Việc xác định đúng đắn và đầy đủ vị trí, vai trò, để từ đó định ra chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn trong việc pháthuy quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức, góp phần th
Trang 1MỞ ĐẦU
Công đoàn Việt Nam – Tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấpcông nhân Việt Nam, ngay từ khi ra đời đã có vai trò là trường học đấu tranhgiai cấp, vận động công nhân đấu tranh chống giai cấp tư sản, bảo vệ quyềnlợi của công nhân, lao động Cuộc đấu tranh này ngày càng tăng, nó biểuhiện từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị mà mục đích là lật đổ chế độngười bóc lột người
Từ sau cách mạng tháng Tám, chính quyền thuộc về giai cấp công nhân,dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vai trò của công đoàn ngàycàng được xác lập, mở rộng Lịch sử đã chứng minh và khẳng định nhữngthành tựu của Công đoàn luôn gắn với sự nghiệp vẻ vang của Đảng và nhândân Việt Nam
Ngày nay, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ văn minh Đây là sự nghiệp trọng đại của toàn dân, củamọi tổ chức xã hội, trong đó có tổ chức công đoàn Do đó, muốn tồn tại, pháttriển và bắt kịp bước đi thời đại, đáp ứng nhiệm vụ mới của cách mạng, đòihỏi tổ chức công đoàn Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới cả về nội dung
và phương thức hoạt động Việc xác định đúng đắn và đầy đủ vị trí, vai trò,
để từ đó định ra chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn trong việc pháthuy quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức, góp phần thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề trở nên vô cùngbức thiết
Qua thực tế hơn 15 năm đổi mới đất nước, tổ chức Công đoàn khôngngừng tìm tòi, đúc kết những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn để tựđổi mới về mặt lý luận, đã có nhiều công trình nghiên cứu đổi mới nội dung
và phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm phát huy quyền làmchủ của cán bộ, công nhân viên chức-lao động Kết quả, những công trìnhkhoa học đó đã góp phần giúp cho công đoàn đạt được hiệu quả thiết thựctrong việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức-laođộng trong phạm vi cả nước
Liên đoàn lao động Thành phố là một thành viên trong hệ thống Côngđoàn Việt Nam, trong những năm qua cũng luôn quan tâm đến việc nghiên
Trang 2cứu đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động để nhằm phát huy hơnnữa vai trò của mình đối với việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ, côngnhân viên chức Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế quyền làmchủ của cán bộ, công nhân viên chức vẫn chưa được phát huy cao độ Một sốđơn vị vi phạm quyền làm chủ của người lao động, dẫn đến hiệu quả và vịthế của tổ chức công đoàn chưa được nâng cao, đây là vấn đề trăn trở, bứcxúc đối với người làm công tác công đoàn.
Với đề tài: “Vai trò của tổ chức Công đoàn đối với việc phát huy quyềnlàm chủ của cán bộ, công nhân viên chức – lao động trên địa bàn thành phốCần Thơ” của tiểu luận này, nhằm xác định vai trò của tổ chức Công đoàntrong lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động, từ đó đề xuất phươnghướng, giải pháp cơ bản và những biện pháp cụ thể của Liên đoàn lao động
TP Cần Thơ nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của cán bộ, công nhânviên chức trên địa bàn Cần Thơ
* Bố cục của tiểu luận : Tiểu luận gồm 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận về vai trò của công đoàn đối với việc phát
huy quyền làm chủ của cán bộ – công nhân viên
Chương II: Thực trạng việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ
-công nhân nhân viên ở Thành phố Cần Thơ dưới sự tác động của -công đoàn
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy quyền làm
chủ của cán bộ – công nhân viên trên địa bàn thành phố cần thơ trong thờigian tới
Trang 3CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA CÁN BỘ,
CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC.
1.1- Vai trò của công đoàn đối với việc phát huy quyền làm chủ của cán
bộ, công nhân viên chức – lao động:
1.1.1- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng ta về vai trò, vị trí của công đoàn.
