Phạm Thị Mai Thảo Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn phù hợp với phát triển kinh tế xã hội tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Tóm tắt: Để đánh giá hiện t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN PHÙ HỢP VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGÔ BÁ QUANG
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN PHÙ HỢP VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3Cán bộ hướng dẫn chính: TS Phạm Thị Mai Thảo
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Hà
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Thu Huyền
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 22 tháng 5 năm 2018
Trang 4quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 5nguyên và Môi trường Hà Nội
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường cùng các thầy cô giáo ở nhiều bộ môn khác đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân luôn quan tâm, động viên giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, tháng 5 năm 2018 Học viên
Ngô Bá Quang
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về chất thải rắn 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Tại Việt Nam 6
1.2 Tác động đến môi trường của chất thải rắn 16
1.2.1 Tác động đến môi trường không khí 16
1.2.2 Tác động đến môi trường nước 17
1.2.3 Tác động đến môi trường đất 18
1.3 Các mô hình quản lý chất thải rắn 19
1.3.1 Trên thế giới 19
1.3.2 Tại Việt Nam 21
1.4 Các định hướng quy hoạch 31
1.4.1 Trên thế giới 31
1.4.2 Tại Việt Nam 32
1.5 Các văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn 34
1.5.1 Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành lĩnh vực quản lý chất thải rắn 34
1.5.2 Quy hoạch, chủ trương, quyết định về quản lý CTR 35
1.5.3 Quy chuẩn kỹ thuật quản lý chất thải rắn 37
CHƯƠNG 2: PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 Thời gian nghiên cứu 38
Trang 72.3.3 Phương pháp xác định hệ số phát thải 39
2.3.4 Phương pháp ước tính lượng chất thải rắn phát sinh 39
2.3.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 41
2.4 Địa điểm nghiên cứu 41
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Hiện trạng phát sinh các loại CTR trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 45
3.1.1 Chất thải rắn sinh hoạt 45
3.1.2 Chất thải rắn xây dựng 47
3.1.3 Chất thải y tế 48
3.1.4 Chất thải nguy hại 49
3.1.5 Bùn thải 52
3.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý các loại chất thải rắn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 53
3.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt 54
3.2.2 Chất thải rắn xây dựng 61
3.2.3 Chất thải y tế 63
3.2.4 Chất thải nguy hại 65
3.2.5 Bùn thải 67
3.3 Công tác quản lý của UBND quận Bắc Từ Liêm 72
3.4 Đánh giá hoạt động quản lý CTR tại quận Bắc Từ Liêm 73
3.5 Tính toán, dự báo lượng chất thải rắn phát sinh theo xu hướng phát triển kinh tế xã hội tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nộ đến năm 2025 75
3.5.1 Chất thải rắn sinh hoạt 75
3.5.2 Chất thải xây dựng 76
Trang 8trường và nguồn kinh phí của địa phương 79
3.6.1 Mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt 80
3.6.2 Mô hình xử lý chất thải xây dựng 81
3.6.3 Mô hình quản lý chất thải rắn y tế 86
3.6.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý của chính quyền địa phương 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Họ và tên học viên: Ngô Bá Quang
Lớp: CH2AMT Khóa: 2016-2018
Cán bộ hướng dẫn: TS Phạm Thị Mai Thảo
Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn phù hợp với phát triển kinh tế xã hội tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Tóm tắt:
Để đánh giá hiện trạng về hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm đồng thời tính toán dự báo lượng CTR phát sinh đến năm 2025 và đề xuất giải pháp quản lý đồng bộ CTR phù hợp với các quy định về bảo vệ môi trường và nguồn kinh phí của địa phương Phương pháp điều tra khảo sát thực địa, thu thập số liệu thứ cấp và dự báo phát sinh CTR đã được sử dụng để thu thập các số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, dự báo chất thải theo xu thế phát triển của xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số phát sinh CTRSH trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
là 0,81 kg/người/ngày, khối lượng dự kiến phát sinh năm 2025 là 335,933 tấn/ngày; hệ số phát sinh CTXD khoảng 19 m3/ngày, khối lượng dự kiến phát sinh năm 2025 là 41.117 m3/năm; hệ số phát sinh CTR y tế 4,8 kg/giường bệnh/tháng, khối lượng dự kiến phát sinh năm 2025 là 70,080 tấn/năm; khối lượng bùn thải rãnh thoát nước phát sinh 34.870 m3/năm Tỷ
lệ thu gom rác thải sinh hoạt đạt 100%, trên địa bàn không còn điểm tồn đọng rác CTXD phát sinh trong quá trình thi công xây dựng người dân đã nhận thức và ký hợp đồng xử lý CTXD khi khởi công thi công xây dựng Bùn thải tại rãnh thoát nước được quận Bắc Từ Liêm nạo vét hàng năm, trên địa bàn quận không có khu vực bị úng ngập cục bộ Bùn thải tự hoại được người dân
ký hợp đồng bơm hút với đơn vị có chức năng, không thải trực tiếp ra môi
Trang 10CTRSH và CTXD là loại có lượng phát sinh cơ học lớn theo từng năm CTR
y tế chỉ phát sinh khi các dự án vận hành bệnh viện hoàn thành thi công và vận hành sử dụng Bùn thải thoát nước sẽ giảm khi quận Bắc Từ Liêm có hệ thống xử lý nước thải tập trung
Từ khóa: chất thải rắn sinh hoạt, chất thải xây dựng, chất thải rắn y tế, chất thải nguy hại, bùn thải
Trang 11CNN : Cụm công nghiệp CTCP : Công ty cổ phần CTNH : Chất thải nguy hại CTR : Chất thải rắn CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt CTXD : Chất thải xây dựng
C.ty : Công ty GTSX : Giá trị sản xuất KCN : Khu công nghiệp MTV : Một thành viên PTXD : Phế thải xây dựng TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân VSMT : Vệ sinh môi trường
