1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập cho các cộng đồng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đakrông tỉnh quảng trị

87 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tầm Quan Trọng Và Những Cơ Hội Thúc Đẩy Thương Mại Nhóm Cây Tài Nguyên Làm Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, Góp Phần Tăng Thu Nhập Cho Các Cộng Đồng Thuộc Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Đakrông - Tỉnh Quảng Trị
Tác giả Trương Quang Trung
Người hướng dẫn TS. Ninh Khắc Bản
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, song song với việc quản lý, vấn đề điều tra, đánh giá “Tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập ch

Trang 1

trương quang trung

“tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập cho các cộng đồng

thuộc khu bảo tồn thiên nhiên

đakrông - tỉnh quảng trị”

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội - 2008

Trang 2

Trương quang trung

“tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập cho các cộng đồng

thuộc khu bảo tồn thiên nhiên

đakrông - tỉnh quảng trị”

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Khắc Bản

Hà Nội - 2008

Trang 4

Mở đầu

Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông nằm trên địa phận tỉnh Quảng Trị,tổng diện tích khoảng 37.640 ha, là nơi có thảm thực vật rừng xanh mưa mùanhiệt đới và á nhiệt đới đặc trưng cho hệ sinh thái rừng của các tỉnh miềnTrung Theo thống kê của các nhà khoa học Việt Nam, hệ thực vật Khu bảotồn thiên nhiên Đakrông gồm 1.053 loài thực vật bậc cao cú mạch thuộc 528chi, 130 họ Vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông có diện tích khoảng51.607 ha gồm 10 xã Tổng dân số vùng đệm là 23.469 người, gồm 4 dân tộc:Kinh, Pa Kô, Pa Hung và Vân Kiều Phần lớn dân số vùng đệm là người nghèo

có cuộc sống chưa ổn định và có tập quán sống dựa vào tài nguyên rừng Cáckết quả điều tra cho thấy, khai thác lâm sản ngoài gỗ nói chung, song mây, trenứa nói riêng là nguồn thu nhập thứ hai của người dân vùng đệm Dưới sức épcủa thị trường, quá trình khai thác song mây, tre nứa diễn ra ồ ạt, không có tổchức, hoạt động này gây không ít khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ tàinguyên của Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông Việc khai thác quá mức đã và

đang làm cho môi trường sống cũng như hệ sinh thái rừng bị suy thoái, nguồnsong mây, tre nứa sinh trưởng ngoài tự nhiên ngày một cạn kiệt Một số loàitrở nên khan hiếm hoặc lâm vào tình trạng bị đe doạ tuyệt chủng

Phần lớn các loài song mây, tre nứa lưu thông trên thị trường Quảng Trị

và các tỉnh lân cận được sử dụng để sản xuất đồ gia dụng, đồ trang trí nội thất

và làm hàng thủ công mỹ nghệ Trong những năm về trước, thị trường songmây, tre nứa thuộc các xã trong khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông đã

được hình thành trên quy mô khá rộng Hiện nay, do nguồn nguyên liệu thô cóhạn, chất lượng nguyên liệu xuống cấp chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng

và chất lượng của khách hàng dẫn tới quá trình marketing các sản phẩm songmây, tre nứa còn nhiều bất cập

Trang 5

Vì vậy, song song với việc quản lý, vấn đề điều tra, đánh giá “Tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập cho các cộng đồng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị ” vừa đáp ứng nhu cầu về

nguyên liệu sản xuất cho ngành mây tre đan xuất khẩu của Việt Nam, tạocông ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn, vừa tham gia vàobảo về rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

Trang 6

Chương 1Tổng quan TàI LIệU 1.1 Vai trò lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

Theo De Beer và McDemott (1989) thì lâm sản ngoài gỗ bao gồm toàn

bộ những nguyên liệu sinh học không kể gỗ, những nguyên liệu này được khaithác từ rừng tự nhiên phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người Như vậy,lâm sản ngoài gỗ gồm toàn bộ những sản phẩm cho sợi như song mây, tre nứa,những sản phẩm ăn được như hoa quả, cây gia vị, cây làm thuốc và các chấttiết của thực vật như nhựa, tinh dầu, các chất nhuộm màu, các sản phẩm từ

động vật như thịt, tổ chim, mật ong, da, xương, móng, sừng…cũng như cácsản phẩm thu được từ các hệ sinh thái biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn

Trong vòng hai thập kỷ lại đây, tài nguyên rừng Việt Nam đã bị giảmsút nhanh chóng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng, nhưng nguyênnhân chính là do cơ chế quản lí các hoạt động khai thác lâm sản chưa phù hợp

và do tập quán du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở những vùng córừng Vào những năm 1943, rừng Việt Nam ước tính khoảng 14,3 triệu ha, độche phủ rừng chiếm 43% diện tích cả nước Đến năm 1987, diện tích rừngtrong cả nước chỉ còn 9,3 triệu ha, chiếm 28% diện tích Những con sốthống kê năm 2001 cho thấy, diện tích rừng nước ta là 10,9 triệu ha, chiếm32% diện tích cả nước Không chỉ rừng bị co hẹp mà chất lượng rừngngày càng xuống cấp

Nước ta có nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên biển và đất ngập nước vôcùng phong phú Trong đó, lâm sản ngoài gỗ đã đem lại việc làm cho hàngtrăm nghìn người Một loạt các loài lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừnghoặc từ các mô hình nông lâm kết hợp phục vụ việc sử dụng trong gia đình,

đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu (như nấm, cây thuốc, câytinh dầu, hoa quả, tre nứa, song mây…) Cùng với các sản phẩm gây trồng

Trang 7

trong trang trại và vườn đồi, lâm sản ngoài gỗ đã cung cấp cho các cộng đồng

địa phương sống ở trong và xung quanh vùng có rừng nguồn thực phẩm, dượcliệu, thức ăn cho gia súc, củi đun, nguyên liệu xây nhà, nguyên liệu thô chocác ngành công nghiệp nhỏ, đồng thời tạo thu nhập bổ sung cho kinh tế hộ gia

đình Thực phẩm từ rừng như thịt đông vật, măng, hoa quả, mật ong, rau vànấm ăn…đã và đang được sử dụng trong các hộ gia đình như các món ănchính hoặc phụ

Tại các vùng nông thôn miền núi, gỗ, song mây, lá cọ…được coi lànguyên liệu sử dụng trong xây dựng nhà cửa, đặc biết tre nứa là nguồn nguyênliệu quan trọng không thể thiếu trong xây dựng nhà, trang trí nội thất, làmchuồng trại cho trâu bò, làm hàng rào Tre nứa còn được người dân miền núigọi là gỗ của người nghèo Đối với kinh tế hộ gia đình, lâm sản ngoài gỗ đóngvai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số, nhiều hộ gia

đình vào rừng khoảng 200 ngày/năm để săn bắn, thu hái các sản phẩm rừng.Lâm sản ngoài gỗ là mức thu nhập tối thiểu và là nguồn sinh kế của nhiềunhóm dân tộc khác nhau trên đất nước ta Đối với môi trường, lâm sản ngoài

gỗ là một phương thức đáp ứng các mục tiêu bảo tồn rừng, bảo vệ nguồn nước

và bảo tồn đa dạng sinh học

1.2 Vai trò của nhóm cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

Tre nứa là nguồn tài nguyên không chỉ có giá trị cao trong kinh tế và

đời sống mà còn có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, hệ sinh tháilàng xã ở Việt Nam

Đối với các tỉnh phía Bắc, tre, luồng, lồ ô…chất lượng cao được khaithác để sản xuất tre, ván ép, đũa xuất khẩu Sau khi tre, luồng, lồ ô khai tháccạn kiệt, chất lượng kém, chúng được tiếp tục khai thác để sản xuất tăm nhangbán trên thị trường nội địa và xuất khẩu sang một số nước Châu á Tuy khôngthể đưa ra con số tổng thể nhưng có thể nói, lượng tăm nhang được sản xuất để

Trang 8

xuất khẩu hàng năm khá lớn, ví dụ một công ty nhỏ ở Nghệ An (công ty HưngThảo- Quỳnh Châu) hàng năm thu mua từ 4000-6000 tấn các loại tre để sảnxuất tăm nhang xuất khẩu.

