Tác động của các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình... Tác động của các chính sách liên q
Trang 1ĐINH THỊ HUYỀN THƯ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG RỪNG PHÒNG HỘ TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ SÔNG ĐÀ
TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2011
Trang 2ĐINH THỊ HUYỀN THƯ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG RỪNG PHÒNG HỘ TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ SÔNG ĐÀ
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TS Lê Minh Chính
Hà Nội, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, theo chương trình đào tạo Cao học Khoá 17 (2009-2011), chuyên ngành Kinh
tế nông nghiệp, tôi xây dựng đề cương và đi nghiên cứu, thực tập với nội
dung “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình” nay đã hoàn
thành Luận văn tốt nghiệp cho khoá học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho chúng tôi suốt quá trình học tập tại trường Cảm ơn các Thầy, cô trong khoa Đào tạo Sau Đại học, thầy cô bộ môn Kinh tế và các bộ môn khác đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tạo điều kiện trong công tác, học tập hàng ngày nay đã đạt kết quả
Đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ quý báu, tận tình của Tiến sỹ Lê Minh Chính đã tạo điều kiện, chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập đạt kết quả tốt tại TP.Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, anh em, bạn bè và các học viên trong lớp K17 đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình đề hoàn thành Luận văn tốt nghiệp nhưng sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được các thầy, cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp và mọi người tiếp tục đóng góp ý kiến để xây dựng chuyên đề nghiên cứu ngày được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Đinh Thị Huyền Thư
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phu ̣ bìa
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Hệ thống cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Những vấn đề chung về quản lý 3
1.1.2 Khái niệm, phân loại và chức năng của rừng phòng hộ 4
1.1.3 Tiêu chuẩn định hình các loại rừng phòng hộ 5
1.1.4 Nguyên tắc phát triển và tổ chức quản lý rừng phòng hộ 6
1.1.5 Quản lý khai thác, tiêu thụ gỗ và lâm sản khác thuộc rừng phòng hộ 7
1.1.6 Các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ 7
1.2 Lâm nghiệp Việt Nam và chiến lược phát triển giai đoạn 2006-2020 10
1.2.1 Sơ lược lịch sử chính sách liên quan đến ngành lâm nghiệp 10
1.2.2 Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam 13
1.2.3 Đóng góp của lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân 15
1.3 Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 16
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
Trang 52.2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 17
2.2.3 Thời gian nghiên cứu: 2006 - 2010 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.3.1 Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình 17
2.3.2 Tác động của các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình 18
2.3.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 18
2.4.2 Phương pháp phân tích thông tin 18
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 19
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
3.1.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội 21
3.1.3 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng 21
3.1.4 Diễn biến tài nguyên rừng 24
3.2 Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà 24
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà 24
Trang 63.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và
phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà 31
3.3 Tác động của các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà 34
3.3.1 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu lâm nghiệp 34
3.3.2 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế 37
3.3.3 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu xã hội 43
3.3.4 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu môi trường 55
3.4 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà 56
3.4.1 Nhân rộng mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng 56
3.4.2 Quản lý rừng phòng hộ theo hướng đa mục đích 61
