước 7: Thông báo kết quả
- Bước 8: Đánh giá (các nhân, theo cặp, theo nhóm)
* Các giai đoạn tổ chức dạy học trên cơ sở vấn đề:
Quy trình dạy học trên cơ sở vấn đề có thể chia làm 3 giai đoạn chính: Giao nhiệm vụ,
giải quyết nhiệm vụ và hoàn tất
-Giai đoạn 1: Giao nhiệm vụ
Ở giai đoạn này giáo viên có những hổ trợ ban đầu để học sinh tiếp cận vấn đề
một cách thuận lợi nhất, làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề Các công việc chính
trong giai đoạn này là: Làm rõ vấn đề (xác định mục đích, làm rõ các thuật ngữ),
hướng dẫn công việc ( chỉ ra cá.c nguồn tài liệu, kế hoạch làm việc), tổ chức nhóm
(phân chia nhóm, cách làm việc nhóm, cách liên hệ với giáo viên)
- Giai đoạn 2: Giải quyết nhiệm vụ
Khi đã hiểu rõ các nhiệm vụ học tập, học sinh bắt đầu giải quyết vấn đề Trong
giai đoạn giải quyết nhiệm vụ học tập này, việc làm việc nhóm và làm việc cá nhân
Trang 29luôn luân phiên nhau Mỗi học sinh đều phải làm việc theo sự phân công tiến độ chung
của nhóm và sau đó họp để chia sẻ, thống nhất các quan điểm Hoạt động cá nhân và
nhóm cứ đan xen nhau dến khi hoàn thành nhiệm vụ, thống nhất lời giải cho vấn đề
Khi đã có lời giải chung, nhóm phân công báo cáo và thông qua cáo báo trước nhóm
- Giai đoạn 3: Trình bày Thể chế hóa kiến thức
Các nhóm báo cáo kết quả của mình trước lớp hoặc trưng bày sản phẩm trước
tập thể Việc đánh giá kết quả thuộc về giáo viên và học sinh Cuối cùng, giáo viên hệ
thống và làm rõ kiến thức mới trong những vấn đề học tập
2.5.2 Thẩm định và đánh giá
* Các quan điểm cơ bản về đánh giá
- Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình
giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi
mới PPGD, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu
giáo dục Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh
kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học
sinh Sự điều chỉnh, bổ sung kiến thức, kĩ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho
chất lượng học tập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi học sinh
- Đánh giá kết quả học tập của HS, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết
quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập Tạo điều kiện cho HS cùng tham gia xác
định tiêu chí đánh giá kết quả học tập Trong đó cần chú ý: không tập trung vào khả
năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết
các nhiệm vụ phức hợp
- Tăng cường các phương thức đánh giá: trong giờ, ngoài giờ, chính thức, không chính
thức Đánh giá qua quan sát, trao đổi – thảo luận, qua tự học, chuẩn bị, tìm thêm tư
liệu, sáng tạo đồ dùng học tập Chú trọng hướng dẫn học sinh phát triển thói quen và
khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau Kết hợp đánh giá giữa thầy và trò
* Quan điểm về đánh giá học sinh khi tham gia tiến trình PBL
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá, sau đây là quan điểm
đánh giá của James Busfield và Ton Peijs
- Những đánh giá về nhóm nghiên cứu điển hình được dự kiến là một trong số những
điều sau đây: Poster, báo cáo, thuyết trình, xây dựng một trang web hoặc một thiết kế
Trang 30chế tạo thiết bị Các định dạng cụ thể sẽ được xác định dựa trên các phác thảo nghiên
cứu tình huống ban đầu Các nghiên cứu hạng ưu sẽ được đánh giá
- Sự thuyết trình của mỗi cá nhân sẽ được xem xét lại để tạo một hệ số cá nhân cho
chính HS đó
- GV chịu trách nhiệm xác định hệ số cá nhân dựa vào quá trình trình bày, tham gia