Trước hết tre nứa là nguồn nguyên liệu xây dựng, để làm nhà ở (cột,kèo, xà, mái che, cửa, vách…) để đan lát các dụng cụ sinh hoạt (thúng rổ, rá,nong, nia, cót, nón mũ,…) làm đồ mỹ nghệ, nhạc cụ, làm cột điện, đan thuyền,làm cầu và một số phương tiện giao thông khác

Trong công nghiệp chế biến giấy sợi, tre trúc là nguồn nguyên liệu rấtquan trọng, chồi non của nhiều loại tre trúc là nguồn thức ăn truyền thống củanhiều nước Châu á

Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, tre trúc…giữ vai trò quan trọng,chúng là một thành phần, nhiều trường hợp là thành phần cơ bản của rừng,góp phần phủ đất, chống xói mòn, giữ nước…Cùng với các loài cây khác, tretrúc đem lại nguồn không khí trong lành, tươi vui và bình an, đầm ấm chothôn quê Việt Nam, chúng còn là cây cảnh, cây trang trí trong các vườn hoa,các khu vui chơi giải trí công cộng và ngay cả ở trong gia đình

Song mây là nguồn tài nguyên rừng rất quan trọng ở Đông Nam á từnhiều năm nay Hầu hết các loài mây đều có dạng thân tròn, mặt ngoài nhẵnbóng, mềm dẻo, chịu lực cao nên được sử dụng trên nhiều lĩnh vực Các loàisong mây có thân lớn được sử dụng làm khung xương bàn ghế, giường, tủ,gậy…ở Đông Nam á, nhiều loài song mây được sử dụng nguyên vẹn cả câyhoặc chế biến làm các đồ gia dụng và đồ thủ công mỹ nghệ Từ rất lâu đời,nhân dân ta cũng như các dân tộc ở nhiều nước trong khu vực đã quen dùngsong mây chẻ nhỏ để đan dệt mặt bàn ghế, thảm mây, đan giỏ, thúng, rổ, rá,làm dây buộc trong xây dụng nhà cửa, làm bẫy cá, bẫy chim, mành treocửa….[22]

Trang 9

Song mây không chỉ có giá trị sử dụng cao mà còn là một thành phầnquan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới Từ xa xưa, đồng bào các dân tộc

ở nước ta cũng như thổ dân ở nhiều khu vực Trên thế giới đã có tập quán trồngmột số loài song mây quanh vườn nhà, coi song mây như những cây trồng cầnthiết và gần gũi với đời sống hàng ngày

Trong nhiều năm trở lại đây, do nhu cầu của con người tăng cao nênviệc gây trồng, khai thác, chế biến và buôn bán song mây, tre nứa diễn ramạnh mẽ ở Việt Nam, song mây, tre trúc đã đem lại công ăn việc làm chohàng chục triệu người dân sống ở miền núi và nông thôn Một trong nhữngnguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu thiếtyếu hàng ngày và là nguồn sinh kế chủ yếu cho đại đa số dân cư miền núi

Điều đó đã tạo điều kiện ổn định cuộc sống và trong giai đoạn hiện tại gópphần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân sống ở vùng cao, vùng xa

Song mây đã được người dân bản địa trong khu vực sử dụng từ rất lâu

đời, nhưng mãi đến thế kỷ XIX thì mới trở thành nguồn thương phẩm đượcmua bán trên thị trường Quốc tế Đầu thế kỷ XX, Singapore đã có ngân hànghối đoái phục vụ cho việc khai thác và chế biến song mây ở Đông Nam á Từ

Trang 10

năm 1922-1927, các nước Đông Nam á đã xuất khẩu hàng năm từ 27.500 tấn song mây tới Hồng Công, Hoa Kỳ và Pháp Trong thời kỳ này, xuấtkhẩu song mây của Singapore, của Kalimantan đạt tới 9.400-19.000 tấn.Thị trường buôn bán thế giới ngày càng sôi động trong những năm cuốithế kỷ XX [22].

16.000-Trong những năm 1970, Indonesia đã trở thành nguồn cung cấp khoảng90% nhu cầu song mây thô trên thế giới Trong năm 1977, Singapore tuykhông có nguồn nguyên liệu song mây thương phẩm, nhưng cũng đã thu đượctrên 21 triệu đôla Mỹ từ việc sơ chế và biến đổi song mây đến bán thành phẩm,với khoảng 90% được cung cấp từ Indonesia [21]

Sự gia tăng mức độ xuất khẩu ở những quốc gia chủ yếu rất nổi bật:Tổng giá trị ngoại tệ xuất khẩu song mây của Indonesia tăng gấp 250 lần qua

17 năm, của Singapore tăng gấp 75 lần qua 15 năm, của Thái Lan tăng gấp 23lần sau 9 năm và của Malayxia cững tăng gấp 12 lần qua 8 năm Tổng giá trịhàng song mây xuất khẩu của các nước trên đến năm 1980 đã đạt tới 400 triệu

đôla mỹ/năm (riêng Indonesia chiếm 50%) Lợi nhuận về buôn bán và chếbiến song mây ở 2 khu vực trung gian (Đài Loan và Hồng Công) cũng đạtkhoảng 200 triệu đôla Mỹ/năm [22]

Thế giới đã nhận thấy vai trò quan trọng của lĩnh vực song mây trongphát triển kinh tế xã hội cũng như tạo công ăn việc làm Theo ước tính, 90%tất cả các nhà máy song mây luôn sử dụng ít nhất 50 lao động với mức đầu tưbình quân khoảng 2000 đô la Mỹ (USD) một người, nhiều hơn gấp 10 lần đốivới các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ gia dụng thông thường Hiện nay, trênthế giới có khoảng trên 700 triệu người buôn bán và sử dụng song mây với rấtnhiều mục đích khác nhau Thương mại toàn cầu và giá trị sử dụng của songmây cũng như giá trị của chúng được dự báo vào khoảng 7000 triệu USDtrong một năm (Theo tổ chức lương thực FAO, 2003)

Trang 11

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, giá trị xuất khẩu các mặt hàng songmây của các nước trên thế giới là 46.186.529 USD Giai đoạn 2001-2004, mậudịch quốc tế về song mây đạt 186.476.950 USD (Bảng 1.1).

Bảng 1.1 Hàng song mây xuất khẩu quốc tế gần đây và các nước dẫn đầu

về xuất khẩu song mây Các nước dẫn đầu về xuất khẩu trong nhưng

Indonesia (36.9%) 68.862.894 2004 45.654.253 Singapore (26.5%) 49.351.016 2003 49.535.579 Hồng Kông (23.4%) 43.607.002 2002 42.739.213 Trung Quốc (3.8%) 7.011.113 2001 46.817.324 Việt Nam (2.9%, 2001-2003) 6.476.000 Trung bình 46.186.592

Malaysia (1.8%) 3.354.112

Các nước khác (4.8%) 7.805.813

Tổng xuất khẩu: 186.467.950 (USD)

Nguồn dữ liệu COMTRADE, Số liệu thống kê Liên Hiệp Quốc.

Trong giai đoạn này, Inđonêsia là nơi xuất khẩu song mây lớn nhất thếgiới, chiếm 36,9% tổng sản lượng xuất khẩu song mây thế giới

Giai đoạn 2001-2004, mậu dịch quốc tế về song mây đạt 186.476.950USD Trong giai đoạn này, Inđonêsia là nơi xuất khẩu song mây lớn nhất thếgiới, chiếm 36,9% tổng sản lượng xuất khẩu song mây thế giới

Tổng giá trị nhập khẩu song mây ước tính hơn 236 triệu USD trong giai

đoạn 2001-2004 Trong số những nước đứng đầu về nhập khẩu, Trung Quốc

Trang 12

dẫn đầu với 38,6% tổng sản lượng nhập khẩu song mây thế giới Tiếp đến làHồng Công 12,3% Việt Nam đứng thứ sáu trong bảng xếp hạng các nướcnhập khấu song mây nhiều nhất, chiếm 3,5% tương ứng với hơn 7 triệu USD.