Trang 12Bảng 1.2 Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước 5
Bảng 1.3 Thành phần của CTR ở Hà Nội 7
Bảng 1.4 Công nghệ xử lý CTNH đang được sử dụng ở nước ta hiện nay 12
Bảng 1.5 Thành phần CTR y tế ở Việt Nam 13
Bảng 1.6 Dự báo khối lượng chất thải phát sinh 33
Bảng 1.7 Dự báo nhu cầu sử dụng đất 33
Bảng 3.1 Khối lượng CTRSH phát sinh bình quân trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 46
Bảng 3.2 Khối lượng rác sinh hoạt trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 46
Bảng 3.3 Bảng số liệu cấp phép xây dựng cho các hộ gia đình và dự kiến PTXD phát sinh trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2014-2016 48
Bảng 3.4 Danh sách các đơn vị thực hiện xử lý CTNH năm 2016 50
Bảng 3.5 Khối lượng bùn thoát nước ngõ xóm trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 52
Bảng 3.6 Khối lượng thu gom rác nhà dân trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 56
Bảng 3.7 Đơn giá xử lý chất thải y tế nguy hại 65
Bảng 3.8 Đánh giá về hệ thống quản lý CTR tại quận Bắc Từ Liêm 73
Bảng 3.9 Dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2018-2025 76
Bảng 3.10 Dự báo khối lượng CTXD trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2017-2025 77
Bảng 3.11 Dự báo khối lượng CTR y tế trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 78
giai đoạn 2018-2025 78
Bảng 3.12 Dự báo khối lượng bùn thải tự hoại trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2018-2025 79
Trang 13Thái Lan 20
Hình 1.2 Hệ thống quản lý CTR tại một số đô thị lớn ở Việt Nam 21
Hình 1.3 Thứ tự ưu tiên quản lý CTR 24
Hình 1.4 Mô hình quản lý CTRSH tại Việt Nam 25
Hình 1.5 Mô hình quản lý CTXD tại Việt Nam 27
Hình 1.6 Phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý 29
Hình 2.1 Vị trí quận Bắc Từ Liêm đến năm 2020 42
Hình 3.1 Nguồn phát sinh CTR trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 45
Hình 3.2 Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý các loại CTR trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 54
Hình 3.3 Thùng chứa rác đặt tại các ngõ nhỏ 57
Hình 3.4 Công tác thu gom, thu cẩu rác bằng xe đẩy tay 57
Hình 3.5 Công tác thu gom rác bằng xe cơ giới loại nhỏ 58
Hình 3.6 Công tác thu rác trực tiếp bằng các xe chuyên dùng 58
Hình 3.7 Quy trình tiếp nhận, xử lý PTXD bằng công nghệ chôn lấp 62
Hình 3.8 Quy trình xử lý CTXD tại các khu xử lý 62
Hình 3.9 Quy trình xử lý CTR y tế tại bệnh viện Nam Thăng Long và Mắt Ánh Sáng 64
Hình 3.10 Quy trình thực hiện nạo vét rãnh thoát nước bằng thủ công 68
Hình 3.11 Quy trình thực hiện nạo vét rãnh thoát nước bằng máy 68
Hình 3.12 Công tác nạo vét rãnh thoát nước bằng máy và bằng thủ công 68
Hình 3.13 Công tác quản lý môi trường tại quận Bắc Từ Liêm 72
Hình 3.14 Đề xuất quy trình xử lý CTRSH trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 80
Hình 3.15 Đề xuất mô hình xử lý CTXD 82
Hình 3.16 Quy trình vận hành máy nghiền CTXD 83
Hình 3.17 Máy nghiền xử lý CTXD tại dự án mở rộng đường Vành đai 3 85
Hình 3.18 Mô hình xử lý chất thải y tế 86
Hình 3.19 Quy trình xử lý chất thải lây nhiễm bằng lò hấp 87
Hình 3.20 Thiết bị hấp chất thải lây nhiễm 88
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bắc Từ Liêm là một quận mới của TP Hà Nội, được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ Theo quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Bắc Từ Liêm là một phần của đô thị trung tâm; khu vực Bắc Từ Liêm được định hướng phát triển là một trong những khu trung tâm hành chính, văn hóa, thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, giáo dục, thể thao, giải trí chất lượng cao
Tuy mới thành lập nhưng Bắc Từ Liêm là quận có mật độ dân cư đông, có tốc
độ đô thị hóa nhanh, diện mạo đổi thay từng ngày với nhiều công trình nhà chung
cư cao tầng hiện đại, các khu đô thị mới khang trang, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các ngõ, ngách khu dân cư đã được quận đầu tư xây dựng đồng bộ
Cùng với sự phát triển kinh tế, các đô thị, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngày được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nó đã tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, y tế, xây dựng,… Trong những năm qua, để thực hiện theo Chỉ thị của Thành phố về “Năm trật tự và văn minh đô thị”, công tác quản lý CTR trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm đã có nhiều chuyển biến Tuy nhiên, vấn đề thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH, CTXD, CTR y tế và CTNH, bùn thải còn chưa đồng bộ, gây ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe người dân, tiêu tốn ngân sách nhà nước và lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn phù hợp với phát triển kinh tế xã hội tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”, nhằm điều tra hiện trạng phát sinh CTR trên địa bàn quận và
đề xuất giải pháp quản lý đồng bộ CTR phù hợp với các quy định về bảo vệ môi trường và nguồn kinh phí của địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
(1) Nghiên cứu hiện trạng phát sinh CTR (CTRSH, CTXD, CTR y tế, CTNH, bùn thải) trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
Trang 15(2) Nghiên cứu hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR của Công ty VSMT trên địa bàn quận; Hiện trạng công tác quản lý của cơ quan chức năng tại quận Bắc Từ Liêm
(3) Đề xuất giải pháp quản lý đồng bộ CTR phù hợp với với các quy định về bảo vệ môi trường và nguồn kinh phí của địa phương
3 Nội dung nghiên cứu
(1) Điều tra hiện trạng phát sinh các loại CTR (CTRSH, CTXD, CTR y tế, CTNH, bùn thải) trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
(2) Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, tuyến thu gom, vận chuyển, xử lý các loại CTR trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm
+ Hiện trạng công tác thu gom: cơ sở vật chất, đơn vị thực hiện, thời gian, tần suất, tỷ lệ thu gom, số lượng công nhân
+ Hiện trạng tuyến thu gom: tuyến thu gom, điểm trung chuyển
+ Hiện trạng công nghệ xử lý đang được áp dụng
(3) Nghiên cứu, tính toán, dự báo lượng CTR phát sinh theo xu hướng phát triển kinh tế xã hội tại quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đến năm 2025
(4) Đề xuất mô hình quản lý CTR phù hợp với các quy định về bảo vệ môi trường và nguồn kinh phí của địa phương
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chất thải rắn
Tại Canada là 1,7kg/người/ngày; Australia là 1,6 kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3 kg/người/ngày; Trung Quốc là 1,3 kg/người/ngày Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 4 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,7 kg/người/ngày [5] Với sự gia tăng của rác thì việc thu gom, phân loại, xử lý rác thải là điều mà mọi quốc gia cần quan tâm Ngày nay, trên Thế giới có nhiều công nghệ xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của Thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh CTR tại các thành phố lớn như New York là 1,8kg/người/ngày, Hàn Quốc là 1,79kg/người/ngày, Nhật Bản là 1,67kg/người/ngày, Singapore và Hồng Kông là 1,0 – 1,3 kg/người/ngày [5]
Trang 17Bảng 1.1: Lượng phát sinh CTR đô thị ở một số quốc gia
Tên nước Dân số đô thị hiện nay (% tổng số)
Lượng phát sinh CTR đô thị hiện nay (kg/người/ngày)
Tại Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố ở Mỹ lên tới 210
triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải
vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại rác sinh hoạt thì thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%) [13] Điển hình tại California, nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có
Trang 18những phát sinh khác nhau như: khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục
vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả CTR được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác [13]
Tại Singapore: đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế
giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền
đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng [13]
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xử lý rác thải Tỷ lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng 1.2 dưới đây:
Bảng 1.2 Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
Trang 19STT Nước Tái chế
Chế biến phân vi sinh
1.1.2 Tại Việt Nam
CTR đô thị bao gồm các loại CTR phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng, các cơ sở y tế và các cơ sở sản xuất trong nội thành, khu xử lý chất thải Trong đó, CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất
a Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSH là CTR phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng
(1) Nguồn phát sinh
CTRSH là những CTR phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng Các nguồn chủ yếu phát sinh CTRSH bao gồm: từ các khu dân cư; từ các trung tâm thương mại; từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng; từ các dịch vụ đô thị, sân bay; từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của Thành phố; từ các khu công nghiệp [11]
(2) Thành phần tính chất
Thành phần của CTRSH bao gồm chất vô cơ (các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, túi nilon, vải, đồ điện, đồ chơi ), chất hữu cơ (cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, xác súc vật, phân động vật )
và các chất khác [1] Thành phần lý, hóa của CTR đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Tại Thủ đô Hà Nội thành phần CTR được thể hiện chi tiết tại bảng 1.3 như sau:
Trang 202014, khối lượng CTRSH đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Riêng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2011 đến 2015 đạt trung bình 12% mỗi năm và về xu hướng, mức độ phát sinh CTRSH đô thị tiếp tục tăng trong thời gian tới
(3) Hiện trạng công tác thu gom và xử lý
Tình hình thu gom, vận chuyển
Phân loại, thu gom, xử lý CTRSH đô thị thông thường: việc phân loại CTR tại nguồn chưa có chế tài áp dụng và không đồng bộ cho các công đoạn thu gom, xử lý Hiện công tác phân loại CTR tại nguồn mới được thực hiện thí điểm tại một số phường của một số đô thị lớn; phần lớn CTRSH đô thị chưa được phân loại tại nguồn Hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH tại các đô thị được cung cấp chủ yếu bởi các Công ty môi trường đô thị và Công ty công trình đô thị và một phần do các doanh nghiệp tư nhân thực hiện với tỷ lệ ngày càng cao Ví dụ: tại
TP Hồ Chí Minh, 50% lượng CTRSH đô thị được thu gom bởi các công ty tư nhân hoặc các hợp tác xã, tổ đội; tại Hà Nội, tỷ lệ này khoảng 20%, do các công ty tư
Trang 21nhân, hợp tác xã, tổ VSMT thực hiện Hiện nay phí vệ sinh theo hộ gia đình tại khu vực đô thị trung bình là 21.000 đồng/hộ/tháng, tương đương 5.600 đồng/người/tháng Mức thu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000 - 200.000 đồng/cơ sở/tháng tùy theo quy mô và địa phương Nhìn chung, so với các đô thị còn
lại, lượng CTRSH được thu gom tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 khá lớn [1]
Tỷ lệ thu gom và xử lý CTRSH đô thị đạt khoảng 85,3% (tăng 0,3% so với năm 2014; tăng 3% so với năm 2010), đạt mục tiêu của Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Hiện có 55/63 địa phương đã phê duyệt quy hoạch quản lý CTR, đây là cơ sở quan trọng để lập dự án
và thu hút các nguồn lực đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTR Theo báo cáo từ các địa phương, một số đô thị đặc biệt, đô thị loại I có tỷ lệ thu gom khu vực nội thành đạt mức tuyệt đối 100% như TP Hồ Chí Minh; Đà Nẵng; Hải Phòng; Hà Nội đạt khoảng 98% ở 11 quận nội thành (quận Hà Đông đạt 96% và Thị xã Sơn Tây đạt 94%); các đô thị loại II cũng có cải thiện đáng kể, đa số các đô thị loại 2 và 3 đều đạt tỷ lệ thu gom ở khu vực nội thành khoảng 80% - 85% Tính đến hết năm 2015,
