Trong đó cải cách tưpháp luôn được Đảng quan tâm chú trọng ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, với Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về“Mộtsố nhiệm vụ trọng tâm công
Trang 1HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆTNAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃHỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆTNAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃHỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luậnvăn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công
bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Đỗ Anh Thắng
Trang 4MỤC LỤC
MỞĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠNTRUYTỐ 8
1.1 Lý luận về Luật sư trong giai đoạnTruytố 8
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước về
vai trò của luật sư trong giai đoạntruytố 14
1.3 Luậtsưtronggiaiđoạntruytốtheophápluậttốtụnghìnhsựmộtsốnước.26Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG TẠI THÀNH PHỐHÀNỘI 32
2.1 Khái quát tình hình truytốcác vụ án hình sự ởHàNội 32
2.2 Thực tiễn tham gia của Luật sư trong giai đoạn Truy tố tại thành phố HàNội 35
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠNTRUYTỐ 63
3.1 Hoàn thiện các qui định của pháp luật về sự tham gia của Luật sư trong giai đoạn truy tố vụ ánhìnhsự 63
3.2 Quán triệt, triển khai và tăng cường hướng dẫn thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự2015 66
3.3 Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tổ chứcLuậtsư 68
3.4 Nâng cao trình độ, năng lựcLuậtsư 68
3.5 Các giải pháp liên quan đến Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn Truy tố vụ ánhình sự 72
3.6 Các giảiphápkhác 73
KẾTLUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆUTHAMKHẢO 81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đềtài
Như chúng ta đã biết Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định trình tự, thủ tụcgiải quyết một vụ án hình sự, trong đó giai đoạn truy tố có vai trò rất quan trọngtrong việc buộc tội và đưa bị can ra trước Tòa án để xét xử Trong giai đoạn đó,cùng với việc buộc tội của Viện kiểm sát, hoạt động bào chữa cũng được thựchiện, trong đó có hoạt động bào chữa của Luật sư
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởnước ta hiện nay, Đảng đã chủ trương thực hiện đồng bộ ba cuộc cải cách: cảicách tư pháp, cải cách pháp luật, cải cách hành chính Trong đó cải cách tưpháp luôn được Đảng quan tâm chú trọng ngay từ những năm đầu của thế kỷ
XXI, với Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về“Mộtsố nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”đã đặc biệt quan tâm
đến vai trò của Luật sư và đặt nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp trong việc bảo
đảm hoạt động của Luật sư trong tố tụng, Nghị quyết đã chỉ rõ:“… Nângcao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Các
cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên toà…”; Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tiếp tục khẳng
định:“… Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâuđột phá của hoạt động tư pháp…Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ
về sốlượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế để luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý
để phát huy chế độ tự quản của luật sư đối với các tổ chức thành viên củamình”.
Trên tinh thần Cải cách tư pháp đó, trong những năm vừa qua các Cơ quan tiếnhành tố tụng thành phố Hà Nội đã chủ động, tích cực phối hợp với Luật sư trongcông tác giải quyết các vụ án hình sự thông qua việc tạo điều
Trang 7kiệnđểLuậtsưtham gia bàochữa trongvụánhìnhsự từgiai đoạn điều tra;thậmchítừgiaiđoạnThụlý tốgiác,tin báovềtội phạmvàkiến nghịnghị khởitố.HoạtđộngcủaLuậtsưgiúp chongườibịtạmgiữ, ngườibịtìnhnghi (nghiphạm),bịcan,bịhại,ngườicóquyềnlợinghĩavụliên quan đếnvụánhìnhsựđượcbảovệtốtnhấtquyềnvàlợi íchhợpphápcủamìnhtheoqui định củaphápluật Vớisựthamgiatíchcực củaLuậtsưtrongcác giai đoạntốtụnghìnhsựkhôngchỉgiúp Luậtsưthực hiệntốtnghĩavụbảovệthânchủ(bịcan,bịhại …) bảovệcácquyềnvàlợiích hợpphápcủamình,màcòn góp phầntrongviệclàm rõ sựthậtkháchquancủa vụ án.Điều đó giúp cho việc điềutra,truytốvàxétxửđược nhanh chóng, chínhxácnâng caohiệu quảcôngcuộcđấu tranhphòng, chống tộiphạm;tránhoan saicho ngườivôtội,bỏlọttộiphạmgópphầngiữvữngAn ninhchính trị-Trậttựantoànxãhội, tạomôitrườngổnđịnhchosựpháttriểnkinhtế - xãhội, hộinhập quốc tế;xâydựngvàbảo vệvững chắctổquốcViệtNamnói chungvàthủđôHàNộinóiriêng.
Tuynhiên, trên thựctếtrongquátrìnhtham giagiảiquyếtvụ ánhìnhsựthìvịtrí,vaitròvàchức năng củaLuậtsưkhông phải lúc nào, giai đoạnnàoLuậtsưcũngđượctạođiều kiệntốt nhấtđểthực hiệncôngviệccủaNgườibàochữatrongtốtụnghìnhsự Vì trênthựctếcónhữngvụ ánhìnhsựvai trò củaLuậtsưlàrấtquantrọng,đónggóprấtlớnvàoquátrìnhtốtụngcủavụánnhưngcũngcónhữngvụ
ánsựthamgiacủaLuậtsưrất mờ nhạt, thậm chígây khókhănchocông tácgiảiquyếtvụáncủa cácCơquanvàcủaNgười tiếnhànhtốtụng Dovậyviệcnghiên cứuđểtìmranhữngưuđiểm, khuyết điểm, nhữngtồntại,hạn chếnhữngnguyênnhânvànhữngvướngmắc,khókhăn củaLuậtsưkhitham giavàocácgiaiđoạntốtụnghìnhsựnóichungvàgiai đoạn TruytốvụánhìnhsựnóiriêngởđịabànthànhphốHàNộirấtcầnthiết
Với tất cả những ý nghĩa đã nêu ở trên, việc chọn đề tài“Luật sư tronggiai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn Thành phố Hà Nội”làm Luận văn Thạc sĩ Luật học là cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý
luận cũng như thực tiễn
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đềtài
Trước năm 1988, hoạt động của Luật sư - Người bào chữa trong tố tụng hình sựgần như chưa được quan tâm, nghiên cứu Phải đến khi Pháp lệnh tổ chức Luật
sư năm 1987 và Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 có hiệu lực thihành thì mới có một số rất ít những công trình khoa học hay các bài viết, chuyên
đề nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này Sau khi Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 và Luật Luật sư năm 2006 có hiệu lực thi hành, nhất làtrong tiến trình cải cách tư pháp, thực tiễn đòi hỏi cần phải giải quyết, thì các vấn
đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, vai trò, hoạt động của Luật sư - Ngườibào chữa trong tố tụng hình sự mới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu một cách toàn diện Trong số các công trình nghiên cứu về vị trí, chức năng,hoạt động, địa vị pháp lý, vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự nói chung vàtrong cụ thể từng giai đoạn tố tụng hình sự nói riêng có thể kểđến:
- Đề tài tại nhánh 05 thuộc Chương trình khoa học cấp Nhà nướcmãsố
KX 04 giai đoạn 2001-2005:“Cải cách tổ chức và hoạt động Bổ trợ tư pháptrong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”,
do tiến sỹ Nguyên Văn Tuân - Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm đềtài
- Đề tài cấp Bộ năm 2005:“Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoànthiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam”do đồng chí Nguyễn Văn Thảo - Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ
Tư pháp làm chủ nhiệm đềtài
- Luận án tiến sỹ luật học:“Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hànhnghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam”của tác giả Phan Trung
Hoài năm2003
- Luận án tiến sỹ luật học:“Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bịcáo trong tố tụng hình sự”của tác giả Hoàng Thị Sơn, trường Đại học Luật
Hà Nội năm2003
Trang 9- Luận văn thạc sỹ luật học:“Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ởViệt Nam hiện nay”của tác giả Trần Thị Việt Hà, Khoa luật trường Đại học
quốc gia Hà Nội năm2015
- Luận văn thạc sỹ luật học:“Người bào chữa, Người bảo vệ quyền lợicho đương sự là trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái”của tác giả Nguyễn Thu Phương, Khoa luật trường Đại
học quốc gia Hà Nội năm2015
- Luậnvăn thạcsỹluậthọc:“Vaitrò của luậtsư -ngườibàochữa trongcác giaiđoạn xétxử sơthẩm vụánhìnhsựởViệtNam hiệnnay”của tác
giảNguyễnVănPhương,Khoaluậttrường Đạihọc quốc gia HàNộinăm2014
- Luậnvăn thạcsỹluậtcủa tác giả Phạm ThếHùng“Hoạtđộng củaLuậtsưtrong giai đoạn điềutravụánhìnhsự,từthực tiễn thànhphố HàNội”,
ViệnhànlâmkhoahọcxãhộiViệtNam-Họcviệnkhoahọcxãhộinăm2017
Vàmộtsố đề tài được đề cập dưới dạng bài viết, chuyên đề, ý kiến trong một sốcông trình nghiên cứu khoa học về TTHS; trong các Bình luận khoa học vềTTHS; trong một số Luận văn của một số tác giả nghiên cứu các vấn đề liênquan đến nội dung: Các qui định pháp lý và thực tế hoạt động của Luật sư trongTTHS ở Việt Nam nói chung và hoạt động của Luật sư trong giai đoạn khởi tốđiều tra hoặc giai đoạn xét xử vụ án Nhưng lại chưa có đề tài hay chuyên đề nàonghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, hoạt động và đại vịpháp lý của “Luật sư trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” Vì vậy, bằng Luận văn này, tác giả vớimong muốn được đề cập đến việc nghiên cứu chi tiết nội dung qui định của Phápluật về vị trí, vai trò, chức năng của Luật sư trong TTHS ở Việt Nam; khái quátđánh giá những bất cập, khó khăn phát sinh trong quá trình tác nghiệp của Luật
sư trong giai đoạn Truy tố vụ án hình sự từ thực tiễn địa bàn thành phố HàNội