Bảng 1.2 Hàng song mây nhập khẩu quốc tế gần đây và các nước dẫn đầu

về nhập khẩu song mây

Các nước dẫn đầu về nhập khẩu trong

Giai đoạn Gía trị

thương mại (USD)

Trung Quốc (38.6%) 101.639.122 2004 55.341.578 Hồng Công (12.3%) 32.496.915 2003 62.296.137 Cộng đồng Châu Âu(10.4%) 27.328.891 2002 56.218.001 Singgapore (6.9%) 18.121.830 2001 62.350.997

Mỹ (4.2%) 11.011.412 Trung bình 59.051.678

Việt Nam (3.5%) 7.730.000

Các nước khác (24.2%) 65.207.434

Tổng nhập khẩu mây: 236.206.713 (USD)

Nguồn: dữ liệu COMTRADE, số liệu thống kờ Liờn Hiệp Quốc

1.3.2 Thị trường cây làm hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

Tổ tiên ta đã khai thác và sử dụng song mây trong đời sống hàng ngày,việc mua bán đã xuất hiện ở các vùng trong nước từ xa xưa Trong thời Phápthuộc, song mây cũng là nguồn cung cấp cho nhu cầu chế biến, sử dụng vàkinh doanh xuất khẩu của người Pháp Từ sau 1945 đến nay, nhiều cơ sở khaithác, chế biến và kinh doanh về song mây, tre nứa đã được thành lập, vì vậy

mà khối lượng song mây, tre nứa khai thác ngày càng nhiều

ở nước ta, các sản phẩm chế biến từ song mây, tre trúc cũng đã và đang

là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, là công ăn việc làm của hàng ngàn ngườilao động Theo nghiên cứu của FAO (2003), Việt Nam là nơi sản xuất và nơi

Trang 13

xuất khẩu chính về mây tre đan Việt Nam đạt đến con số xuất khẩu song mây

ra thế giới với giá trị 6.467.000 đô la, chiếm 2,9% tổng sản lượng xuất khẩuthế giới về song mây Tuy nhiên, khả năng cung cấp nguyên liệu thô hiện tạikhông thể đáp ứng khối lượng yêu cầu và xuất khẩu Nguồn nguyên liệu thôngoài tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng và tập trung có tính chất nhỏ giọt vàocác mô hình thu hoạch bền vững

Để hỗ trợ cho ngành nghề thủ công mỹ nghệ đang phát triển, chính phủ

đang khuyến khích việc trồng song mây đối với các đối tượng liên quan ở cáctỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hà Tĩnh và Hà Nam song mây đã và đang đượctrồng trong vườn nhà qua hàng thế kỷ Hàng năm, nông dân trên khắp nước cóthể sản xuất khoảng 1500 đến 2000 tấn từ việc thu hoạch sản phẩm từ gia đình

họ Ngày nay, thị trường song mây, tre nứa đang được mỡ rộng tự do và hoạt

động bởi các doanh nghiệp tư nhân, các nhà máy chế biến sơ khởi, các hãngxuất khẩu và các công ty xuất khẩu do nhà nước quản lý ở Việt Nam, một sốhoạt động chế biến thứ cấp được thực hiện để phục vụ thị trường nội địa, nóichung các sản phẩm xuất khẩu đều ở dưới dạng chế biến sơ khởi Việc chếbiến thứ cấp để làm ra các sản phẩm trang trí nội thất và các vật dụng gia đìnhkhác thường xảy ra ở các nước đang nhập khẩu Hàng năm, khoảng 20.000

đến 40.000 người liên quan đến việc khai thác và chế biến song mây, tre nứa,

đây là nguồn cung cấp việc làm quan trọng

Trang 14

23.33 22%

10.302 10% 12.645

12%

5.806

5%

7.493 7%

4.143

4%

4.665 4%

39.447 36%

Quốc gia

Phần trăm Triệu USD

Triệu USD 23.33 10.302 12.645 5.806 7.493 4.143 4.665 39.447

Nhật Bản Đài Loan Hồng Cụng Phỏp Đức

Hàn Quốc Hoa Kỳ

Cỏc nước khỏc

Nguồn: Cơ quan xúc tiến thương mại Việt Nam 2004- Bộ Thương Mại

Biểu đồ 1.1: Sản phẩm mây tre xuất khẩu thông qua thị trường năm 2004

Trong thập niên 1970 và 1980, hầu hết sản phẩm mây tre của Việt Nam

được xuất khẩu sang thị trường Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa.Nhưng từ khi khối các nước Đông Âu sụp đổ, các nước như Nhật Bản, TrungQuốc, Hồng Kông chỉ nhập nguyên liệu thô, cộng với quyết định cấm xuất

Trang 15

khẩu song mây dưới dạng nguyên liệu thô vào năm 1992 đã làm suy giảm việcxuất khẩu song mây Đây là thời gian khó khăn đối với ngành chế biến thủcông mỹ nghệ mây tre đan của Việt Nam Nhật Bản là thị trường quan trọngnhất đối với hàng mây tre xuất khẩu của Việt Nam, chiếm khoảng 22% (hoặc23,33 triệu USD) Hàng thủ công và đồ nội thất bằng song mây là những mặthàng xuất khẩu quan trọng và đạt giá trị xuất khẩu hơn 100 triệu USD Nhucầu về mây tre có khuynh hướng gia tăng do sự đòi hỏi của thị trường, vì thế

mà nó đạt được tầm quan trọng tối đa so với trước đây [7]

Ngày nay, song mây, tre nứa là nguyên liệu thô quan trọng đối vớingành nghề thủ công, đã tạo công ăn việc làm cho ít nhất 2 đến 3 triệu người ởViệt Nam

Đến năm 1996, thị trường đối với mặt hàng này lại bắt đầu mở rộng,trồng mây tre làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và ngành côngnghiệp chế biến mây tre lại được khôi phục Hiện nay, việc trồng mây, tre tạonguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến này đã phát triển ở nhiều nơi, thịtrường mây tre đan từ các tỉnh Bắc Trung bộ hoạt động tích cực trong nhữngnăm gần đây đã làm các làng nghề đan lát truyền thống nổi tiếng ở Hà Tây,Thái Bình sống lại, thu hút hàng triệu lao động và mang về hàng trăm triệu

đô la Mỹ hàng năm

1.4 Một số nghiên cứu về cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

1.4.1 Một số nghiên cứu về cây làm hàng thủ công mỹ nghệ trên thế giới

Trong những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện nhiều công trìnhcông bố về các kết quả nghiên cứu phân loại, sinh thái, sinh trưởng, phát triển,nhân giống, bảo tồn, các loài song mây, tre nứa

- Xuhuangcan, Zeng Bengshan, Yin Guangtian and Liu Ying (1996), đãnghiên cứu về tài nguyên song mây của Trung Quốc và sự bảo tồn chúng hiệnnay Song mây đã đem lại công ăn việc làm cho khoảng 70.000 người dânTrung Quốc Do khai thác quá mức, một số loài cần phải đưa vào bảo tồn và

Trang 16

phát triển Từ giữa năm 1970, người ta đã quan tâm đến bảo tồn song mây vàcác khu bảo tồn rừng nhiệt đới tự nhiên đã được thành lập ở Hải Nam vàYunnan Viện nghiên cứu rừng nhiệt đới và Viện thực vật học nhiệt đới ởYunnan đã bắt đầu nghiên cứu về sinh thái, các đặc tính sinh học của songmây Những nghiên cứu về nuôi cấy mô đã đạt được những thành công nhất

định, góp phần đưa một số loài song mây vào bảo tồn invitro [28]

- Xu, H.C., Rao, A.N., Zeng, B.S & Yin, G.T., (2000), đã đề cập đếntình hình phân bố, sử dụng các loài song mây ở Trung Quốc Những số liệu vềthí nghiệm gây trồng, nghiên cứu quá trình phát triển cũng như thời kỳ vật hậucủa các loài Calamus tetradactylus, Daemonorop margaritae cũng được trình

bày khá chi tiết Đặc biệt những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng củacây con, nghiên cứu nuôi cây mô phục vụ cho nhân giống các loài songmây bị đe doạ (C simlicifolius, C egregius, C gracilis, D margaritae

và D jenkinsiana) đã được nhóm tác gỉa quan tâm và đạt được kết quả

khả quan [27]

- Từ 1983-1987, Philippin đã tiến hành điều tra tài nguyên song mâytrên toàn quốc Những số liệu về diện tích song mây, mật độ và trữ lượng songmây tự nhiên có thể khai thác hàng năm đã được đưa ra Giới thiệu một số loàisong mây được gây trồng trên quy mô lớn trong vườn hộ gia đình Nhà nước

đã có những chính sách hỗ trợ giá, miễn giảm thuế, hỗ trợ về kỹ thuật chongười trồng song mây Các hoạt động bảo tồn song mây được thực hiện tại cáckhu vực bảo tồn rừng tự nhiên Chiến lược bảo tồn nguồn gen tại ngân hànggen cũng đã được xúc tiến [26]

- Wang Kanglin, nghiên cứu tính đa dạng cây tre và đã thống kê khoảng

206 loài và 10 giống tre thuộc 28 chi ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Môitrường sống tự nhiên của nhiều loài tre bị ảnh hưởng do việc khai thác gỗ hoặcchuyển đổi mục đích sử dụng đất Tác giả còn đề xuất ba giải pháp bảo tồncác loài tre ở Vân Nam [24]

Trang 17

- Phần lớn các nghiên cứu về tre nứa trên thế giới mới chỉ tập trung vàomột số loài phổ biến ở Nhật Bản, Trung Quốc như: Phylostachys reticulate

(Numata, 1965), ở ấn Độ như Dendro calamus strictus, Melocana bambusoides, Bambusa bambos (S.K Sath, 1959), ở Pakistan như Dendrocalamus strictus, D bamitonii, D longispathus, B arundiannacea, B polymorpha, B tulda (K.J.Ahmed, 1959).