cả nước có khoảng 35 cơ sở xử lý CTRSH đô thị được xây dựng đưa vào hoạt động
Công suất trung bình của các cơ sở xử lý phổ biến ở mức từ 100 - 200 tấn/ngày [1]
Tình hình xử lý
Một số cơ sở xử lý CTRSH có công suất thiết kế rất lớn như: khu liên hợp xử
lý CTR Đa Phước 3.000-5.000 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR tại Củ Chi, TP Hồ Chí Minh 1.000 tấn/ngày; một số cơ sở xử lý có công suất trên 300 tấn/ngày như: nhà máy xử lý chất thải Xuân Sơn (Sơn Tây, Hà Nội) 700 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR sinh hoạt Nam Bình Dương (tỉnh Bình Dương) 420 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR Đồng Xanh (tỉnh Đồng Nai) 300 tấn/ngày;…Công nghệ xử lý CTRSH phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt Tại khu vực đô thị, tỷ lệ CTRSH được chôn lấp trực tiếp khoảng 34%, tỷ lệ CTRSH được giảm thiểu hoặc tái chế tại các cơ sở
xử lý đạt khoảng 42% và lượng CTR còn lại là bã thải của quá trình xử lý được
chôn lấp chiếm khoảng 24% [1]
Trang 22- Phân loại CTXD: CTXD phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh theo quy định tại Khoản 1, Điều 50 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thành các loại: CTR
có khả năng tái chế được; CTR có thể được tái sử dụng ngay trên công trường hoặc tái sử dụng ở các công trường xây dựng khác; CTR không tái chế, tái sử dụng được
và phải đem đi chôn lấp; CTNH được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP [2]
(2) Thành phần, tính chất
CTXD chủ yếu là chất thải không nguy hại, gồm có đất, cát, sỏi (36%), bê tông (23%), gạch và khối xây (31%), kim loại (5%), nhựa (2%), gỗ (2%), loại khác
(1%) [1]
(3) Hiện trạng công tác thu gom và xử lý
Hiện nay công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý CTXD ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập như:
Theo thống kê từ phòng Quản lý đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014, toàn thành phố phát sinh khoảng 3.000 m3 phế thải VLXD Số lượng phế thải trên một phần được san lấp ở các công trình hoặc thùng, vũng của các hộ dân có nhu cầu Tuy nhiên, cũng không ít lượng PTXD được mang đổ bừa bãi tại các khu đô thị, vỉa hè những tuyến đường chưa có người ở như: Ngô Tất Tố, Lý Anh Tông, Hòa Long - Kinh Bắc… gây mất mỹ quan đô thị Việc xử lý, bắt giữ hành vi đổ trộm phế thải xây dựng ra nơi công cộng khó khăn, chưa có tính răn đe cao do hoạt động này thường diễn ra vào ban đêm, nơi vắng người qua lại… Hằng năm, thành
Trang 23phố phải dành một phần không nhỏ ngân sách để chỉnh trang, dọn dẹp các khu vực này [1]
Tại nhiều quận, huyện trên địa bàn Hà Nội, những hồ, đầm, ao chưa được xây dựng kè chắn, đường bao là địa điểm lý tưởng để các đối tượng đổ trộm rác, phế thải xây dựng Hành vi này còn được sự tiếp tay của các hộ dân sinh sống gần
đó với mục đích lấn chiếm trái phép, kể cả một số khu vực được bảo vệ như địa điểm thi công đường vành đai 2,5 (đoạn qua Định Công, Hoàng Mai) Mặc dù đơn
vị thi công đã quây kín nhưng thỉnh thoảng vẫn bị phá rào, đổ phế thải trộm xuống
hố công trình Trên địa bàn các quận Hà Đông, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, nạn đổ trộm phế thải xuống khu bãi nổi ven sông Hồng cũng đáng báo động Nhiều nơi trước kia vốn là lòng sông nay đã biến thành bãi bồi Quận Nam
Từ Liêm đã thu gom hàng nghìn khối phế thải khắp các tuyến phố, các khu đô thị đang xây dựng [1]
Hiện nay CTXD ở Hà Nội được chôn lấp vào các hố đấu hình thành do sản xuất gạch và các hố trũng tự nhiên và nhân tạo khác Các BCL CTXD của Hà Nội bao gồm BCL Vân Nội với diện tích khoảng 7,5 ha, hàng ngày tiếp nhận khoảng
800 đến 1.000 tấn CTXD; BCL Nguyên Khê có diện tích khoảng 13ha do CTCP Xử
lý CTXD và đầu tư phát triển môi trường Hà Nội khai thác vận hành, hiện tại tiếp nhận san lấp khoảng 100 tấn/ngày; bãi Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì có diện tích 4,9 ha
do CTCP Môi trường và công nghệ sinh thái khai thác vận hành, tiếp nhận khoảng
600 tấn/ngày; BCL phế thải tại xã Song Phương, xã Minh Khai huyện Hoài Đức có diện tích 3 ha do Hợp tác xã Thành Công khai thác vận hành, tiếp nhận CTXD của địa bàn Hoài Đức và các vùng lân cận khoảng 300 tấn/ngày; BCL CTXD Đan Phượng diện tích 4,6 ha do Hợp tác xã Thành Công khai thác, vận hành, tiếp nhận khoảng 300 tấn/ngày [1]
c Chất thải nguy hại
CTNH là những chất có tính độc hại nhất thời đáng kể hoặc tiềm ẩn đối với con người và các sinh vật khác do: không phân hủy sinh học hay tồn tại lâu bền trong
Trang 24tự nhiên; gia tăng số lượng đáng kể không thể kiểm soát; liều lượng tích lũy đến một liều lượng nhất định nào đó sẽ gây tử vong hay gây ra tác động tiêu cực [16]
Trong đó có thể nói các ngành sản xuất công nghiệp là nguồn phát sinh ra CTNH lớn nhất so với các nguồn phát sinh khác Nguồn công nghiệp mang tính thường xuyên và ổn định nhất, các nguồn từ dân dụng hay sinh hoạt không nhiều, tương đối nhỏ [16]
(2) Thành phần tính chất
Theo TCVN 6706:2000 chia CTNH thành 7 nhóm sau:
- Chất thải dễ bắt lửa, dễ cháy gồm: Chất thải lỏng dễ cháy, chất thải dễ cháy,
chất thải có thể tự cháy, chất thải tạo ra khí dễ cháy
- Chất thải gây ăn mòn gồm: Chất thải có tính axít, chất thải có tính ăn mòn
- Chất thải độc cho hệ sinh thái
- Chất thải lây nhiễm [16]
CTR công nghiệp ở Hà Nội từ ngành cơ khí có khoảng 50% là chất thải độc hại chứa kim loại nặng, chất ăn mòn và dễ cháy; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp dệt, may mặc chứa khoảng 44,5% chất thải độc hại; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp điện, điện tử có trên 70% là chất thải độc hại chứa các cặn kim