3.4.4 Phát triển cơ chế REDD và CDM trong bối cảnh biến đổi khí hậu 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101 TÀI LIÊ ̣U THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa UBND Ủy ban nhân dân
LSNG Lâm sản ngoài gỗ GĐGR Giao đất giao rừng MTR Môi trường rừng QLRCĐ Quản lý rừng cộng đồng
Trang 83.8 Độ che phủ rừng của tỉnh Hòa Bình từ 2006 đến 2010 37
3.10 Dự tính giá trị sản xuất cho một số sản phẩm chính 42 3.11 Thay đổi diện tích rừng trồng theo huyện/TP 2006-2010 42 3.12 Diện tích có rừng phân theo chủ quản lý từ 2006-2010 43 3.13 Sự thay đổi diện tích rừng theo chủ sử dụng từ 2006-2010 44
3.14 Kết quả thực hiện Dự án 661 của các xã, phường thuộc CT
Trang 93.16 Kết quả giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP 1994 cho
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam Một trong những đòi hỏi
để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế thích hợp thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư vào công tác quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành và áp dụng nhiều chính sách có tác động mạnh đến đời sống của nhân dân như giao đất lâm nghiệp khoán quản lý bảo vệ rừng, quy chế quản lý rừng phòng
hộ, quy chế hưởng lợi…Tuy nhiên, có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp đó là: áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, nghèo đói hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, việc xem xét đánh giá và xác định giá trị rừng còn hạn chế, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp, kiến thức bản địa chưa được phát huy, hoạt động khuyến nông, khuyến lâm chưa phát triển, cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi
Hiện trạng này đang đặt ra một vấn đề là trong khi xây dựng các quy định về quản lý bảo vệ rừng trên phạm vi cả nước, phải nghiên cứu và tính toán nhu cầu thực tế chính đáng của người dân mới có thể đảm bảo tính khả
Trang 11thi của các quy định, đồng thời bảo đảm cho rừng không bị khai thác lợi dụng quá mức, ảnh hưởng xấu đến chức năng của rừng tự nhiên
Điều kiện địa lý, địa hình, sự phân bố dân cư và các khu vực kinh tế trọng điểm càng ngày càng thấy vai trò tác dụng to lớn của rừng phòng hộ trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Đảng và nhà nước đã
có nhiều quyết sách đúng đắn về bảo vệ và phát triển rừng Trong đó, vấn đề rừng phòng hộ luôn luôn được chú ý đặc biệt Thực tế, rừng phòng hộ trồng diện tích tăng lên nhưng chất lượng rừng còn thấp, chưa thoả mãn với chức năng phòng hộ Do vậy, cần nâng cấp rừng phòng hộ Hơn nữa, đây là việc làm cần thiết và tiếp nối của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, bởi sang năm
2010, Dự án đi vào kết thúc Rừng phòng hộ đã trồng cần được duy trì, củng cố, nâng cấp để đảm bảo chức năng của chúng
Từ văn bản đến thực tế trong việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn
đã giải quyết rất nhiều vấn đề, góp phần tạo nên nhiều ha rừng trồng cho chức năng phòng hộ Tuy nhiên chất lượng rừng chưa đảm bảo bởi vậy cần thực hiện việc nâng cấp trên cơ sở khoa học nhằm phát huy hiệu quả phòng hộ, không lãng phí lao động và tiền của, mặt khác cần bổ sung các nội dung để đảm bảo các lâm phần này đựơc bền vững
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Với sự lựa chọn này, tôi hy vọng rằng đề tài sẽ đem lại cho người đọc những cái nhìn tổng quát về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ hiện nay, thấy được những mặt tích cực trong công tác quản lý cũng như những hạn chế còn tồn tại Từ những phân tích đó, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp góp phần hạn chế những vấn đề còn thiếu sót
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Với định nghĩa trên, nói đến quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
Phải có ít nhất một chủ thể là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng bị quản lý trực tiếp nhận tác động của chủ thể và các khách thể khác chịu sự tác động gián tiếp từ chủ thể
Phải có mục tiêu được xác định rõ từ đầu, là căn cứ để chủ thể quản lý tạo
ra những chuỗi tác động cụ thể
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), quản lý rừng là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội
Theo Dawkins H.C and Philip M.S, quản lý rừng là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và
