1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH KHU VỰC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

126 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu đến tài nguyên và môi trường du lịch khu vực thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Trần Bảo Lộc
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Anh Huy
Trường học Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH KHU VỰC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈN

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH KHU VỰC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG

NINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

TRẦN BẢO LỘC

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH KHU VỰC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG

NINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

TRẦN BẢO LỘC

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 8440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS HOÀNG ANH HUY

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn chính: PGS TS Hoàng Anh Huy

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Trần Yêm

Cán bộ chấm phản biện 2: PGS.TS Nguyễn An Thịnh

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại: Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 23 tháng 05 năm 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Bảo Lộc

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Tôi xin cảm ơn các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó giáo sư Tiến sĩ Hoàng Anh Huy đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên hữu ích để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ tại các Chi cục thuộc sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, phòng Môi Trường thuộc Ban quản lý Vịnh Hạ Long, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, Chi cục thống

kê tỉnh Quảng Ninh và một số sở ban ngành khác của tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu trên địa bàn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân luôn quan tâm, động viên giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Học viên

Trần Bảo Lộc

Trang 6

THÔNG TIN LUẬN VĂN

Họ và tên học viên: Trần Bảo Lộc

Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Hoàng Anh Huy

Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tác động của một số hiện tượng thời tiết

cực đoan trong bối cảnh BĐKH đến tài nguyên và môi trường du lịch khu vực thành

phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp ứng phó”

Tóm tắt luận văn: Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến môi

trường tài nguyên và môi trường du lịch cụ thể là nước biển ven bờ thành phố Hạ

Long đã được xác định dựa trên mối tương quan giữa diễn biến các tác động của

hiện tượng thời tiết cực đoan trong khoảng 10 năm trở lại đây và diễn biến chất

lượng nước biển ven bờ các khu du lịch qua thông số TSS chất rắn lơ lửng Kết quả

nghiên cứu cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ quét, mưa lớn kéo dài,

lũ lụt, sạt lở đất đã làm tăng hàm lượng TSS trong nước biển ven bờ tại các khu vực

bãi tắm, nghỉ đêm trên biển và làng chài khu du lịch thành phố Hạ Long

Từ khóa: hiện tượng thời tiết cực đoan, nước biển ven bờ, ngành du lịch

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan 4

1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan 4

1.1.2 Nguyên nhân gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan 6

1.1.3 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở châu Á và Việt Nam 7

1.1.4 Kịch bản biến đổi khí hậu 9

1.2 Các nghiên cứu về hiện tượng thời tiết cực đoan và du lịch trong bối cảnh Biến đổi khí hậu 11

1.2.1 Ảnh hưởng của thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH đến du lịch 11

1.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến biến đổi khí hậu và các hiện tượng TTCĐ 23

1.3 Phát triển du lịch bền vững, ứng phó với BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan 24

1.3.1 Khái niệm du lịch và du lịch bền vững 24

1.3.2 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và tại Việt Nam 24

1.3.3 Phát triển du lịch bền vững, ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan 28

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 30

1.4.1 Vị trí địa lý 30

1.4.2 Điều kiện tự nhiên 31

1.4.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 33

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.2 Phạm vi nghiên cứu 41

Trang 8

2.3 Phương pháp nghiên cứu 41

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 41

2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 42

2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học 42

2.3.4 Phương pháp phân tích SWOT 43

2.3.5 Phương pháp quan trắc và phân tích 43

2.3.6 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 44

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Đặc điểm ngành du lịch của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 45

3.1.1 Vai trò cùa thành phố Hạ Long trong chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh 45

3.1.2 Các giá trị du lịch của thành phố Hạ Long 46

3.1.3 Nhân lực cho du lịch 48

3.1.4 Thị trường khách du lịch đến thành phố Hạ Long, Quảng Ninh 49

3.1.5 Tổng thu nhập từ khách du lịch và tỷ lệ đóng góp vào GDP của tỉnh 50

3.1.6 Chính sách hỗ trợ, khuyến khích cho phát triển du lịch tại thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh 51

3.2.1 Xu hướng thay đổi nhiệt độ 52

3.2.2 Xu hướng thay đổi lượng mưa 54

3.2.3 Nắng 55

3.2.4 Độ ẩm 55

3.3 Những tác động tiềm tàng của các hiện tượng thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH 56

3.3.1 Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động du lịch thành phố Hạ Long 58

3.3.2 Ảnh hưởng của một số hiện tượng thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH tới chất lượng nước biển ven bờ 65

3.4 Đánh giá của người lao động trong ngành về ảnh hưởng của thời tiết cực đoan đến hoạt động du lịch 70

3.4.1 Nhận thức của người lao động trong ngành du lịch về thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH 70

Trang 9

3.4.2 Mức độ mẫn cảm của hoạt động du lịch đối với các điều kiện thời tiết cực

đoan 71

3.4.3 Mức độ quan tâm của người lao động trong ngành du lịch về ảnh hưởng của TTCĐ đến hoạt động du lịch 74

3.4.4 Ảnh hưởng của TTCĐ đến hoạt động du lịch 74

3.4.5 Các hoạt động du lịch bị ảnh hưởng bởi TTCĐ 76

3.4.6 Các biện pháp ứng phó với TTCĐ của ngành du lịch thành phố Hạ Long 78

3.5 Đánh giá trở ngại, nhu cầu thông tin, phân tích SWOT và đề xuất giải pháp ứng phó với TTCĐ cho ngành du lịch thành phố Hạ Long 80

3.5.1 Đánh giá trở ngại trong ứng phó với TTCĐ 80

3.5.2 Nhu cầu về các nguồn thông tin cần thiết giúp ứng phó với TTCĐ 82

3.5.3 Phân tích SWOT đối với ngành du lịch ở thành phố Hạ Long trong ứng phó với thời tiết cực đoan 83

3.5.4 Đề xuất giải pháp ứng phó với thời tiết cực đoan 85

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 83

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với

BĐKH

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tình hình khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và cả năm 2016 26

Bảng 1.2 Các đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Hạ Long 34

Bảng 3.1 Số lượng khách du lịch tham quan Vịnh Hạ Longso với tỉnh Quảng Ninh 46

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của nhân viên khách sạn tại Hạ Long 49

Bảng 3.3 Đặc trưng nhiệt độ trung bình thành phố Hạ Longtừ năm 1980 ÷ 2015(0C) 52

Bảng 3.4 Lượng mưa trung bình các tháng tại trạm Bãi Cháy, thành phố Hạ Long quan trắc trong các năm từ 1980 - 2015 54

Bảng 3.5 Số giờ nắng trung bình các tháng tại trạm Bãi Cháy, thành phố Hạ Long từ năm 1980 – 2015 55

Bảng 3.6 Diến biến độ ẩm không khí trung bình các tháng tại trạm Bãi Cháy, thành phố Hạ Long từ năm 1980 – 2015 55

Bảng 3.7 Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động du lịch thành phố Hạ Long từ 2005 - 2017 59

Bảng 3.8 Diễn biến hàm lượng TSS chất rắn lơ lửng (mg/l) trong nước biển ven bờ khu vực thành phố Hạ Long từ quý I/ 2016 – quý III/ 2017 67

Bảng 3.9 Nhận thức của người lao động trong ngành du lịch về sự thay đổi của các sự kiện thời tiết 70

Bảng 3.10 Các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng tới hoạt động du lịch 72

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của gia tăng các sự kiện thời tiết cực đoan đến các hoạt động du lịch (%) 75

Bảng 3.12 Các hoạt động du lịch bị ảnh hưởng bởi TTCĐ 76

Bảng 3.13 Mô tả các tác động của TTCĐ đến các hoạt động du lịch 77

Bảng 3.14 Mục đích của các hoạt động thích ứng, ứng phó với TTCĐ 79

Bảng 3.15 Nguồn thông tin chủ yếu cung cấp cho người làm ngành du lịch 82

Bảng 3.16 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của người làm ngành du lịch trong ứng phó với TTCĐ 84