1.4.2 Một số xuất bản và nghiên cứu về cây làm hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

Công tác nghiên cứu về song mây ở nước ta còn quá ít, các tài liệu đãxuất bản cũng chỉ là những bản thống kê, mô tả tóm tắt về phân loại, sinh thái.Một số tài liệu chủ yếu tập trung về kinh nghiệm gieo trồng song mây ở cácđịa phương

- Gagne Pain trong cuốn “Thực vật chí tổng quát của Đông Dương” chorằng, song mây ở Đông Dương gồm 5 chi với khoảng 32 loài, riêng Việt Nam

Song bột (Calamus poilanei Conrard) cũng là loài có giá trị kinh tế cao,hiện tại được Danh lục đỏ Việt Nam đưa vào tình trạng nguy cấp (EN)

Hèo sợi to (Guihaia grossefibrosa (Grapnep.) J Dransf., S K Lee &Wei ) Trong Danh lục đỏ Việt Nam xếp vào tình trạng nguy cấp (EN)

Trang 18

Cho tới nay, mới có một số tư liệu điều tra, nghiên cứu về sinh thái,đánh giá về trữ lượng và sản lượng song mây, tre nứa Đáng chú ý là các tài liệu:

- Trần Thị Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi (2001) Tuyển tập các côngtrình ngiên cứu sinh thái học và tài nguyên sinh vật Nghiên cứu một số đặc

điểm hình thái để nhận biết các chi trong họ Cau ngoài thiên nhiên ở ViệtNam [1]

- Vũ Văn Dũng (2002) Song mây và triển vọng phát triển ở Việt Nam.Tạp chí kinh tế Sinh thái số 17 Theo tác giả, nước ta có 6 chi với khoảng 30loài song mây Do nhu cầu thị trường cao nên các loài mây song bị khai thácrất mạnh, một số loài có khả năng bị tiêu diệt trong tương lai Tác giả cũngcho rằng, để phát triển song mây, chúng ta cần tiến hành các nghiên cứu vềphân loại, sinh thái, kỹ thuật gieo trồng, đặc biệt là khoanh nuôi, gieo trồngtrong rừng tự nhiên [18]

- Trần Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi (2003) Trong cuốn những vấn

đề cơ bản trong khoa học và sự sống Các tác giả nghiên cứu hệ thống phânloại họ Cau (Arecaceae) ở Việt Nam Ghi nhận hiện nay ở Việt Nam có 105loài thuộc 39 chi, theo một sơ đồ phân loại tổng quát dựa trên sơ đồ phân loạicủa Nuhl et J Dransfifeld (1987) [3]

- Trần Phương Anh (2005), Nghiên cứu về Chi mây (Calamus L) ở ViệtNam Tác giả đã đưa ra mô tả, phân bố, sinh thái của 18 loài và 1 thứ trong chiCalamus ở Việt Nam Kết quả này sẽ là tài liệu quan trọng để tham khảo choviệc xác định tên loài và nhu cầu về sinh thái cũng như phân bố của các loàitrong chi mây của khu vực nghiên cứu [2]

- Vũ Đình Quang (2004), cho rằng, sự suy giảm nguồn mây tự nhiên là

do khai thác quá mức và thiếu sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng

Để khắc phục tình trạng này, dự án lâm sản ngoài gỗ định hướng gây trồngloài mây tắt (Calamus tetradactylus) nhằm tạo thu nhập cho cộng đồng vùng

Trang 19

đệm, giảm áp lực lên nguồn ngoài tự nhiên Hiện tại các tỉnh thuộc khu vựcmiền Trung đang khai thác nhiều loài song mây cho thị trường Mô hình gâytrồng loài mây tắt ở Cẩm Xuyên Hà Tĩnh sẽ là những kinh nghiệm quan trọngcho việc gây trồng, bảo tồn các loài như song mật, song bột, mây nước, mâyhèo, mây đắng đang bị săn lùng rào riết [29].

- Ninh Khắc Bản và cộng sự (2005), Nghiên cứu về thành phần loàicũng như phân bố của một số loài song mây tại khu vực vùng lõi và vùng đệmVườn Quốc Gia Bạch Mã Đây sẽ là tư liệu ban đầu hỗ trợ cho việc định tên,tham khảo về phân bố, sinh thái của một số loài song mây hiện sinh trưởngtrong khu vực miền Trung Việt Nam [8]

- Ninh Khắc Bản và các cộng sự (2005), nghiên cứu về thị trường, đisâu phân tích hiện trang khai thác, sử dụng các loài song mây tại khu vựcvựng đệm Vườn Quốc Gia Bạch Mã Do khai thác quá mức, nguồn song mâyngoài tự nhiên đang suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng Vì vậy, việcnghiên cứu về nhu cầu sinh thái, sinh trưởng và phát triển của một số loàisong mây đang bị khai thác quá mức sẽ là những dẫn liệu có ích cho công tácbảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên song mây ở nước ta nói chung, khuvực miền Trung nói riêng [7]

- Ninh Khắc Bản và cộng sự (2005), Nghiên cứu thành phần loài, sinhtrưởng phát triển, trữ lượng, các doanh nghiệp sản xuất và thị trường songmây tại tỉnh Quảng Nam Các tác giả chỉ ra rằng, khai thác vô tổ chức, thiếuhiểu biết về thời kỳ vật hậu của các loài song mây và hình thức quản lý lỏnglẻo đã dẫn đến trữ lượng và sản lượng song mây tự nhiên tại Quảng Nam đangngày càng cạn kiệt [6]

- Nguyễn Minh Đường (1963), Nghiên cứu một số đặc điểm về hìnhthái, sinh thái, phân bố của loài nứa

- Phạm Văn Tích (1964), Nghiên cứu cây vầu

Trang 20

- Trần Nguyên Giảng (1967), Nghiên cứu đề xuất kỹ thuật trồng Luồng

và Diễn

- Vũ Văn Dũng (1978), nghiên cứu thành phần và phân bố các loài trenứa của miền Bắc Việt Nam Tác giả xác định thành phần loài tre trúc cókhoảng 10 chi, 48 loài

- Lâm Xuân Sanh, Châu Quang Hiền (1981), Nghiên cứu về tre lồ ô

- Trần Đức Hậu (1985), Nghiên cứu về sinh lý cây Trúc ở Việt Bắc

- Lã Đình Mỡi chủ biên (1998), Tài nguyên thực vật Giáo trình dànhcho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh Tác giả đánh giá vai trò tre trúctrong nền kinh tế xã hội cũng như sự phân bố và các đặc tính của nguyên liệutre trúc, đặc điểm sinh trưởng và phát triển của chúng [22]

- Lã Đình Mỡi chủ biên (1998), Tài nguyên thực vật đông Nam á,nghiên cứu về các cây song mây: từ hình thái, sinh thái, sinh trưởng và pháttriển cho đến nhân giống, trồng trọt và việc quản lí bảo vệ ngoài tự nhiên cũngnhư việc ưu tiên phát triển, buôn bán [21]

Tóm lại, các nghiên cứu đã có ở nước ta tập trung nhiều vào phân loại,sinh thái và phân bố của các loài song mây, tre nứa Nghiên cứu về côngnghệ, về thị trường mới chỉ mang tính chất sơ bộ, do vậy việc thực hiện đềtài : “Tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mại nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần tăng thu nhập cho các cộng đồng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị”

mang tính khả thi và có ý nghĩa thực tế

Trang 21

1.5 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiêm cứu

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

1.5.1.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn ĐaKrông nằm về phía Nam huyện ĐaKrông tỉnh Quảng Trị,

có toạ độ địa lý: 16023' - 16009 Vĩ độ Bắc 106052' - 107009 Kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và Triệu Phong