giải quyết vấn đề của HS Để làm được điều này, GV phải kết hợp đánh giá sự trình
bày của mỗi HS và sự phản hồi từ những HS của lớp Sau đó, GV sẽ hoàn thành bảng
đánh giá nhóm
- Trường hợp những HS hạng ưu được so sánh với điểm của cả nhóm và hệ số của cá
nhân để tạo điểm riêng cho quá trình nghiên cứu GV phải phân biệt điểm thuyết trình
giữa các cá nhân, và nên chú ý rằng không nên thay đổi điểm trung bình mà nhóm đạt
được Vì vậy, hệ số cá nhân trung bình của nhóm là 1,0 Ví dụ GV muốn cho điểm một
thành viên trong nhóm cao hơn một lượng nào đó, thì điểm của số thành viên trong
nhóm phải giảm xuống một lượng tương tự
- Hệ số cá nhân được đề nghị là
+ Không tham gia: 0.0
+ Tham gia ở mức độ trung bình: 0.75
+ Đổi mới các giải pháp có thể
+ Đánh giá những gợi ý của nhóm
+ Chứng minh các kiến thức, lí thuyết mới được thu thập trong quá trình nghiên cứu
+ Sử dụng kĩ năng thực hành khi nghiên cứu
- Ngoài ra việc đánh giá nhóm cũng bao gồm cả việc đánh giá: nhóm trưởng, thư kí,
Trang 31người ghi chép, các thành viên xem họ thực hiện nhiệm vụ như thế nào
- Đánh giá bài báo cáo: Mỗi nhóm phải thường xuyên viết báo cáo cho quá trình
nghiên cứu, học tập của nhóm Bài báo cáo phải có: cấu trúc, các bảng biểu, chi tiết
của các thí nghiệm trong quá trình nghiên cứu, các ghi chú, biên bản thảo luận nhóm
- Thuyết trình: Học sinh có thể được yêu cầu thuyết trình theo nhóm tất cả các kết quả
mà họ tìm được Thông thường chỉ có khoảng 1 đến 3 thành viên trong nhóm là thực
sự thuyết trình nhưng trong năm học, mỗi học sinh sẽ trình bày kết quả đó ít nhất một
lần Mỗi trình bày giới hạn trong khoảng 10 phút và 5 phút cho mỗi câu hỏi, các câu
hỏi đặt ra cần được phản hồi ngay
- Áp phích (poster): những áp phích này cần rõ ràng, ngắn gọn, hấp dẫn và sử dụng
đúng mục đích
- Tài liệu tham khảo: Học sinh phải báo các trang web, các tài liệu mà họ tham khảo
Thiết kế thí nghiệm: Đôi khi học sinh trong nhóm yêu cầu phải thực hiện một số thí
nghiệm cho những nghiên cứu Những thí nghiệm này phải được nộp vào cuối mỗi
tiến trình để đánh giá
Trên đây là tiêu chí đánh giá việc dạy và học trong tiến trình PBL theo quan
điểm của một số nhà giáo dục Mỗi qua điểm đưa ra đều có ưu và khuyết điểm riêng
bởi vì quan điểm đó còn tùy thuộc vào điều kiện giáo dục ở mỗi quốc gia Cũng chính
vì lí do đó nên khi áp dụng PBL vào Việt Nam mà cụ thể là đối với học sinh THPT
không thể áp dụng rập khuôn các tiêu chí đánh giá đó mà phải chọn lọc các tiêu chí
phù hợp với mục tiêu giáo dục ở Việt Nam
2.6 Phân biệt phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) với các phương pháp:
dạy học chủ đề, dạy học giải quyết vấn đề và dạy học dự án
2.6.1 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học dự án
Giống nhau: Theo định nghĩa, dạy học theo dự án và dạy học dựa trên vấn đề giống
nhau ở đặc điểm Đó là cả hai đều là những chiến lược học tập để khuyến khích học
sinh tham gia trong “ thế giới thực” tăng cường công việc học tập
Khác nhau
- Bắt đầu bằng vấn đề giao cho người học - Bắt đầu với mục tiêu là sản phẩm
Trang 32dưới dạng kịch bản hay tình huống
- Vấn đề khảo sát là phi cấu trúc
- Sử dụng mô hình khảo sát
- Kết quả không nhất thiết là sản phẩm mà
đó là chiến lược giải quyết vấn đề
- Vấn đề là bối cảnh của việc học, các
chiến lược giải quyết vấn đề là động lực
hợp với công nghệ thông tin