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng theo kịch bản nồng độ khí nhà kính

cao (RCP8.5) 10

Hình 1.2 Dự báo tăng trưởng số lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới đến năm 2030 25

Hình 1.3 Bản đồ hành chính TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 30

Hình 1.4 Nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông tỉnh Quảng Ninh 37

Hình 2.1 Bản đồ vị trí lấy mẫu 43

Hình 3.1 Đánh giá các điểm du lịch tự nhiên của Quảng Ninh dựa trên 10 tiêu chí chính mang lại thành công trong phát triển du lịch 47

Hình 3.2 Thị trường khách du lịch đến thành phố Hạ Long, Quảng Ninh 50

Hình 3.3 Dự kiến ngành du lịch sẽ tăng gấp đôi đóng góp vào GDP năm 2020 51

Hình 3.4 Thách thức lớn cho ngành du lịch Quảng Ninh trong việc quản lý sức ép giữa ngành công nghiệp xanh và nâu 52

Hình 3.5 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm giai đoạn (1980 ÷ 2015) tại trạm quan trắc Bãi Cháy trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 53

Hình 3.6 Diễn biến thay đổi lượng mưa trung bình qua các năm (1980 – 2015) tại trạm quan trắc Bãi Cháy 54

Hình 3.7 Diễn biến hàm lượng TSS(mg/l) qua các đợt quan trắc về mùa khô tại một số khu vực bãi tắm từ 2006 – 2010 66

Hình 3.8 Diễn biến hàm lượng TSS(mg/l) qua các đợt quan trắc về mùa mưa tại một số khu vực bãi tắm từ 2006 – 2010 66

Hình 3.9 Diễn biến hàm lượng TSS trong nước biển ven bờ khu vực Hạ Long 67

từ 2011 – 2015 67

Hình 3.10 Diễn biến hàm lượng TSS Chất rắn lơ lửng tại 2 địa điểm du lịch khu vực thành phố Hạ Long từ 2016 – 2017 69

Hình 3.11 Đánh giá của người lao động trong ngành du lịch về mức độ mẫn cảm của ngành đối với TTCĐ 71

Hình 3.12 Việc thực hiện hoạt động ứng phó với TTCĐ 78

Trang 13

Hình 3.13 Các hoạt động ứng phó với TTCĐ (%) 79 Hình 3.14 Các trở ngại trong việc ứng phó với BĐKH của ngành du lịch tại thành phố Hạ Long (%) 81 Hình 3.15 Nhu cầu các nguồn thông tin cần thiết giúp ứng phó tốt hơn với TTCĐ (%) 83

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 [1], [2] Sự BĐKH diễn ra ngày càng nghiêm trọng, biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất dẫn đến băng tan, nước biển dâng cao, các

hiện tượng thời tiết cực đoan như: bão, lũ, sóng thần, hạn hán và giá rét kéo

dài…Đây là vấn đề mang tính toàn cầu với phạm vi tác động rộng lớn, hậu quả ảnh hưởng đến sự sống còn của nhân loại Nó tác động đến hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội của từng quốc gia trên thế giới, trong đó kể tới hai lĩnh vực chịu ảnh hưởng sâu sắc là nông nghiệp và du lịch

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25% [3] Việt Nam là một nước có thế mạnh về ngành du lịch với sự đa dạng về nền văn hóa (54 dân tộc), nhiều danh lam thắng cảnh cùng di tích lịch sử (40.000 di tích lịch sử, thắng cảnh; 8 di sản được UNESCO công nhận) và các khu dự trữ sinh quyển nổi tiếng (8 khu dự trữ sinh quyển thế giới) [4] Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của BĐKH Ngành du lịch Việt Nam đang phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức lớn do BĐKH gây ra Ông Kai Partale, chuyên gia Dự án du lịch có trách nhiệm và bền vững (Dự án EU 2011-2016) nhận định rằng dưới tác động của BĐKH, Việt Nam sẽ tiếp tục bị lũ lụt, hạn hán, nhiệt độ cao và chịu ảnh hưởng do xâm nhập mặn Kết quả nghiên cứu năm 2013 của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường Việt Nam cho thấy, cộng với ô nhiễm nặng nề, BĐKH tiếp tục phá hủy 110.000 ha san hô của Việt Nam, chỉ còn 14,5% trong 110.000 ha san hô này ở trong tình trạng tốt Trong khi đó, theo Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam

Trang 15

năm 2014, các hiện tượng thời tiết cực đoan do BĐKH gây ra có thể làm giảm đáng kể doanh thu từ du lịch biển chiếm hơn 70% tổng doanh thu từ kinh tế biển [5]

Quảng Ninh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Du lịch Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ vì có đầy đủ các yếu tố biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi và biên giới Khu vực này có nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên đẹp, cơ sở hạ tầng du lịch khá phát triển, giao thông và các dịch vụ du lịch ngày càng được nâng cao Đặc biệt, thành phố Hạ Long là điểm đến của rất nhiều du khách với hệ thống các cơ sở dịch vụ du lịch, lực lượng lao động du lịch dồi dào và các tour du lịch thăm quan danh thắng nổi tiếng Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới Với nhiều lợi thế trên, thành phố Hạ Long được xem là giàu tiềm năng du lịch để phát triển, đặc biệt là du lịch sinh thái và du lịch văn hóa lịch sử Du lịch được xem ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương Tuy nhiên trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, thời gian gần đây ở Hạ Long

thường xảy ra một số sự kiện thời tiết cực đoan và thảm họa thiên nhiên như mưa

lớn, sạt lở đất, lũ quét, …ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, gây thiệt hại lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có tài nguyên và môi trường du

lịch Do đó, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH đến tài nguyên và môi trường du lịch khu vực thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp ứng phó” nhằm phân tích những tác động của biểu hiện biến đổi khí hậu ở thành phố Hạ

Long đối với sự phát triển ngành du lịch và bước đầu đề xuất những biện pháp giảm thiểu và thích ứng, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái, tạo điều kiện để phát huy thế mạnh du lịch của địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc điểm tài nguyên và môi trường du lịch thành phố Hạ Long;

- Ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến với tài nguyên và du lịch thành phố Hạ Long;

- Đề xuất các giải pháp thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan và bảo

vệ môi trường ngành du lịch thành phố Hạ Long

Trang 16

3 Nội dung nghiên cứu

1.Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long;

2 Đặc điểm ngành du lịch tại thành phố Hạ Long;

3 Các hiện tượng thời tiết cực đoan trong xu hướng BĐKH ở thành phố Hạ Long;

4 Ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết cực đoan tới ngành du lịch và môi trường nước biển ven bờ khu vực du lịch thành phố Hạ Long;

5 Các biện pháp thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan và bảo vệ môi trường ngành du lịch

Trang 17

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan

1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Theo Bộ TN&MT (2007) thời tiết là “trạng thái khí quyển tại một địa điểm

nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ

gió, mưa ” Khí hậu là “trạng thái trung bình theo thời gian (thường là 30 năm) của thời tiết” Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung

bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất[3]

Theo Ủy ban Liên hợp quốc (1992) về Công ước khung BĐKH định nghĩa:

BĐKH là “Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động

của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được”[2]

Tuy nhiên, năm 2007, Ủy ban Liên quốc gia về BĐKH đã đưa ra định nghĩa

bổ sung về BĐKH là “Xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của

một số tham số hay thống kê khí hậu, trong đó trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ Những biến đổi này được gây ra

do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời và có sự tác động từ các hoạt động của con người”

Các hiện tượng thời tiết cực đoan:

- Bão là một vùng gió xoáy từ các phía thổi vào vùng trung tâm bão, càng gần

trung tâm thì gió càng mạnh, có khi lên đến vài trăm cây số một giờ, nhưng chính giữa lại là một vùng gió tương đối nhẹ hay lặng gió gọi là mắt bão Không khí chung quanh dồn vào giữa không phải theo những đường thẳng mà theo hình xoắn

ốc Ở Bắc bán cầu, gió xoáy thổi ngược chiều kim đồng hồ Áp suất khí quyển trong bão thấp hơn rất nhiều so với xung quanh và thường thấp hơn 1000mb Bão là một dạng của xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ)

Trang 18

- Mưa lớn: mưa lớn là ngày xảy ra mưa trong 24 giờ (từ 19 giờ ngày hôm

trước đến 19 giờ ngày hôm sau) đạt cấp mưa vừa trở lên (lượng mưa đo được từ 16mm/24giờ trở lên)

- Mưa lũ: Mưa lớn và nước được đẩy từ biển vào do gió mạnh có thể gây nên

lũ lụt lớn trong vòng 24 giờ Hệ thống thoát nước của nhiều thành phố ven biển có thể không thể thóat nước kịp do địa hình thoải của các khu vực ven biển này Khi đổ

bộ, một cơn bão trung bình có thể gây nên tổng lượng mưa khoảng 100 đến 300

mm

- Lũ quét là lũ xảy ra bất ngờ trên các lưu vực sông suối nhỏ miền núi, dòng

chảy xiết, thường kèm theo bùn đá, lũ lên nhanh, xuống nhanh, có sức tàn phá lớn

- Sạt lở đất là hiện tượng đất bị sạt, trượt, lở do tác động của mưa, lũ hoặc

dòng chảy

- Lụt: ngập lụt là hiện tượng mặt đất bị ngập nước do ảnh hưởng của mưa lớn,

lũ, triều cường, nước biển dâng

- Nắng nóng là dạng thời tiết đặc biệt thường xảy ra trong những tháng mùa

hè Một ngày, tại địa phương nào đó được coi là có nắng nóng khi nhiệt độ cao nhất (ký hiệu là Tx) đạt mức 35oC ≤ Tx < 37oC Nắng nóng gay gắt khi 37oC ≤ Tx <

39oC và được coi là ngày nắng nóng đặc biệt gay gắt khi Tx ≥ 39oC Trong một khu vực dự báo (ví dụ đồng bằng Bắc Bộ), nếu quan sát thấy có ít nhất từ một nửa số trạm quan trắc trở lên có nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35oC thì được gọi là ngày nắng nóng diện rộng Còn khi chỉ quan sát thấy dưới một nửa số trạm trong

bộ Một ngày được coi là nắng nóng gay gắt trên diện rộng khi có ít nhất 2/3 số trạm quan trắc trong khu vực có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 35oC, trong đó ít nhất một nửa số trạm quan trắc trong khu vực dự báo có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 37oC Khi nắng nóng diện rộng xuất hiện liên tục từ 2 ngày trở lên trong một khu vực dự báo thì được gọi

là một đợt nắng nóng

- Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm

hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm cạn kiệt dòng

Trang 19

chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo, dịch bệnh

- Giông sét là hiện tượng khí tượng phức hợp gồm chớp và kèm theo sấm do

đối lưu rất mạnh trong khí quyển gây ra Nó cũng thường kèm theo gió mạnh, mưa rào, sấm sét dữ dội, thậm chí cả mưa đá, vòi rồng (ở vùng vĩ độ cao có khi còn có cả tuyết rơi)

- Lốc là một hiện tượng gió xoáy cực mạnh, xảy ra trong một phạm vi nhỏ,

hàng chục tới hàng trăm mét và tồn tại trong một thời gian ngắn Nguyên nhân sinh

ra gió lốc là những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ

Ngoài ra còn có các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như băng tuyết, bão bụi, tan băng cũng là các hiện tượng thời tiết cực đoan nhưng ít xuất hiện ở nước ta

1.1.2 Nguyên nhân gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan

Các hiện tượng TTCĐ xảy ra do 2 nhóm nguyên nhân:

Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự

biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí

và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển

Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự

và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người

Nguyên nhân chính gây ra các hiện tượng TTCĐ là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền Đó là

sự tác động rất lớn của con người mà gọi chung đó là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O và các khí CFC, HFCs, PFCs và

Trang 20

SF6 Sự phát triển bùng nổ của công nghiệp trong thời đại ngày nay (đặc biệt là việc đốt nhiên liệu hóa thạch ở quy mô lớn) đã và đang dẫn tới sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, làm tăng tốc độ nóng lên của khí hậu toàn cầu, là nguyên nhân hàng đầu gây BĐKH nói chung và hiện tượng TTCĐ nói riêng trong những thập kỷ tới [6]

Nguồn gốc của các loại khí nhà kính:

- CO2: là khí phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu khí) và là loại khí nhà kính chủ yếu Ngoài ra, nó cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng, nhiệt điện và cán thép

- CH4: sinh ra từ các bãi rác, đầm sình lầy; từ các hệ thống khí, dầu tự nhiên; trong các hoạt động khai thác khoáng sản (than, dầu mỏ)

- N2O: phát thải từ quá trình sản xuất phân bón, sản xuất hóa chất và các hoạt động công nghiệp khác

- HFCs, PFCs và SF6: phát sinh từ quá trình sản xuất HCFC-22, sản xuất nhôm và magie, sản xuất vật liệu cách điện

1.1.3 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở châu Á và Việt Nam

Hiện tượng biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đang nổi lên như là một trong những vấn đề phát triển nhức nhối nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm tỷ lệ 91% tổng số ca tử vong và 49% tổng thiệt hại của thế giới do thiên tai gây ra trong thế kỷ qua Người nghèo sống ở các vùng đồng bằng thấp, trũng ở Bangladesh, Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc cũng như các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương sẽ phải gánh chịu nguy cơ cao nhất Trong năm 2011, các thảm họa thiên nhiên khiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương thiệt hại 1 tỷ USD (Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2016)

Theo nghiên cứu của Murdiyarso (2000) dự báo dựa trên kịch bản biển đổi

khí hậu của IPCC đưa ra thì sản lượng gạo của châu Á có thể giảm tới 3,8% tới năm

2100 dưới tác động tổng hợp của việc gia tăng sử dụng phân bón, nắng nóng và

Trang 21

thiếu nước Gần 50% đa dạng sinh học của châu Á có thể bị ảnh hưởng bởi BĐKH [7]

Theo nghiên cứu của Malcolm (2009) dự báo nếu lượng CO2tăng gấp đôi sẽ dẫn tới sự tuyệt chủng của 133 đến 2835 loài thực vật trong vùng Indonexia-Mianma.[8]

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế Giới, Việt Nam là một trong 5 nước chịu

ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình trên phạm vi cả nước ta đã tăng 0,5°C/năm Riêng năm 2015, do tác động của hiện tương El-Nino, nền nhiệt độ tăng khoảng 0,5-1°C so với trung bình nhiều năm

và có số ngày nắng nóng kéo dài hơn Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Trên Biển Đông, bão và áp thấp nhiệt đới có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta Đặc biệt, tần suất hoạt động của bão mạnh, siêu bão ngày càng gia tăng với mức độ ảnh hưởng lớn, mùa mưa bão kết thúc muộn hơn so với trước đây Hạn hán, nắng nóng có xu thế tăng lên và không đồng đều giữa các khu vực, nhất là ở Trung Bộ và Nam Bộ BĐKH trong 50 năm qua ở Việt Nam đã rõ nét, cụ thể như sau [9]:

- Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC;