Sức mạnh con người là ở tổ chức Trong các loại tổ chức của xã hội,
có những tổ chức mang tính quần chúng, hình thành trên cơ sở tự nguyện, tựchủ, thống nhất hoạt động, nhằm mục tiêu tác động tới các quá trình chính trị
- xã hội, để thỏa mãn nhu cầu chính trị – xã hội của các thành viên Đó chính
là các tổ chức chính trị – xã hội ngoài Nhà nước Công đoàn là một trongnhững tổ chức chính trị – xã hội nêu trên
Một cách khái quát, Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn nhấtcủa giai cấp công nhân, tự nguyện lập ra và tự nguyện hoạt động Đó là tổchức xuất hiện do yêu cầu của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhânchống giai cấp tư sản Các Đảng của giai cấp công nhân đều rất coi trọngviệc tổ chức công đoàn và thông qua công đoàn để vận động, tổ chức, giáodục, rèn luyện giai cấp công nhân, tiến hành đấu tranh cách mạng
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công đoàntrong hệ thống chính trị
Lênin nghiên cứu rất sâu về công đoàn Theo quan điểm của Lênin:
“Các công đoàn đã trở thành tổ chức của giai cấp lãnh đạo, thống trị nắmchính quyền, của giai cấp thực hiện nền chuyên chính, của giai cấp thực hiện
sự cưỡng chế của Nhà nước”(1)
Lênin đã xác định rõ: “Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ không phải
là việc riêng của Đảng cộng sản – Đảng chỉ là một giọt nước trong đại dương– mà là việc của tất cả quần chúng lao động”(1)
Giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, vị trí của Công đoàn khácnhau căn bản Trong chủ nghĩa tư bản, công đoàn đại diện cho quần chúng
(1) Giáo trình lý luận và nghiệp vụ công đoàn, NXB Lao động, 1999, tập 1, Tr.31
Trang 4lao động đứng đối lập với giai cấp bóc lột, đấu tranh đòi lợi ích kinh tế, tiếntới giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Trong chủ nghĩa xã hội, công đoàn trở thành một thành viên quantrọng trong hệ thống chính trị – xã hội xã hội chủ nghĩa, là đại diện chonhững người làm chủ xã hội Khi nói về vị trí của công đoàn trong hệ thốngchính trị – xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong hệ thốngchuyên chính vô sản, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Công đoàn là người cộng tác gầnnhất, cần thiết nhất của chính quyền Nhà nước do đội tiên phong của giai cấpcông nhân, tức Đảng cộng sản lãnh đạo toàn bộ sự hoạt động chính trị vàkinh tế của nó”(2) Công đoàn “đứng giữa Đảng và chính quyền Nhà nước”(3)
“Đứng giữa” có nghĩa là Công đoàn không phải là tổ chức mang tính chấtĐảng phái, Nhà nước, mà công đoàn vẫn là một tổ chức độc lập; Công đoànkhông tách biệt với Đảng và Nhà nước, mà có mối quan hệ chặt chẽ vớiĐảng và Nhà nước
Về vai trò của Công đoàn, Lênin cho rằng Công đoàn là trường họcquản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa cộng sản Là trường họcquản lý, Công đoàn giúp cho công nhân lao động biết quản lý, quản lý sảnxuất, quản lý xí nghiệp, quản lý các công việc xã hội Là trường học kinh tế,Công đoàn vận động công nhân tham gia tích cực vào các hoạt động kinh tế
Là trường học chủ nghĩa cộng sản, Công đoàn giúp cho công nhân lao độngbiết làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủnghĩa, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa
Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Công đoàncho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tiếp tục kế thừa và pháttriển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, hoàn thiện hệ thống lý luậncủa chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó gồm cả vấn đề thuộc lý luận và thựctiễn của hoạt động Công đoàn
đoàn:
b.1-Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí của công đoàn trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam:
Giai cấp công nhân Việt Nam; một trong những lực lượng xã hội mới,
ra đời trong cuộc “công nghiệp hóa cưỡng bức” của chủ nghĩa thực dân Pháp
Trang 5ở nước ta ngay từ đầu thế kỷ XX, đã nhanh chóng trở thành chủ thể của lịch
sử và từng bước thực hiện sứ mạng lịch sử của mình
Đảng và Nhà nước ta từ trước tới nay luôn luôn thể hiện quan điểm là:
“Ở thời kỳ nào, công tác vận động và tổ chức quần chúng làm cách mạngcũng có ý nghĩa chiến lược” Tổ chức Công đoàn là lực lượng nòng cốt củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam - cơ sở chính trị xã hội của Đảng cộng sản ViệtNam Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo đó thể hiện trong các nghị quyết, chỉthị của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn ý thức rằng:
“Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng phải ra sức chăm lo xây dựng độingũ giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng,xứng đáng với vai trò giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội”(1)
Trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), Bác Hồ đã xác định chứcnăng, tính chất của Công hội đỏ như sau: “Tổ chức Công hội trước là để chocông nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba
là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân khá hơn bây giờ; bốn là để giữgìn lợi quyền cho công nhân; năm là để giúp đỡ quốc dân, giúp cho thếgiới”(1)
Công hội đỏ ra đời, thể hiện Đảng ta đã vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về công đoàn vào hoàn cảnh thực tiễncủa cách mạng Việt Nam
Năm 1935, Đảng đã xác định: “ Muốn củng cố và phát triển Đảngtrước hết phải phát triển và củng cố các Công hội vì Công hội là tổ chức cầnthiết để nối liền giữa Đảng, với quần chúng”.(2)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), đã khẳng định: “ Đi đôi vớiviệc tăng cường giáo dục công nhân, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảngđối với phong trào công nhân, nâng cao vị trí công đoàn trong mọi hoạt động
xã hội, làm cho công đoàn thực sự trở thành trường học quản lý kinh tế, quản
lý Nhà nước, trường học của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Tăngcường tổ chức của Công đoàn và trau dồi năng lực của cán bộ công đoàn,làm cho công đoàn các xí nghiệp quốc doanh và công
Báo cáo chính trị BCHTW Đảng tại ĐHĐBTQ lần IV, NXB Sự thật, HN, 1977, Tr.67
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB chính trị QG, Hà Nội, 1995, tập3, Tr.302
Trang 6tư hợp doanh có thể tham gia đắc lực vào việc quản lý sản xuất và cải thiệnđời sống vật chất và văn hóa của quần chúng lao động Trong các cơ quankinh tế cần có đại biểu của công đoàn”.(3)
Sau khi đất nước thống nhất, Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đã xácđịnh rõ nhiệm vụ của Công đoàn trong giai đoạn mới là: “ Công đoàn cónhiệm vụ tham gia công việc của Nhà nước và kiểm tra hoạt động của Nhànước, tham gia quản lý xí nghiệp Ở Miền Nam, công đoàn có nhiệm vụgiáo dục những người công nhân trước đây làm việc trong chế độ cũ thànhngười công nhân xã hội chủ nghĩa, cần thu hút đông đảo công nhân vào tổchức công đoàn Trong các xí nghiệp tư nhân và xí nghiệp công ty hợpdoanh, công đoàn còn có nhiệm vụ bảo đảm vai trò và quyền lợi của côngnhân, hướng các xí nghiệp ấy sản xuất và kinh doanh theo đúng chính sách
và pháp luật của Nhà nước”.(1)
Đại hội V của Đảng (1982) tiếp tục nhấn mạnh: “ Công đoàn là tổ chứcquần chúng rộng lớn của giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo là lực lượngchủ lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là một bộ phận của hệ thốngchuyên chính vô sản”.(2)
b.2- Vai trò, vị trí và nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới:
Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của công đoàn ngày càng tăng Vai trò đóngày càng được mở rộng hơn trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Sự mở rộng vai trò Công đoàn là phù hợp với tính tấtyếu, khách quan, tính quy luật trong vận động và phát triển tổ chức Côngđoàn, theo quy luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, vai trò của Công đoàn đã tăng lênkhông ngừng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu: “ Các đoàn thể quần chúng, trướchết là công đoàn, có vai trò to lớn trong vận động mà các tầng lớp nhân dântham gia xây dựng, quản lý kinh tế và quản lý xã hội” và Đại hội cũng chỉ rõ:
“Lợi ích chính đáng của quần chúng đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giảiquyết Trước mắt, tập trung hướng giải quyết những vấn đề có thể giải quyếtđược, phù hợp với từng đối tượng”.(1)
Trong lĩnh vực kinh tế, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã đặt ra hàngloạt vấn đề phức tạp Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm xóa bỏ cơ
Trang 7chế hành chính, quan liêu bao cấp, thực hiện hạch toán kinh tế xã hội chủnghĩa, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ Đặt ra choCông đoàn yêu cầu là phải có vai trò tích cực trong việc xây dựng và thựchiện cơ chế quản lý mới.
