1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn Toà án quân sự Việt Nam

90 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, một số quy định còn hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn như quy định về quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với người đồng phạm, quy định hành vi vượt quá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÍ THỊ THANH NGA

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN

QUÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mãsố: 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHÙNG THẾ VẮC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa

vụ tài chính theo quy định của Học viện khoa học xã hội Hà Nội

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHÍ THỊ THANH NGA

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠTTRONG ĐỒNG PHẠM 7

1.1 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 7 1.2 Nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 12 1.3 Pháp luật hình sự một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 30

Chương 2:QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG TẠI CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ NƯỚC TA 36

2.1 Quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 36 2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm tại các Tòa án quân sự Việt Nam 44

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 65

3.1 Dự báo về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và phương hướng bảo đảm 65 3.2 Các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 69

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIỆT TẮT

LHS: Bô luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm TNHS: Trách nhiệm hình sự TAQS: Tòa án quân sự XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây tình hình tội phạm trong và ngoài Quân đội vẫn đang có chiều hướng gia tăng và tiềm ẩn diễn biến phức tạp Theo số liệu thống

kê của Tòa án quân sự (TAQS), trong cơ cấu tội phạm thì tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể, trung bình trên 11% tổng số các vụ phạm tội, với tính chất và mức độ nguy hiểm thường cao hơn các trường hợp phạm tội thông thường Đặc biệt, có những vụ án đồng phạm thực hiện trong thời gian dài, trải khắp nhiều địa bàn, xâm phạm nhiều loại quan

hệ xã hội, trong đó có cả các quan hệ về an ninh quốc phòng, gây thiệt hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho quân đội nói riêng và quốc gia nói chung

Các vụ án đồng phạm thường có tính nguy hiểm cao vì trong đồng phạm, mỗi người đồng phạm khi thực hiện tội phạm có vai trò, vị trí khác nhau nhưng liên kết, hỗ trợ lẫn nhau cùng thực hiện phạm tội, từ đó củng cố quyết tâm phạm tội, tạo điều kiện để những người phạm tội có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho tất cả các loại quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, trong đó, có những loại quan hệ xã hội chỉ có thể bị xâm phạm bởi tội phạm có đồng phạm Khi những người đồng phạm có “sự câu kết chặt chẽ” với nhau thành các băng, nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm thì tính chất, mức độ nguy hiểm lại cao hơn đồng phạm thông thường

Vì vậy, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có đồng phạm bằng các biện pháp trách nhiệm hình sự của các TAQS có ý nghĩa quan trọngtrong giai đoạn hiện nay Trong đó, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm chính là thực hiện trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm Quyết định hình phạt đúng đảm bảo cho hình phạt thực hiện được mục đích đặt ra

Chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đã được quy định ngay từ khí có Bộ luật hình sự năm 1985 và được sửa đổi, bổ sung qua các

Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tuy nhiên, một số quy định của Bộ luật hình sự về chế định này còn chưa đầy đủ, rõ

Trang 6

2

ràng, có thể tạo ra nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất như quy định về phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, quyết định hình phạt trong các giai đoạn thực hiện tội phạm có đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm, nguyên tắc trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, tổ chức tội phạm Bên cạnh đó, một số quy định còn hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn như quy định về quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với người đồng phạm, quy định hành vi vượt quá của những người đồng phạm (không chỉ là người thực hành)…

Do đó, việc nghiên cứu về lý luận chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, phân biệt quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm so với quyết định hình phạt trong trường hợp thông thường, từ đó đối chiếu với các quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để có nhận thức toàn diện hơn về các lý luận và thực tiễn lập pháp của chế định này, đồng thời, nghiên cứu thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm của TAQS các cấp để đánh giá kết quả và chỉ ra những hạn chế Đề xuất các vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, các biện pháp đảm bảo áp dụng đúng, thống nhất trong hệ thống TAQS là rất cần thiết, nhất là khi Bộ luật hình

sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018

Với những lý do nên trên, tôi quyết định chọn: “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn Toà án quân sự Việt Nam” làm đề

tài Luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, dưới nhiều góc độ tiếp cận, phương pháp tiếp cận, phạm vi tiếp cận khác nhau, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công

trình như:Luận án “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp, bảo vệ năm 2000 tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận án “Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam” - của TS Phí

Trang 7

3

Thành Chung, bảo vệ năm 2016 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận

văn thạc sĩ “Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam”, Khoa Lụât

Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009; Luận văn thạc sĩ Quyết định hình phạt

trong trường hợp đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk Lắk) của tác giả Nguyễn Đình Tuyên thực hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Luận văn thạc sĩ Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong Luật Hình sự Việt Nam của

tác giả Mai Lan Ngọc thực hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm

2012; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hòa với đề tài Người thực hành trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam thực hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011; Luận văn Thạc sĩ với đề tài Người tổ chức trong đồng phạm theo Luật hình sư Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai thực

hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011

Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết nghiên cứ về chế định đồng phạm, được

công bố trên các tạp chí nghiên cứu khoa học như:“Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm” của PGS TS Dương Tuyết Miên;“Vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm”, “Những biểu hiện của nguyên tắc phân hóa TNHS trong đồng phạm” của TS Cao Thị Oanh; “Về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm”của PGS TS Lê Thị Sơn; “Chế định đồng phạm trong luật hình sự nhìn

từ góc độ so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới” của PGS.TS.Hồ

Sỹ Sơn; “Quyết định hinh phạt: Một sô vấn đề chung”,“Pháp chế xã hội chủ nghĩa và việc quyết định hình phạt”, “Nguyên tắc cá thể hóa việc quyết định hình phạt”, “Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi quyết định hình phạt”của tác giả GS TS Võ Khánh Vinh

Nghiên cứu các bài viết trên cho thấy, các tác giả đã đi sâu phân tích làm

rõ nhiều khía cạnh của chế định đồng phạm và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, đồng thời phản ánh chân thực, sát đúng về thực trạng áp dung chế định đồng phạm trong thời gian qua, một số đề xuất nhằm khắc phục các hạn chế, sai sót trong quá trình quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm,

Trang 8

4

cũng như các kiến giải về mặt lập pháp tương đối thuyết phục Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết nghiên cứu khoa học các tác giả mới chỉ tập trung đề cập đến một hoặc một số vướng mắc, bất cập nổi cộm mà chưa có điều kiện đi sâu phân tích, làm rõ toàn diện nội dung chế định này, và các hạn chế, bất cập trong thực tiễn xét xử tại TAQS các cấp Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu

chúng tôi thấy, việc nghiên cứu đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nghiên cứu thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự hiện nay”là vấn

đề cần thiết trong giai đoạn hiện này, nhất là khi BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) chuẩn bị có hiệu lực thi hành - trong đó có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả, kế thừa và chọn lọc những hạt nhân hợp lý để một lần nữa góp phần làm sâu sắc lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Làm sáng tỏ các quy định của BLHS về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, từ đó bổ sung, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam Luận văn đánh giá thực trạng áp dụng chế định này của ngành TAQS trong thời gian qua, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án đồng phạm trong thời gian tới

- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài: Để đạt được mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau: Xây dựng khái niệm khoa học về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; phân tích các quy định của BLHS hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm bao gồm căn cư và nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; quy định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm theo luật hình sự một số nước trên thế giới; đánh giá về những kết quả đạt được và các sai sót, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; đưa ra một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS về chế định