- Lượng mưa trung bình năm có xu thế giảm ở hầu hết các trạm phía Bắc; tăng

ở hầu hết các trạm phía Nam;

- Cực trị nhiệt độ tăng ở hầu hết các vùng, ngoại trừ nhiệt độ tối cao có xu thế giảm ở một số trạm phía Nam;

- Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô;

- Mưa cực đoan giảm đáng kể ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên;

- Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng;

- Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dị thường;

Trang 22

- Ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng

Dưới tác động của BĐKH, thời gian qua ở Việt Nam lượng mưa và phân bố mưa thay đổi, các hiện tượng khí hậu thời tiết cực đoan gia tăng cả về tần suất, mức

độ và quy mô gây ra nhiều tác động tiêu cực, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực, an ninh sinh thái, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người và tài sản, các cơ

sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội và tác động xấu đến môi trường

Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho thấy, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình của nước ta sẽ tăng 2-3°C, kéo theo đó mực nước biển có thể dâng lên khoảng 1m Khi đó hậu quả là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 39% diện tích, riêng TP Hồ Chí Minh ngập 20% diện tích; các tỉnh ven biển ở Đồng bằng sông Hồng ngập 10%; các tỉnh miền Trung là 3% Đồng thời, sẽ có 10-12% dân số nước ta chịu tác động trực tiếp của BĐKH, tổn thất về kinh tế sẽ là 10% GDP/năm[5]

1.1.4 Kịch bản biến đổi khí hậu

Ngày 27/9/2013, Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã công bố Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản Trong báo cáo AR5-WG1, để diễn tả các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, các tác giả đã sử dụng thuật ngữ RCPs (Representative Concentration Pathways) tạm dịch là “Các đường dẫn đến nồng độ đại diện”, tức là các con đường phát triển kinh tế xã hội đưa đến việc trái đất tích tụ các nồng độ khí nhà kính khác nhau và nhận được lượng bức xạ nhiệt tương ứng Có 4 RCPs được

mô tả để dự đoán khí hậu trái đất trong tương lai đến năm 2100: RCP2.6 là nhóm kịch bản phát triển thuộc loại thấp, nhiệt lượng bức xạ mặt đất nhận ít hơn 3 watt

nhận được sẽ lớn hơn 8,5 W/m2 và tiếp tục tăng sau thời kỳ dự đoán; RCP6.0 và RCP4.5, hai nhóm kịch bản ổn định trung gian trong đó cưỡng bức bức xạ được ổn

RCP6.0 và 1313 ppm cho RCP8.5[10]

Trang 23

Theo kết quả nghiên cứu của dự án“Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt Nam” được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID)

thực hiện năm 2013 theo hai kịch bản phát thải khí chủ yếu là RCP4.5 và RCP8.5 thì nhiệt độ các vùng khí hậu của Việt Nam sẽ tăng từ 0,8°C đến 3,4°C vào năm

2050 và tiếp tục tăng đến cuối thế kỷ 21 Hệ quả của sự nóng lên là gia tăng số ngày nắng nóng (trên 35°C) và các đợt nắng nóng (trên 5 ngày liên tục có nhiệt độ cực trị trên 35°C) Về lượng mưa thì lượng mưa trung bình năm dự tính trên 7 vùng khí hậu có sự biến đổi, dao động từ -16% đến +36% vào giữa thế kỷ (2050) và biến đổi mạnh hơn chút ít vào cuối thế kỷ 21 Hoạt động của bão trên Biển Đông có xu thế giảm nhưng cường độ có xu thế mạnh hơn Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng của Việt Nam theo kịch bản nồng độ không khí cao RCP8.5 được thể hiện rõ trong hình 1.1

Hình 1.1 Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng theo kịch bản

nồng độ khí nhà kính cao (RCP8.5)

(Nguồn: Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt Nam, 2013)

Trang 24

Trong báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX) năm 2015

(IMHEM and UNDP, 2015) cũng đưa ra sự thay đổi về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan theo kịch bản phát thải RCP8.5 Theo kịch bản cao RCP8.5, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biển từ 20-30 ngày

so với thời kỳ 1980-1999 ở khu vực Nam Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các khu vực khác có mức tăng thấp hơn Đến cuối thế kỷ 21, số đợt nắng nóng (3 ngày liên tiếp xuất hiện nắng nóng) được dự tính gia tăng ở hầu hết khu vực của Việt Nam, đặc biệt khu vực Nam Bộ và Nam Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới 6 đến 10 đợt; các khu vực còn lại có mức tăng từ 2 đến 6 đợt Tần suất mưa lớn dự tính sẽ tăng trong thế kỷ 21 ở nhiều vùng của Việt Nam Số ngày mưa lớn có

xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng nhẹ ở vùng Nam Bộ; tăng khá mạnh ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên Dự tính trong thế kỷ 21, số ngày với lượng mưa lớn hơn 50mm sẽ tăng ở miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc Khu vực miền Trung có xu thế giảm nhẹ Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ dự kiến dẫn đến những thay đổi về lũ lụt, hạn hán Hạn hán có khả năng gia tăng và kéo dài trong thế kỷ 21 trong một số mùa và ở hầu hết các vùng khí hậu của Việt Nam, do lượng mưa giảm và/hoặc tăng quá trình bốc hơi nước Các đợt hạn nặng đã

và đang xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi, đặc biệt là hạn cực khắc nghiệt, trong đó, tần suất hạn cao chủ yếu xảy ra tập trung vào các tháng vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) Tần suất hoạt động của El Nino với nhiệt độ mặt nước biển dị thường trên khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương sẽ có xu thế tăng[2]

1.2 Các nghiên cứu về hiện tượng thời tiết cực đoan và du lịch trong bối cảnh Biến đổi khí hậu

1.2.1 Ảnh hưởng của thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH đến du lịch

Cuộc sống, nền kinh tế, sức khoẻ và phúc lợi xã hội của con người đều bị ảnh hưởng bởi BĐKH và những hậu quả của TTCĐ theo từng khu vực, quốc gia và các thành phần kinh tế Du lịch không phải là ngoại lệ và trong những thập kỷ tới,

Trang 25

TTCĐ sẽ trở thành một vấn đề ngày càng nghiêm trọng hơn ảnh hưởng đến phát triển và quản lý du lịch Với mối quan hệ mật thiết với khí hậu, du lịch được coi là một ngành kinh tế nhạy cảm với các điều kiện môi trường tự nhiên tương tự như nông nghiệp Do đó, mối quan tâm của cộng đồng du lịch đối với thách thức của TTCĐ có sự tăng rõ rệt trong những năm qua

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và tổ chức Chương trình Môi trường

Liên hiệp quốc (UNEP) đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Biến đổi khí hậu và Du lịch ở Djerba, Tunisia vào năm 2003 Sự kiện này là một bước ngoặt

trong việc nâng cao nhận thức về tác động của TTCĐ trong bối cảnh BĐKH trong

Cộng đồng du lịch quốc tế Tuyên bố Djerba khẳng định mối liên kết phức tạp giữa

ngành du lịch và BĐKH và thiết lập khuôn khổ cho nghiên cứu và hoạch định chính sách về thích ứng và giảm nhẹ các tác động của BĐKH trong tương lai [11] Ngoài

ra, một số hiệp hội và doanh nghiệp du lịch cũng đã quan tâm đến TTCĐ, đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, tham gia vào các chiến dịch giáo dục công đồng về BĐKH và hỗ trợ chính phủ về BĐKH, ứng phó với TTCĐ Cộng đồng khoa học cũng đã quan tâm, tăng gấp đôi số lượng các ấn phẩm khoa học để kiểm tra mối quan hệ giữa du lịch và BĐKH, TTCĐ trong giai đoạn 1996-2000 đến 2001-2005

và nâng cao vai trò vị trí của du lịch trong các Báo cáo đánh giá của IPCC so với các đánh giá trước đó