Trang 25loại nặng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; CTR công nghiệp từ ngành hoá chất có khoảng 62% là chất thải độc hại dưới dạng vi sinh vật và kim loại hoà tan; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp thực phẩm có khoảng 20% chứa các vi khuẩn làm thối rữa; Các CTR công nghiệp khác như thuộc da, xà phòng, sản xuất
tân dược cũng tạo ra chất thải độc hại [1]
(3) Hiện trạng công tác thu gom và xử lý
Theo thống kê từ báo cáo của các địa phương, khối lượng CTNH (bao gồm
cả khu vực đô thị và nông thôn) được thu gom, xử lý ngày càng tăng qua từng năm,
cụ thể trong năm 2012 là 165.624 tấn, năm 2013 là 186.657 tấn (tăng 12,7% so với năm2012), năm 2014 là 320.275 tấn (tăng 93,4% so với năm 2012) [1]
Bảng 1.4 Công nghệ xử lý CTNH đang được sử dụng ở nước ta hiện nay
Nguồn: [1]
Hầu hết các cơ sở xử lý CTNH đều là doanh nghiệp tư nhân (chiếm 97% tổng số doanh nghiệp xử lý CTNH do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép hoạt động) Việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường giúp cho hoạt động quản lý chất thải có tính cạnh tranh cao, tạo điều kiện cho các chủ nguồn thải CTNH cần chuyển giao có thể chọn lựa doanh nghiệp xử lý có kinh
nghiệm và dịch vụ phù hợp, tránh tình trạng độc quyền và ép giá xử lý [1]
TT Tên công nghệ Số cơ sở áp dụng Số mô đun hệ thống Công suất
6 Xử lý, tái chế dầu thải 23 24 3 – 20 tấn/ngày
8 Xử lý chất thải điện tử 18 19 0,3 – 5 tấn/ngày
9 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 18 22 0,5 – 200 tấn/ngày
Trang 26d Chất thải rắn y tế
CTR y tế: Là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu…
CTR y tế bao gồm: CTR y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại
+ CTR y tế thông thường bao gồm CTR thông thường (kể cả CTRSH); sản phẩm thải lỏng không nguy hại
+ CTR y tế nguy hại bao gồm chất thải lây nhiễm và CTNH không lây nhiễm Chất thải lây nhiễm bao gồm chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTNH không lây nhiễm bao gồm hóa chất thải bỏ; dược phẩm thải bỏ; thiết bị y tế
bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; chất
hàn răng amalgam thải bỏ; CTNH khác theo quy định về quản lý CTNH [1]
(1) Nguồn phát sinh
Phát sinh từ các cơ sở y tế trong khu vực đô thị bao gồm các bệnh viện tuyến TW; các bệnh viện tuyến quận/huyện trên địa bàn thành phố; các cơ sở y tế tư nhân
Theo thống kê, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm Ước tính năm
2015, lượng CTR y tế phát sinh là 600 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, qua khảo sát của Sở Y tế, lượng CTR y tế từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố do Sở quản lý (không bao gồm các bệnh viện tuyến trung ương) trong năm 2014 là khoảng gần 3.000 tấn
Chai lọ thủy tinh, xi lanh thủy tinh,
Trang 27(3) Hiện trạng công tác thu gom và xử lý
Phân loại, thu gom, xử lý CTR y tế thông thường: Tại các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn CTR y tế phát sinh được thu gom
và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ tập trung sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở
xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó
Thu gom và xử lý CTR y tế nguy hại:
Theo số liệu báo cáo của Bộ Y tế về tình hình quản lý đối với CTR y tế, đã
có hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải từ nguồn Tuy vậy, đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở
Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR y tế chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn [1]
Trong khoảng hơn 300 tấn CTNH tế mỗi ngày trên phạm vi toàn quốc chỉ có 1/3 được đốt bằng lò đốt hiện đại và có thể đảm bảo an toàn môi trường Thống kê cho thấy, hiện cả nước có gần 200 lò đốt rác thải y tế chuyên dụng, trong đó có 2 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và cỡ nhỏ Các lò đốt rác chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tỉnh trở lên
và một số bệnh viện tuyến huyện thuộc các thị xã, thành phố Còn lại có tới 33% bệnh viện tuyến huyện và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý chất thải y tế nguy hại bằng các lò đốt thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh viện, hoặc thải trực tiếp ra bãi rác chung, nơi có đông dân cư sinh sống và không ít được tuồn bán ra ngoài để tái chế [1]
Trang 28Hiện nay, việc sử dụng công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường trong
xử lý chất thải y tế đang được khuyến khích và ưu tiên phát triển Điển hình là công nghệ xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt như khử khuẩn bằng lò hấp,
lò vi sóng đem lại hiệu quả về mặt kinh tế lẫn môi trường, do sử dụng ở nhiệt độ dưới 4000oC nên không phát sinh khí thải đặc biệt như Dioxin/Furan và giảm tiêu thụ năng lượng [1]
e Bùn thải
Bùn thải: Là chất thải ở thể rắn hoặc sệt được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
(1) Nguồn phát sinh
- Từ hệ thống xử lý nước thải của các KCN, CCN
- Từ hệ thống sông, ngòi, ao hồ, hệ thống rãnh thoát nước
- Từ các bể tự hoại hộ gia đình, hệ thống các nhà vệ sinh công cộng
(2) Thành phần tính chất
- Bùn thải thường là hỗn hợp huyền phù, chứa nhiều chất hữu cơ chưa được phân hủy hoàn toàn, chứa nhiều vi sinh vật Thành phần của các loại bùn thải rất khác nhau, ví dụ bùn thải từ mạng lưới thoát nước và bùn nạo vét kênh rạch chứa chủ yếu là cát và đất trong khi bùn thải từ các trạm/nhà máy xử lý nước thải và từ bể
tự hoại chứa chủ yếu là các chất hữu cơ
- Những loại bùn thải có chứa các kim loại nặng như: Cu, Mn, Ni, Pb, Al, As… phải được xử lý trước khi thải ra môi trường
(3) Hiện trạng công tác thu gom và xử lý