- Phía Nam giáp huyện A Lưới (Thừa Thiên - Huế)

- Phía Tây giáp sông Đakrông và đường Hồ Chí Minh

- Phía Đông giáp huyện Phong Điền (Thừa Thiên - Huế)

Vùng lõi Khu bảo tồn bao gồm một phần diện tích của 8 xã là: HảiPhúc, Ba Lòng, Triệu Nguyên, Tà Long, Húc Nghì, A Bung, Đakrông và BaNang, đều thuộc vùng núi huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị Tổng diện tích tựnhiên của Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông là 37.640 ha

1.5.1.2 Địa hình địa mạo

Nhìn chung, địa hình bị chia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất

và tạo sơn hình thành Chúng có đặc điểm chung là núi thấp, dốc ngắn, bị chiacắt sâu và độ dốc khá lớn

Trang 22

Bản đồ 1.1: Bản đồ Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

Trang 23

1.5.1.3 Khí hậu

Nằm trong miền khí hậu Đông Trường Sơn Vùng này có khí hậu nhiệt

đới gió mùa, có mùa Đông còn tương đối lạnh Do địa hình của dãy núi TrườngSơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển nên đã tạo ra sự khác biệt lớntrong phân hoá khí hậu của khu vực Theo kết quả quan trắc khí tượng trongnhiều năm của các đài khí tượng Khe Sanh, A Lưới và Đông Hà cho ta thấy:

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm bình quân từ 22 - 230C Mùamưa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Ngược lại, trong mùa khô (từtháng 4 đến tháng 9), do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất nóng vàkhô, Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 39 - 400C Độ ẩm trong các tháng này

có thể xuống dưới 30%

- Chế độ mưa ẩm: Đây là vùng có lượng mưa rất lớn, trung bình hàngnăm tổng lượng mưa đạt tới 2500 - 3000 mm, trong đó 90% tập trung trongmùa mưa Độ ẩm không khí trung bình vùng đạt 85 - 87%; trong mùa mưa độ

1.5.1.5 Địa chất

- Hầu hết các núi thấp và trung bình, cấu tạo bởi các loại đá MacmaBazơ và trung tính có nguồn gốc núi lửa Điển hình là các loại đá Forfirit,Anđezit, Diorit, các loại đá này có màu phớt lục, nâu đỏ hoặc màu tím hồng

Trang 24

- Các núi thấp và đồi cao vùng Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc đượccấu tạo chủ yếu bởi các loại đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn nhưphiến thạch sét, phylit, sa phiến thạch, mica, bột kết, có tuổi Ocdovic - Silua.

1.5.1.6 Thổ nhưỡng

Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông gồm các loại đất chính như sau:

- Đất Felarit có mùn trên núi trung bình

- Nhóm đất Feralit đỏ và phát triển ở vùng đồi núi thấp

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Macma Bazơ và trung tính

- Đất dốc tụ và đất phù sa sông suối trong các thung lũng

1.5.1.7 Thảm thực vật rừng:

Thảm thực vật rừng Đakrông được chia thành các kiểu rừng chính vàphụ dưới đây:

- Rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhịêt đới

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm phục hồi sau khai thác (kiểu phụthứ sinh nhân tác)

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy (kiểuphụ thứ sinh nhân tác)

- Rừng hỗn giao tre- nứa- gỗ phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt

- Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác

- Núi đá không cây

1.5.1.8 Hệ thực vật rừng:

Qua điều tra bước đầu, trong khu vực khảo sát đã thống kê được 1.053loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 528 chi, 130 họ Trong đó, ngành thực vậtHạt kín (Angiospermae) vẫn chiếm đa số, sau đó là Khuyết thực vật (Pteridophyta) rồi đến thực vật Hạt trần (Gymnospermae) [11].

Trang 25

Ngoài 5 loài đặc hữu là: Dâu da (Baccaurea sylvestris), Bồ cu vẽ(Breynia septata), Basoi (Macaranga eberhadtii), Thuỷ tiên hương(Dendrobium amabile) và Song bột (Calamus poilanei) Khu bảo tồn thiênnhiên Đakrông có 24 loài trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới [11].

- 2006 là 1,83%; tuy có giảm dần trong những năm gần đây, nhưng tỉ lệ vẫncòn cao

Trong vùng có 4 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Vân Kiềuchiếm đại đa số (42,9%), dân tộc Kinh (28,6%) và dân tộc Pa Kô (28%), Pa

Hy (0,5%) Hầu hết đồng bào dân tộc vẫn sống dựa vào nương rẫy là chính,diện tích đất canh tác rất ít, đời sống của đồng bào các dân tộc nhìn chung cònkhá nghèo nàn và lạc hậu

Toàn khu vực vùng đệm có 10.904 lao động, chiếm 30% dân số toànhuyện, trong đó lao động nam có 8.084 (chiếm 74,13%), nữ có 2.820 lao động(chiếm 25,87%) Lao động tập trung chủ yếu ở khối sản xuất nông nghiệp

Trang 26

(chiếm 93%), đây là nguồn lao động dồi dào có thể huy động vào việc sảnxuất lâm nghiệp, xây dựng khu bảo tồn và phát triển lâm nghiệp xã hội [15].

1.5.2.2 Sản xuất Nông nghiệp

+ Trồng trọt: Các loài cây trồng chính là lúa và các cây hoa màu nhưNgô, Khoai, Sắn, Lạc…Do phương thức quảng canh vẫn là chủ yếu, năng suấtcây trồng hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết Bình quân lương thực đầu ngườichỉ khoảng 18,5 kg/người/tháng Vì vậy, số hộ đói nghèo của 10 xã vùng đệmlên tới 2.587 hộ (theo tiêu chí mới) chiếm 60% số hộ; số hộ trung bình và khá1.713 hộ (chiếm 40%)

1.5.2.3 Sản xuất Lâm nghiệp

Trong khu vực hiện nay có Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa với

98 cán bộ công nhân viên làm công tác sản xuất lâm nghiệp (chủ yếu làkhai thác nhựa thông) và trồng rừng phòng hộ Ngoài ra, còn có Hạt kiểmlâm huyện Đakrông đóng tại thị trấn KrôngKlang với 20 cán bộ nhân viênkiểm lâm

- Thảm thực vật rừng ở Đakrông có tỷ lệ che phủ cao, mang một ýnghĩa lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệnguồn nước, chống xói mòn đất, đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển củanhiều loài sinh vật trong khu vực

Trang 27

* Khó khăn

- Dân cư sống trong vùng chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, cótrình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức hiểu biết về bảo tồn thiên nhiên, đời sốngcòn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng, vì vậy đã ảnhhưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn

- Lâm trường và hạt kiểm lâm đã hoạt động tích cực, song chưa pháthuy được vai trò nòng cốt thúc đẩy nền kinh tế lâm nghiệp khu vực phát triển

- Cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn Đường giao thông vận tải các

đường liên thôn, liên xã còn ít, chất lượng đường xấu, chỉ đi lại được trongmùa khô

Trang 28

Chương 2Mục tiêu, Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1.1 Mục tiêu tổng quát:

Xác định được tầm quan trọng và những cơ hội thúc đẩy thương mạinhóm cây tài nguuyên làm hàng thủ công mỹ nghệ góp phần tăng thu nhập cảithiện cuộc sống cho các cộng đồng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

2.1.2 Mục tiêu cụ thể:

- Điều tra, đánh giá thành phần loài thực vật sử dụng làm hàng thủ công

mỹ nghệ trong khu vực nghiên cứu

- Đánh giá vai trò của nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ

đến kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư trong khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu thị trường từ khai thác đến tiêu thụ và những giải pháp nhằmphát huy tốt khả năng thương mại của nhóm cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

- Đề xuất những loài có giá trị kinh tế phục vụ mục đích khai thác, bảotồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên sinh học nói chung, tài nguyờnthực vật làm hàng thủ cụng mỹ nghệ núi riờng

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các loài song mây, tre nứa, lá nón, đót đang được khai thác và sửdụng trong khu vực nghiên cứu

- Người khai thác, mua bán và các cơ sở sản xuất, chế biến song mây,tre nứa, lá nón trên địa bàn huyện Đakrông và tỉnh Quảng Trị

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Kiểm kê, đánh giá thực trạng thành phần loài thực vật làm hàng thủcông mỹ nghệ ở Khu bảo tồn thiờn nhiờn Đakrụng

- Điều tra, thu thập thông tin về hiện trạng khai thác, sử dụng vàmaketing một số loài thực vật sử dụng làm hàng thủ công mỹ nghệ

Trang 29

- Đánh giá và kiến nghị những chính sách liên quan tới khai thác, pháttriển và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thực vật làm hàng thủ công mỹ nghệ.