Trong lĩnh vực chính trị, yêu cầu lớn đang đặt ra là phải xây dựng vànâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị – xã hội, xã hội chủ nghĩa Tăngcường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảo đảm và phát huyquyền làm chủ của nhân dân lao động, bảo đảm sự ổn định về chính trị.Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, địnhhướng xã hội chủ nghĩa tất yếu làm nảy sinh các tầng lớp giai cấp xã hộikhác nhau, nhiều loại tư tưởng khác nhau Hơn lúc nào hết Công đoàn cầntăng cường giáo dục công nhân, lao động nâng cao lập trường giai cấp, gópphần tăng cường khối liên minh công nông, làm nòng cốt cho khối đại đoànkết toàn dân, là cơ sở xã hội vững chắc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng
và tăng cường sức mạnh của Nhà nước
1.1.2- Công đoàn trong cơ chế thực hiện quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức lao động:
Khác với hệ thống chính trị trong các chế độ có giai cấp bóc lột, hệ thốngchính trị xã hội chủ nghĩa, bao gồm hệ thống các tổ chức thống nhất nhằmphát huy quyền lực chính trị của nhân dân lao động Cơ cấu tổ chức hệ thốngchính trị xã hội chủ nghĩa gồm các yếu tố cơ bản như: Đảng cộng sản – Nhànước xã hội chủ nghĩa và các tổ chức xã hội chính trị của nhân dân
Về thực chất hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ thống chuyên chính
vô sản, đều nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao độngtrong sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa
Công đoàn Việt Nam là một tổ chức quần chúng rộng lớn của giai cấpcông nhân, là một thành viên quan trọng trong hệ thống chính trị xã hội, tựnguyện và độc lập của quần chúng Đại hội VI Công đoàn Việt Nam đã xácđịnh rõ về vị trí của công đoàn Việt Nam trong chặng đầu của thời kỳ quá độnhư sau: Công đoàn Việt Nam nằm trong hệ thống chính trị xã hội của Nhànước chuyên chính vô sản, là trung tâm tập hợp, đoàn kết,
giáo dục, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động Công đoàn ViệtNam là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần
(1) Dẫn từ kỷ yếu Công đoàn Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, 1998, Tr.49
(2) Dẫn từ kỷ yếu Công đoàn Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, 1998, Tr.41 (2) Sđd, trang 45
Trang 8chúng Công đoàn Việt Nam là người cộng tác đắc lực của Nhà nước chuyênchính vô sản.
Trong hệ thống chính trị, Đảng cộng sản là người lãnh đạo, là trung tâm,
là hạt nhân của tất cả các tổ chức Nhà nước và các đoàn thể quần chúng Nhànước là công cụ chủ yếu để thực hiện công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới, xã hội chủ nghĩa Mối quan hệ giữa Công đoàn với các thànhviên khác trong hệ thống chính trị là mối quan hệ độc lập, chủ động phối hợptrên cơ sở các định hướng chính trị do Đảng vạch ra và trên cơ sở quy chếphối hợp dựa theo nguyên tắc Mác – Xít của lập trường giai cấp công nhân.Tính độc lập ở đây là độc lập về tổ chức và hoạt động mà ta thường nói là
“độc lập tương đối”, không phải là độc lập hoàn toàn, không phải là độc lập
về chính trị Bởi vì, Công đoàn không có đường lối chính trị riêng, mọi hoạtđộng của Công đoàn đều theo định hướng chính trị của Đảng cộng sản ViệtNam Độc lập về hoạt động là chủ động đề ra các nội dung, phương thứchoạt động không trái với pháp luật quy định Chính mối quan hệ này đã giúpcho công đoàn hoạt động không chệch hướng và cũng không ỷ lại, trông chờ.Công đoàn Việt Nam, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, hoạt độngđộc lập với Nhà nước, nhưng luôn kết hợp chặt chẽ với Nhà nước nhằm thúcđẩy mọi quá trình quản lý của Nhà nước đạt hiệu quả và theo quan điểm Nhànước của dân, do dân, vì dân
1.2- Công đoàn với việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức:
1.2.1- Nhiệm vụ của tổ chức công đoàn:
Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về xây dựng và thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công nhânviên chức – lao động, Đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã
ký thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-TCCP-TLĐLĐ ngày 04/12/1998cùng Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ, Quy định trách nhiệm của tổ chức côngđoàn trong việc phát huy quyền dân chủ của cán bộ, công nhân viên chức-laođộng và tham gia tổ chức Hội nghị cán bộ công chức trong các cơ quan hànhchính sự nghiệp và đại hội công nhân viên chức trong các doanh nghiệp nhànước Văn bản quy định rõ trách nhiệm của tổ chức Công đoàn như sau:
- Thông báo kết quả hội nghị cán bộ công chức; đại hội công nhân viênchức; kế hoạch triển khai nghị quyết đến toàn thể cán bộ công nhân viênchức – lao động cơ quan, đơn vị
Trang 9- Phối hợp với Thủ tướng cơ quan, Bí thư Đoàn thanh niên, động viên cán
bộ công nhân viên chức thực hiện nghị quyết hội nghị cán bộ công chức; đạihội công nhân viên chức, nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, côngnhân viên chức, góp phần xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh; xâydựng đội ngũ cán bộ công chức là công bộc của nhân dân có đủ phẩm chấtnăng lực, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng yêu cầu pháttriển và đổi mới của đất nước, ngăn chặn và chống tham nhũng, lãng phí,quan liêu, phiền hà sách nhiễu dân
- Chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân cơ quan, thực hiệnquyền tự tổ chức kiểm tra của Công đoàn theo quy định của pháp luật, đảmbảo kết quả thực hiện nghị quyết và các quyết định của Hội nghị cán bộ côngchức và Đại hội công nhân viên chức của cơ quan, đơn vị
Hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộcông chức; Nghị quyết Đại hội công nhân viên chức; phát hiện và kiến nghịvới thủ trưởng cơ quan các biện pháp giải quyết để thực hiện tốt Nghị quyếtHội nghị cán bộ công chức; Nghị quyết Đại hội công nhân viên chức tại cơquan đơn vị
- Định kỳ 6 tháng công đoàn cùng với Thủ trưởng đơn vị kiểm điểm, sơkết tình hình thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ công chức; Nghị quyếtĐại hội công nhân viên chức, việc thực hiện nội quy, quy chế cơ quan; thoảước lao động tập thể và phong trào thi đua, thông báo cho công nhân viênchức lao động trong doanh nghiệp; cơ quan hành chính sự nghiệp biết và báocáo Công đoàn cấp trên
1.2.2.- Những kết quả đạt được trong việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ – công nhân viên chức:
Nhìn chung, qua việc tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhiềuGiám đốc, Thủ trưởng đơn vị đã cùng với Ban chấp hành Công đoàn đãnghiên cứu thực hiện có chiều sâu, nhiều nội dung được công khai cho ngườilao động biết, bàn, giám sát việc thực hiện Nhiều đơn vị xây dựng được quychế, quy định sát thực tế, giúp cho công nhân viên chức – lao động thực hiệntốt quyền làm chủ của mình, tham gia đóng góp ý kiến kế hoạch công tác,sản xuất kinh doanh Công khai chế độ chính sách có liên quan đến lợi íchcông nhân viên chức – lao động Tổ chức lấy ý kiến về năng lực lãnh đạo,quản lý của Giám đốc, Thủ trưởng cơ quan và các trưởng phòng, ban Quản
lý tài chính chặt chẽ hơn, đời sống cán bộ, công nhân viên chức – lao độngtừng bước được ổn định và nâng lên Bước đầu thực hiện quy chế dân chủ ở
Trang 10đơn vị mang lại kết quả như phát huy được năng lực làm việc của cán bộcông nhân viên chức lao động trong sản xuất, công tác, khơi dậy được phongtrào thi đua, nội bộ đoàn kết, cấp uỷ, giám đốc, các đoàn thể thống nhất hơn.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA CÁN
BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC THÀNH PHỐ CẦN THƠ DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN
2.1- Đặc điểm tình hình:
Trang 11a Vị trí địa lý:
Thành phố Cần Thơ thuộc khu vực sông Hậu, có diện tích tự nhiên2.997,3 km2 Vị trí địa lý 105 độ14’03” đến độ 17’57” độ kinh đông, 09 độ10’53” đến 10 độ 19’17” vĩ độ Bắc
- Bắc giáp tỉnh An Giang - Đồng Tháp
- Nam giáp tỉnh Bạc Liêu – Sóc Trăng
- Đông giáp tỉnh Vĩnh Long
- Tây giáp tỉnh Kiên Giang
Dân số: 1.855.990 người trong đó có: 35.803 đồng bào Khơme, 22.950người Hoa; trên 664.000 tín đồ các tôn giáo, 394 cơ quan Nhà nước, 49doanh nghiệp Nhà nước
b Tình hình công nhân viên chức – lao động của Thành phố Cần Thơ:
Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình xây dựng phát triểncủa Thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ CNVC –
LĐ Thành phố Cần Thơ có sự phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng,
đa dạng về cơ cấu ngành nghề ở các khu vực kinh tế