Trang 9

5

quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, kiến nghị trong hoạt động áp dụng pháp luật vào quá trình quyết định hình phạt trong các vụ án đồng phạm của ngành TAQS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quan điểm khoa học về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; nghiên cứu quy định pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và thực tiễn áp dụng chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm tại TAQS các cấp

- Phạm vi nghiên cứu: Khi nghiên cứu về lý luận, Luận văn tập trung làm

rõ khái niệm khoa học về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Khi nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Luận văn tập trung vào các quy định của BLHS cụ thể: Khái niệm pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nguyên tắc xử lý, TNHS trong đồng phạm Khi nghiên cứu về thực tiễn áp dụng quy định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Luận văn đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong phạm vi ngành TAQS trong 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2017) thông qua việc phân tính một số bản án, một số thông báo kiểm tra án và hướng dẫn về áp dụng chế định đồng phạm của cơ quan có thẩm quyền Về phần giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án đồng phạm, Luận văn xác định tập trung vào hai nhóm giải pháp: giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp về hoạt động áp dụng pháp luật

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm; thành tựu của khoa học pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Trang 10

6

Quá trình thực hiện, để nghiên cứu về lý luận và quy định của pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh Để nghiên cứu thực tiễn đề tài sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp thống kê và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Luận văn góp phần hệ thống vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

- Về thực tiễn: Luận văn góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót của TAQS các cấp cấp trong thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và góp phần nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có đồng phạm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo chuyên

đề được kết cấu bởi 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Chương 2: Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án quân sự nước ta

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Trang 11

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

TRONG ĐỒNG PHẠM

1.1 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nội dung quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt bởi vì đồng phạm cũng chỉ là một hình thức phạm tội Tuy nhiên, hình thức phạm tội đồng phạm là một trường hợp phạm tội đặc biệt nên có những đặc thù riêng khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm:

Thứ nhất, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trên cơ sở hoạt động định tội danh đồng phạm

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là giai đoạn tiếp theo của hoạt động định tội danh đồng phạm Do đó, bắt buộc phải định tội danh đồng phạm đúng thì quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm mới chính xác

Đối với các tội phạm đơn lẻ thì việc định tội danh chỉ là việc lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết thực tế để đưa ra kết luận về sự đồng nhất giữa tình tiết thực tế với cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự Trong đồng phạm, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được trong hành vi của người phạm tội có tất cả các dấu hiệu của tội phạm chung và các cơ sở trách nhiệm hình sự chung trong đồng phạm

Cơ sở của việc định tội danh trong đồng phạm chính là việc xác định sự phù hợp giữa hành vi của người phạm tội với cấu thành tội phạm đồng phạm Trong đó, cấu thành tội phạm đồng phạm là sự kết hợp giữa các dấu hiệu của chế định đồng phạm được quy định tại Phần chung và các dấu hiệu của tội phạm cụ thể được quy định tại điều luật Phần các tội phạm Bộ luật hình sự Ở đây, hành

Trang 12

8

vi của người đồng phạm được xem xét không phải một cách độc lập mà ở dạng tổng thể các hành vi do những người đồng phạm khác thực hiện Tất cả những hành vi đã được những người đồng phạm cùng thực hiện, những hậu quả có hại

đã gây ra hoặc có thể gây ra bởi hành động chung của những người đồng phạm đều phải được xem xét để định tội danh đồng phạm Đặc biệt cần quan tâm, chú

ý hành vi của người thực hành bởi hành vi của người thực hành trong vụ đồng phạm là hành vi trung tâm và “chế định đồng phạm được biểu hiện bởi các yếu

tố của các giới hạn trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm và tính chất của tội phạm do người thực hành thực hiện [17, tr 110].”

Thứ hai, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải tuân thủ các nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

Để xác định trách nhiệm hình sự đối với từng người trong đồng phạm phải làm rõ ba vấn đề: 1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những người đồng phạm cùng thực hiện có phải là tội phạm không và là tội phạm gì? 2) Việc cùng thực hiện tội phạm đó có phải là đồng phạm không? 3) Tính chất và mức độ để quy trách nhiệm hình sự đối với từng người đồng phạm

Vấn đề thứ nhất và thứ hai đã được giải quyết trong giai đoạn định tội danh đồng phạm Còn việc xác định tính chất và mức độ hành vi của người đồng phạm chính là cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự trong đông phạm mà ở đó quyết định hình phạt lại là một khâu quan trọng Vì vậy, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải tuân thủ các nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự trong đồng phạm Đây là các nguyên tắc có tính riêng biệt áp dụng trong đồng phạm, bao gồm: nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm và nguyên tắc cá thể hóa TNHS của những người đồng phạm

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm:Trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện do sự nỗ lực hợp tác chung của tất cả những người tham gia Hành động của mỗi người tham gia thực hiện tội phạm là hành động liên hiệp Hành vi của mỗi người là một bộ phận, một khâu cần thiết trong

Trang 13

9

hoạt động phạm tội chung thống nhất Hành vi của người này là tiền đề, điều kiện cho hành vi của những người đồng phạm khác Hậu quả của tội phạm là kết quả hoạt động chung của tất cả những người cùng tham gia đưa lại Vì vậy, khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải tuân thủ nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà cả bọn gây ra, bị truy tố, xét xử về cùng một tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi chế tài điều luật ấy quy định

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm: Trong một vụ đồng phạm, mỗi người đồng phạm tuy phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà họ cùng thực hiện, nhưng

do nguyên tắc trách nhiệm cá nhân này mà khi quyết định hình phạt cho mỗi người đồng phạm phải dựa trên cơ sở hành vi cụ thể của mỗi người

- Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm: Những người tham gia tuy phạm cùng một tội nhưng tính chất và mức

độ tham gia của mỗi người là khác nhau do đó tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi người cũng khác nhau Do đó, việc xác định TNHS phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, phù hợp với những đặc điểm nhân thân người phạm tội

Thứ ba, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm có những căn

cứ thể hiện tính chất đặc thù

Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi mang tính nguyên tắc vì

đó chính là những biểu hiện, những đòi hỏi của các nguyên tắc quyết định hình phạt Nếu như các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo, tư tưởng xuất phát xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội thì các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi mà Tòa án phải dựa vào đó để quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng, hợp lý đối với người phạm tội Nghĩa là, khi quyết định hình phạt, Tòa án, một mặt, phải tuân theo những tư tưởng chỉ đạo (nguyên tắc) nhất định và mặt khác, phải dựa vào những đòi hỏi (căn cứ) nhất định mới có đầy đủ

Trang 14

Đồng phạm với đặc điểm là một hình thức phạm tội đặc biệt, trong đó có nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm Những người phạm tội phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, tuy nhiên, trách nhiệm hình sự của mỗi người đòi hỏi phải có sự phân hóa căn cứ tính chất, mức độ tham gia vào việc phạm tội của những người đồng phạm, nhân thân người phạm tội Để có cơ sở cho việc quyết định hình phạt có tính phân hóa cho từng người đồng phạm, Tòa

án không chỉ tuân thủ các quy định về các căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho mọi trường hợp phạm tội nói chung mà còn phải tuân thủ các quy định đặc thù áp dụng riêng cho đồng phạm

Căn cứ để phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm để xác định hình phạt cho từng người đồng phạm là: Tính chất tham gia (vai trò đối với hoạt động của nhóm phạm tội); Mức độ tham gia (phần đóng góp thực tế vào quá trình thực hiện tội phạm); Mức độ lỗi; Các tình tiết về nhân thân có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt [22, tr 100]