- Lựa chọn và đề xuất một số loài có triển vọng để đưa vào khai thác,phát triển và bảo tồn theo định hướng sử dụng bền vững

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu thực vật

* Điều tra theo tuyến

Xây dựng các tuyến điều tra ở các kiểu thảm thực vật và các sinh cảnhkhác nhau, thu thập mẫu vật, tìm hiểu điều kiện nơi sống, mối quan hệ củaloài nghiên cứu với những điều kiện sinh thái xung quanh

* Điều tra theo ô tiêu chuẩn

Các ô tiêu chuẩn được xây dựng theo phương pháp hệ thống, dựa trêncác tuyến điều tra đã định sẵn Bố trí 36 ô tiêu chuẩn bằng nhau về khoảngcách trên các tuyến điều tra Mỗi ô tiêu chuẩn có kích thước 20x20m dọc theocác tuyến điều tra tại 9 khu vực nghiên cứu, trong đó có 4 khu vực thuộc vùng

đệm (Khe Tà Lang, Đồi Bình Trị, Khe Xoài, Động Ngôn) và 5 khu vực vùnglõi của KBT (Đá Liếp, Tà Lao, Km 32, Động Chè, Thác Đỗ Quyên) Sau đótiến hành đo đếm các chỉ tiêu cần điều tra như số lượng cá thể các loài cótrong ô tiêu chuẩn, chất lượng cá thể, dạng sống, lập địa…

- Thu mẫu: Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận

đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả Điều này là rất cần thiết để bổ sung chonhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật

Tuy nhiên trong điều tra thực vật nói chung, các mẫu tiêu bản thu được

có thể không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, chúng tôitiến hành thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt,) các mẫu nàykhông đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng choquá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này

Trang 30

- Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật được

ghi chép ngay tại hiện trường như dạng sống, đặc điểm thân, cách sắp xếp lá,hoa, quả, hạt Bên cạnh đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điềukiện tự nhiên, sinh thái,nơi sống, mật độ và người thu mẫu cũng được ghi cùng

- Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau

đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dungdịch cồn 40o - 45o Mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô,

cứ như vậy thành từng tập, mang đi phơi hoặc sấy khô

* Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so

sánh Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm hình thái của mẫu vật đượcquan sát, ghi chép ngoài thực địa, sau đó được thống kê so sánh với các khoáphân loại đã có hay với các bản mô tả, hình vẽ, các tài liệu, mẫu vật ở cácphòng tiêu bản khác trong và ngoài nước Các tài liệu thường xuyên đượcdùng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam,Cây cỏ Việt Nam và sách hướng dẫn nhận biết các loài song mây ngoài thực

địa [12],[13],[14],[19], [23]

* Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, chúng tôi tiến hành

lập danh lục thực vật dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ, Tên khoa học của cácloài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu về thị trường

Trong quá trình nghiên cứu thị trường chúng tôi sử dụng các công cụ củaphương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), phươngpháp phân tích và phát triển thị trường (MA&D) [25]

* Sử dụng công cụ phỏng vấn của PRA và MA&D để thu thập số liệu

- Chọn đối tượng để phỏng vấn:

Đối tượng được lựa chọn cho phỏng vấn là các hộ gia đình tham giakhai thác, buôn bán, chế biến…cây làm hàng thủ công mỹ nghệ trong khu vựcnghiên cứu Đại diện UBND các xã, đại diện các ban ngành và các tổ chức có

Trang 31

liên quan Các cơ quan, tập thể và cá nhân tham gia thu mua, chế biến, vậnchuyển, buôn bán cây làm hàng thủ công mỹ nghệ.

+ Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

+ Cán bộ các hạt kiểm lâm

+ Đại diện phòng kinh tế, phòng nông nghiệp huyện, trạm khuyến nônghuyện Đakrông

- Phỏng vấn:

+ Phỏng vấn mở: Chúng ta có thể hỏi về bất kỳ cây nào với những câu

hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thể thay

đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thông tin

+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một

số câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể

+ Phỏng vấn có cấu trúc (phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng

một bộ câu hỏi nhất định đối với những người cung cấp thông tin có chọn lọctham gia

+ Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đó

chúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một quy trình xử lý haychế biến nào đó

+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người

khác đã đưa ra trong các lần phỏng vấn trước

- Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu thu được từ phỏng vấn,

để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm các thông tin bổ sung, chúngtôi tiến hành thảo luận nhóm Nhóm thảo luận bao gồm cả những người thamgia và không tham gia phỏng vấn trước đó Trong khi thảo luận, cán bộ nghiêncứu lần lượt đưa các thông tin đã thu thập được ra để mọi người tranh luận, cácdữ liệu được chỉnh lý và bổ sung qua quá trình này

Phỏng vấn và quan sỏt là hai cụng cụ được sử dụng nhiều trong quỏtrỡnh nghiờn cứu này Một bảng cõu hỏi (Phụ lục) được chuẩn bị trước để

Trang 32

phỏng vấn người khai thỏc, người thu mua trung gian, cỏc đại lý, người bỏnbuụn, cỏc cơ sở sản xuất Quỏ trỡnh phỏng vấn được thực hiện nhờ 6 loạicõu hỏi trợ giỳp, ai?, cỏi gỡ?, vỡ sao?, khi nào?, ở đõu?, làm thế nào? Trongquỏ trỡnh thu thập thụng tin ngoài hiện trường, quan sỏt cũng là hỡnh thứcđược sử dụng nhiều và hỗ trợ cho phỏng vấn trực tiếp hoặc cung cấp nhữngthụng tin về cụng nghệ chế biến, thời vụ, chất lượng sản phẩm, số lượngngười bỏn

Sử dụng và kế thừa các tài liệu có liên quan như các báo cáo khoa họccủa Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, các báo cáo của các ban ngành ở địaphương, báo cáo của phòng kinh tế, phòng nông nghiệp và niên giám thống kêhuyện đã được chúng tôi thu thập và phân tích phục vụ cho nghiên cứu này

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Trong khuôn khổ nội dung và mục đích và tính chất của đề tài, nghiêncứu này chỉ sử dụng các phương pháp phân tích, xử lý số liệu đơn giản để đưa

ra kết quả nghiên cứu Cụ thể như sau:

- Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để tính toán một số chỉtiêu định lượng của các số liệu khảo sát (trị số bình quân, tỷ lệ %)

- Toàn bộ số liệu nghiờn cứu được tớnh toỏn và xử lý theo giỏ trị trungbỡnh cộng:

Trang 33

Chương 3KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tầm quan trọng của nhúm cõy tài nguyờn làm hàng thủ cụng mỹ nghệ

3 .1.1. L ựa chọn khu vực tiến hành nghiờn cứu

Khu vực nghiờn cứu chủ yếu là cỏc xó vựng đệm của Khu bảo tồn(KBT) thiờn nhiờn Đakrụng Từ xưa đến nay, đời sống của họ dựa vào tàinguyờn rừng là chủ yếu, trong đú săn bắn chim thỳ rừng và khai thỏc gỗ đểphục vụ những nhu cầu thiết yếu như xõy dựng nhà cửa, chuồng trại chănnuụi, đúng đồ gia dụng…và một phần bỏn lấy tiền mua lương thực thực phẩm

để đảm bảo cuộc sống bỡnh thường Hầu như, người dõn đều biết khai thỏc gỗ

và săn bắt động vật hoang dó là vi phạm phỏp luật, nhưng canh tỏc nương rẫykhụng thể cung cấp đủ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày, để duy trỡ, họ phảitiếp tục vào rừng Họ thu hỏi tất cả những gỡ cú thể bỏn hoặc sử dụng được.Tuy nhiờn, khai thỏc cỏc loài thực vật thuộc nhúm cõy làm hàng thủ cụng mỹnghệ (TCMN) phục vụ đan lỏt, thưng che nhà cửa, trang trớ nội thất, tạo thunhập cho gia đỡnh là khỏ phổ biến trong cỏc cộng đồng nghiờn cứu Để đạtđược những mục tiờu đề tài đặt ra, chỳng tụi đó tiến hành thảo luận, xõy dựng