Trang 13xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác.[10]
1.1.2 Khái niệm, phân loại và chức năng của rừng phòng hộ
1.1.2.1 Khái niệm
Rừng phòng hộ là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo
vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường
1.1.2.2 Phân loại rừng phòng hộ
Rừng phòng hộ được phân thành 4 loại gồm rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ môi trường sinh thái
Phân cấp rừng phòng hộ theo mức xung yếu bao gồm:
- Vùng rất xung yếu: gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước, những nơi bờ biển thường bị sạt lở đe dọa đời sống nhân dân, có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ, phải quy hoạch đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%
- Vùng xung yếu: gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình, có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng
hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo độ tỷ lệ che phủ rừng tối thiểu 50%
1.1.2.3 Chức năng chính của các loại rừng phòng hộ
- Rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp lòng sông, lòng hồ
Trang 14- Rừng phòng hộ chắn gió hại, chống cát bay có tác dụng phòng hộ nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, các vùng sản xuất, các công trình khác
- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có tác dụng ngăn cản sóng, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển, tăng độ bồi tụ phù sa, hạn chế xâm nhập mặn vào nội đồng, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái có tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế ô nhiễm không khí ở khu đông dân cư, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi
1.1.3 Tiêu chuẩn định hình các loại rừng phòng hộ
Trong từng khu rừng phòng hộ, diện tích có rừng phải được bảo vệ, diện tích chưa có rừng phải được khoanh nuôi tái sinh hoặc trồng rừng để đảm bảo tiêu chuẩn định hình của từng loại rừng phòng hộ như sau:
- Rừng phòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗn loài, khác tuổi, nhiều tầng, có độ tàn che trên 0,6 với các loài cây có bộ rễ sâu và bám chắc
- Rừng phòng hộ chắn gió hại, chống cát bay phải có ít nhất một đai rừng chính rộng tối thiểu 20m kết hợp với các đai rừng phụ tạo thành ô khép kín; rừng phòng hộ đối với sản xuất nông nghiệp và các công trình kinh tế được trồng theo băng, theo hàng Mỗi đai, băng rừng gồm nhiều hàng cây, khép tán theo cả bề mặt cũng như theo chiều thẳng đứng
- Rừng phòng hộ chắn sóng ven biển phải có ít nhất một đai rừng rộng tối thiểu 30m gồm nhiều hàng cây khép tán, các đai rừng có cửa so le nhau theo hướng sóng chính
- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái gồm hệ thống các đai rừng, dải rừng và hệ thống cây xanh xen kẽ khu dân cư, khu công nghiệp, bảo đảm chống ô nhiễm không khí, tạo cảnh quan kết hợp du lịch, giải trí Diện tích rừng bình quân đầu người khoảng 20 m2
Trang 151.1.4 Nguyên tắc phát triển và tổ chức quản lý rừng phòng hộ
Mọi tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng theo quy định của pháp luật Mọi hành vi xâm hại đến rừng và đất lâm nghiệp đều bị xử lý theo pháp luật
Việc kết hợp sản xuất lâm nghiệp-nông nghiệp-ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, khai thác lâm sản và các lợi ích khác của rừng phòng hộ phải tuân theo quy chế quản lý rừng
Ngoài ra, những khu rừng phòng hộ không thuộc các loại trên thì Ủy ban nhân dân tỉnh trực thuộc trung ương giao cho các tổ chức kinh tế; ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ và sử dụng
Trang 161.1.5 Quản lý khai thác, tiêu thụ gỗ và lâm sản khác thuộc rừng phòng hộ
Quy chế quản lý 3 loại rừng quy định mang tính nguyên tắc về khai thác tận dụng lâm sản trong rừng phòng hộ như sau:
- Đối với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên: Được phép khai thác cây gỗ
chết, cây sâu bệnh, cây ở mật độ quá dầy với cường độ khai thác không quá 20% nhằm mục đích loại bỏ cây già cỗi, cây sâu bệnh, tăng khả năng tái sinh
và chất lượng rừng
Được phép tận thu các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, tre nứa mà không làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng, trừ các loại thực vật, động vật rừng nguy cấp quý hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ
Song song với việc khai thác tận thu, chủ rừng phải quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bằng các biện pháp như trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, làm giàu rừng
- Đối với rừng phòng hộ là rừng trồng: Rừng phòng hộ được Nhà nước
đầu tư trồng được khai thác cây phù trợ, tỉa thưa rừng trồng khi có mật độ lớn hơn mật độ quy định với cường độ khai thác không quá 20% và đảm bảo rừng
có độ tàn che trê 0,6 sau tỉa thưa
Khi cây trồng chính đạt tiêu chuẩn khai thác, được phép khai thác chọn với cường độ không quá 20% hoặc chặt trắng theo băng hoặc theo đám nhỏ dưới 1 ha ở vùng xung yếu và dưới 0,5 ha ở vùng rất xung yếu
Sau khi khai thác chủ rừng phải thực hiện việc tái sinh hoặc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục quản lý bảo vệ
1.1.6 Các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ
a) Giao, cho thuê đất rừng phòng hộ để xây dựng và phát triển rừng
Giao, cho thuê đất để xây dựng và phát triển rừng phòng hộ từ lâu đã được Nhà nước quan tâm và đã thể chế hóa các quy định về giao, cho thuê đất
Trang 17lâm nghiệp trong các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, không có văn bản điều chỉnh riêng cho đất rừng phòng hộ mà trong từng văn bản Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về giao, cho thuê đất lâm nghiệp có những điều quy định cụ thể cho đất rừng phòng hộ
Thực hiện Luật Đất đai năm 1993, ngày 15/1/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Ngày 2/12/1998 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban hành để hướng dẫn thi hành luật trong lĩnh vực đất lâm nghiệp, tiếp đó ngày 16/11/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Tiếp tục quá trình đổi mới của đất nước, ngày 26/11/2003 Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai mới, quy định về giao đất, cho thuê đất rừng phòng hộ như sau:
- Đối tượng được giao, cho thuê đất rừng phòng hộ:
Nhà nước giao đất rừng phòng hộ đầu nguồn cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Tổ chức quản lý rừng phòng hộ giao khoán đất rừng phòng hộ cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để bảo vệ, phát triển rừng Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đó sử dụng
Ðất rừng phòng hộ mà chưa có tổ chức quản lý và đất quy hoạch trồng rừng phòng hộ được giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ có nhu cầu
và khả năng để bảo vệ và phát triển rừng
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cho
tổ chức kinh tế thuê đất rừng phòng hộ thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng
Trang 18Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai để quy định cụ thể việc giao, giao khoán đất rừng phòng hộ; quyền, nghĩa vụ và lợi ích của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao khoán đất rừng phòng hộ
Hồ sơ xin giao đất, thuê đất, gồm: Đơn xin giao đất, thuê đất; dự án đầu tư của tổ chức theo quy định của pháp luật; đối với người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có dự án đầu tư và bản sao giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư có công chứng của Nhà nước
- Căn cứ để giao đất, cho thuê đất:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất b) Giao rừng phòng hộ
Nhà nước giao rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng rừng đối với các Ban quản lý rừng phòng hộ, tổ chức sự nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt
c) Khuyến khích đầu tư xây dựng rừng phòng hộ
Nhà nước cấp kinh phí đầu tư để quản lý, bảo vệ, xây dựng phát triển rừng phòng hộ rất xung yếu và xung yếu theo dự án, phương án, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chi cho hoạt động của Ban quản lý rừng phòng hộ
Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng rừng phòng hộ - Chính sách và giải pháp thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được quy định tại Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng chính phủ
Trang 19d) Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất rừng phòng hộ để bảo vệ và phát triển rừng
- Những quy định chung
Trường hợp Nhà nước đầu tư vốn và giao khoán cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là hộ nhận khoán) để bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mói, hộ nhận khoán có nghĩa vụ thực hiện đúng kế hoạch, nội dung yêu cầu hợp đồng giao khoán và được hưởng quyền lợi sau:
- Được nhận chi phí tiền công bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, trồng rừng mới theo kết quả thực hiện hợp đồng khoán với Ban quản lý rừng
- Được khai thác củi khô, lâm sản phụ dưới tán rừng
- Hộ nhận khoán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng kết hợp trồng rừng
bổ sung được hưởng toàn bộ sản phẩm tỉa thưa, các sản phẩm không xâm hại đến tán rừng (hoa, quả, nhựa, măng ) và các nông lâm sản phụ dưới tán rừng
- Tùy theo từng dự án cụ thể, khi hết thời hạn khoán nếu hộ nhận khoán
có nguyện vọng và trong quá trình nhận khoán thực hiện đúng nội dung trong hợp đồng thì được nhận khoán chu kỳ tiếp theo
- Trường hợp hộ tự đầu tư vốn để khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới trên đất chưa có rừng được hưởng 100% sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác
1.2 Lâm nghiệp Việt Nam và chiến lược phát triển giai đoạn 2006-2020
1.2.1 Sơ lược lịch sử chính sách liên quan đến ngành lâm nghiệp
1.2.1.1 Chính sách lâm nghiệp trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
- Chính sách lâm nghiệp thời đại phong kiến: Các triều đại phong kiến
ở Việt Nam đã quy định những luật lệ về lâm nghiệp mà chủ yếu là quy định các loại thuế và thể lệ thu thuế như thuế sừng tê giác, ngà voi; các loại hương liệu gỗ và hoa quả, mật ong, kỳ nam, trầm hương, việc khai thác và vận chuyển vỏ quế
Trang 20- Chính sách lâm nghiệp thời kỳ pháp thuộc (1858-1945): Năm 1859 các chế độ, chính sách lâm nghiệp được người Pháp xây dựng và sau đó được
bổ sung chỉnh sửa Đến 1938, các văn bản về lâm nghiệp đã thể hiện theo những nội dung cơ bản:
* Về xác lập các loại lâm phận
+ Lâm phận ổn định lâu dài: là những diện tích đất lâm nghiệp có rừng hoặc chưa có rừng để làm nhiệm vụ cung cấp gỗ và các lâm sản khác; trồng rừng đảm bảo yêu cầu về phòng hộ, cảnh quan
+ Lâm phận tạm thời: là những diện tích rừng có khả năng chuyển sang mục đích sản xuất nông nghiệp, khi có nhu cầu và có đủ điều kiện sẽ chuyển sang đất canh tác nông nghiệp
+ Các khu trồng rừng: gồm diện tích đất trống và nơi có rừng nghèo kiệt
* Về các quy định trong quản lý lâm nghiệp
Quy định về cấp giấy phép khai thác, vận chuyển gỗ và lâm sản, về thể
lệ săn bắn, về các giải pháp lâm sinh để tái sinh rừng sau khai thác…
1.2.1.2 Chính sách lâm nghiệp thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954)
Thời kỳ này, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có chủ trương xây dựng nền kinh tế kháng chiến với nguyên tắc: vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
tự cung tự cấp về mọi mặt Do đó, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Theo đó, một số chính sách về lâm nghiệp có nội dung chính sau:
- Về quyền sở hữu: Sở hữu đất đai và rừng là của toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý
- Về bảo vệ rừng: Có quy định về bảo vệ rừng, về các hoạt động không được phép trong việc khai thác, vận chuyển chế biến gỗ và lâm sản, trách nhiệm về tài chính và các hình thức xử phạt vi phạm…
Trang 21- Về trồng rừng: quy định về việc sử dụng đất để trồng rừng, phân phối đất đai, hướng dẫn kỹ thuật gieo trồng…
1.2.1.3 Chính sách lâm nghiệp trước ngày thống nhất đất nước (1955-1975)
Từ năm 1955-1975, Việt Nam tạm thời chia làm 2 miền: miền Bắc và miền Nam với 2 chế độ chính trị, kinh tế xã hội khác nhau, theo đó các chính sách về lâm nghiệp cũng khác nhau:
- Ở miền Bắc, ngành lâm nghiệp xây dựng theo mô hình XHCN và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
- Ở miền Nam: trong những vùng thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, ngành lâm nghiệp được xây dựng và phát triển theo mô hình TBCN, hoạt động theo cơ chế thị trường, tự do cạnh tranh Trong vùng do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam kiểm soát, ngành lâm nghiệp mới bắt đầu hình thành chủ yếu làm nhiệm vụ phục vụ bảo vệ và xây dựng căn cứ địa kháng chiến
1.2.1.4 Chính sách lâm nghiệp sau ngày thống nhất đất nước (1976-2002)
- Chính sách lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (1976-1985): được thực hiện theo kế hoạch chung, thống nhất từ trung ương đến địa phương Nhà nước không cho lực lượng tư nhân hoạt động trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp mà việc này được thực hiện chủ yếu dựa vào các lâm trường quốc doanh và các hợp tác xã lâm nghiệp Đối với hộ gia đình, cá nhân, Nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách giao đất giao rừng, đồng thời quy định quyền hưởng lợi tùy theo số vốn và sức lao động họ bỏ ra