Để nghiên cứu và thực hiện Luận văn“Luật sư trong giai đoạn truy tốtheo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn Thành phố Hà Nội”, tác giả đã
Trang 10tham khảo, kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học
đã được công bố trên đây
3.2 Nhiệm vụ nghiêncứu
Đểđạt được mụcđíchnghiêncứu nêutrên, Luận văncónhững nhiệmvụchủ yếu sau:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự tham giacủa Luật sưtrong giai đoạn truy tố vụ án hình sự như: Khái niệm giai đoạn Truy tố vụ ánhình sự; khái niệm Luật sư; vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sáttrong giai đoạn Truy tố vụ án hình sự; khái quát về địa vị pháp lý, vai trò vàhoạt động của Luật sư trong giai đoạn Truy tố vụ án hìnhsự;
- Nghiêncứunhữngquyđịnhvềbàochữatrongluậtnhânquyềnquốctế;
- Nghiên cứu về nghề Luật sư theo quy định của pháp luật ViệtNam;
- Đánh giá đúng thực tiễn hoạt động bào chữa của Luật sư trong TTHS
ở giai đoạn Truy tố vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thờigian 5 năm (từ 2012 -2017);
- Đưaranhữngkiếnnghị hoànthiệnphápluật TTHS.Đồngthời,đềxuất
cácgiảiphápnângcaohiệuquảhoạtđộngcủaLuậtsưtronggiaiđoạntruytố
4 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu
4.1 Đối tượng nghiêncứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định của Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Luật sư, nhằm khẳng định địa vị pháp lý của Luật sư trong tố
Trang 11tụng hình sự Việt Nam nói chung và giai đoạn Truy tố vụ án hình sự từ thực tiễnthành phố Hà Nội nói riêng Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò luật sư vớitưcách người bào chữa cho bị can trong giai đoạn truy tố.
4.2 Phạmvinghiêncứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò, chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của Luật sư với vai trò là người bào chữa trong giai đoạnTruy tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam gắn với địa bànthành phố Hà Nội
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động của Luật sư trong tronggiai đoạn Truy tố vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong 05 năm(2012-2017) và những văn bản quy phạm pháp luật về Luật sư và giai đoạn Truy
tố theo tố tụng hình sự trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
5.1 Phương phápluận
Luậnvănsử dụng các phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng, Chủnghĩa Duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lê nin,Tư tưởng Hồ Chí Minh; quanđiểm củaĐảngCộngSản ViệtNamvềNhà nướcvàPháp luật;vềcảicáchtưpháp
5.2 Phương pháp nghiêncứu
Luậnvănchủyếusửdụngcác phương phápkết hợpgiữalýluậnvàthực tiễn, phântích,tổnghợp, lịchsử,sosánh,phương pháphệthốnghóa,phương pháp logic, thốngkêkếthợp vớikhảosátthựctế,phương pháp nghiên cứu tài liệu, bản án, hồ sơ vụ án,phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, phương pháp vụ việc điển hình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luậnvăn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luậncũng như thựctiễn
Trang 126.1 Vềý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận về sự tham gia của Luật
sư trong tố tụng hình sự nóichung, trong giai đoạn truy tố nói riêng
Ngoài ra, Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho không chỉ các nhà lập pháp màcòn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật Kết quả nghiên cứucủa luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho cáccán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán đang công tác tại các Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đượckhách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Kết cấu của luậnvăn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về luật sư trong giai đoạn truy tố
Chương 2: Thực tiễn hoạt động của Luật sư trong giai đoạn truy tố tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của luật sư trong giai đoạn truy tố
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1.1 Lý luận về Luật sư trong giai đoạn Truytố
1.1.1 Khái niệm giai đoạn truy tố trong tố tụng hìnhsự
Tố tụng hình sự là toàn bộ những hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
và cá nhân có liên quan nhằm tham gia vào việc giải quyết đúng đắn, đảm bảo sựthật khách quan, không bỏ lọt tộiphạm
Giai đoạn tố tụng là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc mộtnhiệm vụ tố tụng Để giải quyết một vụ án hình sự một cách chính xác, kháchquan, đầy đủ và toàn diện thì yêu cầu một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giaiđoạn tố tụng Mỗi giai đoạn tố tụng đều phải có mối liên hệ mật thiết với nhau vàtruy tố là một trong năm giai đoạn của tố tụng hình sự bao gồm: khởi tố, điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án và giai đoạn thủ tục đặc biệt xem xét lại bản án/quyếtđịnh có hiệu lực phápluật
Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó VKS tiến hành các hoạt độngcần thiết nhằm truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng hoặc ranhữngquyếtđịnhtốtụng khácđểgiải quyếtđúng đắnvụ ánhình sự.Giaiđoạntruytốđượcbắt đầutừ khiViệnkiểm sát nhậnđượccác tàiliệucủavụánhìnhsự(baogồmcảkếtluận điềutravà đềnghịtruytố)doCơquan điềutrachuyểnđếnvàkếtthúcbằngviệcViệnkiểmsátramộttrongbaloạiquyếtđịnhsau:TruytốbịcantrướcTòaánbằngbảncáotrạng(kếtluậnvềtộitrạng),trảlạihồsơđểđiềutrabổsung,đìnhchỉhaytạmđìnhchỉvụánhìnhsự
Về mặt bản chất, truy tố là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự,giai đoạn truy tố về hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luậtđịnh kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tốtụngmàcơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm choc á c
Trang 14quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứutrách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật Hay nói cách khácthì giai đoạn truy tố được thực hiện trên cơ sở kết thúc điều tra và đề nghị truy tốcủa cơ quan điều tra, trên cơ sở đó Viện Kiểm sát – cơ quan thực hiện truy tố vụ
án hình sự sẽ tiến hành các hoạt động chứng minh tiếp theo nhằm làm rõ sự thựckhách quan của vụ án, sau đó quyết định vụ án bằng một trong các trường hợpsau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại
hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hìnhsự
1.1.2 Đặc điểm của giai đoạn truy tố trong tố tụng hìnhsự
Giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự với tính chất là một bước của qúa trìnhtiến hành tố tụng nên nhất thiết phải có những đặc điểm chung cơ bản và bắtbuộc nhưsau:
Thứ nhất, về thời gian của giai đoạn truy tố:
Như đã nêu ở phần 1.1.1, giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự được tính từ khiViện Kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố của cơquan điều tra cho đến khi Viện Kiểm sát ra quyết định tố tụng thuộc một trongbốn trường hợp: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tộitrạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hìnhsự
Thời hạnquyếtđịnh việc truytốđượcquyđịnh tại Điều 240BLTTHS,cụ
thểlàthờihạntruytốđượctính:“Trong thờihạn20ngàyđốivớitội phạmítnghiêm trọngvàtội phạm nghiêm trọng,30 ngày đốivớitộiphạmrấtnghiêmtrọngvà tộiphạmđặcbiệt nghiêm trọngkểtừngàynhậnhồ sơvụánvà bảnkếtluậnđiều tra”.Trườnghợpcần thiết, Viện trưởng Việnkiểm sát có thể giahạn thời
hạnquyếtđịnhviệc truytốnhưng không quá10ngàyđốivớitộiphạmítnghiêmtrọngvà tội phạmnghiêm trọng, khôngquá 15ngàyđốivớitộiphạm rất nghiêmtrọng, khôngquá30ngàyđối với tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng
Trang 15Thứ hai, chủ thể tiến hành tố tụng duy nhất trong giai đoạn truy tố là Viện kiểm
sát, khác với các giai đoạn tố tụng khác có nhiều chủ thể tiến hành tố tụng
Tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhândân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân
là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Trong đó “Thực hành quyền công tố là hoạtđộng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộctội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” – Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức ViệnKiểm sát nhân dân Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong hai chứcnăng hiến định Viện kiểm sát nhân dân Thẩm quyền truy tố của Viện Kiểm sátđược quy định cụ thể tại Điều 239 BLTTHS2015
So với các giai đoạn khác thì ở giai đoạn truy tố Viện Kiểm sát là cơ quan duynhất tiến hành tố tụng còn trong các giai đoạn khác, chủ thể tiến hành tố tụng cóthể là một hoặc nhiều cơ quan, ví dụ: Trong giai đoạn khởi tố thì chủ thể tiếnhành tố tụng có thể là cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử(Điều 153 BLTTHS 2015)
Ngoài ra có người tham gia tố tụng như bị can, đương sự có quyền và lợi ích liênquan, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự;
Thứ ba,về hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng:
Trong giai đoạn truy tố, hồ sơ vụ án đã hoàn chỉnh mà Cơ quan điều tra thấyrằng đủ để truy tố bị can ra trước Tòa án Tuy nhiên, để có đủ cơ sở và đảm bảoviệc truy tố, trong giia đoạn này VKS cần nghiên cứu xem xét tất cả những vấn
đề mang tính thủ tục tố tụng cũng như những vấn đề thuộc về nội dung vụ án thểhiện qua hồ sơ điều tra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án