Bên cạnh người phạm tội là thể nhân, pháp nhân thương mại cũng có thể được quy định là chủ thể của tội phạm Khi pháp nhân thương mại cùng với pháp nhân thương mại khác hoặc cá nhân cùng cố ý thực hiện một tội phạm thì cũng

là đồng phạm và phải quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đối với loại chủ thể tội phạm này

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như sau:

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được Tòa án thực hiện sau khi định tội danh đồng phạm, căn cứ tính chất và mức độ tham gia phạm tội

Trang 15

11

của từng người đồng phạm, nhân thân người phạm tội (việc chấp hành pháp luật đối với pháp nhân thương mại), để quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp

áp dụng đối với từng người đồng phạm và thể hiện trong bản án kết tội đối với họ

1.1.2 Ý nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Quyết định hình phạt là một giai đoạn quan trọng của hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng và của cả hoạt động tố tụng nói chung Việc quyết định một hình phạt công bằng, hợp lý là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt Một hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ sẽ làm giảm mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, nó làm nảy sinh ở người phạm tội và những người khác trong

xã hội thái độ coi thường pháp luật, thiếu trách nhiệm

Đồng phạm là một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt, mà trong đó hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm, Do đó, khi tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm thì tội phạm đó thay đổi về chất và có thường có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn các trường hợp phạm tội riêng lẻ Khi tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm thì người phạm tội có tâm lý dựa vào tập thể nên sẽ hành động liều lĩnh hơn, có khả năng gây ra hậu quả lớn hơn và cũng có điều kiện tốt hơn để che dấu tội phạm Thực tiễn đấu tranh với các trường hợp đồng phạm cho thấy, phần lớn những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp được thực hiện dưới hình thức đồng phạm Do đó, việc quyết định hình phạt đúng đắn, áp dụng loại hình phạt phù hợp với tính chất tội phạm, sử dụng mức hình phạt công bằng, nghiêm minh có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh với các tội phạm nghiêm trọng trong xã hội

Bên cạnh đó, việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm chính xác còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa tội phạm nói chung

và tội phạm có đồng phạm nói riêng Thông qua việc áp dụng hình phạt đối với người tội phạm sẽ tác động đến bản thân người phạm tội để không tiếp tục phạm tội và những cá nhân khác có ý định phạm tội sẽ từ bỏ ý định phạm tội Tuy nhiên, để đạt được mục đích này, hình phạt được tuyên phạt trong “con mắt”

Trang 16

pháp luật quy định (căn cứ quyết định hình phạt) "Các nguyên tắc quyết định hình phạt tồn tại ở mặt này hay mặt khác của các căn cứ quyết định hình phạt và những căn cứ quyết định hình phạt là những biểu hiện, đòi hỏi cụ thể của các nguyên tắc quyết định hình phạt[70, tr 238]"

1.2.1 Nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là những

tư tưởng chủ đạo, cơ bản trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án căn cứ vào đó quyết định hình phạt một cách công bằng, hợp

lý, đúng pháp luật, đảm bảo mục đích của hình phạt đối với những người đồng phạm

Hiện nay, trong khoa học luật hình sự còn có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định các nguyên tắc quyết định hình phạt Trên cơ sở phân tích bản chất và các đặc điểm của quyết định hình phạt và nguyên tắc quyết định hình phạt, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh về các tiêu chuẩn xác định các nguyên tắc quyết định hình phạt Theo đó, những tiêu chuẩn xác định đó là: 1) Phải là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản; 2) Phải được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong luật hình sự; 3) Phải là những tư tưởng định hướng hoạt động của Tòa án trong lĩnh vực quyết định hình phạt; 4) Những tư tưởng đó phải phù hợp với chính sách hình sự trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước[70, tr 228]

Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên, chúng tôi cho rằng việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải dựa trên bốn nguyên tắc: Nguyên tắc

Trang 17

13

pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong quyết định hình phạt, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt, nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

1.2.1.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nguyên tắc pháp chế XHCN là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm làTòa án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, các quy định liên quan đến hình phạt và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trước hết ở việc Tòa án chỉ

có thể quyết định một hình phạt đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội, có lỗi, đủ năng lực TNHS thực hiện hành vi bị BLHS cấm Điều đó khẳng định cơ sở của việc áp dụng hình phạt là việc thực hiện tội phạm của người có lỗi Ngoài ra, đối với việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nguyên tắc pháp chế còn yêu cầu phải chứng minh được dấu hiệu đồng phạm, tức là hai người trở lên cùng cố ý tham gia thực hiện tội phạm Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thể hiện trong các quy định không chỉ của Phần chung mà còn cả các quy định của Phần các tội phạm BLHS Trong Phần chung, nguyên tắc này được thể hiện ở các quy định hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Ở Phần các tội phạm, nguyên tắc pháp chế XHCN thể hiện ở việc BLHS quy định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt, cũng như loại hình phạt mà Tòa án phải áp dụng khi quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói riêng Đây cũng chính là những quy định có tính chất

cơ sở pháp lý để Toà án căn cứ vào đó quyết định hình phạt cho những người đồng phạm một cách chính xác, phù hợp

Yêu cầu của nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thể hiện ở chỗ, điều luật được áp dụng đối với

Trang 18

14

một hành vi phạm tội của những người đồng phạm là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội đó được thực hiện Nếu đạo luật mới nghiêm khắc hơn so với đạo luật cũ sẽ không được áp dụng đối với hành vi phạm tội xảy ra trước khi đạo luật mới có hiệu lực thi hành Trường hợp điều luật quy định làm xấu hơn tình trạng của người đồng phạm đều không có hiệu lực đối với hành vi phạm tội của họ xảy ra trước khi điều luật đó có hiệu lực pháp luật

Nội dung của nguyên tắc pháp chế còn biểu hiện ở chỗ, khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Tòa án phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định, các điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt cụ thể và đặc biệt Tòa án chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong BLHS

Mặt khác, nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi các quy định về mục đích hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt phải được Tòa án triệt để tuân thủ khi quyết định phạt Việc tuân thủ đúng mục đích của hình phạt là cơ sở đầu tiên giúp Tòa án có thể nhận thức đúng đắn các căn cứ quyết định hình phạt đã được pháp luật quy định để từ

đó quyết định một hình phạt chính xác

1.2.1.2 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa

Nhân đạo là bản chất, yêu cầu và là nội dung cơ bản của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung và từng ngành luật nói riêng Trong luật hình sự Việt Nam, nhân đạo được thể hiện xuyên suốt trong các quy định pháp luật hình sự, cũng như quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thể hiện trong các quy định Phần chung và Phần các tội phạm BLHS Trong Phần chung, nguyên tắc nhân đạo XHCN được thể hiện ở chỗ luật hình sự quy định về nguyên tắc xử lý theo hướng giảm nhẹ TNHS và hình phạt đối với

những người đồng phạm thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng "tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công, chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại gây ra" Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện

Trang 19

15

trong các quy định về mục đích hình phạt, hệ thống hình phạt, phạm vi, điều kiện

áp dụng một số hình phạt cụ thể, miễn, giảm hình phạt, quy định TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội Ở Phần riêng BLHS, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm thể hiện ở các khung hình phạt giảm nhẹ và một số khung hình phạt cơ bản

Thực hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xuất phát từ

tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự

về hình phạt cũng như quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Theo