3 tiờu chớ lựa chọn địa bàn để khảo sỏt như dưới đõy:

 Cộng đồng nghiờn cứu cú số hộ gia đỡnh sống phụ thuộc vào rừng cao

 Khu vực nghiờn cứu phong phỳ và đa dạng về nhúm cõy tài nguyờn làmhàng thủ cụng mỹ nghệ

 Là cộng đồng gần rừng

Toàn khu vực vựng đệm cú 10 xó với gần 10.904 lao động, trờn cơ sởcỏc tiờu chớ đặt ra, chỳng tụi điều tra, phỏng vấn lấy số liệu cụ thể 6 xó quantrọng trong khu bảo tồn (Bảng 3.1) Vỡ 6 xó này là những xó cú nguồn tàinguyờn cõy làm hàng TCMN cũn tương đối nhiều và thị trường buụn bỏn,kinh doanh đa dạng

Trang 34

Bảng 3.1: Kết quả lựa chọn các xã để tiến hành nghiên cứu

Mức độ phong phú

về lâm sản ngoài gỗ

Khoảng cách

từ dân cư đến rừng gần nhấ t (km)

là nguyên liệu để đan lát các dụng cụ và vật dụng gia đình phục vụ cuộc sốngcho chính họ Chính vì những giá trị đó, nên nhóm cây làm hàng thủ công mỹnghệ được cộng đồng dân tộc nơi đây khai thác ồ ạt, lượng người tham giarất lớn Vì vậy, để có được những số liệu đáp ứng với những yêu cầu của đềtài, chúng tôi đã lựa chọn các hộ gia đình tham gia khai thác, buôn bán cácloài thực vật trong nhóm cây tài nguyên làm hàng thủ công mỹ nghệ làmnhóm đối tượng của nghiên cứu này

Trang 35

3.1.2.2 Thu nh ập của các hộ gia đình trong nhóm đối tượng

Kết quả trong bảng 3.2 cho thấy, xã Tà Long có 766 người tham giavào khai thác cây làm hàng thủ công mỹ nghệ, chiếm 55,6% số lao động củatoàn xã Tuy nhiên, số lao động tham gia vào khai thác cây làm hàng thủ công

mỹ nghệ nhiều nhất là xã Húc Nghì với 77,4% (463 người) Xã Hải Phúc cónhóm người khai thác đứng thứ ba, 166 người chiếm 51,8% Ba xã Ba Lòng,Triệu Nguyên và A Bung có số người tham gia ít hơn, giao động trongkhoảng từ 22% đến 34,7% tổng số lao động

Bảng 3.2: Số người tham gia vào khai thác và kinh doanh

cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

Tên xã

Tổng lao động (người)

Khai thác Thu gom

trong thôn

Thu gom trong

xã Số

người

Tỷ lệ

%

Số người

Tỷ lệ

%

Số người

tế, số lao động tham gia vào việc khai thác song mây, lá non, đót có thể còn

Trang 36

cao hơn nhiều so với số liệu mà chúng tôi điều tra được Ta dễ dàng nhậnthấy, xã Hải Phúc xã Húc Nghì và Tà Long có số lao động tham gia khai thácnhiều nhất Ở 3 xã này, có tỉ lệ dân tộc Vân Kiều cao hơn 90%, đời sống kinh

tế vô cùng khó khăn Diện tích tự nhiên quy hoạch cho vùng lõi của KBT lớn,nên diện tích để sản xuất nương rẫy, nông nghiệp và vườn rừng còn lại rất ít,Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người dân nơi đây

Cây làm hàng thủ công mỹ nghệ đã góp phần quan trọng đối với đờisống của cộng đồng địa phương vùng đệm KBT thiên nhiên Đakrông Qua sốliệu thu thập được từ một số hộ gia đình của các xã có khai thác các sản phẩm

từ rừng, chúng ta có thể khẳng định nguồn thu nhập từ cây làm hàng thủ công

mỹ nghệ đã đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của họ (Bảng 3.3)

Kết quả thu thập của chúng tôi chỉ ra rằng, ở các xã có trữ lượng câylàm hàng TCMN còn khá lớn, thu nhập trung bình từ nguồn hàng này củatoàn khu vực chiếm 33,7% tổng thu nhập của gia đình Có địa phương nhưthôn La Tó - xã Húc Nghì, số lượng người vào rừng khai thác song mây, lánón lên tới 80% tổng số nhân khẩu cả thôn Trong thời vụ khai thác, số ngàyvào rừng của các hộ này lên đến 28-29 ngày/tháng

Bảng 3.3: Các hoạt động thu nhập của các hộ gia đình trong nhóm đối tượng

Tên xã

Thu nhập từ các hoạt động

thu nhập theo xã

Nông nghiệp

Chăn nuôi

Vườn hộ

Sản phẩm TCMN

Trang 37

Qua bảng 3.3 cho thấy, tổng thu nhập của các hộ gia đình trong khuvực nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào các sản phẩm nông nghiệp (46,1%)

và các sản phẩm từ cây làm hàng thủ công mỹ nghệ (33,7%), các nguồn thunhập khác không đáng kể, chỉ chiếm 8,3% đối với chăn nuôi, 6,4% đối vớikinh tế vườn và thấp nhất là thu nhập từ những nguồn khác (như thương mại

và dịch vụ) (5,5%)

Để đánh giá rõ hơn về vai trò cây làm hàng thủ công mỹ nghệ đối vớiđời sống người dân nơi đây, chúng tôi đánh giá thu nhập qua từng nhóm hộ cụthể của 6 xã Trong mỗi xã, chúng tôi lấy một bản đại diện để điều tra, số liệuđược thể hiện qua bảng 3.4

Bảng 3.4: Vai trò cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

đối với thu nhập của các nhóm hộ

rõ nét nhất ở bản Khe Cau- xã Ba Lòng và bản Pa Hy- xã Tà Long

Trang 38

Như vậy, các hộ này ngoài việc khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ởrừng họ còn biết tăng thu nhập cho gia đình bằng nhiều hình thức khác nhưchăn nuôi, buôn bán nhỏ, Đây là một trong những hoạt động làm tăng thunhập và tạo sự ổn định về kinh tế cho gia đình, đồng thời cũng làm giảm áplực lên nguồn tài nguyên ngoài tự nhiên, tạo sự phát triển bền vững cho nhómcây làm hàng TCMN nói riêng và hệ sinh thái rừng nói chung.

- Nhóm hộ trung bình có tỷ lệ thu nhập từ cây làm hàng thủ công mỹnghệ cao hơn (20-25%) trong những năm bình thường và chiếm 25-30% tổngthu nhập (trong những năm hạn hán), riêng bản Pa Hy thì tỷ lệ này thấp hơn

so với các bản còn lại

- Nhóm hộ nghèo đói phụ thuộc rất nhiều vào rừng, các sản phẩm mà họkhai thác được chủ yếu là song mây, đót, lá nón, lồ ô Các sản phẩm này thamgia và phần lớn thu nhập của gia đình trong năm Tỷ lệ thu nhập cao nhất từhoạt động khai thác cây làm hàng thủ công mỹ nghệ trung bình trong nhóm

hộ nghèo là 32,7% (trong những năm bình thường) và 37,7% đối (trongnhững năm hạn hán mất mùa) Điều đó chứng tỏ sự nghèo đói buộc phải khaithác mọi loại tài nguyên bằng mọi cách, một phần vì thiếu hiểu biết nhưngphần khác quan trọng hơn là cứu lấy cuộc sống trước mắt của chính họ màchúng ta không thể trách cứ được họ

Từ số liệu phân tích ở trên, ta có thể nhận thấy vai trò rất quan trọngcủa cây làm hàng TCMN trong đời sống của các cộng đồng dân tộc ít người ởvùng cao Khi mà nền sản xuất nông lâm nghiệp và dịch vụ chưa phát triển,thì đây được xem là giải pháp mang tính sống còn đối với cuộc sống củangười dân

Việc khai thác các sản phẩm làm hàng thủ công mỹ nghệ, không nhữnggóp phần tăng thu nhập cho người dân mà nó còn là nguồn cung cấp nguyênliệu đan lát các vật dụng thông thường, lợp nhà, làm cửa, làm sàn nhà…trong

Trang 39

gia đình, góp phần bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa lâu đời củađồng bào dân tộc.