Trang 16có tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự không, có cònnhững hạn chế và thiếu sót nào cần khắc phục hay không để kịp thời ra các quyếtđịnh tố tụng cần thiết nhằm bổ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những viphạm pháp luật của cơ quan điều tra, đảm bảo quyết định truy tố bị can đúngđắn, chính xác, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tòa án xét xử, đảm bảo lợi íchnhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng củacông dân Viện Kiểm sát khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cần phải xác định các vấn
đề như: Vụ ánmàcơ quan điều tra đề nghị truy tố có thuộc thẩm quyền của việnkiểm sát cáp minh hay không? Nếu không thuộc thẩm quyền truy tố của cấpmình thì phải đề nghị viện trưởng VKS chuyển cho VKS có thẩm quyền; Có cầnphải cáp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không? Việc điều tra
đã đầy đủ, đã hoàn toàn tuân thủ pháp luật cũng như các nguyên tắc của tố tụngchưa? Có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung không? Có căn cứ để ra các quyếtđịnh tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hay không? Đã có đủ căn cứ để làm quyếtđịnh truy tố bị canchưa?
Việc xác định cụ thể những vấn đề nêu trên để đảm bảo khi ra bất cứ quyết định
tố tụng nào trong giai đoạn truy tố thì các quyết định đó phải có căn cứ và hợppháp, tránh tình trạng quá chú trọng đến việc xác định những vấn đề cần thiết đểlàm quyết định truy tố mà bỏ qua không xem xét đến các vấn để khác của vụ ándẫn đến việc không đảm bảo được các điều kiện cho tòa án xét xử cũng như ảnhhưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của bị can, đồng thời cũng hạn chế đượctình trạng sau khi đã chuyển cáo trạng cùng hồ sơ vụ án sang cho tòa án lại bị trảlại vì không đủ căn cứ để quyết định đưa vụ án ra xétxử
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác định các vấn đề quan trọng nêu trên, VKSnếu xét thấy cần thiết thì căn cứ theo Điều 236 BLTTHS có những hoạt độngnhư :Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác;Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan
Trang 17đến vụ án trong trường hợp cần thiết; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điềutra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khiTòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho
Cơ quan điều tra; Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sungquyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạmtội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra; Quyết định trả
hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung; Quyết định tách, nhập
vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, ápdụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạntruy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Quyếtđịnh truy tố; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạmđình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ
án đối với bịcan
Thứ tư, về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng:
Trong giai đoạn truy tố, chủ thể tham gia tố tụng không chỉ là cơ quan tiến hành
tố tụng mà còn có những người tham gia tố tụng, bao gồm bị can, người bàochữa, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Trong giai đoạn này, ngườitham gia tố tụng có các quyền và nghĩa vụ cụ thể như sau: Quyền thu thập chứng
cứ của bị can, của người bào chữa; Quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ; Quyền khiếunại đối với hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; Quyền đưa ra những
đề nghị, yêu cầu
Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là một bước phát triển quantrọng của ngành luật tố tụng hình sự ở nước ta, đã khắc phục được những thiếusót quan trọng của BLTTHS 2003 đối với việc bảo đảm quyền của người bị bắt,
bị tạm giữ, bị can, bị cáo và đặc biệt bổ sung những quy định mới nhằm tạo điềukiện thuận lợi hơn đối với người bào chữa thực hiệntốtviệcbàochữa,gỡtộigópphầncùngHộiđồngxétxửgiảiquyếtđúngđắn
Trang 18vụ án Với những sửa đổi, bổ sung quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ, việcthu thập chứng cứ của người bào chữa, đã thể hiện sự dân chủ hơn trong quátrình giải quyết các vụ án hình sự, vừa tạo điều kiện tốt hơn để các cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, nhất là người bàochữa thực hiện đầy đủ hơn, thực chất hơn và có hiệu quả hơn các quy định phápluật tố tụng Rất nhiều điều luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng chi tiết hơnliên quan đến thu thập chứng cứ, như: Quyền thu thập và đưa ra chứng cứ củangười bào chữa; phương thức thu thập chứng cứ của người bào chữa; nghĩa vụcung cấp chứng cứ, tài liệu kịp thời cho các cơ quan tiến hành tố tụng và ngườitiến hành tố tụng, quyền của người bào chữa được tham dự trong các buổi hỏicung bị can và quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành
tố tụng thực hiện một số hoạt động để làm sáng tỏ thêm chứng cứ vụ án như yêucầu đối chất, nhận dạng, xem xét các dấu vết trên thân thể, trưng cầu giámđịnh… Với các quy định trên, nhà làm luật hy vọng rằng quá trình giải quyết các
vụ án hình sự được tiến hành nhanh chóng, khách quan, dân chủ và đúng phápluật, không làm oan người không phạm tội, góp phần bảo vệ pháp chế xã hộichủnghĩa
Cụ thể, một số quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến việc thu thậpchứng cứ của người bào chữa, như sau: Được thu thập, đưa ra chứng cứ (Điểm hkhoản 1 Điều 73); Có quyền gặp ngườimàmình bào chữa, bị hại, người làmchứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về nhữngvấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,
đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa (khoản 2 Điều 88) Việc quyđịnh về quyền cho người bào chữa được gặp gỡ, trao đổi với bị can, thu thậpchứng cứ, có mặt trong các buổi hỏi cung bị can, khiếu nại, đưa ra yêu cầu đốivới các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố có ýnghĩa vô cùng quan trong trọng, góp phần để việc truy tố được khách quan, toàndiện và đầyđủ
Trang 19Thứ năm, đặc điểm trong các quyết định tố tụng của Viện kiểm sát trong bối cảnh
trong giai đoạn điều tra đã có Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra Hoạt động kiểm sát điều tra do Kiểm sát viên VKSthực hiện trong suốt quá trình tiến hành tố tụng Trong quá trình điều tra vụ án,Kiểm sát viên thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật Tuy nhiêntrong giai đoạn truy tố, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu nhận thấy vụ án cònnhiều điểm mâu thuẫn, chưa được làm rõ hoặc phát hiện vi phạm thì Kiểm sát viên
có quyền trả hồ sơ, yêu cầu cơ quan điều tra điều tra lại Mặc dù Kiểm sát viênthực hiện việc giám sát nhưng đối với nhiều vụ phức tạp, nhiều tình tiết có sự thayđổi thì các quyết định tố tụng của Viện Kiểm sát phải có những quyết định tố tụngmang tính độc lập, không được bao che cho cơ quan điềutra
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước về vai trò của luật sư trong giai đoạn truy tố
1.2.1 Vai trò của Luật sư trong giai đoạn truytố
Trong tố tụng hình sự, chức năng gỡ tội luôn tồn tại độc lập và đối trọng vớichức năng buộc tội như một tất yếu khách quan, đặc biệt là trong giai đoạn truy
tố - giai đoạnmàviện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội rõ ràng nhất thôngqua các quyết định tố tụng Với bản chất dân chủ, pháp luật tố tụng hình sự củaNhà nước ta ghi nhận quyền được bào chữa (gỡ tội) của người bị buộc tội nhưmột nguyên tắc cơ bản Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệcông lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cánhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, vănminh
Luật sư có vai trò là người gỡ tội cho người bị buộc tội Người bị buộc tội theoquy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 4 BLTTHS bao gồm người bị bắt, người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo Điều 16 Bộ luật TTHS quy định: “Người bị
Trang 20tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Theo quy định của Điều 15 Bộ luật TTHS thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vàTòa án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cáchkhách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội vàchứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơquan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền, nhưng không có nghĩa vụ phảichứng minh là mình vô tội Khi người bị buộc tội nhờ đến luật sư, tức là ở họđang xuất hiện nhu cầu gỡ tộimàtự họ không thể thực hiệnđược
Trước tiên,tacần khẳng định rằng luậtsưlà ngườicó kiến thức khoahọc
trong linhvực pháplý,cósựhiểu biết sâusắcvà chính xác về pháplýđồngthời
là người có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp Luật sư là người chuyên hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, là nghề được pháp luật thừa nhận
Trong giai đoạn truy tố, với vai trò là người gỡ tội, hoạt động của luật
sư vừa mang tínhđôi trọnglạivớihoạtđôn g buộc tội của Kiểm sát viên đồngthời cũng mang tínhbổsung để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tránhs ự
oansaivàbuộctộikhôngđun g vớitôi trạng người phạm tội gây ra.
