Luận án tiến hành xác định các nhân tố tác động thúc đẩy việc áp dụng mô hình lập dự toán ngân sách tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết hơn nội dung luận án.
Trang 1LÊ THỊ CẨM HỒNG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH DỰA TRÊN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Mai Thị Hoàng Minh và PGS TS Võ Văn Nhị
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường hợp tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Các quốc gia trên thế giới đã không ngừng thực hiện việc đổi mới
hệ thống kế toán và ngân sách để ngăn chặn và phát hiện tham nhũng kịp thời (Chan, 2003) Tại Việt Nam, để phòng chống lãng phí, thất thoát và đề cao nguyên tắc công khai, minh bạch; nâng cao trách nhiệm giải trình, Chính phủ đã từng bước cải cách trên nhiều phương diện, trong đó có yêu cầu đổi mới hoạt động lập và phân bổ NSNN để quản lý và sử dụng nguồn ngân sách hiệu quả Đồng thời, hiện nay mô hình lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động (PBB) đã chi phối ở nhiều quốc gia (Shah & Shen, 2007), và
xu hướng đổi mới trong phong trào “quản lý công mới” Trong khi
đó tại Việt Nam, mô hình lập dự toán truyền thống tại các đơn vị công không còn phù hợp Vì vậy nhà nước đã đề cập đổi mới theo
mô hình PBB trong những năm qua Tuy nhiên mặc dù đã được
Bộ tài chính tiến hành thí điểm từ năm 2009, nhưng PBB vẫn chưa được triển khai rộng rãi Thực tế cho thấy để áp dụng PBB rộng rãi đòi hỏi có nhiều thay đổi trong thể chế về mặt luật pháp; cách thức xây dựng và điều hành kế hoạch ngân sách; và văn hóa quản
lý theo hướng đảm bảo trách nhiệm giải trình về kết quả hoạt động (Dũng, Nguyệt, & ctv, 2008) Hơn nữa đổi mới là một quá trình được thực hiện bởi mọi cá nhân, cho nên nhận thức của người thực hiện rất quan trọng trong việc thông qua bất kỳ sự đổi mới nào, góp phần dẫn đến sự thành công cho sự thay đổi đó (Ehsein, 2014)
Vì vậy bên cạnh những thay đổi về mặt thể chế, cần phải xác định các nhân tố nào sẽ tác động thúc đẩy việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam Ngoài ra sau khi tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước,
Trang 4tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về PBB chỉ tập trung vào nghiên cứu các kỹ thuật lập dự toán chưa tập trung vào hành vi con người liên quan đến việc áp dụng PBB và cho đến hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam Dựa vào những phân tích trên, tác giả nhận thấy cần thiết phải có một nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc hơn về “Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập
ở Việt Nam”
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: xác định các nhân tố tác động thúc đẩy việc
áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam Cụ thể:
Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố, điều chỉnh và bổ sung thang đo đo lường các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị SNCL trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam
- Kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu: để đạt được các mục tiêu trên, như sau:
- Những nhân tố nào tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam? Các nhân tố được đo lường bằng những thang đo như thế nào?
- Mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập như thế nào?