Về thu gom, vận chuyển bùn thải từ hệ thống thoát nước và công trình vệ sinh gồm: Bùn thải mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt; nước thải công nghiệp; nạo vét kênh, mương, rạch hoặc sông theo định kỳ; các bể tự hoại; nhà máy xử lý nước thải Hiện nay, bùn thải từ hoạt động nạo vét cống rãnh, kênh rạch và bùn bể tự hoại được vận chuyển bằng xe chuyên dụng và xà lan (bùn nạo vét kênh rạch) Bùn thải từ các trạm/nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt/đô thị tập trung sau khi tách nước (làm khô) được vận chuyển đến các BCL Công tác nạo vét bùn từ mạng lưới
Trang 29thoát nước nhiều đô thị vừa và nhỏ vẫn còn sử dụng phương pháp thủ công, nhiều
đô thị lớn bước đầu sử dụng cơ giới hóa Phương pháp thủ công có năng suất thấp, không an toàn và gây nguy hại đến sức khỏe công nhân thoát nước
Do đặc điểm các đô thị Việt Nam là đô thị cũ, đô thị cải tạo và mở rộng; cơ
sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế trong khi mật độ dân số cao Việc thông hút, vận tải bùn từ bể tự hoại của các hộ dân cực kỳ khó khăn (khó tiếp cận) mặt khác phương tiện hút và vận chuyển cũ, thiếu thốn không đảm bảo VSMT và không phù hợp với điều kiện hạ tầng kỹ thuật
số công nghệ xử lý bùn thải chi phí thấp Nhiều sản phẩm được sản xuất ra từ bùn thải được sử dụng làm vật liệu xây dựng, sử dụng trong nông nghiệp, ngoài ra việc tái sử dụng bùn thải nhằm tiết kiệm năng lượng
1.2 Tác động đến môi trường của chất thải rắn
1.2.1 Tác động đến môi trường không khí
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Loan năm 2013, CTRSH phát sinh
từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2… đều là các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí [10]
Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển,
Trang 30chất thải y tế có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt chất thải y tế quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như sau:
Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại;
Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO;
Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc dù
1.2.2 Tác động đến môi trường nước
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Loan năm 2013, người dân thường
đổ rác tại các bờ sông, hồ, ao, cống rãnh… Lượng rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực Ngoài ra, rác có thể bị cuốn trôi theo dòng nước mưa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch… sẽ làm nhiễm bẩn nguồn nước mặt Lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ… giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh thoát nước Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái trong các ao hồ bị hủy diệt Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, trực khuẩn, thương hàn… ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng [10]
Chất thải bệnh viện là loại chất thải rất nguy hiểm nếu không được xử lý tốt
sẽ là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước nhất là hệ thống nước ngầm Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất
Trang 31đến môi trường nước đó chính là nước thải từ các bệnh viện, cơ sở y tế không được
xử lý mà thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung Nước thải bệnh viện có thể tiềm tàng rất nhiều nguy cơ nhiễm khuẩn (khuẩn Salmonella, Shigella, dạng Coli, phẩy khuẩn, liên cầu, tụ cầu ; virus; ký sinh trùng) Nguy cơ nhiễm chất độc hại thường gặp trong việc rửa, tráng phim hay thủy ngân của các nhiệt kế, huyết áp bị
vỡ, các độc dược bị đổ đi rơi vào các nguồn nước thải Nguy cơ nhiễm chất phóng
xạ do nguồn phóng xạ sử dụng trong điều trị và nghiên cứu không được bảo quản đúng sẽ gây phát xạ nguy hiểm [10]
Theo Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế bệnh viện, tác động của chất thải y tế đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt Tuy nhiên,
nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu,
Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng Do
đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này
1.2.3 Tác động đến môi trường đất
Khi rác thải được đưa vào môi trường các chất độc sẽ xâm nhập vào đất và tiêu diệt nhiều loại sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch, nhái… làm giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50-60 năm mới phân hủy hết,
do đó chúng tạo thành các “bức tường ngăn cách” trong đất, hạn chế mạnh đến quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút [10]
Không phải tất cả các bệnh viện đều có điều kiện xử lý CTR y tế hàng ngày Chất thải sau khi được phân loại, thu gom sẽ được tập trung về nơi lưu giữ tạm thời Nếu nơi lưu giữ này không đảm bảo vệ sinh để cho nhiều loài côn trùng, loài gặm nhấm xâm nhập thì đây chính là các tác nhân trung gian sẽ mang mầm bệnh phát tán
Trang 32ra bên ngoài do vậy ảnh hưởng đến môi trường trong và ngoài bệnh viện Các chất độc hại như gạc, bông băng nhiễm khuẩn, hóa chất chưa được xử lý lại thu gom đổ cùng với chất thải sinh hoạt và đem đi chôn không đảm bảo yêu cầu có thể ảnh hưởng đến môi trường đất và mạch nước ngầm [10]
CTNH phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng làm cho đất bị chai cứng không còn khả năng sản xuất [3]
1.3 Các mô hình quản lý chất thải rắn
cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa [13]
Tại Thái Lan: nằm trong khu vực Đông Nam Á, có điều kiện tự nhiên, vị trí khá giống với Việt Nam Các biện pháp xử lý truyền thống là thiêu đốt Năm 2002, khoảng 98, 99% lượng CTR được thu gom, vận chuyển và xử lý tại BCL hợp vệ sinh Hoạt động quản lý được thực hiện bởi 3 công ty tư nhân Ngoài biện pháp chôn lấp, ở Thái lan có khu xử lý thiêu đốt chất thải rắn được xây dựng ở Phuket, từ năm 1998 với công suất 250 tấn/ngày Ở Thái Lan, một trong những công nghệ phổ biến để xử lý CTR hữu cơ tại thành phố Bangkok và các thành phố khác là công