đó, Toà án phải cân nhắc, đánh giá một cách hài hòa, hợp lý trong một thể thống nhất lợi ích của xã hội của Nhà nước và của người đồng phạm Do vậy, nguyên tắc nhân đạo XHCN thể hiện trước hết về thái độ khoan hồng, đặt mục đích giáo dục, cải tạo những người đồng phạm là mục đích hàng đầu, cân nhắc đến tất cả những đặc điểm thuộc về tâm sinh lý cũng như hoàn cảnh cụ thể của mỗi người đồng phạm để quyết định một hình phạt thấp nhất cần thiết (cần thiết tối thiểu)

đủ để đảm bảo mục đích của hình phạt Hay nói cách khác, Tòa án phải “tiết kiệm” biện pháp trừng trị, do đó quyết định một biện pháp cưỡng chế hình sự tối thiểu cần và đủ để đạt được mục đích của hình phạt nói riêng và tư pháp hình sự nói chung Đồng thời, thực hiện nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi hình phạt, các biện pháp tư pháp và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội nói chung và người đồng phạm nói riêng không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người; nếu việc gây thiệt hại

về mặt pháp lý hình sự mà thiếu một trong những điều kiện của TNHS thì hành

vi ấy không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi ấy không phải chịu TNHS Tuy nhiên, một nội dung khác của nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở chỗ luật hình sự quy định đường lối quyết định hình phạt nghiêm khắc đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, đồng phạm… nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, Nhà nước và nhân dân khỏi sự xâm hại của tội phạm Nhưng khi quyết định

Trang 20

16

hình phạt đối với những người đồng phạm này, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi Tòa

án phải lựa chọn một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc thích hợp, phải tuân theo nguyên lý là cơ bản là người bị kết án cũng là con người và mọi người lầm đường, lạc lối đều có thể giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội

1.2.1.3 Nguyên tắc công bằng

Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng được thể hiện là sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và TNHS của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu

Đòi hỏi thứ nhất của nguyên tắc này trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tội chung mà những người đồng phạm đã cùng tham gia thực hiện Nghĩa là, tội đã phạm càng nghiêm trọng và trong những điều kiện khác giống nhau thì hình phạt cho mỗi người đồng phạm phải càng nghiêm khắc và ngược lại Ngoài tội phạm, nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạmTòa án còn phải cân nhắc cả nhân thân người đồng phạm và các tình tiết khác có trong vụ án

Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm còn đòi hỏi hình phạt được tuyên cần phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người, đảm bảo tính xác định, tính lập luận và bắt buộc phải có lý do

Một đòi hỏi khác của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là tính hợp lý của việc quyết định hình phạt Tính hợp lý được thể hiện ở chỗ trong số những phương án giải quyết khác nhau mà pháp luật cho phép Tòa án cần lựa chọn một loại và mức hình phạt để một mặt, phải đúng quy định pháp luật, mặt khác, phải bảo đảm đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, cá thể hóa và hợp lý nhất trên cơ sở phù hợp với các tình tiết cụ thể của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS

Trang 21

17

Trong BLHS, nội dung của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thể hiện ở cả trong Phần chung và Phần các tội phạm BLHS Trong Phần chung, nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thực hiện trước hết ở các quy định: 1) Quy định cơ sở TNHS thống nhất đối với tất cả mọi người tham gia thực hiện tội phạm 2) Quy định hệ thống pháp luật trong hình phạt thống nhất với tất cả mọi người phạm tội 3) Quy định khung hình phạt thống nhất cho mỗi loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau 4) Quy định những cơ sở thống nhất của việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Ở Phần các tội phạm, nguyên tắc công bằng thể hiện ở việc nhà làm luật

đã có sự phân biệt hình phạt quy định cho các tội khác nhau cũng như hình phạt quy định cho các khung khác nhau, tội phạm càng nguy hiểm thì loại và mức hình phạt càng nghiêm khắc và ngược lại Mặt khác, các trường hợp phạm tội cụ thể khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm, do vậy nhà làm luật đã quy định chế tài lựa chọn cho các tội phạm, các khung hình phạt để tùy trường hợp Tòa án có thể lựa chọn một loại hình phạt, một mức hình phạt công bằng tương ứng với hành

vi phạm tội của người đồng phạm Điều đó cũng thể hiện nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

1.2.1.4 Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự

Nguyên tắc cá thể hóa TNHS thể hiện ở chỗ trong trường hợp cụ thể hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của những người đồng phạm Đồng thời, nguyên tắc cá thể hóa trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân của mỗi người đồng phạm như trình độ học vấn, lối sống ý thức chính trị, ý thức pháp luật, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và chỉ rõ trong bản án những điểm tốt, xấu thuộc nhân thân người phạm tội, hơn nữa chỉ cân nhắc những tình tiết có ý nghĩa đối với việc

quyết định hình phạt cho người đồng phạm "Việc làm sáng tỏ và cân nhắc đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội giúp ta hiểu quá khứ, hiện tại và khả

Trang 22

Tóm lại, các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là những nguyên tắc đặc thù cho quá trình quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Những nguyên tắc này có giá trị định hướng cho Tòa án

để quyết định hình phạt đúng đắn, công bằng, hợp lý đối với những người đồng phạm Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm tuy là những nguyên tắc đặc thù cho hoạt động quyết định hình phạt nhưng chúng vẫn nằm trong một thể thống nhất với các nguyên tắc của luật hình sự nói chung và nguyên tắc của hoạt động quyết định hình phạt nói riêng Cùng với các nguyên tắc của luật hình sự, các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm có ý nghĩa to lớn không chỉ trong việc quyết định hình phạt mà còn có ý nghĩa trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.2.2 Căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Đồng phạm với đặc điểm là một hình thức phạm tội đặc biệt Tính chất đặc biệt của đồng phạm so với các trường hợp phạm tội đơn lẻ khác đặt ra yêu cầu đối với Tòa án khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm không chỉ tuân thủ các quy định về các căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho mọi trường hợp phạm tội nói chung mà còn phải tuân thủ các quy định đặc thù áp dụng riêng cho đồng phạm

Trang 23

19

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạmTòa án phải tuân theo những đòi hỏi quan trọng có tính chất nguyên tắc là: a Các quy định của BLHS; b Tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; c Nhân thân người phạm tội; d Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đ.Tính chất đồng phạm; e Tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm

1.2.2.1 Các quy định của Bộ luật hình sự

Các quy định của BLHS là căn cứ cơ bản nhất của việc quyết định hình phạt, đó cũng là đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt Đây là căn cứ có tính chất định hướng cho việc quyết định hình phạt cũng như cho việc vận dụng các căn cứ khác Căn cứ vào các quy định BLHS tức là Tòa án căn cứ vào các quy định của Phần chung và Phần các tội phạm BLHS

Khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ vào tất cả các quy định Phần chung BLHS, trong đó, những quy định của Phần chung liên quan trực tiếp đến việc quyết định hình phạt là những quy định mà Tòa án cần căn cứ trước hết khi quyết định hình phạt Đó là những quy định liên quan đến nguyên tắc xử lý, đến hình phạt và quyết định hình phạt, cụ thể bao gồm: các quy định có tính chất nguyên tắc chung cho tất cả các trường hợp phạm tội, các quy định có tính nguyên tắc chung cho từng loại hình phạt và các quy định có tính nguyên tắc chung cho việc áp dụng các biện pháp tha miễn TNHS