Chủ thể tham gia trong giai đoạn truy tố không chỉ có người bị buộc tội mà còn
có đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Cũng giống như người bịbuộc tội được tự mình hoặc nhờ người bào chữa thì theo quy định tại Điều 63,
64, 65 BLTTHS thì nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa
vụ liên quan có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho mình
Trang 21Như vậy, xét về vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự nói chung và giaiđoạn truy tố nói riêng được quyết định bởi nguyên tắc tôn trọng quyền bào chữacủa người bị buộc tội Với vai trò đó, vị trí của luật sư được xác định là ngườitham gia tố tụng, thực hiện chức năng gỡ tội với tư cách làngườibàochữa hoặcngườibảo vệquyềnvàlợi ích hợpphápcủađươngsự,góp phầnlàm rõsựthật khách
bảovệquyềnconngười,làmchoquátrìnhgiảiquyếtvụánhìnhsựđượckháchquan,toàndiện
phầnlàm minhbạ chhóahoạtđộngtốtun g, bảo vệ
pháp chế, bảo vệ công bằng xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn truytố
Cùng với các quy định về nguyên tắc và thủ tục để bảo đảm quyền bào chữa củangười bị buộc tội, BLTTHS còn có các quy định làm nền tảng cho luật sư thựchiện hoạt động bào chữa Trong đó, các quy định về bào chữa nói chung vàquyền, nghĩa vụ của người bào chữa nói riêng là căn cứ pháp lý quan trọng đểluật sư thực hiện hoạt động bào chữa Ví dụ: BLTTHS năm 2015 của Việt Namquy định về bào chữa tại chương V, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa tạiĐiều 73 Những quy định này được hình thành từ các nguyên tắc hiến định và làyếu tố cấu thành nên chế định người bào chữa trong tố tụng hìnhsự
Luật sư là một trong những người bào chữa được quy định tại Khoản 1 Điều 72BLTTHS Vì vậy, luật sư có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đượcquy định tại Khoản 1 Điều 73 BLTTHS, cụ thể là trong giai đoạn truy tố, luật sư
có các quyền như sau:
Luật sư không chỉ có quyền gặp và hỏi bị can trong giai đoạn điều tra mà luật sưtrên tư cách là người bào chữa có quyền gặp và hỏi bị can trong cả giai đoạn truy
Trang 22tố Quy định này là cơ chế đảm bảo cho người bào chữa thực hiện tốt nhất quyềnhạn của mình.
Trang 23Luật sư được quyền có mặt trong hoạt động lấy lời khai do VKS tiến hành; trongtrường hợp cần thiết luật sư có quyền được thì tham gia hỏi; Có mặt trong cáchoạt động điều tra khác như đối chất.
Theo BLTTHS 2003, trong các hoạt động điều tra người bào chữa chỉ được cómặt và được Cơ quan điều tra báo trước thời gian, địa điểm trong hoạt động lấylời khai người tạm giữ, hỏi cung bị can, nếu muốn tham gia vào hoạt động điềutra khác phải được Điều tra viên đồng ý Tuy nhiên, BLTTHS 2015 cho phépngoài việc được có mặt trong hoạt động lấy lời khai người bịbắt,bịtạmgiữ,hỏicungbịcan,ngườibàochữacònđượccómặttronghoạt
đôngđốichất,nhậndạng,nhậnbiếtgiọngnói vàcáchoạtđộngđiềutrakhác
và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địađiểm khi tiến hành các hoạt động này Quy định mới này có ý nghĩa hết sức quantrọng, người bào chữa có thể chủ động sắp xếp thời gian để thực hiện quyền củamình Khi có mặt người bào chữa, người bị buộc tội sẽ ổn định hơn về mặt tâm
lý, những người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra cần phải thậntrọng, tuân thủ pháp luật hơn Bên cạnh đó, người bào chữa có thể theo dõi đượcquá trình điều tra, việc thu thập chứng cứ, điều đó có ý nghĩa rất lớn về tínhkhách quan của hoạt động tố tụng đồng thời đảm bảo tốt cho việc đưa ra ýkiếnchuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiêntòa.Luật sư được quyền đề nghị VKS tiến hành các hoạt động tố tụng; thu thậpchứng cứ; giám định lại, giám định bổ sung; định giá lại tài sản Khi thấychứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa đủ để làm sáng tỏ sự thật khách quan hoặc việcgiám định, định giá không khách quan, toàn diện, luật sư có quyền đề nghị cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung,giám định lại, định giá lại tài sản hoặc các hoạt động tố tụng khác như áp dụngbiện pháp ngăn chặn kịpthời
Trang 24Luật sư được quyền tự mình thu thập chứng cứ; đưa ra các tài liệu, chứng cứ.Muốn bào chữa tốt cho thân chủ của mình, người bào chữa không chỉ dựa vàonhững chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được, điều này sẽ ảnhhưởng đến kết quả điều tra Do đó, quy định mới này đã phá bỏ sự độc quyềncủa các cơ quan tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, bảo đảm sự công bằngtrong quá trình chứng minh, tăng cường tranh tụng, phù hợp với yêu cầu của cảicách tư pháp và Hiến pháp năm 2013 đồng thời nâng cao được hiệu quả trongquá trình thu thập chứng cứ Nhằm đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ, bộ luật
tố tụng hình sự hiện nay cho phép người bào chữa thu thập, đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật, yêu cầu Đồng thời, người bào chữa có thể kiểm tra, đánh giá vàtrình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩmquyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánhgiá
Trong giai đoạn truy tố, người bào chữa còn có quyền đưa ra các yêu cầu trongviệc triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng Đây hoàn toàn là một điểm mới về quyền của người bàochữa Bởi BLTTHS 2003 chỉ cho phép Điều tra viên và Kiểm sát viên đượcquyền triệu tập còn BLTTHS 2015 thì đã cho phép một chủ thể nữa là người bàochữa được quyền đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụngkhác, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng
Trong trường hợp nhận thấy các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành
tố tụng không đúng quy định của pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợppháp của bị can, người bị tạm giam, tạm giữ thì luật sư có quyền khiếu nại cácquyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, viện kiểm sát,kiểm sát viênmàcho là có vi phạm đến người đứng đầu cơ quan tiến hành tốtụngđó
Bên cạnh đó thì trên tư cách là người bào chữa có các nghĩa vụ sau:Luật sư phải sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ nhữngtình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ
Trang 25trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Các biện phápmàpháp luật quy định chongười bào chữa để thực hiện nhiệm vụ của mình là tham gia các cuộc hỏi cung,tham gia vào hoạt động điều tra khác, gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,người thân thích của những người này để thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiếtliên quan đến việc bào chữa hoặc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đếnviệc bào chữa từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Người bào chữakhông được sử dụng các biện pháp bào chữa trái pháp luật như mua chuộc, dụ dỗngười làm chứng, người bị hại, người tiến hành tốtụng
Việc giao tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa cho cơ quan điều tra, việnkiểm sát, tòa án là trách nhiệm của người bào chữa Pháp luật ghi nhận ngườibào chữa có quyền thu thập các đồ vật, tài liệu liên quan đến việc bào chữa nhằmtạo điều kiện cho người bào chữa hoàn thành nhiệm vụ của mình là bào chữa,bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứkhông phải thu thập các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án nhằm mục đích riêngnào khác của người bào chữa, bởi vậy, khi thu thập được các tài liệu, đồ vật liênquan đến vụ án người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan tiến hành tốtụng Tùy từng giai đoạn tố tụng, những tài liệu, đồ vật đó sẽ được giao cho cơquan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đógiữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản
Luật sư có nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Nghĩa vụ của người bào chữa trong tốtụng hình sự không chỉ nhằm bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bịcáomàvới tư cách là người hiểu biết pháp luật họ còn phải giúp người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của họ như tưvấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ thực hiện tốtnhất
Trang 26các quyền của mình trong tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
họ Ví dụ, khi điều tra viên có những hành vi xâm hại một cách trái pháp luật tớiquyền và lợi ích hợp pháp của bị can, người bào chữa có thể giúp bị can khiếunại với hành vi trái pháp luật đó của điều tra viên
Luật sư không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bịcáomàmình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng Luật sư phảitôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giụcngười khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật Khi tham gia tố tụng