Đội ngũ CNVC – LĐ Thành phố Cần Thơ hiện nay có 156.795 người.Trong đó, CNVC – LĐ khu vực nhà nước có 47.334 người, công nhân, laođộng (CNLĐ) làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty, trách nhiệmhữu hạn, khu vực kinh tế tập thể, cá thể, tiểu chủ, các tổ chức nghề nghiệp (gọi chung là khu vực ngoài quốc doanh) hiện có 109.461 người Riêng cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài có hơn 3.000 người, đa số làCNLĐ trẻ
Phần lớn cán bộ, công chức (CBCC) khu vực nhà nước được đào tạochuẩn hóa về học vấn, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đang góp phần tíchcực trong việc nghiên cứu, tham mưu quản lý, điều hành góp phần rất tíchcực trong sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh
Tuy nhiên, đội ngũ CNVC – LĐ Thành phố vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế Trình độ tay nghề, bậc thợ của công nhân trực tiếp sản xuất thuộc
các thành phần kinh tế, nhìn chung còn thấp Tỷ lệ lao động giản đơn chưaqua đào tạo tăng, nhất là trong các ngành may, giày da, xây dựng
Trang 12Một bộ phận CNLĐ ở khu vực kinh tế NQD và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, do thời gian, điều kiện lao động và tính chất công việc, nên ít
có điều kiện sinh hoạt chính trị, hội họp để thông tin, tuyên truyền nên nhậnthức chính trị, ý thức giác ngộ giai cấp, hiểu biết về Đảng, về CĐ và kiếnthức pháp luật còn hạn chế Tỷ lệ đảng viên là công nhân trực tiếp sản xuấtthấp, chỉ đạt 7,1%
Một số CNLĐ chạy theo lối sống thực dụng, chưa tích cực với các hoạtđộng chính trị, ý thức kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp còn yếu;một số vi phạm pháp luật hoặc bị vướng vào các tệ nạn xã hội Một bộ phậnCBCC bị tha hóa về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, quan liêu, lãng phí,làm giàu bất chính
Nguyện vọng chung của CNVC – LĐ hiện nay là mong muốn đất nướcluôn ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng được giữ vững, kinh tế – xãhội ngày càng phát triển; các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng được đảmbảo, có việc làm ổn định, thu nhập tương xứng với sức lao động, đảm bảocuộc sống của bản thân và gia đình; mong muốn Nhà nước tạo điều kiện đểđược học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, tiếp thu được khoa họccông nghệ tiên tiến
c Về tổ chức bộ máy công đoàn Thành phố Cần Thơ:
Bộ máy tổ chức công đoàn Thành phố Cần Thơ gồm có văn phòng, 6 banchuyên đề và 3 bộ phận trực thuộc giúp Ban chấp hành triển khai thực hiệncác nghị quyết của công đoàn Công đoàn cấp dưới có: 9 liên đoàn lao độngđịa phương, 6 công đoàn ngành, 1 công đoàn 4 cấp và 1.311 công đoàn cơ
sở, nghiệp đoàn với 58.859 đoàn viên
Phương châm chỉ đạo của Liên đoàn lao động Thành phố là: Hoạt động ởcác cấp công đoàn phải gắn với chiều sâu nghề nghiệp và tính phong phú đadạng của vấn đề xã hội của địa phương, làm cho công đoàn thực hiện tốtchức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt là đối với việc phát huy quyền làmchủ của công nhân viên chức – lao động, nhằm đáp ứng đòi hỏi của phongtrào chung trong Thành phố
2.1.1- Những thành tựu đạt được trong việc phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công nhân viên chức lao động dưới tác động của tổ chức công đoàn:
a Tình hình tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở:
Trang 13Thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về xâydựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nghị định của Chính phủ số71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 về quy chế thực hiện dân chủ trong hoạtđộng cơ quan và Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13/02/1999 về quy chếthực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước và các văn bản chỉ đạo củaĐoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Ban Tổ chức Cán bộChính phủ, mỗi năm Ban Thường vụ Liên đoàn lao động Thành phố có vănbản chỉ đạo, hướng dẫn mở Đại hội công nhân viên chức, trong doanh nghiệpNhà nước; đồng thời phối hợp với Ban Tổ chức Chính quyền Thành phố cóvăn bản liên tịch hướng dẫn mở Hội nghị cán bộ công chức trong các cơquan hành chính sự nghiệp, cung cấp tài liệu và mở các lớp tập huấn theotừng loại hình dân chủ, cụ thể năm 2003 đã có 98,4% CBCC và 91,1%CBCNLĐ được học tập các nghị quyết trên.