Trong quá trình điều tra, chúng tôi phát hiện tại khu vực nghiên cứu,song mây được khai thác, sử dụng với số lượng lớn và là nguồn thu nhập chủyếu trong nhóm cây làm hàng TCMN nói riêng và LSNG nói chung

Bảng 3.5: Thu nhập từ các nhóm cây làm hàng thủ công mỹ nghệ

Bảng 3.5 cho thấy, trung bình trong 100% thu nhập của các hộ gia đình

về nhóm cây làm hàng TCMN thì có đến 74,3% là nguồn thu nhập từ songmây và tương đương với 25% tổng thu nhập của các hộ gia đình Tại xã HúcNghì, nguồn thu nhập từ song mây chiếm đến 84% thu nhập từ cây làm hàngthủ công mỹ nghệ TCMN và tương đương với 32,8% tổng thu nhập trungbình của các hộ gia đình Tuy tỉ lệ thu nhập từ song mây của xã Hải Phúc(81%) ít hơn xã Húc Nghì, nhưng chiếm đến 33,7% tổng thu nhập trung bìnhcủa hộ Nguồn thu nhập trung bình của người dân từ lá nón 13,4%, từ đót 6%

và thấp nhất là tre nứa 2,3% trong tổng thu nhập từ cây làm hàng thủ công mỹnghệ Nhìn chung, nguồn thu nhập từ tre nứa, đót, lá nón và một số cây khácnhư tranh, cây lụi…chiếm một phần nhỏ trong thu nhập từ nhóm cây này

Trang 40

Kết quả ở trờn, cũn phản ỏnh một thực tế rằng, những xó cú dõn tộcKinh sinh sống nhiều (Triệu Nguyờn, A Bung và Ba Lũng) thỡ mức độ phụthuộc vào tài nguyờn cõy làm hàng TCMN núi chung và song mõy núi riờng

là khụng lớn hơncác xã có người dân tộc thiểu số sinh sống Điều này được

lớ giải là do trỡnh độ nhận thức và hiểu biết thấp, cho nờn người dõn tộc thiểu

số ở Đakrụng khụng tạo cho mỡnh được cơ hội để đa dạng hoỏ thu nhập củagia đỡnh Mặt khỏc, cú thể là do truyền thống văn hoỏ lõu đời nay của đồngbào dõn tộc là sự phõn biệt nam nữ quỏ lớn đặc biệt là trong lao động, cho nờnđõy là tiền đề dẫn đến sự nghốo đúi Đú cũng là một nguyờn nhõn dẫn đếnnguồn tài nguyờn làm hàng TCMN trong đú cú song mõy ngày càng cạn kiệt

Trong khu vực nghiờn cứu, trước đõy cú nhiều loài song mõy làm hàngTCMN được khai thỏc, sử dụng kinh doanh và buụn bỏn với mức độ khỏcnhau Tuy nhiờn, vài năm trở lại đõy, thị trường buụn bỏn mặt hàng này đó bịthu hẹp và hiện nay chỉ cũn một vài loài song mõy được ưa chuộng và cú thịtrường tiờu thụ Vỡ thế nguồn thu nhập từ cõy làm hàng TCMN của người dõnnơi đõy chỉ gúi gọn trong mốt số loài nhất định

Bảng 3.6 : Thu nhập từ cỏc loài song mõy của cỏc hộ gia đỡnh

trong nhúm đối tượng

Thu nhập (%) Mõy nước

Song bột Mõy ró Mõy tắt

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi (2001), Một số đặc điểm hình thái để nhận biết các chi trong họ cau ngoài thiên nhiên ở Việt Nam, Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái học và tài nguyên sinh vật 1996-2000, NXB Nông nghiệp, tr 13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hìnhthái để nhận biết các chi trong họ cau ngoài thiên nhiên ở Việt Nam
Tác giả: Trần Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Trần Phương Anh (2005). Nghiên cứu về Chi mây Calamus L. (Họ cau Arecaceae Schultz-Sch) ở Việt Nam, Tạp chí sinh học tập 26-số 4A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về Chi mây Calamus L. (Họcau Arecaceae Schultz-Sch) ở Việt Nam
Tác giả: Trần Phương Anh
Năm: 2005
3. Trần Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi (2003), Hệ thống phân loại họ Cau ở Việt Nam, Những vấn đề cơ bản trong khoa học và sự sống, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 9-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống phân loại họCau ở Việt Nam
Tác giả: Trần Phương Anh, Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
5. Ninh Khắc Bản et all (2005), Rattan value chain in Quang Nam province. http://www.sme-gtz.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rattan value chain in Quang Namprovince
Tác giả: Ninh Khắc Bản et all
Năm: 2005
6. Ninh Khắc Bản (2006), Hiện trạng và giải pháp khai thác và sử dụng tài nguyên song mây ở Quảng Nam, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn số 19, tr 65-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và giải pháp khai thác và sử dụngtài nguyên song mây ở Quảng Nam
Tác giả: Ninh Khắc Bản
Năm: 2006
7. Ninh Khắc Bản và cộng sự (2005), Thị trường song m©y khu vực Vườn Quốc Gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số18, tr 67-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường song m©y khu vựcVườn Quốc Gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ninh Khắc Bản và cộng sự
Năm: 2005
8. Ninh Khắc Bản và cộng sự (2005), Tài nguyên song mây tại Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 14, tr 55-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên song mây tại VườnQuốc Gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ninh Khắc Bản và cộng sự
Năm: 2005
9. Ninh khắc bản, Andrew henderson (2008), Điều tra thành phần loài và nghiên cứu sự phân ly của họ Cau dừa tại khu vực Hương Sơn Hà Tĩnh, Tạp chí nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tr 85-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thành phần loàivà nghiên cứu sự phân ly của họ Cau dừa tại khu vực Hương Sơn HàTĩnh
Tác giả: Ninh khắc bản, Andrew henderson
Năm: 2008
10. Ninh Khắc Bản, Nguyễn Tiến Hiệp (2007), đánh giá và đề xuất giải pháp phát triển lân sản ngoài gỗ tại 3 xã Húc Nghì, A Bung và Tà Rụt huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 2, NXB khoa học công nghệ, tr 9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá và đề xuất giảipháp phát triển lân sản ngoài gỗ tại 3 xã Húc Nghì, A Bung và Tà Rụthuyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Ninh Khắc Bản, Nguyễn Tiến Hiệp
Nhà XB: NXB khoa học công nghệ
Năm: 2007
12. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Tr 76-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thựcvật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
13. Nguyễn Tiến Bân, chủ biên (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 751-871 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật ViệtNam, tập 3
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân, chủ biên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
14. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại học Thực vật- Thực vËtbậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học Thực vật- ThựcvËt"bËc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
15. Cục thống kê tỉnh Quảng Trị, Niên giám thống kê (2007) huyệnĐakrông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê (2007)
16. Danh lục đỏ Việt Nam (2007), NXBKHTN và Công Nghệ, Hà Nội, Tr 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lôc đỏ Việt Nam
Tác giả: Danh lục đỏ Việt Nam
Nhà XB: NXBKHTN và Công Nghệ
Năm: 2007
17. Vũ Văn Dũng (1996), Gây trồng và phát triển mây song, NXB nông nghiệp, tr 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây trồng và phát triển mây song
Tác giả: Vũ Văn Dũng
Nhà XB: NXB nôngnghiệp
Năm: 1996
18. Vũ Văn Dũng (2002). Song mây và triển vọng phát triển ở Việt Nam.Tạp chí kinh tế Sinh thái số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song m©y vàtriển vọng phát triển ởViệt Nam
Tác giả: Vũ Văn Dũng
Năm: 2002
19. Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, tập 3, Nxb Trẻ, TP. Hồ ChÝ Minh, tr 401-426 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, tập 3
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
20. Triệu Văn Hùng, chủ biên (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, NXB Bản đồ, Hà Nội, tr 7-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng, chủ biên
Nhà XB: NXBBản đồ
Năm: 2007
21. Lã Đình Mỡi chủ biên (1998), Tài nguyên thực vật đông Nam á tập 6, các cây song mây, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 15-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thực vật đông Nam á tËp6
Tác giả: Lã Đình Mỡi chủ biên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
22. Lã Đình Mỡi (1998), Tài nguyên thực vật, giáo trình dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh, Hà Nội, tr 48-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thực vật
Tác giả: Lã Đình Mỡi
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w