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngườibào chữa có nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật Họ chỉ được sử dụng cácbiện pháp hợp pháp để thực hiện việc bào chữa, không được bóp méo sự thậtcủa vụ án, biến không thành có, biến có thành không; họ phải tôn trọng và triệt
để tuân thủ các quy định của pháp luật và không được mua chuộc, cưỡng éphoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp các tài liệu sai sự thật chocác cơ quan tiến hành tốtụng
Luật sư không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việcbào chữa, không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ ánvào mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức và cá nhân Trong quá trình tham dự các hoạt động điều tra, ngườibào chữa có thể biết được những bí mật điều tra, người bào chữa không được tiết
lộ những bí mật điều tra mà mình biết Sau khi kết thúc điều tra, người bào chữa
có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quanđến việc bào chữa, họ chỉ được phép sử dụng những tài liệu, tình tiết đó cho mụcđích bào chữa cho bị can, bị cáo mà không được sử dụng vào mục đích xâmphạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cánhân Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biếtkhi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sửdụng thông tin đó vào mục đích xâm
Trang 27phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Ngoài việc quy định nghĩa vụ cuả người bào chữa, tại khoản 3 Điều 73BLTTHS năm 2015 còn quy định quyền, trách nhiệm của người bào chữa khi
“làm trái pháp luật”, cụ thể là: “Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tínhchất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xửphạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hạiphải bồi thường theo quy định của luật”
1.2.3 Các hoạt động tố tụng của Luật sư trong giai đoạn truytố
Hoạtđộng bàochữacủaluậtsưđược thực hiện trong các giai đoạntốtụngkhácnhau,từkhởitố,điều tra, truytốđếnxét xử,thihànhán.Trongđó,truytốlàgiaiđoạntrungtâm của quátrìnhgiảiquyếtvụán hình sự.Trong giai đoạn này,Việnkiểm sátvới tưcáchlàcơquantiếnhànhtốtụng thực hiện côngviệc xétxửvụ án,giảiquyết nhữngvấnđề vềbản chấtvụánxácđịnhbịcancótộihaykhôngcótộivàđềxuấtviệcáp dụnghìnhphạt đốivới ngườiphạm tội.Các hoạt độngtốtụngtrướcđóchỉlànhững hoạt động nhằmtạođiều kiện cho việctruytố bịcanratrước
trongquátrìnhtốtụngđểquyếtđịnhcóđưavụán,bịcanraxétxửhaykhông
Trên thực tế, việc truy tố có được chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó cóhoạt động điều tra vụ án hình sự Sự tham gia của luật sư từ giai đoạn điều tra vụ
án hình sự có vị trí quan trọng trong giai đoạn truy tố, nên khi tham gia vào giaiđoạn này luật sư cần có những kỹ năng – những cách thức, phương pháp làmviệc sao cho vừa bảo đảm đúng các quy định của pháp luật, phù hợp với từngtrường hợp cụ thể vừa tạo ra những điều kiện để hoạt động của Luật sư đạt hiệuquả cao nhất Cụ thể, những nội dung đó thể hiện ở các hoạt độngsau:
Trang 28- Hoạt động tham gia hỏi cung bị can, người bị tạm giữ và các hoạtđộng điều tra khác trong vụ án
Lời khai là nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự Việc tham
dự cuộc lấy lời khai, hỏi cung giúp luật sư nắm được những thông tin, tình tiếtliên quan đến người mà mình bào chữa Hoạt động này góp phần phòng ngừahành vi vi phạm của người tiến hành tố tụng đồng thời, giúp cho người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo hiểu rõ được quyền, nghĩa vụ của mình; hỗ trợ họ về mặt tâm
lý để tự bảo vệ mình
Luật sư tham gia khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bịcan và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì đượchỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung củangười có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người
bị tạm giữ, bị can mặt khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì
có thể đặt câu hỏi đối với bị can
Trong giai đoạn truy tố, hoạt động điều tra chủ yếu của Viện kiểm sát là phúccung hoặc lấy lời khai bổ sung của người tham gia tố tụng Vì vậy, Luật sư cầnnghiên cứu kỹ bản kết luận điều tra, thường xuyên liên hệ với Kiểm sát viên đểnắm được kế hoạch hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát, sẵn sàng có mặt khiKiểm sát viên thực hiện việc phúc cung bị can; đồng thời đặt ra các vấn đề cầnthiết để đặt câu hỏi hoặc trao đổi với Kiểm sát viên trong quá trình truytố
- Hoạt động thu thập chứng cứ, tình tiết liên quan đến việc bào chữa
Trong quá trình tham gia bào chữa trong giai đoạn truy tố, nếu luật sư thấy cầnthiết phải thu thấp những tài liệu, chứng cứ để bảo vệ cho bị can thì tự luật sư cóthể đi thu thập và cung cấp cho Viện kiểm sát
Theo quy định của pháp luật thì những tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ
án được người bào chữa thu thập được có giá trị như những tàiliệuđồvật,tìnhtiếtdocơquanđiềutrathuthập.Vìvậy,việcluậtsưcókế
Trang 29hoạch chủ động “tự điều tra, thu thập chứng cứ là rất cần thiết” Khi cung cấpnhững tài liệu, đồ vật, tình tiết này cho Viện kiểm sát thì luật sư có quyền yêucầu Viện kiểm sát lập biên bản về việc cung cấp tài liệu đó Những tài liệu, đồvật này sẽ được coi là chứng cứ trong vụ án nếu nó phù hợp với quy định tại
Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:“Chứng cứ là những gì có thật, đượcthu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội
và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.”
Ngay sau khi thu thập được những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, luật sưcần cung cấp ngay cho Viện kiểm sát bởi trong nhiều trường hợp những tài liệu,
đồ vậtmàluật sư cung cấp có thể làm thay đổi toàn bộ nội dung vụ án (chứngminh bị can không phạm tội, thay đổi tội danh đối với bị can) hoặc là căn cứ đểViện kiểm sát có thể ra những quyết định có lợi cho thân chủ của mình nhưquyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang các biện pháp ngănchặn khác, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án…
- Hoạt động kiến nghị, đề xuất với Viện kiểm sát
Ngay sau khi đã nắm được cơ bản về nội dung vụ án, luật sư cần có những kiếnnghị, đề xuất với Viện kiểm sát để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thânchủ Có hai phương thức để luật sư kiến nghị, đề xuất với cơ quan điều tra: Thứnhất là đề xuất kiến nghị trực tiếp và bằng lời nói Trong trường hợp này, luật sưcần hẹn lịch gặp Kiểm sát viên tại trụ sở cơ quan điều tra và trong buổi làm việcnày, luật sư cần đề nghị Kiểm sát viên lập biên bản về nội dung buổi làm việc;Thứ hai, đề xuất, kiến nghị với Viện Kiểm sát bằng văn bản Với phương thứcnày, luật sư cần trình bày chính xác và rõ ràng đề xuất, kiến nghị của mình vàkhi gửi tài liệu đi luật sư cần đề nghị Viện Kiểm sát viết giấy biên nhận (nếu
hoặcgiữlạiphiếugửi(nếuchuyểnquađườngbưuđiện).Dùlàđềxuất,kiến
Trang 30nghị với Kiểm sát viên bằng phương thức nào đi chăng nữa thì Luật sư cũng cần
đề nghị Kiểm sát viên đưa văn bản đó vào hồ sơ và coi nó như một tài liệu trong
hồ sơ vụán
Khi luật sư thấy có những căn cứ là điều kiện để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ
án thay đổi tội danh đối với thân chủ của mình thì luật sư cần kịp thời có đơnkiến nghị gửi đến Viện kiểm sát yêu cầu họ thực hiện
Trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, người bào chữa nhậnthấy khách hàng của mình có những điều kiện để có thể được áp dụng biện phápngăn chặn khác không phải là biện pháp tạm giam thì người bào chữa viết đơn
đề nghị viện kiểm sát để cho bị can được tại ngoại hoặc hướng dẫn người nhàcủa bị can viết đơn bảo lãnh cho họ Trong trường hợp cần thiết, luật sư có thểđứng ra bảo lãnh cho thân chủ củamình
Như vậy, trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn truy tố thì tùy từng vụánmàluật sư – người bào chữa linh động áp dụng các biện phápmàpháp luậtkhông cấm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can Tuy nhiên, để việctham gia của luật sư – người bào chữa từ giai đoạn truy tố thực sự có hiệu quảthì không những bản thân luật sư – người bào chữa có trình độ chuyên môn,nghiệp vụ giỏimàviện kiểm sát cũng cần phải có nhận thức đúng đắn về sự thamgia của luật sư – người bào chữa trong vụ án hình sự từ đó tạo ra những điềukiện tốt nhất để luật sư – người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình
- Hoạt động khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của điều tra viên,kiểm sát viên
Trong quá trình tham gia bào chữa ở giai đoạn truy tố, nếu luật sư phát hiện ranhững hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình giảiquyết vụ ánmàtrái quy định của pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợppháp của thân chủ thì luật sư với tư cách là người bào chữa củathânchủtiếnhànhkhiếunạiđốivớicáchànhvi,quyếtđịnhđó.Đâylàhoạt
Trang 31động vô cùng quan trọng để việc giải quyết vụ án được khách quan và đúng với quy định của pháp luật.