Song song với triển khai học tập, Liên đoàn lao động Thành phố chọnmột doanh nghiệp Nhà nước và một cơ quan hành chính sự nghiệp làm điểmchỉ đạo rút kinh nghiệm, để triển khai ra diện rộng Từ cách làm trên đã gópphần nâng cao chất lượng Đại hội công nhân viên chức, Hội nghị cán bộcông chức, phát huy dân chủ ở cơ sở
b Kết quả đạt được:
b.1- Đối với cơ quan hành chính sự nghiệp:
Đến nay có 392/394 cơ quan hành chánh sự nghiệp từ huyện tới Thànhphố đã xây dựng được Quy chế dân chủ và đã triển khai thực hiện Trong cơquan, thủ trưởng đã thể hiện trách nhiệm trong việc phát huy dân chủ hơn sovới trước như việc xây dựng quy chế làm việc giữa Đảng, chính quyền và tổchức Công đoàn, Đoàn thanh niên Thông qua Hội nghị cán bộ, công chứcThủ trưởng thông báo kế hoạch, chương trình công tác năm, các nội quy, quychế liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, tiếp thu vàgiải quyết các ý kiến, kiến nghị của cán bộ, công chức Riêng ngành giáo dụcthực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục – đào tạo, ngành cũng đã triển khai Quychế dân chủ trong trường học cho các trường từ trung học cơ sở trở lên.Tình hình cải cách thủ tục hành chánh giảm phiền hà cho dân được đẩymạnh: huyện Thốt Nốt, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thanh áp dụng cơ chế
“một cửa” Ngành Thanh tra, giáo dục, y tế có những quy chế, đề án trưngcầu ý kiến nhân dân, đưa hoạt động sát cơ sở, rút ngắn thời gian giải quyếtcông việc của công dân được dư luận đồng tình Công tác tiếp dân, nhận vàgiải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân được quan tâm hơn Trên
Trang 14lĩnh vực công chứng, hộ tịch: các quy trình thụ lý hồ sơ tại các bộ phậnnghiệp vụ, mẫu hóa các loại chứng thư, giảm công đoạn đã có bước cảitiến đáng kể, rút ngắn thời gian so với trước Người dân an tâm hơn khi tớiPhòng công chứng, Phòng hộ tịch đã có lịch thời gian giải quyết từng vụ việcmột cách cụ thể, niêm yết tại phòng làm việc của từng bộ phận Việc tiếp dân
và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân đã thực hiện tốt: thường xuyên tổchức cho các sở, ngành có liên quan và địa phương đối thoại trực tiếp vớicông dân giải quyết những thắc mắc của dân, định kỳ bố trí lịch tiếp dânhằng tuần và đột xuất khi có vụ, việc cấp thiết
Việc triển khai thực hiện cơ chế dân chủ trong cơ quan đã góp phần rấtlớn vào sự đổi mới phương thức lãnh đạo và lề lối làm việc của các cơ quanhành chánh sự nghiệp theo hướng dân chủ, công khai, cán bộ, công chức dầndần khắc phục được lề lối làm việc tùy tiện, cảm tính và ngày càng sát dân
để lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.Tình trạng sách nhiễu, mất dân chủ, làm giảm lòng tin của nhân dân đã giảm
so với trước Qua thực hiện chỉ thị 30-CT/TW, thông báo 304-TB/TW, Nghịđịnh 71/CP và đặc biệt là khi tiếp thu chỉ thị 10/TW, nhận thức của cácngành, của cán bộ, tổ chức có nâng lên Vai trò lãnh đạo của các tổ chứcđảng trong cơ quan hành chánh sự nghiệp được quan tâm hơn trong việc lãnhđạo thực hiện tốt việc tập trung dân chủ, trong phê bình và phê bình, trongđánh giá xếp loại cán bộ công chức hằng năm theo pháp lệnh cán bộ, côngchức, mọi vấn đề trong cơ quan đều được bàn bạc dân chủ, cán bộ công chứcđược quyền đóng góp ý kiến, từ việc quy hoạch đội ngũ cán bộ kế thừa đếnđào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, cân nhắc, khen thưởng, tài chánh, chương trìnhcông tác cơ quan, đơn vị…đã góp phần hạn chế tiêu cực, mất đoàn kết nội