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
Trang 5Đối tượng phân tích cũng đồng thời là đối tượng khảo sát: là cá
nhân - người tham gia lập dự toán trong các phòng kế toán và tài chính tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về các nhân
tố tác động đến việc lập dự toán ngân sách tại các đơn vị SNCL
ở Việt Nam, với đơn vị phân tích là cá nhân
Phạm vi khảo sát: trên các đơn vị SNCL thuộc các lĩnh vực như
giáo dục, y tế, văn hóa thể thao, và một số lĩnh vực khác, tuy nhiên tập trung phần lớn vào 2 lĩnh vực giáo dục và y tế, ở địa bàn TP HCM và một số tỉnh lân cận: Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang…
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết trong
đó nghiên cứu định lượng là chính và nghiên cứu định tính là phụ đóng vai trò hỗ trợ thêm dữ liệu cho nghiên cứu định lượng:
(1) Nghiên cứu định tính: để nhận diện các nhân tố tác động đồng
thời giúp điều chỉnh mô hình nghiên cứu và thang đo các khái niệm Thông qua kết quả các nghiên cứu trước và các lý thuyết
có liên quan, từ đó phỏng vấn chuyên gia để bổ sung nhân tố và điều chỉnh lại thang đo nháp
(2) Nghiên cứu định lượng: nhằm đánh giá sơ bộ thang đo các khái
niệm và đánh giá giá trị thang đo chính thức đồng thời kiểm định
và đo lường mức độ tác động của các nhân tố Định lượng sơ bộ thông qua bảng câu hỏi khảo sát, với SPSS 20.0 để phân tích Cronbach’s Alpha và phân tích EFA Sau đó định lượng chính thức thông qua kỹ thuật PLS_SEM để đánh giá lại mô hình đo
lường và mô hình cấu trúc cùng với các giả thuyết trong mô hình
6 Đóng góp mới của đề tài
Trang 6Về mặt lý thuyết
- Khẳng định sự phù hợp trong việc vận dụng cách tiếp cận đa lý thuyết thông qua việc kết hợp các lý thuyết: TPB, SQB, lý thuyết khuếch tán và lý thuyết thể chế mới để xem xét các nhân tố tác động đến hành vi của người thực hiện liên quan đến việc thay đổi
mô hình lập dự toán mới
- Xác định mô hình các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam và đo lường mức độ tác động của các nhân tố
- Bổ sung và củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm cho việc sử dụng hệ thống thang đo các nhân tố tác động đến việc áp dụng
mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho việc vận dụng các lý thuyết nền để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến việc chấp nhận đổi mới mô hình lập dự toán
Về mặt thực tiễn
- Cung cấp tài liệu nghiên cứu chi tiết, khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước làm căn cứ khoa học xây dựng các chính sách tác động phù hợp vào các nhân tố nhằm tăng cường thẩm quyền
áp dụng và khả năng áp dụng PBB của thể chế
-Về phía các nhà quản lý, luận án cung cấp những cơ sở để các
trưởng đơn vị soạn thảo các chính sách phù hợp để gia tăng nhận thức về mô hình PBB và gia tăng cảm nhận của nhân viên về sự
hỗ trợ của tổ chức liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB cũng như giảm các chí phí chuyển đổi cho người lập dự toán
7 Kết cấu của luận án
Trang 7Kết cấu 5 chương: Chương 1-Tổng quan các nghiên cứu; Chương 2-Cơ sở lý thuyết; Chương 3-Phương pháp nghiên cứu; Chương 4-Kết quả nghiên cứu và bàn luận; Chương 5: Kết luận và hàm ý
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu: Chương này cung cấp bức tranh tổng quát về các
nghiên cứu trên thế giới có liên quan Từ đó, xác định khoảng
trống trong nghiên cứu và minh chứng tính cấp thiết của đề tài 1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB tại các quốc gia
Phần này trình bày về các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng
mô hình PBB ở cấp quốc gia để cung cấp những hiểu biết mới và giúp phát hiện các nhân tố có tác động đáng kể
Thông qua các bài nghiên cứu tổng quan về việc áp dụng mô hình PBB của một số quốc gia trên thế giới cho thấy việc thực hiện PBB là xu hướng tất yếu Tuy nhiên để thực hiện thành công cần