Trang 33nghệ ủ sinh học “DANO System” [18] Quy trình công nghệ được thể hiện tại hình 1.1 sau:
Hình 1.1 Sơ đồ xử lý rác thải bằng công nghệ DANO tại thành phố
Bangkok, Thái Lan
Trong nhưng năm gần đây, công nghệ xử lý chất thải rắn bàng phương pháp
ủ sinh học Compossting cũng được áp dụng tại nhiều địa phương của Thái Lan Tại vùng nông thôn, người dân đã tiến hành phân loại rác tại nguồn và triển khai áp dụng phương pháp xử lý CTR bằng phương pháp đốt NFI là lò đốt rác với công suất nhỏ - lò đốt rác bằng không khí tự nhiên (Natural flow incinento 120-450 kg/h) Lò sản xuất tại Thái Lan được thiết kế và sử dụng công nghệ Nhật Bản [18]
Phễu tiếp nhận rác Tầng quay phân loại và băng chuyển tách từ
Tái chế/chôn lấp
Thùng trộn ổn định sinh học dano 2,5-5 ngày
Tạp chất không phân hủy
sinh học
Sàng khô trên tầng quay
Sàng tinh trên tầng quay Máy cắt, nghiền nhỏ
Cân trọng lượng, đóng bao Phối trộn hóa học
Trang 341.3.2 Tại Việt Nam
a Mô hình quản lý chất thải
Hình 1.2 Hệ thống quản lý CTR tại một số đô thị lớn ở Việt Nam
Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị thống nhất quản lý nhà nước về CTNH trên phạm vi toàn quốc và ban hành quy định về danh mục, mã và ngưỡng CTNH; yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý về phân định, phân loại, lưu giữ, trung chuyển, vận chuyển, sơ chế, tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lượng từ CTNH; yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý liên quan đến các điều kiện để được cấp phép xử lý CTNH và việc thực hiện trách nhiệm trong giai đoạn hoạt động
Bộ Tài nguyên
và Môi trường Bộ Xây dựng
UBND Thành phố
Sở Tài nguyên
và môi trường
Vận chuyển, tiêu hủy
Thu gom,
xử lý
Chất thải rắn
Trang 35của chủ nguồn thải, chủ xử lý CTNH; trình tự, thủ tục về: Đăng ký chủ nguồn thải CTNH; cấp và thu hồi giấy phép xử lý CTNH; cấp chứng chỉ quản lý CTNH; đăng
ký vận chuyển xuyên biên giới CTNH theo Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các CTNH và việc tiêu hủy chúng; tổ chức thực hiện chức năng cơ quan thẩm quyền và đầu mối Công ước Basel tại Việt Nam [6]
Bộ Xây dựng hướng dẫn quản lý đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTRSH theo quy hoạch được phê duyệt; phương pháp lập, quản lý chi phí và phương pháp định giá dịch vụ xử lý CTRSH; công bố định mức kinh tế, kỹ thuật về thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH; suất vốn đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTRSH; phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng cơ sở dữ liệu về CTRSH, quản lý, khai thác, trao đổi, cung cấp thông tin có liên quan đến quản lý CTRSH
UBND Tỉnh/Thành phố tổ chức thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng các công trình xử lý CTR thuộc vùng tỉnh và vùng liên tỉnh nằm trên địa bàn tỉnh Quy hoạch quản lý CTR cấp địa phương do Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức phê duyệt; tổ chức hoạt động quản lý CTR trên địa phương, công bố, công khai quy hoạch quản lý CTR, tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển CTR Hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động quản lý CTR
và bảo vệ môi trường trên toàn tỉnh Chỉ đạo, giám sát công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch bảo vệ môi trường
Sở Xây dựng là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh, chịu trách nhiệm chính trong hoạch định chính sách, quy hoạch và đầu tư xây dựng các cơ sở quản lý,
xử lý CTR Xây dựng và quản lý các hệ thống cơ sở hạ tầng liên quan đến CTR ở cấp địa phương
Sở Tài nguyên và Môi trường hoạch định chính sách, hệ thống pháp lý ở cấp địa phương, hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn Thanh tra, giám sát công tác quản lý CTR trên địa bàn tỉnh Hỗ trợ, tư vấn về kỹ thuật cho hoạt động xử lý CTR cho các huyện Chủ trì phân loại CTR tại nguồn, hàng năm lập báo cáo tổng hợp tình hình quản lý CTRSH, CTR nông nghiệp của toàn tỉnh báo cáo UBND tỉnh Chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường tại các trạm trung chuyển, khu xử
Trang 36lý CTR toàn tỉnh Xây dựng hướng dẫn UBND các huyện về tiêu chuẩn, điều kiện
kỹ thuật lựa chọn địa điểm và xây dựng các trạm trung chuyển CTR cho các điểm dân cư nông thôn
UBND các quận, huyện hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách sự nghiệp bảo
vệ môi trường cho công tác quản lý CTR trên địa bàn quận, huyện Chỉ đạo, giám sát công tác bảo vệ môi trường; công tác thực hiện quy hoạch quản lý CTR Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về VSMT trên địa bàn Xây dựng, trình duyệt và tổ chức thực hiện đề án thu gom, vận chuyển và xử lý CTR thông thường trên địa bàn Lập kế hoạch đóng cửa các bãi rác không hợp VSMT Xây dựng giá dịch vụ thu gom, xử lý CTR trên địa bàn của mình, đề nghị Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt
UBND các xã, phường, thị trấn dành quỹ đất công làm điểm tập kết rác thải ở các thôn Chỉ đạo, giám sát công tác bảo vệ môi trường; công tác thực hiện quy hoạch quản lý CTR Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về VSMT trên địa bàn Tham mưu cho UBND huyện trong việc quy hoạch các điểm trung chuyển CTR cho các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn Thành lập tổ VSMT, hợp tác xã chịu trách nhiệm thu gom CTRSH trên địa bàn
Công ty môi trường đô thị/hợp tác xã/tổ thu gom CTR có trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý CTR đảm bảo chất lượng và tiến theo các hợp đồng ký kết Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai thí điểm và nhân rộng chương trình phân loại CTR đô thị tại nguồn (tại hộ gia đình, các cơ quan, trường học, cơ sở thương mại, dịch vụ, ) Tuy được phân công trách nhiệm rõ ràng, nhưng do nguồn nhân lực vẫn còn thiếu và yếu, thiếu kinh phí và cơ sở hạ tầng, chưa đưa ra được cơ chế phối hợp hiệu quả nên công tác quản lý chưa đạt được mục tiêu đề ra Như vậy,