bộ, không khí dân chủ trong cơ quan tốt hơn, cán bộ công chức phấn khởi, tựtin hơn
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện quy chế dân chủ cũng cònmột số mặt yếu kém cần được quan tâm khắc phục: có cơ quan, đơn vị chưanhận thức đầy đủ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện quy chế dânchủ, nơi này nơi khác cán bộ công chức chưa phát huy được quyền làm chủcủa mình Trên thực tế, việc thực hiện Nghị định 71-NĐ/CP của Chính phủthì các cơ quan hành chánh sự nghiệp đã triển khai 100%, nhưng hiệu quả vàphương pháp, cũng như sự quyết tâm của lãnh đạo cơ quan đơn vị có nơichưa thật sự dân chủ, hoặc dân chủ hình thức: các biện pháp cải tiến tổ chức
và lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng,
Trang 15cán bộ, công chức, đề bạt, việc thực hiện kinh phí hoạt động, chính sách, chế
độ quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan có những nơi cán bộ công chứcchưa có điều kiện giám sát
b.2-Đối với doanh nghiệp nhà nước:
Trong năm qua từng bước doanh nghiệp Nhà nước đã quán triệt Nghịđịnh 07/CP trong tổ chức Đảng, hội đồng quản trị, ban giám đốc, công đoàn,đoàn thanh niên, cán bộ quản lý và đã phát huy quyền làm chủ của côngnhân lao động một cách tốt hơn Có nhiều nơi đã phát huy có hiệu quả banthanh tra nhân dân, tổ chức công đoàn, xây dựng nội quy, quy chế doanhnghiệp được người lao động trực tiếp đóng góp, thực hiện thùng thư “đónggóp ý kiến” Vai trò tổ chức công đoàn được phát huy, bảo vệ quyền lợichính đáng cho người lao động Những “ký kết hợp đồng trách nhiệm giữagiám đốc và chủ tịch công đoàn” trong việc thực hiện nhiệm vụ doanhnghiệp đã tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của công nhân
Thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước: việc hội đồngquản trị, giám đốc công khai; việc người lao động tham gia ý kiến, việcngười lao động quyết định, việc người lao động giám sát kiểm tra đã giúpcho người lao động phát huy hơn nữa quyền làm chủ của mình, được côngkhai chế độ, chính sách, bình bầu khen thưởng và xử lý kỷ luật doanhnghiệp…Ở những cơ quan đơn vị làm tốt đã phát huy được dân chủ và trí tuệcủa cán bộ công chức, hạn chế thắc mắc khiếu nại của công nhân lao động,thúc đẩy mọi người nhiệt tình hăng hái hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng
và hiệu quả cao hơn Mặt khác, quy chế còn có tác dụng tốt trong việc ngănngừa tiêu cực, lãng phí
Việc làm rõ nét khi thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp Nhànước là những việc người lao động được tham gia ý kiến trước khi hội đồngquản trị, giám đốc doanh nghiệp quyết định Hằng năm, thủ trưởng cơ quan(công ty, xí nghiệp) phối hợp với chủ tịch công đoàn tổ chức đại hội côngnhân viên chức theo quy định, triển khai việc thực hiện kế hoạch công tácnăm; bàn biện pháp cải tiến điều kiện làm việc và nâng cao đời sống chongười lao động (hoặc đại diện người lao động) đã thể hiện quyền dân chủ,tham gia ý kiến và biểu quyết các vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và quyềnlợi của mình Mặt khác nội dung thỏa ước lao động tập thể để ký kết giữagiám đốc và chủ tịch công đoàn hoặc đại diện công đoàn (cam kết về việclàm và đảm bảo việc làm, thời gian nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, phụcấp lương, định mức kinh tế-kỹ thuật, an toàn lao động, vệ sinh lao động và