Trong năm 2006, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đã thành lập một Nhóm Chuyên gia về Khí hậu và Du lịch phối hợp với UNWTO, với nhiệm vụ ứng dụng rộng rãi các thông tin về điều kiện thời tiết/khí hậu trong ngành du lịch và nhận thức

về tác động của BĐKH đối với ngành du lịch[12]

Tác động của TTCĐ đến hoạt động phát triển du lịch được xác định trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa khí hậu với hoạt động phát triển du lịch, theo đó TTCĐ

sẽ tác động trực tiếp đến 3 nhóm đối tượng chủ yếu bao gồm: tài nguyên du lịch, hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và hoạt động lữ hành

BĐKH làm thay đổi các điều kiện sinh khí hậu và do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, thậm chí là tồn tại của nhiều hệ sinh thái, các loài

Trang 26

sinh vật quý hiếm, đặc hữu có giá trị du lịch BĐKH sẽ làm xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan với quy mô và cường độ lớn, xảy ra ở những vùng ít chịu ảnh hưởng theo những quy luật truyền thống Tác động của bão, lũ, và hệ quả là ngập úng kéo dài sẽ gây hư hại, thậm chí làm mất đi nhiều di tích lịch sử văn hóa - được xem là dạng tài nguyên du lịch đặc biệt có vai trò quan trọng để phát triển du lịch BĐKH làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển khách, đặc biệt bằng đường không (theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới có tới trên 60% lượng khách du lịch quốc tế đi lại giữa các nước là bằng đường hàng không) Nhiều vườn quốc gia, khu di tích và các rạn san

hô muôn sắc mầu đang đứng trước nguy cơ biến mất khỏi bản đồ thế giới bởi mực nước biển dâng cao và các siêu bão

Trong báo cáo “Di sản thế giới và du lịch trong bối cảnh biến đổi khí hậu”

của UNESCO, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) phối hợp thực hiện, ngay cả những địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới như Venice hay Vườn quốc gia Yellowstone,…cũng bị đe dọa nghiêm trọng [13]

Bên cạnh tác động đến tài nguyên, các hiện tượng TTCĐ còn tác động đến hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như đã đề cập và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch Một trong những điều kiện quan trọng để tổ chức thực hiện chương trình du lịch là điều kiện về khí hậu, thời tiết Trong điều kiện thời tiết mưa, gió, tầm nhìn hạn chế, hoạt động tham quan du lịch, hoạt động du lịch nghỉ dưỡng trong một chương trình du lịch (tour du lịch) sẽ

bị hạn chế và trong nhiều trường hợp thời tiết nguy hiểm sẽ bị hủy bỏ hoặc thay đổi

Cụ thể, tại Việt Nam, bão lũ, ngập úng kéo dài sẽ gây hư hại nhiều di tích lịch

sử văn hóa, tài nguyên du lịch Các công trình dịch vụ du lịch dễ bị hư hỏng hoặc xuống cấp dưới tác động của bão lũ cường độ mạnh gây xói mòn Mưa nhiều kèm theo gió, bão hoặc nắng gắt nhiệt độ tăng cao cũng làm cho vật liệu kiến trúc nhanh xuống cấp, hư hỏng, gây lãng phí tiền của, công sức của nhà nước và người dân Việc gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, mưa quá nhiều, nắng quá nóng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển hành khách (đường hàng

Trang 27

không, đường bộ, đường thủy), từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu hoạt động tại các địa điểm du lịch ngoài trời (rừng ngập mặn ở Cần Giờ, khu du lịch sinh thái ở Củ Chi…) [14] Ngoài ra, ảnh hưởng của TTCĐ gây tác động gián tiếp lên hoạt động

du lịch qua các lĩnh vực khác như giao thông, năng lượng, quản lý nước, sử dụng đất (cho dịch vụ du lịch), an ninh quốc phòng…

Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của BĐKH Kết quả nghiên cứu năm 2013 của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường Việt Nam cho thấy, cùng với ô nhiễm môi trường, BĐKH tiếp tục phá hủy 110.000 ha san hô của Việt Nam, chỉ còn 14,5% trong 110.000 ha san hô này ở trong tình trạng tốt Rủi ro khí hậu của hệ thống nhân sinh và HST tự nhiên, tài nguyên nước, lương thực, thực phẩm, hạ tầng, du lịch - dịch vụ… phụ thuộc rất nhiều và vào sự thay đổi các hiện tượng thời tiết cực đoan.[15]

Trong khi đó, theo Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam, các hiện

tượng thời tiết cực đoan do BĐKH gây ra có thể làm giảm đáng kể doanh thu từ du lịch biển chiếm hơn 70% tổng doanh thu từ kinh tế biển UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã cảnh báo vào năm 2020, mực nước biển dâng có thể khiến khoảng 30% thị trấn Hội An ngập lụt Đà Nẵng cũng đang đối mặt với tác động của BĐKH bao gồm

lũ lụt và xâm nhập mặn [10]

Như vậy có thể thấy BĐKH với những biểu hiện về sự thay đổi quy luật thời tiết và sự xuất hiện ngày càng tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ có những tác động tiêu cực đến tài nguyên du lịch, việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch, gây ảnh hưởng không chỉ đối với hoạt động kinh doanh du lịch mà còn gây ảnh hưởng đến quyền lợi và trong một số trường hợp gây nguy hiểm cho tính mạng của

du khách

1.2.1.1 Tác động của Biến đổi khí hậu đến tài nguyên du lịch tự nhiên

hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Trang 28

Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng đã gây ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển du lịch, tác động xấu đến tài nguyên du lịch Những khu vực được xác định chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long [16], cụ thể như sau:

- Hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra những biến đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương, đặc biệt là hoàn lưu gió mùa và hoàn lưu nhiệt - muối dẫn đến những biến động về nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình ở nước ta tăng khoảng 0,1°C/thập niên Hiện tượng Elnino ngày càng có tác động mạnh đến chế độ thời tiết và khí hậu ở nhiều khu vực Nhiệt độ gia tăng và nắng gắt, khô hạn đã gây ảnh hưởng tới mực nước của các con sông, lòng hồ, khe suối,…vốn được dùng để khai thác du lịch đường sông, hoặc những con suối đẹp không có nước chảy làm mất đi cảnh quan du lịch

- Tăng lượng bốc hơi trên lục địa và đại dương dẫn đến tăng hàm lượng ẩm trong khí quyển và tăng hội tụ ẩm từ đại dương vào lục địa làm tăng khả năng mưa lớn trên lục địa Mùa bão kéo dài và dịch lùi dần về các tháng cuối năm, quỹ đạo của các cơn bão cũng có xu hướng chuyển dần về các vĩ độ phía Nam Các tỉnh và thành phố duyên hải miền trung chịu ảnh hưởng khoảng 70% tổng số các cơn bão

đổ bộ vào nước ta, trong đó, 60 - 65% số cơn bão có sức mạnh từ cấp 8 - cấp 12 kèm với triều cường nên hậu quả gây ra đối với môi trường và đời sống của nhân dân là rất nghiêm trọng Mưa to với mật độ dày làm ngập lụt các đoạn đường đến các địa điểm du lịch, gây sụt lún, bào mòn hệ thống hang động, núi đá vôi,… làm mất đi cảnh quan sinh thái khu, điểm du lịch [17]

- Kết quả quan trắc trong vòng nửa thế kỷ tại ba trạm Hòn Dấu, Cô Tô và Hòn Ngư, mực nước biển đã dâng lên trung bình từ 2,5 - 3 cm/thập niên Nước biển dâng làm thay đổi địa hình và thềm biển, làm thu hẹp và thay đổi độ sâu của các bãi tắm [18]