- Sản phẩm cuối cùng là động lực của việc học
Bảng 2.2 Bảng so sánh phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và dạy học dự án
2.6.2 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học giải quyết vấn đề
Giống nhau: Đều đưa ra những tình huống có vấn đề để kích thích học sinh tham gia
vào bài học và khi học sinh đã tham gia vào thì hướng dẫn học sinh đi tìm câu trả lời
cho tình huống đã nêu
Khác nhau
DH dựa trên vấn đề DH giải quyết vấn đề
- Vấn đề đưa ra là phi cấu trúc và liên
quan đến thế giới thực
- Vấn đề chi phối toàn bộ quá trình học
- Các phương án giải quyết vấn đề do HS
- Phương án giải quyết vấn đề đi theo một tiến trình được vạch ra bởi GV Kết quả cuối cùng phải là một kết quả đúng duy nhất
- GV cung cấp kiến thức cho HS, tùy vào đối tượng HS mà GV có thể cho HS tham gia vào một phần của quá trình
Bảng 2.3 Bảng so sánh phương pháp DH dựa trên vấn đề
và DH giải quyết vấn đề
Trang 332.6.3 Dạy học dựa trên vấn đề và dạy học chủ đề
Giống nhau: Đều lấy người học làm trung tâm, có khả năng đáp ứng được mục tiêu
giáo dục của thời kì đổi mới Còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và là “trọng
tài khoa học” trong quá trình dạy
Khác nhau
- Dựa vào các kiến thức kính nghiệm của
học sinh
- Chọn lựa được vấn đề phi cấu trúc tốt,
có sức hấp dẫn đối với học sinh
Bảng 2.4 Bảng so sánh phương pháp DH dựa trên vấn đề và DH chủ đề
2.7 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
* Ưu điểm:
- Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập: Vì phương pháp PBL dựa trên cơ sở
tâm lý là kích thích hoạt động nhận thức bởi sự tò mò và ham hiểu biết cho nên thái độ
học tập của người học mang nhiều yếu tố tích cực Năng lực tư duy của người học một
khi được khơi dậy sẽ giúp họ cảm thấy thích thú và trở nên tự giác hơn trên con đường
tìm kiếm tri thức
- Người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết: Thông qua hoạt động tìm kiếm
thông tin và lý giải vấn đề của cá nhân và tập thể, người học được rèn luyện thói quen,
kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập
thể… Đây là những kỹ năng rất quan trọng cho người học đối với công việc sau này
của họ
- Người học được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn: Giáo dục thường bị phê phán
là xa rời thực tiễn Phương pháp này có thể giúp người học tiếp cận sớm với những
vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan chặt chẽ với chuyên ngành đang học
đồng thời họ cũng được trang bị những kiến thức, kỹ năng để giải quyết những vấn đề
đó
- Bài học được tiếp thu vừa rộng vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ người học: Do
được chủ động tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, người
Trang 34học có thể nắm bắt bài học một cách sâu sắc và vì vậy họ nhớ bài rất lâu so với trường
hợp tiếp nhận thông tin một cách thụ động thông qua nghe giảng thuần túy
- Đòi hỏi GV không ngừng vươn lên: Việc điều chỉnh vai trò của GV từ vị trí trung
tâm sang hỗ trợ cho hoạt động học tập đòi hỏi nhiều nổ lực từ phía GV Đồng thời theo
phương pháp này, GV cần tìm tòi, xây dựng những vấn đề vừa lý thú vừa phù hợp với
môn học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra
trong thảo luận… Có thể nói rằng phương pháp PBL tạo môi trường giúp GV không
ngừng tự nâng cao trình độ và các kỹ năng sư phạm tích cực
* Nhược điểm:
- Khó vận dụng ở những môn học có tính trừu tượng cao: Phương pháp này không cho