Ngoài căn cứ và các quy định của Phần chung BLHS, Tòa án còn phải căn cứ vào các quy định Phần các tội phạm BLHS về loại và khung hình phạt của điều luật quy định tội phạm mà bị cáo đã cùng tham gia thực hiện Các quy định về loại và khung hình phạt đối với các tội phạm cụ thể là cơ sở pháp lý để Tòa án căn cứ vào để xác định loại hình phạt cần được áp dụng trong trường hợp phạm tội cụ thể đó, rồi sau đó mới tiến hành quyết định mức hình phạt cụ thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

Trang 24

20

Khác với trường hợp riêng lẻ, phạm tội trong đồng phạm có sự nỗ lực, hợp tác, cùng chung ý chí, chung hành động trong việc thực hiện tội phạm chung Do vậy, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm về tội phạm chung mà các bị cáo đã cùng cố ý tham gia thực hiện (nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm) Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Tòa án phải tuân theo các quy định BLHS để xác định loại và mức hình phạt đối với những người đồng phạm về tội phạm chung mà họ đã cùng cố

ý thực hiện

Tội phạm chung của những người đồng phạm được quy định tại Điều luật nào của Phần các tội phạm BLHS thì quyết định hình phạt được thực hiện trong phạm vi khung chế tài điều luật ấy quy định Các quy định khác của BLHS đối với tội phạm chung mà họ đã cùng thực hiện cũng được áp dụng chung cho những người đồng phạm như:

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS Đó là những tình tiết mang tính khách quan, không thuộc cá nhân người đồng phạm và những tình tiết này được thể hiện chủ yếu ở hành vi của người thực hành Tuy nhiên, với sự cùng cố ý phạm tội thì những người đồng phạm khác cũng phải chịu trách nhiệm về những tình tiết đó

- Những quy định có tính nguyên tắc chung cho mọi trường hợp phạm tội đều được áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm trong vụ đồng phạm như: quy định về nguyên tắc xử lý, các quy định có tính nguyên tắc chung

về tội phạm, về các giai đoạn phạm tội, các quy định có tính nguyên tắc chung

về hình phạt như: nguyên tắc xử lý, mục đích hình phạt, nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt, về thời hiệu truy cứu TNHS

Việc quy định các quy định của BLHS là căn cứ đầu tiên của quyết định hình phạt được xem như sự đảm bảo để thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt, đồng thời cũng là để thực hiện các nguyên tắc khác của luật hình sự, vì trong các quy định của BLHS đã thể hiện được đầy đủ các nguyên tắc đó Điều này khẳng định vai trò của căn cứ này trong quá trình quyết định

Trang 25

1.2.2.2.Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Căn cứ các quy định của BLHS, Tòa án xác định khung hình phạt cụ thể cần quyết định cho người phạm tội Để có thể quyết định được loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép, Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung được thể hiện ở tổng thể hai khái niệm "tính chất" và "mức độ" nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của tội phạm là thuộc tính khách quan của một loại tội phạm nhất định được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó, trước hết và quan trọng nhất là ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị của những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

bị hành vi phạm tội xâm hại (khách thể của tội phạm) Bên cạnh khách thể bị xâm hại, tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn phụ thuộc vào các dấu hiệu về mặt khách quan, về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng về chủ thể của tội phạm

Những tội phạm có cùng tính chất nguy hiểm cho xã hội thì khác nhau

về mức độ nguy hiểm cho xã hội Mức độ nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về lượng của tội phạm, cũng là thuộc tính khách quan của một tội phạm và được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm Mức độ nguy hiểm cho

xã hội được hiểu là tiêu chuẩn đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội giữa các trường hợp phạm tội cụ thể đã thực hiện thuộc cùng khung hình phạt của từng loại tội phạm

Trang 26

22

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm với vai trò là những đặc tính về chất và lượng của tội phạm cụ thể tồn tại cùng nhau và xâm nhập vào nhau, chuyển hoá cho nhau

Mặc dù, khi xây dựng các khung chế tài cho các tội phạm cụ thể, nhà làm luật đã căn cứ chủ yếu vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng nhóm tội và của từng tội trong nhóm tội nhưng khi quyết định hình phạt vẫn đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi quyết định hình phạt cho người phạm nhiều tội hoặc cho nhiều người phạm nhiều tội Mặt khác, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã được nhà làm luật cân nhắc và thể hiện khi quy định tội phạm, quy định chế tài và khung hình phạt đối với từng tội phạm Do vậy, tất yếu nhà làm luật cũng quy định là khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc cả về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện Việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là căn cứ để Tòa án lựa chọn loại và quyết định mức hình phạt trong phạm vi chế tài đối với trường hợp phạm tội cụ thể đã xảy ra

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm để xác định đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung do những người đồng phạm cùng cố ý thực hiện, Tòa án phải xuất phát từ tổng thể các tình tiết

mà ở đó tội phạm chung đã được thực hiện Tòa án phải dựa vào những tình tiết thuộc mặt khách quan và chủ quan sau:

- Tính chất của hành vi tham gia thực hiện tội chung của những người đồng phạm như thủ đoạn, công cụ, phương tiện, hình thức thực hiện

- Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra

- Các tình tiết như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội trong những trường hợp không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội chung

Trang 27

23

- Các loại và mức độ của lỗi có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện bởi những người đồng phạm và việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

1.2.2.3 Nhân thân người phạm tội

Việc làm sáng tỏ và cân nhắc các đặc điểm nhân thân người đồng phạm khi quyết định hình phạt không chỉ đảm bảo hình phạt được tuyên thực sự công bằng, hợp lý, có khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội mà còn là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt được thể hiện rõ nét trong luật hình sự Khi cân nhắc nhân thân người đồng phạm với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt cần chú ý là hình phạt luôn là hình phạt cho hành vi phạm tội đã thực hiện mà không phải cho nhân thân của người đồng phạm Do vậy, xem xét nhân thân người đồng phạm khi quyết định hình phạt không có nghĩa là xem xét nhân thân nói chung mà chỉ xem xét những đặc điểm nhân thân liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội chung cũng như liên quan đến mục đích của hình phạt

Trong luật hình sự, nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của họ Đó là những đặc điểm về mặt pháp lý hình sự, xã hội - nhân khẩu học, xã hội - sinh học và đạo đức - tâm lý học của người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm như tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình

độ văn hóa, lối sống hoàn cảnh gia định và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự

Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, đa dạng như vậy nhưng khi cân nhắc nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt thì không được trừu tượng hóa và tách rời chúng khỏi tội phạm tội đã thực hiện bởi hình phạt luôn là hình phạt cho hành vi phạm tội đã thực hiện chứ không phải cho nhân thân người phạm tội Cụ thể, thực tiễn xét xử thường xem xét các đặc điểm nhân thân sau đây khi quyết định hình phạt:

Trang 28

24

- Những đặc điểm nhân thân người đồng phạm có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như: phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, đồng phạm …

- Những đặc điểm về nhân thân người đồng phạm phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội như: ăn năn hối cải, tự thú, lập công chuộc tội, ngoan cố, cố tình thực hiện tội phạm tới cùng…

- Những đặc điểm về nhân thân người đồng phạm phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt như: người đồng phạm thuộc dân tộc ít người, những người làm nghề tôn giáo, người có công đối với đất nước, thuộc gia đình liệt sĩ, trí thức có tên tuổi, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn…