Trang 29

- Dòng chảy lũ đã tăng lên ở hầu hết các vùng, nhất là Bắc và Trung Trung

Bộ, trong khi đó dòng chảy kiệt giảm đi ở các vùng có lượng mưa mùa khô giảm, đặc biệt là Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch nhưng hàng năm vẫn chịu hạn hán nặng nề vào mùa khô Như vậy, trên cả 2 sông lớn, tác động của BĐKH làm cho dòng chảy năm của sông Hồng và sông Cửu Long giảm đi [19] Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn

- Ở vùng ven biển, đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng estuary) trên những diện rộng Rõ nhất là vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình - Bạch Đằng, ở vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống sông Đồng Nai, ở vùng ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trò tiêu thoát nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kênh tù đọng với mức độ ô nhiễm nhân tạo gây ảnh hưởng đến cảnh quan nguy hại cho đời sống của những vùng dân cư thuộc các lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, Châu Giang

ở phía tây nam Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình

- Thành phố Hội An có bờ biển kéo dài khoảng 7km, từ năm 2009 đến nay tình trạng mất đất do nước biển xâm thực đã xảy ra liên tục đặc biệt ở khu vực biển Cửa Đại, nơi tập trung các khu nghỉ dưỡng cao cấp Tuyến đường ven biển Âu Cơ ở khu vực biển Cửa Đại trước đây cách biển hơn 200m nhưng đến năm 2014 nước biển đã xâm thực chỉ còn cách đường khoảng 40m; sóng biển đã cuốn đi nhiều bãi tắm đẹp ở khu vực này

- Tại khu vực Nam Bộ, các chỉ số cực đoan liên quan đến lượng mưa cho thấy: Các hiện tượng cực đoan liên quan đến mưa lớn giảm đáng kể trên khu vực Nam Bộ, đặc biệt là ở Vũng Tàu, Côn Đảo và Rạch Giá, tuy nhiên, cực đoan liên quan đến mưa lớn lại xuất hiện nhiều hơn ở Cần Thơ [20] Đối với hai đảo có giá trị cao trong khai thác phát triển du lịch như Phú Quốc và Côn Đảo, lượng mưa giảm dẫn đến lượng nước ngọt giảm sẽ ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt và kinh doanh du lịch trên đảo

Trang 30

1.2.1.2 Tác động đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên

xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần [21]

Nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt quá 1,5 - 2,5oC, kết hợp với hàm lượng khí CO2 trong khí quyển tăng, sẽ dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái, sự tương tác sinh thái của các loài và sự phân bố địa lý của chúng với những hậu quả tiêu cực là chính đối với tính đa dạng sinh học

Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học

Do nhiệt độ trên đại dương và trong khí quyển tăng đã đẩy tốc độ cơn bão đạt mức cao Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biển dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác lại đang bị hạn hán Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực bị giảm…

Nhiệt độ tăng cùng với khô hạn đã làm tăng các vụ cháy rừng vào mùa khô, làm mất đi những cánh rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn có thể dùng để khai thác

du lịch sinh thái, du lịch leo núi mạo hiểm

Hệ sinh thái biển và ven biển bị thay đổi do mực nước biển dâng, nhiệt độ và

độ mặn thay đổi cùng với những thay đổi về dòng chảy, sóng, biên độ thủy triều, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển Các rạn san hô rất dễ bị tổn thương do nhiệt độ nước biển tăng lên vì khả năng thích ứng kém Nhiệt độ mặt nước biển tăng đã làm cho san hô bị biến màu thành trắng và chết hàng loạt như ở Phú Quốc (56.6%) Vùng đất ướt ven biển bao gồm cả đầm lầy và rừng ngập mặn sẽ bị ảnh hưởng tiêu

Trang 31

cực do mực nước biển dâng, nhất là ở những nơi chúng bị áp lực từ phía bờ hoặc bị chết đói do bồi lắng

Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh là 2 trong số 10 thành phố bị ngập lụt nhất thế giới dưới tác động của nước biển dâng [21] Tại Hải Phòng, trong 1 thập kỷ qua, mực nước biển đã tăng cao hơn 20 cm Một số vùng cửa sông ven biển ở Hải Phòng có hiện tượng bị nước biển xâm thực, đặc biệt mạnh tại khu vực Phù Long, đảo Cát Hải, Đình Vũ, ven đê biển 1, đê biển 2 Một số vùng cửa sông nền địa chất yếu, xuất hiện nhiều vùng xoáy nguy hiểm, tình trạng xói lở bờ sông có chiều hướng gia tăng, không theo quy luật Một số vùng bãi triều xuất hiện rất rõ tình trạng nước biển dâng cao, thủy triều lên xuống bất thường…Các điều kiện tự nhiên thay đổi cũng khiến thói quen sống và sinh sản của thủy, hải sản có những biến động Nhiều loài sinh vật biển cũng bị suy giảm nghiêm trọng và giảm dần về chất lượng cũng như trữ lượng

Nước biển dâng đã làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn/các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước, các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả - các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh quyển Vùng cửa sông, ven biển Đồng bằng Nam Bộ từ Vũng Tàu đến Hà Tiên bao gồm các tỉnh, thành là thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với chiều dài trên 700km Dọc theo đường

bờ biển có tới 23 cửa sông, trong đó đặc biệt quan trọng là các cửa sông Cửu Long

và cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn, đây là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng mạnh của triều Biển Đông và Biển Tây

Hiện tượng sạt lở bờ biển trên nhiều đoạn kéo dài với tốc độ phá hủy bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí hàng trăm mét, xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên quan đến sự tàn phá do gia tăng bão, sóng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở đới bờ Hiện tượng này đã hình thành các cồn cát chắn và tái trầm tích bồi lấp luồng vào các cửa sông, gây trở ngại lớn cho hoạt động vận tải ra vào các cảng biển, khiến cho những công trình nạo vét rất tốn kém đều nhanh chóng bị

vô hiệu hóa

Trang 32

Việt Nam có đa dạng sinh học cao, nhưng đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau Biến đổi khí hậu, cùng với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, trầm trong hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số lượng cá thể ít Khi mức nước biển dâng lên cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng mức quốc gia, sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu và nội địa, giết chết nhiều loài động và thực vật nước ngọt của hệ sinh thái quan trong này

và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng

Biến đổi khí hậu đã góp phần làm cho Động Phong Nha trong Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) bị ngập lụt vào mùa mưa thường niên Nước lũ đã tác động làm giảm thiểu độ bền của hang, nước xoáy, va đập gây xói lở lòng hang động và đục khoét lòng sông dẫn vào hang [22]

Trang 33

Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), hệ thống núi đá và hang động Karster… sẽ bị ảnh hưởng bởi các trận mưa kéo dài, mưa axit gây bào mòn, đứt gãy, sụt lún làm mất đi cảnh quan và kiến trúc tự nhiên của tài nguyên du lịch

1.2.1.4 Tác động đến các yếu tố văn hóa

Biến đổi khí hậu mà biểu hiện là nước biển dâng cao đã gây ra hiện tượng xâm nhập mặn những vùng thấp ven biển Hiện nay, vùng Đồng bằng sông Hồng, lưu lượng nước về hạ du giảm, mực nước sông Hồng xuống thấp và nước biển dâng cao kết hợp triều cường dẫn đến xâm nhập mặn ngày càng phức tạp Kết quả quan trắc, đánh giá số liệu đo độ mặn cho thấy vào mùa kiệt nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình có độ mặn vượt quá nồng độ cho phép [23] Do vậy, với nền văn minh lúa nước nổi tiếng

là sản phẩm đặc thù của vùng sẽ bị mai một Ngoài ra, hệ thống miệt vườn sông nước Cửu Long cũng bị ảnh hưởng tương tự… Mặt khác, nước biển dâng sẽ làm mất đi nơi sống của các cộng đồng lâu đời với các nét văn hóa, truyền thống đã và đang được khai thác du lịch