để không xảy ra sự chồng chéo, xung đột trong công tác quản lý CTR đòi hỏi phải có
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận dưới sự điều hành chung của UBND tỉnh/thành phố, nâng cao trình độ nhân lực, đặc biệt là trong vấn đề quy hoạch [7]
Trang 37b Mô hình quản lý kỹ thuật chất thải rắn
Hình 1.3 Thứ tự ưu tiên quản lý CTR
CTR được quản lý theo nguyên tắc giảm thiểu tại nguồn, nguồn phát sinh được giảm thiểu thì khối lượng CTR mới có thể giảm thiểu được lớn nhất Tái sử dụng các loại chất thải có thể tái sử dụng cho mục đích hữu ích khác Các chất thải hữu cơ dễ phân hủy tái sử dụng cho mục đích sản xuất phân Compost giảm thiểu được lượng rác thải phải chôn lấp hoặc đốt, đây là nguồn nguyên liệu cho sản xuất phân vi sinh và giảm thiểu chi phí cho xử lý, giảm thiểu phát sinh khí thải nhà kính Các loại chất thải còn lại không thể tái sử dụng được mới nên áp dụng biện pháp đốt
và chôn lấp, biện pháp này gây nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí cao do vậy là biện pháp cuối cùng khi xử lý chất thải rắn
Xét về mức độ hiệu quả, chi phí xử lý thì phương pháp đốt và chôn lấp tốn kém nhiều kinh phí, tốn diện tích sử dụng, ô nhiễm môi trường mà không mang lại hiệu quả kinh tế Trong khi các giải pháp tái chế, tái sử dụng có hiệu quả xử lý cao, tốn kém ít kinh tế và gây tác động tới môi trường thấp hơn
Trang 38b.1 Chất thải rắn sinh hoạt
Hình 1.4 Mô hình quản lý CTRSH tại Việt Nam
Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ chương trình xử lý CTR giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý CTR tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý CTR của các địa phương Trong số 26 cơ sở xử lý CTR có 03 cơ sở xử
lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ,
11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở
xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được
mô hình xử lý CTR hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội
và môi trường
Theo thống kê, tính đến năm 2013 có khoảng 458 BCL CTR có quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các BCL quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 BCL có 121 BCL hợp vệ sinh và 337 BCL không hợp vệ sinh Các BCL không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường
Nguồn phát sinh và thành phần CTR
Phân loại, lưu trữ, xử lý chất thải rắn
tại nguồn
Thu gom chất thải rắn
Vận chuyển Phân loại, tái chế
Làm phân Compost Chôn lấp
thu gom
Trang 39Một số cơ sở xử lý bằng hình thức chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động như: khu liên hợp xử lý CTR Đa Phước thuộc Công ty TNHH xử lý CTR Việt Nam; khu liên hợp xử lý CTR Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị TP Hồ Chí Minh; khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội,… Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý CTR bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ BCL chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên
Hiện nay, các cơ sở xử lý CTRSH thành phân hữu cơ sử dụng công nghệ ủ hiếu khí, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: nhà máy xử lý CTRSH Nam Bình Dương; nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; nhà máy xử lý rác Tràng Cát thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hải Phòng;… Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý được thiết kế chế tạo trong nước hoặc cải tiến từ công nghệ nước ngoài Một số địa phương sử dụng nguồn vốn ODA để nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử lý CTRSH thành phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn: dây chuyền xử lý CTRSH chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam, tỉ CTR được đem chôn lấp hoặc đốt sau xử lý rất lớn từ 35-80%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao,…Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công nghiệp
Một số cơ sở xử lý CTRSH sử dụng công nghệ đốt công suất lớn, hiện đang hoạt động: nhà máy xử lý chất thải Sơn Tây thuộc CTCP dịch vụ môi trường Thăng Long; xí nghiệp xử lý CTR và sản xuất phân bón tại CCN Phong Phú thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Thái Bình,
Trang 40b.2 Chất thải xây dựng
Hình 1.5 Mô hình quản lý CTXD tại Việt Nam
CTXD từ nguồn phát sinh được phân loại thành 4 loại chính: CTR có khả năng tái chế được; CTR có thể được tái sử dụng ngay trên công trường hoặc tái sử dụng ở các công trường xây dựng khác; chất thải không tái chế, tái sử dụng được và phải đem đi chôn lấp; CTNH được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và các Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT về quản lý CTNH
CTXD sau khi phân loại không được để lẫn với các chất thải khác và phải được lưu giữ riêng theo quy định, khu vực lưu giữ CTXD trong khuôn viên công trường hoặc tại địa điểm theo quy định của chính quyền địa phương Thời gian lưu giữ CTXD phù hợp theo đặc tính của loại chất thải và quy mô, khả năng lưu chứa của thiết bị, địa điểm lưu giữ Các loại CTXD có thể tái chế, tái sử dụng được phân loại phải lưu chứa trong các thiết bị hoặc khu vực lưu giữ riêng
CTXD được thu gom, vận chuyển đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ
sở xử lý được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cơ sở tái chế, công trình khác để tái chế, tái sử dụng CTXD sau khi vận chuyển được phân loại và tái sử dụng vào các mục đích khác nhau và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật CTXD có khả năng tái chế, tái sử dụng được thu gom, vận chuyển đến các cơ sở xử lý CTXD để tái chế, tái sử dụng CTR không tái sử dụng được xử lý theo phương pháp nghiền và chôn lấp
Nguồn phát
sinh
Phân loại – lưu giữ Thu gom chất thải Vận chuyển
Phân loại tái chế
Xử lý (nghiền hoặc chôn lấp)