có thời gian và phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động liên quan đến thể chế (gồm khả năng đo lường kết quả hoạt động và khả năng áp dụng PBB của thể chế và thẩm quyền áp dụng) Hơn nữa trong quá trình đổi mới không thể không xem xét đến yếu tố con người là yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành công của việc
Trang 8hoạt động trong nội bộ đơn vị để phục vụ cho việc lập dự toán Cho nên nghiên cứu này xem xét các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng một sự đổi mới hoặc sự đổi mới HTTT nói chung,
để phát hiện các nhân tố có thể tác động đến việc áp dụng mô hình PBB và các lý thuyết nền tảng nói chung Sau khi xem xét, tác giả nhận diện được các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô
hình PBB tại các đơn vị công ở các quốc gia, gồm: nhận thức về lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng lực của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức, các yếu tố của thể chế (khả năng áp dụng của thể chế và thẩm quyền áp dụng)
1.2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các quốc gia
Thông qua các nghiên cứu này tìm hiểu các nhân tố tác động nói chung trên phạm vi bối cảnh của một quốc gia mà mỗi người tham gia trong bối cảnh đó sẽ bị chi phối Các nghiên cứu này góp phần
lý giải và chứng minh them cho sự tác động của các nhân tố đã được nhận diện ở trên đến việc áp dụng PBB tại các đơn vị công
1.2.2.3 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị công trên thế giới
Phần này thoogn qua các nghiên cứu chính xem xét các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị công trong những năm gần đây Qua đó cũng góp phần chứng minh thêm cho sự tác động của các nhân tố đã được nhận diện ở trên
1.3 Các nghiên cứu trong nước về việc áp dụng mô hình PBB
Các nhà nghiên cứu về kế toán tại Việt Nam đang dần mở rộng hướng nghiên cứu sang kế toán khu vực công, nhưng chỉ mới tập trung nghiên cứu vào việc xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia theo định hướng chuẩn mực kế toán công quốc tế và nghiên
Trang 9cứu về chuyển đổi sang kế toán trên cơ sở dồn tích Trong khi đó các nghiên cứu liên quan đến việc đổi mới mô hình quản lý ngân sách dựa trên kết quả hoạt động gần đây mới được quan tâm khi
có định hướng thay đổi trong quản lý chi tiêu ngân sách
1.4 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống trong nghiên cứu
1.4.1 Nhận xét các nghiên cứu trước
1.4.1.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài
Nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu nghiên cứu ở các cấp liên bang (tiểu bang), số lượng bài nghiên cứu ở cấp tổ chức hoặc đơn vị còn khá hạn chế Đồng thời các nghiên cứu về PBB đều ở khu
vực Bắc Mỹ, cụ thể là Hoa Kỳ
- Hướng nghiên cứu liên quan đến PBB: 2 hướng phổ biến là
“giai đoạn” và “chủ đề” liên quan đến PBB
- Xu hướng vận dụng lý thuyết nền: đa phần các nghiên cứu không có khuôn khổ lý thuyết rõ ràng hoặc vận dụng nhiều lý thuyết nền (Mauro, Cinquini, & Grossi, 2017)
Phương pháp nghiên cứu: được sử dụng trong các nghiên
cứu liên quan đến PBB trong các tạp chí kế toán không thuộc khu vực châu Âu đa phần là: nghiên cứu định lượng dựa trên khảo sát, còn đối với các tạp chí hành chính công không thuộc khu vực châu Âu sử dụng phương pháp hỗn hợp
Kết quả các nghiên cứu liên quan đến PBB: Nhiều nhân tố
được phát hiện là có tác động đến việc áp dụng PBB nhưng mỗi nghiên cứu được thực hiện trong các tổ chức và ngữ cảnh khác nhau và tại các quốc gia khác nhau, cho ra những kết quả khác Dựa trên các quan điểm này, tác giả đã tổng hợp những nhận định
Trang 10về các nhóm nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB
gồm: nhận thức về lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng lực
của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức, khả năng
áp dụng của thể chế và thẩm quyền áp dụng
1.4.1.2 Đối với các nghiên cứu trong nước
Nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu tập trung ở phạm vi ngân sách cấp
quốc gia, hoặc cấp tỉnh
- Hướng nghiên cứu: (1) nghiên cứu về việc chuuyển đổi kế toán khu vực công từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích, hoặc nghiên cứu về xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia theo IPSAS, hoặc nghiên cứu về minh bạch thông tin kế toán và trách nhiệm giải trình (2) nghiên cứu vấn đề hoàn thiện thu, chi ngân sách cấp tỉnh hoặc hoàn thiện phương pháp lập dự toán NSNN
- Xu hướng vận dụng lý thuyết nền: đa phần không có khuôn khổ
lý thuyết nền rõ ràng
Phương pháp nghiên cứu: định tính truyền thống từ tổng hợp
lý thuyết đến đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
Kết quả nghiên cứu liên quan đến PBB: tại Việt Nam thì
chưa phát hiện ra nghiên cứu nào nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
1.4.2 Xác định khoảng trống trong nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
1.4.2.1 Khoảng trống trong nghiên cứu nước ngoài: Thứ nhất,
nghiên cứu ở cấp đơn vị khá hạn chế Thứ hai, nghiên cứu theo
hướng hành vi cá nhân chưa được chú trọng trong lĩnh vực này
1.4.2.2 Khoảng trống trong nghiên cứu trong nước: Thứ nhất:
các nghiên cứu tập trung ở ngân sách cấp quốc gia hoặc cấp chính
Trang 11quyền địa phương, còn cấp đơn vị khá hạn chế Thứ hai: chưa phát hiện được nghiên cứu nào liên quan đến các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị SNCL ở Việt Nam
1.4.2.3 Định hướng nghiên cứu:
“Đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội thành lập, có tư cách pháp nhân và cung cấp dịch vụ công ( như giáo dục, y tế,
…), phục vụ quản lý nhà nước” (Luật viên chức số 58/2010/QH12, 2012).Các đơn vị SNCL ở Việt Nam hoạt động
trong môi trường thể chế chính trị của một nhà nước XHCN; do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập thực hiện chức năng nhiệm vụ mà nhà nước giao nên được hỗ trợ ngân sách để hoạt động Tuy nhiên tùy từng loại đơn vị mà nhà nước có sự hỗ trợ ở mức độ khác nhau Đặc biệt, cơ chế hoạt động của các đơn
vị hiện đang được đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào khả năng tự chủ tài chính Ngoài ra, việc lập dự toán tại các đơn vị SNCL thường vận dụng các kỹ thuật đơn giản hơn doanh nghiệp
Tình hình hoạt động: Theo điều tra kinh tế năm 2017, các đơn vị
SNCL vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn tới 96% với gần 70.700 đơn vị, trong
đó hai ngành cao nhất là giáo dục và y tế (chiếm 61.7% và 19.3%) Hiện nay số lượng đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chi hoạt động vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn với 70.2% số đơn vị SNCL
Một số quy định pháp lý liên quan đến việc lập dự toán theo
mô hình PBB tại Việt Nam hiện nay (chi tiết trong luận án)
Không nhấn mạnh vào các kỹ thuật PBB mà tìm hiểu những động
Trang 12lực tác động đến hành vi của người lập dự toán chấp nhận hoặc chống lại việc áp dụng PBB
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Giới thiệu: chương này giới thiệu tổng quan về mô hình
PBB, các lý thuyết nền có liên quan và các khái niệm nghiên cứu
2.2 Tổng quan về mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động
2.2.1 Khái niệm khu vực công
Khu vực công là khái niệm để xác định một tập hợp các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp công và cả hệ thống ngân hàng trung ương của quốc gia (Ball et al., 2012)
2.2.2 Khái niệm dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách là một kế hoạch hành động thể hiện dưới dạng giá trị để hoàn thành các chương trình với các mục tiêu trong một thời gian nhất định gồm cả việc ước tính các nguồn lực cần thiết