kết quả như nhau đối với tất cả các môn học, mặc dù nó có thể được áp dụng một cách
rộng rãi
- Khó vận dụng cho lớp đông: Lớp càng đông thì càng có nhiều nhóm nhỏ vì vậy việc
tổ chức, quản lý sẽ càng phức tạp Một GV rất khó theo dõi và hướng dẫn thảo luận
cho cả chục nhóm người học Trong trường hợp này, vai trò trợ giảng sẽ rất cần thiết
- Không có tiêu chí để phân nhóm PBL
- Đòi hỏi cao năng lực tổ chức, cố vấn, trọng tài và ứng xử với các kiểu nhân cách
người học của giáo viên
- Đòi hỏi hành vi chuyên nghiệp của các thành viên trong nhóm PBL
2.8 Áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trên thế giới
Trong xu thế đổi mới phương pháp giảng dạy đại học theo hướng lấy người học
làm trung tâm, phương pháp PBL đang được các nền giáo dục ở nhiều nước quan tâm
nghiên cứu và ứng dụng Phương pháp PBL xuất hiện lần đầu vào cuối những năm
1960 tại trường đại học Y khoa Mc Master, Canada, sau đó được phát triển nhanh
chóng tại các trường đại học khác trên thế giới Mặc dù ra đời đã lâu, phương pháp này
vẫn thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu giáo dục như Barbara J.Duch
( trường đại học Delaware), Stepien, Gallagher,…
- Tháng 06/2002, một hội thảo quốc tế riêng về PBL được tổ chức tại Baltimore, bang
Maryland của Hoa Kì
- Tháng 03/ 2007, một hội thảo quốc tế tương tự được tổ chức tại Singapore Hiện nay
nhiều trường đại học có riêng những trung tâm nghiên cứu triển khai phương pháp
Trang 35PBL hoặc tổ chức xây dựng ngân hàng vấn đề cho các chuyên ngành đào tạo của mình
và chia sẻ trên các trang Web của họ, ví dụ như:
+ Trường đại học Delaware – Hoa Kì (http://www.udel.edu/pbl/)
+ Trường đại học Samford – Anh:
http://www.samford.edu/ctls/problem_based_learning.html
+ Trường đại học Sydney – Úc:
http://www.usyd.edu.au/learning/ipl/project/ipl_shared.shtml
Ở các nước phát triển: Hoa kì, Anh, Úc phương pháp này không chỉ áp dụng
ở các trường đại học mà ngày nay nó còn được áp dụng rộng rãi ở các trường phổ
thông và thu được những kết quả rất khả quan Còn ở các nước Đông Nam Á, phương
pháp này cũng được một số cơ sở đào tạo quốc tế áp dụng như trường đại học Walaik
– Thái Lan, Yog Jakarta –Indonesia…
2.9 Áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trong bối cảnh giáo dục ở
Việt Nam
2.9.1 Thực trạng về công tác giảng dạy ở Việt Nam
- Sau nhiều năm cải cách giáo dục, thay đổi chương trình, chỉnh sửa nội dung sách
giáo khoa, đổi mới PPDH nền giáo dục nước ta cũng thu được một số thành tựu đáng
kể tuy nhiên nội dung chương trình học vẫn còn mang nặng tính hàn lâm, kiến thức là
mục tiêu cần đạt được để đảm bảo việc thi cử Chính sự nặng nề về nội dung chương
trình, thi cử cũng đã gây áp lực cho việc đổi mới PPDH của các thầy cô giáo khi tham
gia giảng dạy
- Để đảm bảo kịp chương trình, truyền tải một lượng kiến thức rất lớn trong một thời
gian giới hạn để đáp ứng cho mục đích thi cử cuối năm thì hầu hết các giáo viên đều
ngại khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại Vì những phương pháp
này đòi hỏi rất nhiều thời gian của cả giáo viên lẫn học sinh Hiện nay ở các trường
phổ thông phương pháp dạy học truyền thống vẫn được áp dụng, chủ yếu là thuyết
trình, diễn giảng, đàm thoại, nêu giải quyết vấn đề Với phương pháp này thì cả lớp
học sẽ cùng phải hướng tới một mục tiêu chung cuối cùng là kiến thức trong khuôn