Mỗi đặc điểm nhân thân người phạm tội có ý nghĩa và mức độ ảnh ưởng khác nhau đối với từng trường hợp phạm tội, trong từng vụ án cụ thể Các đặc điểm, đặc tính nhân thân người phạm tội cụ thể bao giờ cũng có nội dung cụ thể Bởi vậy, trong từng vụ án cụ thể, Tòa án phải xác định và chỉ rõ các đặc điểm nhân thân trong bản án, bao gồm cả những đặc điểm xấu lẫn các đặc điểm tốt, những đặc điểm mang tính pháp lý và những đặc điểm không mang tính pháp lý Việc cân nhắc nhân thân một cách đầy đủ, toàn diện là những cơ sở vững chắc để Tòa án có thể quyết định hình phạt chính xác, công bằng, hợp lý

h-1.2.2.4 Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án không những phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội mà còn phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hóa hình phạt đối với những người đồng phạm Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong một vụ án đồng phạm bao gồm cả các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung cho tất cả những

Trang 29

Về thực chất, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là những tình tiết nói lên mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi phạm tội xét về phương diện khách quan, chủ quan hoặc tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau của nhân thân người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong một vụ án cụ thể và đối với người phạm tội cụ thể chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm trong vụ án

và cũng chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm trong phạm vi một cấu thành tội phạm chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm ấy

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, để vận dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt thì đòi hỏi đầu tiên đối với Tòa án là phải có sự phân biệt những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng riêng đối với từng người đồng phạm

- Đối với những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung: Tất cả những người đồng phạm có tổ chức phải cùng chịu trách nhiệm về những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng TNHS chung nếu họ biết, tức là với những tình tiết này họ cùng bàn bạc với nhau hoặc mọi người đều nhận thức và biết những tình tiết đó, hoặc tuy không cùng bàn bạc nhưng họ buộc phải thấy trước và có thể thấy trước tình tiết đó Những tình tiết tăng nặng TNHS này là những tình tiết mang tính khách quan, liên quan đến bản thân hành

vi phạm tội chung, không thuộc cá nhân người đồng phạm Những tình tiết này được thể hiện chủ yếu ở hành vi của người thực hành Tuy nhiên, với sự cùng cố

ý phạm tội thì những người đồng phạm khác cũng phải chịu trách nhiệm về những tình tiết đó

Trang 30

26

- Đối với những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS riêng: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đề cập riêng đến người đồng phạm nào thì chỉ cân nhắc khi quyết định hình phạt người đó chứ không được cân nhắc để quyết định hình phạt đối với người đồng phạm khác Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thuộc về riêng người phạm tội có thể là những tình tiết thuộc về nhân thân, cá nhân người phạm tội

Ngoài ra, để việc vận dụng những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thuộc về riêng người đồng phạm được chính xác, cần phải quán triệt đầy đủ nội dung, ý nghĩa pháp lý của từng tình tiết cụ thể và đồng thời phải chú ý những đặc điểm sau:

- Những tình tiếtđã được sử dụng là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt không được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS

- Xuất phát từ nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc nhân đạo, Tòa án có thể coi những tình tiết ngoài tình tiết đã được quy định trong BLHS là tình tiết giảm nhẹ nhưng không được coi là tình tiết tăng nặng ngoài các tình tiết được quy định trong BLHS

- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS có giá trị pháp lý, xã hội, chính trị không đồng đều nhau Có những tình tiết tác động rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội nhưng có tình tiết tác động ít hơn, có tình tiết chỉ có ý nghĩa đáng kể với một số tội phạm, còn đối với những tội phạm khác thì chỉ có ý nghĩa rất hạn chế

- Đối với những vụ án vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng TNHS thì cần phải có quan điểm đánh giá toàn diện, đầy đủ trong một thể thống nhất các tình tiết giảm nhẹ lẫn các tình tiết tăng nặng TNHS

- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS cho phép giảm nhẹ hoặc tăng nặng trong giới hạn của khung hình phạt nhất định Dù có nhiều tình tiết tăng nặng Tòa án cũng không được quyết định cho người phạm tội một hình phạt cao hơn mức tối đa đã quy định trong khung hình phạt nhất định nhưng Tòa án có

Trang 31

Việc cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS được quy định trong luật không phải là quyền mà nghĩa vụ của Tòa án Nghĩa là, trong mọi trường hợp, Tòa án phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng có trong vụ

án, cùng với các tình tiết khác để có đầy đủ căn cứ quyết định một hình phạt hợp

lý, công bằng, phù hợp với lỗi của bị cáo

1.2.2.5 Tính chất đồng phạm

Tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội của tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm quy định tính nguy hiểm cao cho xã hội của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm Do vậy, luật quy định Toà án phải cân nhắc tính chất đồng phạm khi quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm Căn cứ vào tính chất đồng phạm, Tòa án quyết định tăng nặng trách nhiệm hình sự cho những người đồng phạm trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, luật hình sự quy định một số loại người tham gia

đồng phạm phải bị xử lý theo khung hình phạt cao hơn những người đồng phạm khác Đối với những loại tội phạm này, nếu người phạm tội tham gia đồng phạm với các vai trò này thì mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của họ cao hơn những người khác, do đó, luật hình sự quy định loại người đồng phạm này phải bị xử phạt theo khung hình phạt nặng hơn

Trường hợp thứ hai, luật hình sự quy định trong một số tội phạm nếu

thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì bị xử lý theo khung hình phạt nặng hơn

Ví dụ: tình tiết "nhiều người hiếp một người" trong tội hiếp dâm…

Đến lượt mình, tính chất đồng phạm được quy định bởi các hình thức đồng phạm: đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp, đồng phạm có tham mưu, đồng phạm không có thông mưu, đồng phạm Hình thức đồng phạm có

Trang 32

28

ảnh hưởng nhất định đến mức độ TNHS của những người đồng phạm Điều đó

có nghĩa là hình thức đồng phạm càng nguy hiểm thì hành vi của mỗi người đồng phạm cũng nguy hiểm hơn và tất yếu hình phạt đối với họ cũng nghiêm khắc hơn Khi xem xét tính chất của đồng phạm là xét đến quy mô, tính chất và mức độ nguy hiểm của vụ án có đồng phạm Nhưng trong những đồng phạm, không phải vụ án đồng phạm nào cũng có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội như nhau mà có vụ án sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm được thể hiện ở mức độ cao như được tổ chức chặt chẽ, có sự phân công cụ thể vai trò của từng người phạm tội, gồm nhiều đầu mối, nhiều nhóm khác nhau dưới sự chỉ huy của một nhóm người có kẻ cầm đầu, quy mô hoạt động rất rộng, trên nhiều địa bàn nhưng có những đồng phạm thì sự câu kết chặt chẽ trong việc thực hiện tội phạm chỉ ở mức độ đơn giản là những nhóm tội phạm có mối quan hệ nhất thời với nhau, có tổ chức thiếu chặt chẽ, với số lượng thành viên không nhiều và không phân chia thứ bậc rõ ràng, thực hiện tội phạm một cách manh động, nhanh chóng giải tán sau khi thực hiện một tội phạm

Trong thực tiễn, tính chất của đồng phạm thường được đánh giá thông qua các yếu tố sau: Thời gian tồn tại của đồng phạm; Mục đích, ý thức chủ quan của liên kết; Tính chất và mức độ chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm; Sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ; Tính chất chuyên nghiệp; Phương pháp, thủ đoạn phạm tội

Như vậy, ở mức độ này hay mức độ khác thì các hình thức đồng phạm đều

có ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt, do vậy, Tòa án cần phải cân nhắc tính chất đồng phạm để quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm Tuy nhiên, căn cứ này mới chỉ là căn cứ có tính chất đánh giá, xác định chung cho tất cả những người đồng phạm, còn muốn xác định mức hình phạt cụ thể cho từng người đồng phạm, Tòa án phải dựa vào căn cứ tiếp theo