và các nguồn lực có sẵn, thường được so sánh với một hay nhiều thời kỳ trong quá khứ và thể hiện các yêu cầu về nguồn lực trong tương lai (Bandy, 2014)
Dự toán NSNN
Dự toán NSNN được định nghĩa như là việc lập kế hoạch của nhà
nước về quy mô nguồn lực cần phải huy động trong xã hội, để sử dụng cho các nhu cầu chi tiêu nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (Trần Thị Thanh Hương, 2007)
Dự toán ngân sách tại đơn vị công
Dự toán ngân sách tại một đơn vị công là kế hoạch tổng quan về những hoạt động của một đơn vị công trong một thời kỳ nhất định, dưới các khía cạnh tài chính, gồm cả các khoản doanh thu
và chi phí, và thường được bổ sung bởi các thông tin khác về các
Trang 13hoạt động này, chẳng hạn như chức năng, mục tiêu hoặc tác động
mong muốn (Van Helden & Hodges, 2015)
2.2.3 Mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động (Performance based budgeting – PBB)
2.2.3.1 Khái niệm
Khái niệm về mô hình PBB
Trong các công trình trước chưa có định nghĩa hoàn chỉnh và đầy
đủ về khái niệm PBB Điểm chung của các định nghĩa là đề cập đến việc sử dụng các thông tin về kết quả nói chung, liên kết "mối quan hệ giữa ngân sách và kết quả" và "mối quan hệ giữa chỉ số kết quả hoạt động và đánh giá” Trong nghiên cứu này, dựa theo
định nghĩa của Mauro et al (2017), PBB là mô hình về quá trình
thu thập, soạn lập dự toán dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin
về kết quả hoạt động để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính của đơn vị nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của chính phủ nói chung và đơn vị nói riêng
Qua định nghĩa này PBB là một HTTT về tài chính, ngân sách
Khái niệm về kết quả hoạt động
Kết quả hoạt động là một khái niệm phức tạp và có thể được xem xet từ nhiều góc nhiều khác nhau (Dooren et al., 2015) Trong bối cảnh khu vực công, kết quả hoạt động là một khái niệm đa chiều
từ những lo ngại về việc tăng tính hiệu quả, tính hiệu lực, số lượng
và chất lượng đầu ra, năng suất, công bằng, cân đối, đáp ứng nhu cầu dịch vụ, niềm tin, sự hài lòng của người dân và người tiêu dùng (J Lee, 2008; Walker et al., 2011) Nhìn chung kết quả hoạt động liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực (van Helden & Reichard, 2013) Gần đây nhấn mạnh vào các tiêu chí liên quan đến đầu ra là tính hiệu quả, tính hiệu lực và tính phù
Trang 14hợp Do đó, trong luận án này, nghiên cứu việc sử dụng thoogn tin
kết quả hoạt động nội bộ đơn vị cho việc lập dự toán, chỉ đạo và thúc đẩy nhân viên, thiết lập mục tiêu, đánh giá và kiểm soát, hoạch định chiến lược Vì vậy kết quả hoạt động chủ yếu được xác định là đầu ra với quá trình hoạt động của đơn vị và kết hợp với kết quả mong muốn của chính phủ
2.2.3.2 Các yếu tố cơ bản của PBB
PBB là một mô hình lập dự toán trong đó yêu cầu các đơn vị công
và cả chính phủ phải thiết lập một HTTT quản lý liên quan đến việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính như thông tin đầu vào, chi phí tài trợ, đầu ra và mối quan hệ giữa các đầu ra với các yếu
tố đầu vào và những tác động của các yếu tố này đến kết quả mong muốn của chính phủ cũng như phù hợp với mục tiêu chính sách (Sử Đình Thành, 2005)
Hình 2.1 Sơ đồ các yếu tố cơ bản của PBB
Nguồn: (Sử Đình Thành, 2005) 2.2.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình PBB
Ưu điểm: truyền thông tốt hơn giữa các thành viên lập ngân sách
và công dân; Cải thiện hiệu quả và hiệu lực quản lý công trong các
cơ quan nhà nước; Thêm thông tin giúp việc ra các quyết định về ngân sách dễ dàng hơn; Giúp cải thiện trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của các hoạt động của chính phủ (Ehsein, 2014)
Nghĩa là góp phần vào việc đo lường