khổ chương trình học và kết quả học tập sẽ được đánh giá theo một khuôn mẫu định
sẵn Với cách học như thế học sinh chưa thể phát huy được sự đa dạng trong nhân cách
cũng như các phong cách học tập
Trang 36- Trong những năm gần đây nền giáo dục ở nước ta liên tục đưa ra các giải pháp nhằm
đổi mới thực trạng giáo dục, đào tạo nhân lực phù hợp với các yêu cầu mới do đó
nhiều PPDH mới được áp dụng, tuy nhiên chúng cũng chỉ dừng lại ở mức độ thử
nghiệm Dạy học dựa trên vấn đề cũng đã bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam nhưng
nó chỉ dừng ở một số trường đại học, chưa áp dụng ở bậc phổ thông
2.9.2 Tính khả thi của việc áp dụng phương pháp PBL tại Việt Nam
Để có thể triển khai phương pháp PBL có hiệu quả, cần có các yếu tố then chốt
sau: năng lực của đội ngũ GV, nguồn tư liệu giảng dạy - học tập, và điều kiện tổ chức
lớp học
* Về năng lực của đội ngũ GV: đội ngũ GV cần đủ về số lượng và chất lượng để có thể
phân công hướng dẫn các nhóm học sinh, có kiến thức thực tiễn ngành nghề và sư
phạm để thiết kế các vấn đề của môn học Các trường đại học sư phạm đang có những
ưu tiên nhất định cho các sinh viên sư phạm để thu hút nguồn nhân lực cho giáo dục
Thế hệ sinh viên trẻ Việt Nam rất năng động và sáng tạo, có tinh thần học hỏi và phát
huy những cái mới trong mọi lĩnh vực
* Về nguồn tư liệu giảng dạy - học tập: phần lớn các trường hiện nay cũng đã bắt đầu
được trang bị phương tiện, thiết bị thí nghiệm để phục vụ cho công tác giảng dạy Với
sự phát triển nhanh chóng của các nguồn thông tin, của hệ thống internet tại Việt Nam,
GV và HS Việt Nam về cơ bản có thể tìm thấy những tư liệu thích hợp cho việc ứng
dụng của phương pháp dạy học này
* Về điều kiện tổ chức lớp học: phương pháp PBL có thể đạt hiệu quả cao ở những lớp
học có qui mô nhỏ, có đủ điều kiện vật chất cho các hoạt động nhóm học sinh Trong
điều kiện của Việt Nam, các lớp học thường có sĩ số học sinh cao, vì vậy cần có sự tổ
chức giảng dạy hợp lí Bên cạnh đó, cần có không gian thích hợp để các nhóm học
sinh có thể làm việc theo nhóm Phương pháp PBL mới chỉ được áp dụng tại trường
Đại học Y tế cộng đồng, đại học Y Hà Nội và đang được triển khai ở các trường đại
học khác như: Đại học thủy sản Nha trang, khoa Du lịch và khách sạn ở trường Đại
học kinh tế quốc dân Các trường đại học khác cũng đang tìm hiểu và có những bài
tham luận nói về phương pháp này như: Đại học An giang, Đại học Bách khoa TP
HCM,… Tuy nhiên, phương pháp này cũng chỉ mới dừng lại ở một số trường đại học
Trang 37còn ở THPT thì chưa một trường phổ thông nào áp dụng phương pháp này Đây cũng
là một khó khăn cho tôi khi thực hiện đề tài này
Kết luận chương 1 và 2
- Dạy học dựa trên vấn đề (PBL) là phương pháp dạy học tích cực, trong quá trình học
tập học sinh sẽ phải tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức thu được vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn Qua đó, tạo cơ hội cho học sinh tự khẳng định mình, phát
triển kĩ năng sống, hướng tới kĩ năng tư duy bậc cao Phương pháp dạy học này là sự
cố gắng tăng cường sự tích hợp kiến thức, sự liên môn, sự tích hợp những kiến thức đã
học vào những ứng dụng trong đời sống hằng ngày
- Dạy học dựa trên vấn đề là mô hình dạy học tích cực, người học có điều kiện phát
huy tối đa năng lực sáng tạo, khả năng tự học của họ Mô hình dạy học này có khả
năng đạt được mục tiêu giáo dục trong thời kì đổi mới với chất lượng và hiệu quả cao