Khi trao đổi với bị can Luật sư cần hỏi xem họ đã được Kiểm sát viên giao cácquyết định tố tụng có liên quan hay chưa? Đã được Kiểm sát viên giải thích đầy
đủ các quyền và nghĩa vụ của bị can hay chưa? Có bị Kiểm sát viên đặt các câuhỏi mớm cung hay không? Có bị Kiểm sát viên bức cung hoặc dùng nhục hìnhhay không khi lấy lời khai, hỏi cung không? Bị can có được ký vào mỗi trangcủa biên bản hỏi cung mình hay không? Có ký vào sát dòng cuối cùng của biênbản hay không? Trong nhiều trường hợp bị can chỉ ký vào trang cuối cùng củabản cung lại không sát vào dòng cuối cùng của trang nên sau này điều tra viên cóthể viết thêm những nội dung bất lợi cho họ vào phần đầu của bản cung hoặcphần trống được tạo ra khi bị can ký không sát vào dòng cuốicùng
Đối với bị can là người chưa thành niên, luật sư cần hỏi rõ xem họ có ngườigiám hộ không? Người giám hộ của họ có mặt khi hỏi cung họ và có được kývào các biên bản hỏi cung đó không bởi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự thì khi hỏi cung người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặctinh thần thì phải có người giám hộ của họ và người giám hộ này được quyền kývào các biên bảncung
Khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, luật sư cần chú ý đến ngày thángnăm của các biên bản xem chúng có trùng lặp hoặc mâu thuẫn nhau về mặt thờigian hay không? Trong nhiều vụ án, trong cùng một thời gian, địa điểmmàmộtđiều tra viên lại có thể hỏi cung nhiều bị can khác nhau, thậm chí tại nhiều địađiểm khác nhau Điều đó chứng tỏ những bản cung đó là do Điều tra viên, Kiểmsát viên tự viết bản cung và người bị tạm giữ, bị can phải ký vào Việc làm nàycủa điều tra viên sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính khách quan của hồ sơ
sơ,luậtsưcũngcầnchúýtớiphầntẩyxóacủabảncung.Vềnguyêntắckhi
Trang 32tẩy xóa các ký tự trong bản cung thì phải có chữ ký xác nhận của người bị tạmgiữ, bị can vào bản cung đó Nếu bản cung bị tẩy xóa mà không có chữ ký củangười bị tạm giữ, bị can thì đó là sự vi phạm thủ tục tố tụng Trong nhiều trườnghợp đây là căn cứ để viện kiểm sát hoặc tòa án yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổsung.
Ngay sau khi phát hiện ra những sai phạm của Điều tra viên, Kiểm sát viên luật
sư cần gặp trực tiếp để trao đổi với Kiểm sát viên (yêu cầu lập biên bản về buổilàm việc này) Trong trường hợp cần thiết, luật sư gửi văn bản đến thủ trưởng cơquan điều tra cấp trên hoặc viện kiểm sát để thông báo về sai phạm của Điều traviên, Kiểm sátviên
1.3 Luật sư trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự một sốnước
1.3.1 Luật sư trong giai đoạn truy tố theo pháp luật tố tụng hình sựcủa Liên BangNga
Pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga với sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2001 (có hiệu lực ngày 01/7/2002 thay thế cho Bộ luật tố tụng hình sựnăm 1960 thời Xô viết) đã đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc trong nền tư pháp Nga
Bộ luật năm 2001 đã thiết lập mộtmôhình tư pháp hình sự trên cơ sở các nguyêntắc mang tính dân chủ và pháp quyền không chỉ bảo đảm tính hiệu quả của các
cơ quan thực thi pháp luậtmàcòn bảo đảm các quyền tự do dân chủ, nâng cao vaitrò của Luậtsư
Theo Bộ luật năm 2001, Viện kiểm sát Nga có 3 chức năng trong lĩnh vực hình
sự, đó là: Điều tra tội phạm; giám sát việc điều tra của các cơ quan điều tra và
thực hành quyền công tố trước Tòa (Trích TỐ TỤNG HÌNH SỰ ỞNGA - Tác giả: William Burnham, Giáo sư Luật học) [3] Do thẩm quyền của Viện kiểm sát
bao trùm toàn bộ tiến trình điều tra tiền xét xử nên các luật sư biện hộ ở thời Xôviết không có vai trò gì trong giai đoạn tiền xét xử và trên thực tế, họ chỉ có thểkiểm tra hồ sơ vụ án sau khi việc điều tra đã hoàn tất
Trang 33Tại phiên tòa, sự có mặt của người bào chữa chỉ mang tính hình thức.Thamgia với vai trò bào chữa cũng có thể là các thành viên trong giađìnhh o ặ c c á n bộ của liên đoàn lao động Họ chỉ cố gắng chỉ ra những saisót trong quá trìnhtiến hành tố tụng, làm giảm tính nghiêm khắc của bản án
hoặc trì hoãn xét xử.Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, luật sư biện hộ được có thêm một số quyềntrong giai đoạn tiền xét xử như: quyền được tham gia vào một số hoạt động điềutra liên quan đến bị cáo như thẩm vấn, quyền kiến nghị với Điều tra viên tiếpnhận những chứng cứ đảm bảo cho việc biện hộ và đệ trình các vấn đề còn chưa
rõ lên chuyên gia pháp y và những nhà chuyên gia trong lĩnh vực khác mặc dùĐiều tra viên có thể từ chối những yêu cầu này Bộ luật năm 2001 đã quy định
về luật sư biện hộ trên toàn nước Nga phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đángchú ý nhất là sự bình đẳng giữa luật sư biện hộ với bên công tố trong tố tụnghìnhsựcũng như các điều kiện bảo đảm cho luật sư thực hiện các quyền của mìnhnhư được xuất trình chứng cử tại phiên xét xử sơ bộ hoặc vào thời điểm khaimạc phiên tòa Tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự của Liên Bang Nga năm
2001 khẳng định: “Mọi người bịbắthoặc tạm giữ và bị can trong vụ án hình sự
có quyền sử dụng sự trợ giúp từ một người bào chữa (người gỡ tội) từ khi bị bắt,
bị tạm giữ hoặc khi có quyết định khởi tố (tùy theo trường hợp nào đến trước)”
Và hoạt động điều tra gỡ tội của luật sư là độc lập Bộ luật năm 2001 cho phépluật sư tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra sơ bộ
[4] (Trích Bộ luật tố tụnghình sự Liên Bang Nga năm2001
http://www.consultant.ru/cons/cgi/online.cgi?