Biến đổi khí hậu làm gia tăng thiên tai (bão lụt, lũ quét, hạn hán, sạt lở) xảy

ra với cường độ và tần suất cao, làm mất đi các hệ sinh thái nông nghiệp như ruộng bậc thang, các vườn hoa, cây cảnh, …

Quá trình ứng phó với BĐKH đã làm ảnh hưởng đến tập quán canh tác cũng như sản xuất nông nghiệp của đồng bào các dân tộc miền núi, đặc biệt là vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên…

- Các thiết chế văn hóa như nhà bảo tàng, nhà văn hóa, thư viện, phòng đọc

và các công trình văn hóa cũng bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Với nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số, người thiết kế chưa phối hợp với ngành chức năng nghiên cứu thấu đáo bản sắc văn hóa, phong tục tập quán tộc người dân Do vậy, nhiều nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng sau khi khánh thành vẫn không thu hút được nhân dân đến sinh hoạt

- Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các nghệ nhân - chủ nhân của các biểu hiện và hoạt động văn hóa Đó là làm thay đổi lối sống, cách làm việc, thờ tự của

Trang 34

các cộng đồng và xã hội tại các công trình xây dựng và cảnh quan, có khả năng làm cho con người phải di chuyển chỗ ở và từ bỏ di sản của họ

1.2.1.5 Tác động đến các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Biến đổi khí hậu với biểu hiện là nước biển dâng; các thiên tai như bão lụt, sạt lở gây ảnh hưởng trực tiếp đến các di sản như Quần thể di tích kiến trúc Huế (Thừa Thiên - Huế), Khu phố cổ Hội An (Quảng Nam), Nhà vườn Huế, hệ thống đền - tháp Chăm ở khu vực miền Trung Những di sản này hàng năm phải đón nhận các trận mưa, bão, lốc… gây ra hiện tượng ngập lụt, các công trình kiến trúc bị mối mọt, nấm mốc dẫn đến bị xuống cấp, tàn phá… Các nhà nghiên cứu cho rằng, các di tích lịch sử văn hóa, đặc biệt là các di tích kiến trúc, các di tích khảo cổ sẽ bị xuống cấp và hư hỏng do bị ngập lâu trong nước hoặc tác động của nhiệt độ và độ ẩm cao trong thời gian dài, bị sụp đổ hoặc mất hoàn toàn do tác động vật lý của các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt trong trường hợp có sự kết hợp của một vài hiện tượng (bão kết hợp thủy triều; lốc xoáy kết hợp mưa lớn, v.v )

Các cộng đồng còn lưu giữ nhiều nét văn hóa dân gian, đặc biệt là ở những vùng tập trung nhiều rủi ro sẽ bị tổn thương nhiều nhất vì khả năng thích ứng kém

và phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên thiên nhiên

Đối với di sản thiên nhiên thế giới Không gian văn hóa cồng chiêng, Biến đổi khí hậu đã góp phần làm thay đổi địa bàn cư trú của các tộc người, cùng với ảnh hưởng của tập quán du canh du cư, nhiều cánh rừng thiêng đã lần lượt biến mất Do

đó, môi trường sinh thái nhân văn mất đi cũng đồng nghĩa với sự mất đi của không gian văn hóa cồng chiêng, mất đi những dấu tích vật chất lưu giữ những giá trị của văn học dân gian

1.2.1.6 Tác động của BĐKH đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật ven biển

Nước biển dâng cùng với sóng, gió, triều cường và nước dâng do bão gia tăng làm tăng ngập lụt và xói lở bờ biển, tác động trực tiếp đến các công trình xây dựng trên biển và ven bờ như các cảng du lịch, các nhà máy điện chạy khí và hệ thống chuyển tải, phân phối điện, bến bãi, kho tàng, các công trình xây dựng công nghiệp, hệ thống giao thông ven biển, hệ thống đê biển, các thành phố, đô thị, khu

Trang 35

công nghiệp, làm gia tăng chi phí cho việc bảo vệ, gia cố, duy tu, bảo dưỡng hoặc di dời Một số công trình đã bị phá hủy do không có khả năng bảo vệ

Một số khu du lịch ven biển, các resort, khu nhà hàng, khách sạn do tác động của nước biển dâng đã phải di dời hoặc biến mất gây tổn hại lớn cho các nhà đầu tư cũng như ngành du lịch Mức độ tác động phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương và tình trạng của các công trình hạ tầng kỹ thuật

Biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng tác động đến các nơi cư trú của cộng đồng dân cư ven biển và cơ sở hạ tầng về du lịch (khu nghỉ dưỡng, khách sạn ven biển) ảnh hưởng đến đời sống dân cư và làm giảm tính hấp dẫn của các khu nghỉ dưỡng và du lịch Những điều trên đây sẽ ảnh hưởng đến số lượng khách du lịch hàng năm, nhất là về mùa hè

1.2.1.7 Tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường du lịch

Môi trường trong lành, mát mẻ vốn là một trong số những yếu tố quan trọng hấp dẫn khách du lịch, do vậy có thể coi đó như 1 loại tài nguyên du lịch quan trọng

và cần phải bảo vệ trước tác động của biến đổi khí hậu

Trong thời gian vừa qua, môi trường du lịch tại một số khu du lịch đã phải hứng chịu các tác động tiêu cực không nhỏ từ biến đổi khí hậu

Ở vùng ven biển, đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng estuary) trên những diện rộng, nhất là ở hạ du các hệ thống sông nghèo phù sa Tiêu biểu là vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình - Bạch Đằng,

ở vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống sông Đồng Nai, ở vùng ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh [24] Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trò tiêu thoát nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kênh tù đọng gây ô nhiễm môi trường, phá hủy cảnh quan ảnh hưởng đến việc khai thác kinh doanh du lịch

Ở vùng núi, đặc thù của BĐKH đó chính là nhiệt độ cao tăng và mùa đông ngắn hơn so với trước đây Theo số liệu quan trắc nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè Lượng mưa và mùa mưa thay đổi tùy theo các vùng Hậu quả là cường

độ bão lũ gia tăng, hạn hán và thiếu nước kéo dài Hạn hán năm 2009, kéo dài đến

Trang 36

2010 trên hầu hết các tỉnh Miền núi phía Bắc làm thiệt hại rất lớn, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng, điển hình là cháy rừng ở Vườn Quốc Gia Hoàng Liên vào tháng 1/2010 thiêu chụi hơn 1.000 héc ta rừng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan du lịch và môi trường không khí trong lành tại VQG

Bão lụt và hạn hán tăng đe dọa lớn tới chất lượng môi trường sống của con người, bởi bão lụt tạo môi trường sống lý tưởng cho các loài muỗi và ký sinh trùng, chuột và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh Những khu du lịch miền núi, cộng đồng ít có sự đầu tư về công tác vệ sinh môi trường và công nghệ xử lý ô nhiễm sẽ bị ảnh hưởng của tác động trên, làm giảm sức hấp dẫn đối với du khách

1.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến biến đổi khí hậu và các hiện tượng TTCĐ

Dù được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” nhưng gần đây, ngày càng nhiều nghiên cứu hơn tập trung vào những tác động của ngành du lịch đối với

sự BĐKH và các hiện tượng TTCĐ [25] Nhiều nghiên cứu đang khảo sát các tác động của du lịch đến thay đổi khí hậu, chủ yếu bằng cách đo lượng khí thải nhà kính toàn bộ từ ngành du lịch (Gosslinget 2005, Becken và Patterson 2006, Dubois và Ceron 2006b, UNWTO -UNEP-WMO 2008; Peeters and Dubois 2010) Theo UNWTO-UNEP-WMO (2008) ước tính ngành du lịch hiện đang đóng góp 5% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, phần lớn lượng phát thải này

là từ du lịch hàng không (Peeters và Dubois, 2010) và được dự báo sẽ tăng lên trong tương lai bởi sự phát triển hàng không trong khi các ngành công nghiệp khác giảm phát thải (Dubois và Ceron 2006b, Anable và Shaw2007, Bows and Anderson2007, Anger and Kohler 2010) [26]