1.2.2.6 Tính chất, mức độ tham gia trong đồng phạm

Trong một vụ đồng phạm, những người tham gia thực hiện tội phạm tuy cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm của mỗi

Trang 33

Mức độ tham gia của từng người đồng phạm chỉ sự đóng góp thực tế của những người đồng phạm vào việc thực hiện tội phạm chung, được xác định bởi tính chất của hành vi phạm tội và mức độ đóng góp thực tế của người đó trong việc thực hiện vai trò, chức năng của mình trong việc cùng chung thực hiện tội phạm, cũng như việc gây ra hoặc đe dọa gây ra hậu quả tội phạm chung Để xác định mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm, Tòa án phải dựa vào các tình tiết: mức độ quyết tâm thực hiện tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, hậu quả tội phạm, mức độ câu kết

Tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm là những tình tiết thuộc mặt khách quan của hành vi phạm tội Tính chất tham gia phạm tội nói lên đặc tính về chất, mức độ tham gia nói lên đặc tính về lượng của hành vi phạm tội của từng người đồng phạm Việc pháp luật quy định khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói chung và đồng phạm nói riêng, Tòa án phải căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia của từng người phạm tội là

sự thể hiện của nguyên tắc công bằng và nhằm cá thể hóa TNHS của từng người phạm tội

Trang 34

30

Tóm lại, khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Tòa án phải cân nhắc tổng thể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, tính chất đồng phạm và tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Việc cân nhắc các căn cứ này giúp Tòa án có khả năng tốt nhất quyết định hình phạt công bằng, khắc phục tình trạng tùy tiện, thiếu thống nhất khi quyết định hình phạt, đảm bảo mục đích của hình phạt

1.3 Pháp luật hình sự một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

1.4.1 Cộng hòa Liên bang Đức

Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức không quy định riêng căn cứ quyết định hình phạt đối với đồng phạm mà quy định cụ thể và trực tiếp trong luật hình sự các nguyên tắc quyết định hình phạt làm căn cứ chung có tính chất định hướng, chỉ đạo trong việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội, quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong mọi trường hợp phạm tội nói chung (đơn lẻ, đồng phạm) và các quy định có tính chất phân hóa TNHS đối với những người đồng phạm BLHS Cộng hòa Liên bang Đức không có khái niệm đồng phạm với ý nghĩa là hình thức phạm tội đặc biệt mà quy định trực tiếp những hành vi tương ứng với nó là những người nhất định phải chịu TNHS Theo luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức thì có những hành vi và tương ứng là những người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức phải chịu TNHS Trong

đó, người xúi giục và người giúp sức được gọi chung là người tham gia Như vậy, các quy định pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về quyết định hình phạt đối với từng dạng người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức tương ứng là các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Về các nguyên tắc quyết định hình phạt, trong BLHS Cộng hòa Liên bang Đức, hình phạt được quy định cho tội phạm có tính chất ấn định dứt khoát

và chỉ có tính cá biệt Ở hầu hết các trường hợp, hình phạt đều được quy định dưới dạng các khung hình phạt và có thể trong đó có cả hai loại hình phạt là phạt tiền và phạt tù với mức độ không được xác định cụ thể Điều này đỏi hỏi phải có

sự lựa chọn, quyết định của Tòa án Để định hướng cho Tòa án và tạo cơ sở cho

Trang 35

31

việc quyết định hình phạt, BLHS Đức đã quy định các nguyên tắc quyết định hình phạt tại Điều 46 Theo điều luật này, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa trên cơ sở lỗi của người phạm tội, đồng thời phải cân nhắc đến ảnh hưởng của hình phạt sẽ tuyên đối với cuộc sống sắp tới của họ Lỗi của người phạm tội được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả mức độ nghiêm trọng khách quan của hành vi phạm tội và mức độ chủ quan của người phạm tội Như vậy, mức độ nghiêm trọng của tội phạm (mức độ nghiêm trọng khách quan và mức độ lỗi) là

cơ sở cho quyết định hình phạt Hơn nữa, quyết định hình phạt còn phải tính đến tác động của hình phạt đối với người phạm tội Hình phạt không được tách rời với mục đích của nó đối với người phạm tội

Cụ thể hóa nguyên tắc quyết định hình phạt, Điều 46 BLHS Đức quy định căn cứ quyết định hình phạt như sau: Khi quyết định hình phạt Tòa án cân nhắc các tình tiết có lợi cũng như không có lợi cho người phạm tội trong mối liên hệ với nhau Trong đó cần chú ý: a Động cơ và mục đích của người phạm tội; b Thái độ thể hiện từ hành vi, ý chí đối với việc thực hiện hành vi; c Mức độ vi phạm; d Cách thức thực hiện hành vi và hậu quả của nó; e Quá khứ, hoàn cảnh riêng tư và hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội cũng như; f Thái độ sau khi phạm tội, đặc biệt là sự cố gắng khắc phục thiệt hại[73, tr 130]

Với quy định này, luật mới chỉ định hướng chung cho việc quyết định hình phạt thông qua việc đưa ra các loại tình tiết cần xem xét, đánh giá Luật chưa cụ thể hóa các tình tiết đó theo hướng tăng nặng cũng như theo hướng giảm nhẹ Sở dĩ nhà làm luật Đức không quy định cụ thể các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS vì có thể họ cho rằng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chỉ là

sự hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng đúng căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội Trong khi đó, BLHS Đức lại quy định về các tình tiết giảm nhẹ đặc biệt tại Điều 49 Điều luật này quy định cụ thể cách thức giảm khung hình phạt khi có các tình tiết giảm nhẹ đặc biệt này

Nghiên cứu quy định BLHS Đức, chúng ta còn thấy nhà làm luật có quy định phân hóa TNHS của những người đồng phạm:a Bị xử phạt như là người thực hiện, người nào tự mình hoặc qua người khác thực hiện tội phạm; b Nếu

Trang 36

32

nhiều người cùng thực hiện chung tội phạm thì mỗi người bị trừng phạt với tư cách là người thực hiện (đồng thực hiện); c Bị xử phạt như người thực hiện người nào cố ý xúi giục người khác cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật; d Người nào cố ý giúp người khác thực hiện tội phạm cố ý thì bị xử phạt là người giúp sức; đ Hình phạt cho người giúp sức là theo hình phạt cho người thực hiện nhưng được giảm nhẹ theo Điều 49 Khoản 1[73, tr 132]

Như vậy, BLHS Đức xác định người xúi giục phải chịu trách nhiệm như người thực hành còn người giúp sức chỉ đóng vai trò thứ yếu nên mức độ TNHS nhẹ hơn so với người thực hành Quy định như vậy thể hiện sự đánh giá cao vai trò, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi dụ dỗ, kích động, thúc đẩy việc thực hiện tội phạm của người xúi giục, trong khi đó người giúp sức chỉ đóng vai trò là người tạo ra các điều kiện vật chất và tinh thần cho người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm

1.4.2 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không có quy định riêng về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm với tư cách là một hình thức đồng phạm đặc biệt Hơn nữa, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ quy định chung các căn cứ quyết định hình phạt được áp dụng trong cả trường hợp phạm tội

đơn lẻ và đồng phạm Cụ thể, Điều 61 quy định "Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội cần phải căn cứ vào thực tế, tính chất, tình tiết và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo những quy định có liên quan trong Bộ luật này[3]"