Với mô hình này người giáo viên có điều kiện vận dụng một cách sáng tạo có mô hình
và PPDH tích cực, hiện đại để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, phát huy
được kĩ năng giao tiếp trong cộng đồng lớp học và dần dần hình thành nhân cách con
người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội trong hiện tại
và tương lai
Trang 38Chương 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC” –
VẬT LÍ 11 NC 3.1 Phân tích kiến thức của chương “Mắt và các dụng cụ quang học”
3.1.1 Cấu trúc nội dung
Sự điều tiết, điểm cực cận, điểm cực viễn Góc trông vật và năng suất phân li
Sự lưu ảnh của mắt Các tật của mắt và cách khắc phục
quang học
Lăng kính Cấu tạo của lăng kính
Đường truyền của tia sáng qua lăng kính Các công thức của lăng kính
Biến thiên góc lệch theo góc tới Lăng kính phản xạ toàn phần
Thấu kính Định nghĩa
Các đặc trưng của thấu kính
Tiêu điểm Tiêu cự Tiêu diện
Độ tụ Đường truyền của
tia sáng qua thấu kính
Các tia đặc biệt Cách vẽ tia ló ứng với tia tới bất kì Cách xác định ảnh
Trang 39của vật Các công thức của
thấu kính
Công thức xác định
vị trí ảnh Công thức xác định
số phóng đại ảnh Kính lúp Khái niệm và công dụng
Ngắm chừng ở vô cực
Kính hiển vi Nguyên tắc cấu tạo
Cấu tạo và cách ngắm chừng
Cấu tạo Ngắm chừng ở cực cận
Ngắm chừng ở vô cực
Số bội giác Ngắm chừng ở cực
cận Ngắm chùng ở vô cực
Kính thiên văn Nguyên tắc cấu tạo
Cách ngắm chừng Ngắm chừng ở vô
cực Ngắm chừng ở vị trí bất kì
Trang 40Số bội giác Ngắm chừng vô
cực
Bảng 3.1 Cấu trúc nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học”
3.1.2 Phân tích nội dung
Quang hình học là phần khó nhất đối với học sinh trong chương trình vật lí lớp
11 Sở dĩ như vậy là do học sinh chưa được trang bị đầy đủ những hiểu biết cần thiết
về nguồn sáng, đường truyền của tia sáng, quá trình tạo ảnh… Để giúp học sinh học
tập tốt hơn về phần này thì phải phân tích nội dung kiến thức của chương “Mắt và các
dụng cụ quang học” nói riêng và quang hình học nói chung để làm cơ sở cho việc lựa
chọn phương pháp giảng dạy
3.1.2.1 Phân loại các nguồn sáng
Mắt chỉ có thể nhìn thấy các vật nếu chúng phát sáng hoặc khuếch tán ánh sáng
Đó là các nguồn thứ cấp hoặc sơ cấp Nguồn sơ cấp: là một vật tự nó phát ra ánh sáng,
không cần được chiếu sáng Nguồn thứ cấp: là một vật tự nó không thể phát ra ánh
sáng mà nó phải được nhận chiếu sáng để mắt ta có thể nhìn thấy chúng
3.1.2.2 Khái niệm về vật và ảnh khi qua dụng cụ quang học
Vật khi qua một dụng cụ quang học được coi là giao của chùm tia sáng tới dụng
cụ đó Vật được chia thành hai loại:
+ Vật thật: chùm tia tới sẽ cắt nhau ở phía trước dụng cụ quang học (chùm tia tới phân
kì)
+ Vật ảo: chùm tia tới sẽ cắt nhau ở phía sau dụng cụ quang học (chùm tia tới hội tụ)
Ảnh khi qua một dụng cụ quang học được coi là giao của chùm tia phản xạ (đối với
các loại gương) hoặc chùm tia khúc xạ qua dụng cụ đó Ảnh được chia làm hai loại:
- Đối với gương:
+ Ảnh thật: chùm tia phản xạ cắt nhau ở phía trước gương (chùm tia phản xạ hội tụ)
+ Ảnh ảo: chùm tia phản xạ cắt nhau ở phía sau gương (chùm tia phản xạ phân kì)
- Đối với các dụng cụ quang học trong suốt:
+ Ảnh thật: chùm tia khúc xạ cắt nhau ở phía sau dụng cụ theo đường truyền của chùm
tia sáng (chùm tia khúc xạ hội tụ)
+ Ảnh ảo: chùm tia khúc xạ cắt nhau ở phía trước dụng cụ theo đường truyền của
chùm tia sáng (chùm tia khúc xạ phân kì)