Việc kiểm kê chính xác lượng phát thải trong ngành du lịch còn nhiều khó khăn vì du lịch là lĩnh vực mang tính chất rộng lớn với sự tham gia của nhiều lĩnh vực khác bao gồm: giao thông, năng lượng, chất thải rắn, tài nguyên nước, nông - lâm nghiệp, xây dựng Các thành phần trên đóng góp các mức độ khác nhau trong vấn đề phát thải khí CO2 do lượng phát thải và tiêu thụ năng lượng tùy thuộc vị trí và quy mô của các loại hình dịch vụ Ví dụ như: Giao thông vận tải, nơi lưu trú như khách sạn, nhà hàng, các khu trung tâm giải trí, các hoạt động du

Trang 37

lịch khác như các bảo tàng, khu vui chơi giải trí, công viên, sự kiện hoặc khu mua sắm Ngoài ra ngành du lịch còn tác động đến BĐKH thông qua việc sử dụng các thiết bị làm lạnh dẫn tới thải ra một lượng khá lớn khí CFCs, một trong những khí chính gây ra BĐKH nói chung và TTCĐ nói riêng

1.3 Phát triển du lịch bền vững, ứng phó với BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan

1.3.1 Khái niệm du lịch và du lịch bền vững

Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization - UNWTO), một tổ

chức thuộc Liên hiệp quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du

hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ ‘Du lịch’ được

hiểu như sau “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian nhất định”

Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng

du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai.Phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút cho du khách đến vùng, điểm du lịch trong thời điểm hiện tại, đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống

1.3.2 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và tại Việt Nam

Trang 38

1.3.2.1 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới

Hình 1.2 Dự báo tăng trưởng số lượng khách du lịch quốc tế trên toàn

thế giới đến năm 2030

Nguồn: UNWTO (2013)

Theo số liệu của ITC Trademap, tốc độ tăng của nhập khẩu thế giới về du lịch

là 2,86%/năm trong giai đoạn 2008-2012 Bất chấp tình hình bất ổn và kinh tế khó khăn kéo dài ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cho hay lượng du khách quốc tế năm 2015 vừa qua đã đạt hơn 1 tỷ lượt người, tăng hơn 4% so với năm trước đó và dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc

độ 3,3% để đạt mức 1,8 tỷ lượt khách năm 2030 Trong đó, đáng lưu ý là các thị trường mới nổi sẽ đạt mức tăng trưởng gấp đôi so với trước và chiếm hơn một nửa lượng khách du lịch - ước tính với con số khách đến riêng các thị trường này đạt 1

tỷ lượt vào năm 2030 Năm 2015 cũng là năm thứ sáu liên tiếp lượng khách du lịch quốc tế đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 4% trở lên Pháp tiếp tục là điểm đến hấp dẫn khách du lịch nhất thế giới, tiếp theo là Mỹ, Tây Ban Nha, và Trung Quốc Xét theo khu vực, trong năm 2015, châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương đều đạt ngưỡng tăng trưởng 5% Các điểm đến ở Trung Đông tăng 3%, dữ liệu khách quốc tế của châu Phi bị giới hạn nên số liệu sẵn có ước tính khu vực này giảm 3%,

Trang 39

kết quả này chủ yếu do sự yếu kém của ngành du lịch khu vực Bắc Phi vốn chiếm tới 1/3 lượt khách đến cả khu vực

1.3.2.2 Tình hình phát triển du lịch tại Việt Nam

Trong 3 tháng đầu năm 2016, lượng khách quốc tế đạt 2.459.150 lượt (tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2015); lượng khách du lịch nội địa đạt 18,7 triệu lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 109.137 tỷ đồng (tăng 21,2% so với cùng kỳ năm 2015) Lượng khách đến từ khu vực Đông Bắc Á tăng trưởng cao nhất (Trung Quốc tăng 66%, Hàn Quốc tăng 30%, Hồng Kông tăng 160%, Đài Loan tăng 15% và Nhật Bản tăng 12%) Tất cả các thị trường gửi khách trọng điểm từ châu Âu đến Việt Nam có mức chi tiêu cao đều tăng cao, nhất là từ 05 quốc gia mới được miễn thị thực (Ý tăng 28%, Tây Ban Nha tăng 27%, Anh tăng 23%, Đức tăng 19% và Pháp tăng 11%) Đóng góp từ mức chi tiêu cao của khách du lịch từ các thị trường này đã góp phần nâng tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách du lịch lớn hơn tốc

độ tăng trưởng về lượng khách[27]

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12/2016 ước đạt 897.279 lượt, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2015 Tínhchung cả năm 2016 ước đạt 10.012.735 lượt khách, tăng 26,0% so với năm

2015

Bảng 1.1 Tình hình khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và cả năm 2016 Chỉ tiêu Ước tính

tháng 12/2016 (Lượt khách)

12 tháng năm 2016 (Lượt khách)

Tháng 12/2016 so với tháng trước (%)

Tháng 12/2016

so với tháng 12/2015 (%)

12 tháng

2016 so với cùng

kỳ năm trước (%)

Chia theo phương tiện đến

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Trí Thức Trẻ (2016). Đến 2050, biến đổi khí hậu sẽ khiến nửa triệu người chết vì đói Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến 2050, biến đổi khí hậu sẽ khiến nửa triệu người chết vì đói
Tác giả: Trí Thức Trẻ
Năm: 2016
23. Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai (2014). Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Hà Nội, tháng 3 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Tác giả: Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai
Nhà XB: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam
Năm: 2014
24. Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn và Môi Trường (2011). Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng.Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng
Tác giả: Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn và Môi Trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam
Năm: 2011
28. Bộ Công Thương, Quy hoạch phát triển năng lượng mới và tái tạo các tỉnh biên giới phía bắc giai đoạn 2009 - 2020, có xét đến năm 2025, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển năng lượng mới và tái tạo các tỉnh biên giới phía bắc giai đoạn 2009 - 2020, có xét đến năm 2025
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2010
30. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh (2016). Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2016
31. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh (2014). Báo cáo Quy hoạch môi trường vịnh Hạ Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quy hoạch môi trường vịnh Hạ Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2014
7. Murdiyarso (March 2000). Adaptation to Climatic Variability and Change: Asian Perspectives on Agriculture and Food Security in Environmental Monitoring and Assessment, Volume 61, Issue 1, pp 123–131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adaptation to Climatic Variability and Change: Asian Perspectives on Agriculture and Food Security
Tác giả: Murdiyarso
Nhà XB: Environmental Monitoring and Assessment
Năm: 2000
8. Malcolm Jack (2009). Urbanisation, Sustainable Growth and Poverty Reduction in Asia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urbanisation, Sustainable Growth and Poverty Reduction in Asia
Tác giả: Malcolm Jack
Năm: 2009
12. Andrew Edward Hares (2013). Tourist understanding of and engagement with the climate change impacts of holidays, Bournemouth University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourist understanding of and engagement with the climate change impacts of holidays
Tác giả: Andrew Edward Hares
Nhà XB: Bournemouth University
Năm: 2013
29. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh (2011). Báo cáo hiện trạng môi trường tổng thể tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2010 Khác
11. UNWTO (April 2003). Djerba Declaration on Tourism and Climate Change Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w