Như vậy, các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội đơn

lẻ, đồng phạm và đồng phạm theo quy định của luật hình sự Trung Hoa bao gồm:

Trang 37

33

cũng như khả năng cải tạo, giáo dục và hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội (căn cứ thứ hai) Hay nói cách khác, việc quy định cụ thể căn cứ nhân nhân người phạm tội hay quy định những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong BLHS cũng chỉ là sự hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng đúng căn cứ "tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội"

Tuy nhiên, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lại thể hiện ở mức độ cao nguyên tắc phânhóa TNHS đối với những người đồng phạm nói chung Cụ

thể, "Thủ phạm chính là người tổ chức, lãnh đạo nhóm tội phạm hoặc giữ vai trò chính trong đồng phạm" Ngoài những trường hợp riêng đã được quy định trong

Phần tội phạm BLHS, người chính phạm phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn

tòng phạm "Người giữ vai trò thứ yếu hoặc chỉ có tính chất hỗ trợ trong đồng phạm là tòng phạm Tòng phạm chịu hình phạt nhẹ hơn so với thủ phạm chính, được giảm nhẹ khung hình phạt hoặc miễn hình phạt" (Điều 27) "Đối với những người phạm tội do bị cưỡng bức, khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào tình tiết phạm tội của họ để quyết định một hình phạt nhẹ hoặc miễn hình phạt[3]"

Đối với người xúi giục những người khác phạm tội phải căn cứ vào vai

trò của người đó trong đồng phạm để quyết định hình phạt "Nếu người bị xúi giục chưa phạm tội dù đã bị xúi giục, thì người xúi giục có thể được quyết định một hình phạt nhẹ hoặc khung hình phạt nhẹ hơn[3]" (Điều 29)

Như vậy, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xác định nguyên tắc xử

lý dựa vào tính chất hành vi và mức độ tham gia thực hiện tội phạm của những người đồng phạm Theo đó, người chính phạm bị xử lý nặng hơn người tòng phạm Những quy định có tính chất phân hóa TNHS của những đồng phạm này là rất tích cực Tuy nhiên, các quy định về quyết định hình phạt đối với đồng phạm cần thể hiện sự phân hóa đường lối xử lý không chỉ giữa những người tham gia đồng phạm

mà hành vi của họ có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau mà còn phải phân hóa giữa các hình thức đồng phạm Cụ thể là, phải có đường lối xử lý nghiêm khắc hơn đối với đồng phạm so với các đồng phạm thông thường

1.4.3 Liên bang Nga

BLHS Liên bang Nga có riêng một chương quy định về quyết định hình phạt (Chương 10 phần III từ điều 60 đến điều 74) BLHS Nga quy định về các

Trang 38

34

căn cứ (nguyên tắc) quyết định hình phạt chung, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, chưa quyết định cụ thể về sự phân hóa TNHS khi quyết định hình phạt đối với mỗi người đồng phạm Cụ thể như sau:

Khoản 3 Điều 61 BLHS Liên bang Nga quy định: "Khi quyết định hình phạt Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt cũng như ảnh hưởng của hình phạt để sự cải tạo của người phạm tội và điều kiện sinh hoạt của gia đình họ[32]"

Điều 68 BLHS quy định về quyết định hình phạt đối với đồng phạm: "1 Khi quyết định hình phạt đối với đồng phạm cần cân nhắc tính chất và mức độ tham gia thực tế của từng người đồng phạm, ý nghĩa của từng người đồng phạm,

ý nghĩa của sự tham gia đối với việc đạt được mục đích của tội phạm, sự ảnh hưởng của nó đối với tính chất và mức độ thiệt hại đã gây ra hoặc có thể gây ra

2 Những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ có liên quan đến nhân thân của người đồng phạm chỉ được cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với riêng người đồng phạm đó[32]"

Như vậy, căn cứ vào quyết định hình phạt đối với đồng phạm và đồng phạm theo quy định của BLHS Liên bang Nga bao gồm:

Căn cứ chung:Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; Nhân thân người phạm tội; Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; Ảnh hưởng của hình phạt đến sự cải tạo của người phạm tội và điều kiện sinh hoạt của gia đình họ

Căn cứ riêng: Tính chất và mức độ tham gia thực tế của từng người đồng phạm; Ý nghĩa của từng người đồng phạm và của sự tham gia đối với việc đạt được mục đích của tội phạm

Như vậy, BLHS Liên bang Nga không coi các quy định của BLHS là căn

cứ quyết định hình phạt Thực tế trên xuất phát từ quan điểm cho rằng việc tuân thủ các quy định của BLHS khi quyết định hình phạt là điều bắt buộc, hiển nhiên Việc không quy định căn cứ này là một trong các căn cứ bắt buộc khi quyết định hình phạt không có nghĩa là người áp dụng pháp luật có thể lờ đi hoặc không tuân theo khi quyết định hình phạt Mặt khác, việc tuân thủ các quy định

Trang 39

35

của BLHS là một trong cơ sở đảm bảo cho hình phạt được quy định một cách công bằng, hợp lý, dân chủ và nhân đạo Đồng thời, đây cũng là đòi hỏi của nguyên tắc pháp chế đối với hoạt động quyết định hình phạt

Kết luận chuơng 1

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được Tòa án thực hiện sau khi định tội danh đồng phạm, căn cứ tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm, nhân thân người phạm tội, để quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp áp dụng đối với từng người đồng phạm và thể hiện trong bản án kết tội đối với họ Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm công bằng, hợp lý là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt

Bên cạnh những nguyên tắc, căn cứ chung, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm phải phải tuân theo các nguyên tắc, căn cứ có tính chất đặc thù để cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với mỗi người đồng phạm Nghiên cứu BLHS của một số nước trên thế giới cho thấy các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm cũng có sự khác biệt và tương đối đa dạng khi quy định căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp đồng phạm

Trang 40

36

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG ĐỒNG PHẠM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC

TÒA ÁN QUÂN SỰ NƯỚC TA

2.1 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

2.1.1 Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985

Cùng với sự thay đổi, phát triển của đất nước, cũng như các chế định khác của luật hình sự Việt Nam, chế định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đã được quy định trong luật hình sự Việt Nam và dần được quy định hoàn thiện

Ngay từ thời kỳ phong kiến, đồng phạm trong luật hình sự phong kiến được coi là tòng phạm Người đồng phạm được xác định thành người cầm đầu, người chủ mưu, người chính phạm và người a tòng Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đã được đề cập đến Điều 35 Quốc triều hình luật quy

định: "nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc[48, tr 46]" Trong trường hợp này, chính phạm vừa là

thủ phạm thực tế, vừa chịu trách nhiệm nặng hơn cả Cũng theo Bộ luật Hồng Đức, người chủ mưu hay thủ phạm về tinh thần thì bị xử lý ngang hàng với người thủ phạm Trong một số trường hợp nhất định, người chủ mưu còn bị xử

lý nặng hơn người khác (Điều 103) Như vậy, mặc dù ở mức độ sơ lược nhưng Quốc triều hình luật đã bước đầu có sự phân hóa về đường lối xử lý đối với những người đồng phạm

Dưới thời Pháp thuộc, chế định quyết định hình phạt được quy định trong các Bộ Hình luật Canh cải 1912, Bộ Hình luật Trung Việt 1933 Nếu như trong Bộ Hình luật Canh cải 1912, nhà làm luật quy định TNHS giống nhau giữa những người đồng phạm mà không có sự phân hóa TNHS thì ở Bộ hình luật

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w