base=LAW&n=296538&dst=4294967295&req=doc&rnd=15E65BD161D1 22B4C1C944889DA94B6
7#07911947311435212) , quy định tại điều 53(1) và 86(3), theo đó: Luật sư bào
chữa có quyền thu thập chứng cứ bằng cách: có được đồ vật, tài liệu hay thôngtin khác; lấy lời khai một người nếu người đó đồng ý; và yêu cầu các cơ quanchính phủ, chính quyền tự trị địa phương, tổ chức phi chính phủ cung
Trang 34cấp (bảo sao) khế ước, tài liệu tham khảo hay các tài liệu khác Quyền thẩm trachứng cứ được giao cho phía công tố: Điều tra viên, nhân viên điều tra hay Công
tố viên…Phía luật sư bào chữa có quyền tham gia việc thẩm tra chứng cứ.Quyền này được hiện thực hóa bởi gửi đề yêu cầu, việc đưa ra các tài liệu, chứng
cứ bổ sung,v.v…
Nước Nga có nhiều luật sư giỏi và nhiều kinh nghiệm, là người có thể sử dụngtối đa các quyền năng quy định trong Bộ luật để bảo về thân chủ của họ và đảmbảo một phiên tòa công bằng Tuy nhiên cũng còn nhiều luật sư không có thếmạnh trong hoạt động điều tra gỡ tộimàđáng ra họ phải có Thực tế tại các phiêntòa xét xử cũng cho thấy nhiều luật sư, phầnlớnlà luật sư chỉ định, đã không thểkhai thác được hết quyền năng theo luật để tận dụng các cơ hội tiến hành cáchoạt động điều tra gỡ tội cho thân chủ và chuẩn bị tốt cho một phiên tòa, thậmchí là cơ hội sơ đẳng nhất Họ đến phiên tòamàt r ư ớ c đ ó k h ô n g h ề c ó
b u ổ i t r a o đ ổ i v ớ i t h â n c h ủ , k h ô n g t i ế n h à n h b ấ t k ỳ
h o ạ t đ ộ n g đ i ề u t r a n à o t r o n g g i a i đ o ạ n đ i ề u t r a s ơ
b ộ , t h ậ m c h í đ ô i k h i k h ô n g đ ọ c h ồ s ơ v ụ án
1.3.2 Luật sư trong giai đoạn truy tố theo pháp luật hình sự HoaKỳ
Khác với hệ thống pháp luật Nga thì pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ chủ yếu
sử dụng án lệ, tuy nhiên tất cả thủ tục tố tụng đều phải tuân thủ nguyên tắc về tốtụng hình sự của liên bang, của các bang, các nguyên tắc và quy định của các cơquan Bộ Tư pháp và trên cơ sở quy định của Hiến pháp HoaKỳ,Luật nhân quyền,Hiến pháp các tiểu bang, tổng luật HoaKỳ,các đạo luật của các bang, các quyếtđịnh của các Tòa án, nhất là các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền củacôngdân
Phương pháp tố tụng được sử dụng trong toàn bộ quá trình giải quyết
vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sựHoaKỳ là phương pháp đối tụng
(trích“Khái quát hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ”, 2001, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội).LuậtsưvàCôngtốviêncóquyềnbìnhđẳngtrongviệcthuthậpvà
Trang 35đưa ra chứng cứ Trong pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ thì luật sư không cóquyền tham gia vào giai đoạn điều tra, sự tham gia của họ chỉ bắt đầu từ giaiđoạn bắt giữ bằng quyết định phê chuẩn lệnh bắt của tòa án Sự có mặt của họ làbắt buộc trong mọi giai đoạn xét xử tại tòa án Ở giai đoạn tiền xét xử, luật sư vàcông tố viên có quyền điều tra như nhau Do đó, luật sư có quyền thu thập chứng
cứ, phỏng vấn nhân chứng và tự lập hồ sơ hình sự riêng phục vụ mục đích bàochữa của mình Việc điều tra có thể thực hiện bằng cách rà soát các tài liệu tìmhiểu thông tin; thẩm vấn tự nguyện các nhân chứng chính phủ và nhân chứngbào chữa; thuê giám định viên Trong giai đoạn tiền xét xử, luật sư cũng cóquyền đàm phán việc nhận tội; thông báo cho công tố viên về các lý do bào chữatrước khi xét xử (chứng cứ ngoại phạm, tình trạng tâm thần…); tìm cách cho bịcáo được tại ngoại Luật sư cũng có quyền yêu cầu công tố viên phải trao đổithông tin, chứng cứ và hồ sơ hình sự của mình cho họ, nếu không họ có quyềnkiện ra tòaán
1.3.3 Luật sư trong giai đoạn truy tố trong pháp luật tố tụng hình sựTrungQuốc
Môhìnhtốtụng hìnhsựcủaTrung Quốc phân chia các giai đoạntốtụngmột cáchrõrệt:giai đoạn điều tra, giai đoạn truytố vàgiai đoạnxétxử Trong giai đoạn điều tra,truytốchỉxuất hiệnhaichức năng,đó làchức năngbuộctộivàchức năng bàochữa.Chủthểchínhthựchiện chức năng buộctộitrong giai đoạnnàylàCơquan điềutravàViệnkiểmsát(cụthểlàĐiềutraviênvàKiểmsátviên),cònchủ thể thực hiệnchứcnăng bàochữalàngườibịtình nghi phạmtội, bịcanvàngười bàochữa.Tuynhiên, trong giai đoạnnày chức năng buộc tộicó vai trònổi trộivìtố tụng hìnhsựTrung Quốcnhấnmạnhvàohoạt động điều tra,thuthập chứng cứcủa cơquan cônganvớisựthamgiatích cựccủaViệnkiểm sát-cơquan giámsáthoạtđộngđiềutra.Kếtquảđiềutrađượclưugiữvàphảnánhtronghồ sơ vụán, làm cơsởchoViệnkiểmsátquyếtđịnhtruytố bịcanra tòa vàbuộc tộitạiphiên tòa;là cơ sởđểTòaánxétxửvàcũnglà cơsởđểngườibàochữa thực hiện chức năngbàochữa
Trang 36Trong đoạn điều tra, truy tố, chức năng bào chữa của luật sư có vai trò hạn chế.Luật sư chỉ thực hiện được chức năng bào chữa của mình sau lần thẩm vấn đầutiên; người bào chữa bị hạn chế trong việc tư vấn, kiến nghị hay khiếu nại thaymặt người bị tình nghi, họ chi được khuyên một cách chung chung về vụ án, vềquyền của người bị tình nghi và không thể trợ giúp pháp lý cho người bị tìnhnghi trong việc chuẩn bị bào chữa Thậm chí, chức năng bào chữa không đượcthực hiện một cách độc lập vì Luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định cho Cơquan điều tra có thể có mặt trong bất cứ cuộc tiếp xúc nào giữa người bị tìnhnghi với Luật sư bào chữa và quy định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quyếtđịnh việc cho phép Luật sư bào chữa tham gia vụ án, thu thập thông tin trong
giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố vụ án hình sự (trích “Báo cáo Nghiên cứu
về Mô hình Tố tụng Hình sự của Trung Quốc”của tác giả: Liling Yue); Cụ thể là
quy định: Với sự cho phép của Viện kiểm sát nhân dân và với sự đồng ý củangười bị hại, họ hàng thân thích hoặc nhân chứng do người bị hại cung cấp, luật
sư bào chữa có thể thu thập thông tin liên quan đến vụ án; với sự chấp thuận củaViện kiểm sát, những người bào chữa khác cũng có thể tư vấn, trích, sao các tàiliệu nói trên, gặp gỡ, trao đổi với nghi can đang bị giam giữ Trong giai đoạntruy tố, Viện kiểm sát nhân dân phải tạo thuận lợi và đảm bảo thời gian chongười bào chữa tư vấn, tra cứu, sao trích, các chứng cứ, các tài liệu, các tình tiếtliên quan đến vụ án và cho phép người bào chữa có thể gặp gỡ, trao đổi với bịcáo đang bị giamgiữ
Luật tố tụng hình sự Trung Quốc năm 1997 không quy định thủ tục tố tụng tronggiai đoạn chuẩn bị xét xử và không cho phép Kiểm sát viên chuyển toàn bộ hồ
sơ vụ án cùng các chứng cứ đến phiên tòa trước khi xét xử mà Kiểm sát viênphải nộp danh sách chứng cứ, danh sách các nhân chứng và bản sao hoặc ảnhcủa các chứng cứ quan trọng đến Tòa án Tuy nhiên, quy định này đã hạn chếquyền bào chữa của người bào chữa vì họ không được xem xét tất cả chứng cứtrước khi xét xử
Trang 37Kết luận chương 1
Thủ tục truy tố hình sự, một trong những vấn đề căn bản của TTHS nhằm đưa vụ
án ra toà để xét xử Việc truy tố hay không truy tố bị can ra trước Tòa án khôngnhững có tác động lớn đến người phạm tội, làm cho họ nhận thức rõ được mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình gây ra và sự trừng phạt nghiêmminh của pháp luậtmàcòn ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an của xã hội Khiquyết định truy tố, Viện kiểm sát phải cân nhắc nhiều mặt để truy tố chính xác,kịp thời, đúng pháp luật và hiệuquả
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động rất phức tạp của các chủ thể khác nhau,nhiều khi có mục đích đối lập nhau Xuất phát từ vị trí người thay mặt cho côngquyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm, không ít trường hợp Điềutra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đã có những hành vi xâm phạm tới cácquyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác, đặc biệt lànhững người đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi họ tham gia tố tụng với tưcách người bị buộc tội Chính những người này đóng vai trò trung tâm tronghoạt động tố tụng hình sự vì các hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụngsuy cho cùng đều hướng tới việc chứng minh bị can, bị cáo có phạm tội haykhông Vì vậy, nói tới bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền tự do dân chủ củacông dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong tố tụng hình sự trước hếtphải nói tới bảo vệ quyền của người bị buộc tội
Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn truy tố là các công việc, thao tácnghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn truy tố trên cơ sở quy định củapháp luật và quy tắc đạo đức luật sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự
vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệcác quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thậtvụán
Trang 38Chương 2 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN TỐ
TỤNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình truy tố các vụ án hình sự ở HàNội
Trong những năm gần đây (từ năm 2013 đến năm 2017), tình hình truy tố các vụ
án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội đang dần được cải thiện, nhìn chung
có nhiều chuyển biến tích cực
Theo Báo cáo của Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội ngày 15/6/2013 tại kỳ
họp thứ 7 Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIV (TríchBáo cáo số 300/BC/VKS-VP ngày 15/6/2013) [5] thì 6 tháng đầu năm 2013, VKS hai cấp đã
thụ lý, kiểm sát điều tra 5.772 vụ/9.647 bị can; Cơ quan điều tra đã giải quyết3.842 vụ/6.383 bị can (chiếm 66,56%), trong đó chuyển VKS đề nghị truy tố3.559 vụ/6.153 bị can VKS hai cấp đã giải quyết 3.563 vụ/6.167 bị can (đạt tỷ lệ96,72% - tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2012); trong đó quyết định truy tố 3.428vụ/5.858 bị can (đạt tỷ lệ 96,21% trên tổng số vụ đã giải quyết) Đồng thời, VKShai cấp đã tiếp nhận 1.983 đơn/1.767 khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tốgiác trong đó có 674 đơn/543 việc thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS thìVKS đã giải quyết 552 đơn/465 việc (đạt tỷ lệ85,66%)
Năm 2016, theo báo cáo của Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội (Trích Báo cáo tại kỳ họp thứ 3 HĐND Thành phố khóa XV của VKSNDthành phố Hà Nội thì trong năm 2016), VKS hai cấp kiểm sát 13.057 tố giác, tin báo tội phạm do
CQĐT thụ lý (12.647 tin mới, trong đó số tin báo thụ lý theo Thông tư liên tịch
số 06 là 6.266 tin, số tin thụ lý theo thủ tục tố tụng hình sự là 6.381 tin) Đã kiểmsát việc giải quyết 12.012 tin báo của CQĐT, đạt 92%, vượt 2% chỉ tiêu Quốchội giao), trong đó: khởi tố 6.562 vụ án, không khởi tố chuyển xử lý hành chính2.620 tin,xửlý khác 2.830 tin; cònlại
1.045 tin đang trong quá trình giải quyết
Trang 39VKS hai cấp đã ban hành 8.884 yêu cầu xác minh tố giác tin báo; yêu cầuCQĐT khởi tố 98 vụ án, 91 bị can; ban hành 2 kiến nghị đối với cơ quan, tổchức hữu quan khác trong công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm.
Trong năm 2016, VKS đã kiểm sát việc bắt, tạm giữ 7.566 đối tượng, chuyểnkhởi tố hình sự 7.510 người, đạt tỷ lệ 99,86% VKS hai cấp thụ lý kiểm sát điềutra 8.427 vụ/13.204 bị can (khởi tố mới 6.335 vụ/9.706 bị can) Viện đã banhành 7.057 bản yêu cầu điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố 8 vụ, hủy 1 quyếtđịnh không khởi tố vụ án, yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định khởi tố 1 vụ, hủy bỏquyết định khởi tố 41 bị can; yêu cầu CQĐT thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố 5 vụ/6 bị can, yêu cầu CQĐT khởi tố 66 vụ 51 bị can
CQĐT giải quyết 7.071 vụ/11.049 bị can, đạt tỷ lệ 84%, trong đó: chuyển VKS
đề nghị truy tố 6.233 vụ/10.558 bị can; tạm đình chỉ điều tra 693 vụ/246 bị can;đình chỉ điều tra 145 vụ/245 bị can Tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữacác cơ quan tiến hành tố tụng chiếm 1,46%
VKShaicấptrênđịa
bànthànhphốHàNộitrongnăm2016đãthụlýthựchànhquyềncôngtố,kiểm sát xétxửtheo
Tòaánđãgiảiquyết:xétxửsơthẩm6.564vụ/10.678bịcáo;đìnhchỉxétxử33/57bịcáo;tạmđìnhchỉxétxử9vụ/20bịcáo,còn834vụ/1.459bịcáo
VKSND thành phố Hà Nội đã thụ lý, kiểm sát theo thủ tục phúc thẩm1.386 vụ/1.716 bị cáo Tòa án đã giải quyết 1.308 vụ/1.615 bị cáo, gồm: đình chỉxét xử 157 vụ/174 bị cáo; xét xử phúc thẩm 1.152 vụ/1.441 bị cáo
VKS hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội đã ban hành 80 kháng nghị theo thủtục phúc thẩm, tỷ lệ án VKS kháng nghị được chấp nhận đạt 90,1%; ngoài ra cókháng nghị 551 vụ do vướng mắc về ma túy theo công văn 234; báo cáo đề nghịVKS cấp cao ban hành 6 kháng nghị giám đốc thẩm
Đến năm 2017, theo báo cáo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
Hà Nội thì trong năm 2017, VKS hai cấp đã xử lý 48.000 vụ việc, trong đó tỷ lệyêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra đều đạt 100%; tỷ lệ giải quyết tin tố giác, tinbáo về tội phạm đạt 93,7%; tỷ lệ bắt giữ chuyển khởi tố
Trang 40hình sự đạt 99,3%; tỷ lệ giải quyết án tại cơ quan điều tra đạt 87,8%, tỷ lệ giảiquyết án tại VKS đạt 99,4%, tỷ lệ truy tố đúng thời hạn đạt 99,97% , truy tố bịcan đúng tội đạt 99,96% , tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quantiến hành tố tụng chiếm 1,39%; tỷ lệ giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩmquyền của VKS đạt 97,35%, chất lượng kháng nghị tiếp tục được nâng lên, tỷ lệkháng nghị phúc thẩm hình sự xét xử được chấp nhận đạt 87,9% cụ thể là: Vềtội phạm, Cơ quan điều tra (CQĐT) đã khởi tố 6.459 vụ, Viện kiểm sát (VKS)phê chuẩn quyết định khởi tố 9.906 bị can (tăng124vụ (1,96%), 201 bị can
(2,05%) so với cùng kỳ năm 2016) (Trích Báo cáoViện trưởng VKSND Tp Hà Nội tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân thành phố khóa XV) [6]
Trong năm 2017, VKS hai cấp đã ban hành 55 kiến nghị với CQĐT yêu cầukhắc phục vi phạm trong việc tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo tội phạm
và được CQĐT tiếp thu, khắc phục, ban hành 04 kiến nghị với UBND cấphuyện, Công an cấp huyện đề ra các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật vàtội phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai, phòng cháy, chữa cháy, tai nạn giaothông đường sắt, phòng chống tệ nạn xãhội
Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ ánhình sự:VKShai cấp đã kiểm sát chặt chẽ các trường hợp bắt, tạm giữ hình sựđảm bảo việc phân loại xử lý có căn cứ, đúng pháp luật, đã phối hợp với CQĐTphân loại 7.799 đối tượng bị bắt giữ, đã trả tự do chuyển xử lý hành chính 40người (nguyên nhân: chủ yếu do sự thay đổi của pháp luật hình sự, người bị hạirút đơn yêu cầu ), đưa khởi tố hình sự 7.215 người, đạt tỷ lệ 99,3% VKS đề ra7.214 yêu cầu điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Yêu cầu CQĐT khởi
tố vụ án hình sự đối với 115 vụ án, yêu cầu khởi tố bị can đối với 78 trường họp,hủy bỏ quyết định khởi tố 13 bị can của CQĐT; hủy bỏ quyết định không khởi tố
2 vụ án của CQĐT và ra quyết định khởi tố 2 vụ án; không phê chuẩn 11 lệnhbắt khẩn cấp, 11 lệnh bắt tạm giam, 37 lệnh tạm giam, không phê chuẩn gia hạntạm giữ 07người