- Chính sách lâm nghiệp thời kỳ đổi mới (1986-2002): Năm 1986, Nhà nước chuyển hướng quản lý nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường Theo đó, ngành lâm nghiệp cũng từng bước chuyển từ một nền lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác lợi dụng tài nguyên rừng sang phát triển toàn diện, gắn khai thác với tái sinh rừng Từ một nền
Trang 22lâm nghiệp độc canh cây rừng sang thâm canh theo phương thức nông lâm kết hợp Từ nền lâm nghiệp Nhà nước quản lý theo cơ chế tập trung, bao cấp, lấy quốc doanh làm chủ lực sang một nền lâm nghiệp xã hội, sản xuất hàng hóa trên cơ chế nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ
1.2.2 Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam
Nước ta có tổng diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha, trong đó diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp là 16,24 triệu ha, được phân chia theo
3 loại như sau: đất quy hoạch phát triển rừng đặc dụng: 2.199.342 ha chiếm 13,5%; đất quy hoạch phát triển rừng phòng hộ: 5.552.328 ha chiếm 34,2%; đất quy hoạch phát triển rừng sản xuất: 8.495.823 ha chiếm 52,3% (Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005 của Thủ tướng chính phủ) Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, đời sống còn nhiều khó khăn
Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%; đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng là 27,2% Thời kỳ 1980-
1995 bình quân mỗi năm mất 110 nghìn ha rừng tự nhiên Tuy nhiên từ
1995-2009 diện tích rừng của Việt Nam đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và những
nỗ lực phục hồi rừng tự nhiên, bình quân mỗi năm tăng khoảng 282.600 ha (trong đó diện tích rừng tự nhiên tăng 148.900 ha/năm, diện tích rừng trồng tăng 133.700 ha/năm)
Năm 2010, cả nước đã hoàn thành chỉ tiêu theo Nghị quyết số 73/2006/QH 11 ngày 29/11/2006 về điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Kết quả cụ thể như sau:
Trang 23
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cuối năm 2010
Chỉ tiêu Đã thực hiện
(ha)
Kế hoạch (ha)
Tỷ lệ đạt được
Diện tích bảo vệ rừng 2.507.355 1.500.000 167% Diện tích khoanh nuôi 922.768 803.000 115% Diện tích trồng rừng mới 1.091.431 1.000.000 109% Diện tích rừng đặc dụng 252.015 250.000 100,8% Diện tích rừng sản xuất 839.416 750.000 111,9%
Nguồn: Cục lâm nghiệp, 2010
Tính đến ngày 31/12/2009 diện tích rừng toàn quốc là 13.258.843 ha, trong đó 10.339.305 ha rừng tự nhiên và 2.919.538 ha rừng trồng Độ che phủ rừng tăng từ 37% năm 2005 lên 39,1% năm 2009 Trong những năm gần đây,
tỷ lệ trồng rừng sản xuất tăng mạnh do các chính sách cởi mở trong phát triển rừng, hơn nữa có nhiều tiến bộ trong công tác giống giúp tăng năng suất rừng trồng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh
Diện tích rừng có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học rừng
tự nhiên vẫn suy giảm Trong giai đoạn 2000-2005, diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu giảm 10,2%, rừng trung bình giảm 13,4% trong khi đó rừng phục hồi tăng 20,7%, rừng trồng tăng 50,8% Trong tổng số hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên, diện tích rừng có trữ lượng giàu và trung bình gồm 2,5 triệu ha chủ yếu phân bố trong hệ thống các khu rừng đặc dụng, phòng hộ Diện tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất hiện nay chủ yếu là đối tượng rừng nghèo, trữ lượng thấp Công tác trồng rừng thời gian qua gặp không ít khó khăn, hạn chế Điều kiện thời tiết khắc nghiệt khô hạn kéo dài, vốn đầu tư theo yêu cầu của dự án còn thiếu so với chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước Diện tích trồng rừng phòng
Trang 24hộ chủ yếu tập trung ở vùng núi cao, vùng sâu, độ dốc lớn, xa dân cư, giá nhân công thấp
1.2.3 Đóng góp của lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân
Mặc dù GDP lâm nghiệp chính thức chỉ chiếm 1% tổng GDP quốc gia nhưng ngành lâm nghiệp có những đóng góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân thông qua công nghiệp chế biến lâm sản xuất khẩu và các giá trị môi trường rừng Trong giai đoạn 1995-2005 kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ đã tăng từ 61 triệu USD năm 1996 lên 1.570 triệu USD năm 2005 Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ hiện nay đạt trên 200 triệu USD/năm, dự kiến sẽ tăng bình quân 10-15%/năm, đạt 700-800 triệu USD vào năm 2020
Ngành lâm nghiệp đã và đang thực hiện các hoạt động quản lý và sản xuất lâm nghiệp trên diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi
- nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp Thực tiễn hiện nay cho thấy ngành lâm nghiệp đã đóng góp tích cực vào việc tạo việc làm, tăng thu nhập từ rừng cho người nông dân Tầm quan trọng của công việc này với thu nhập của các hộ gia đình được thể hiện như sau:
Bảng 1.2 : Thu nhập của hộ gia đình từ Chương trình 661
Nguồn: Cục lâm nghiệp, 2010
Từ khi triển khai thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đến nay, dự
án đã góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn miền núi Đến năm 2010, dự án đã thu hút được một lượng lớn lao động nông thôn với
Trang 254.657.211 lao động, chủ yếu là đồng bào dân tộc miền núi Việc làm này đã giúp họ tăng thu nhập và ổn định cuộc sống thông qua khoán bảo vệ rừng, chăm sóc rừng, trồng mới rừng
1.3 Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
Xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với ngành lâm nghiệp trong giai đoạn mới, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 với mục tiêu và nhiệm vụ như sau: " Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42-43% năm 2010 và 47% vào năm 2020; đảm bảo
có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và các tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào sự phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi"
Để đạt được các mục tiêu tổng thể trên, chiến lược đã xác định mục tiêu
cụ thể đối với ngành lâm nghiệp như sau:
Về kinh tế: Quản lý tốt rừng tự nhiên hiện có, gia tăng diện tích và năng
suất rừng trồng, tăng cường các hoạt động nông lâm kết hợp và sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống đồi trọc phù hợp cho phát triển lâm nghiệp Sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ có tính cạnh tranh đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Về xã hội: Cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội
hóa và đa dạng các hoạt động lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận thức của người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước tạo cho người dân có thể sống bằng nghề rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc phòng
Về môi trường: Bảo vệ rừng nhằm thực hiện hiệu quả các chức năng
phòng hộ, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, giảm nhẹ thiên tai, tạo nguồn thu cho ngành lâm nghiệp thông qua các dịch vụ môi trường
Trang 26
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống rừng phòng hộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình
2.2.3 Thời gian nghiên cứu: 2006 - 2010
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình
Trang 272.3.2 Tác động của các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình
2.3.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà - tỉnh Hòa Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Kế thừa tài liệu có sẵn như thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội…
- Thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp tại các xã thuộc địa bàn quản lý
2.4.2 Phương pháp phân tích thông tin
- Phân tích số liệu, tổng hợp thống kê và so sánh
- Xử lý số liệu sử dụng phần mềm Ecxel
Các phương pháp này được sử dụng một cách linh hoạt hoặc kết hợp hoặc riêng lẻ để giải quyết các vấn đề một cách tốt nhất
Trang 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía bờ trái gồm các xã: Đồng Nghê, Suối Nánh, Mường Tuổng, Mường Chiềng, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Yên Hòa, Tiền Phong, Vầy Nưa, Hiền Lương, Toàn Sơn thuộc huyện Đà Bắc; Các xã Thái Thịnh, Hòa Bình, Yên Mông, Thịnh Lang, Tân Thịnh, Tân Hòa, Hữu Nghị thuộc TP.Hòa Bình
Phía bờ phải gồm các xã: Tân Dân, Tân Mai, Phúc Sạn, Ba Khan thuộc huyện Mai Châu; Các xã Thung Nai, Bình Thanh thuộc huyện Cao Phong; Các xã Ngòi Hoa, Trung Hòa thuộc huyện Tân Lạc; Các xã (phường) Sủ Ngòi, Thống Nhất, Dân Chủ, Thái Bình, Chăm Mát, Phương Lâm, Đồng Tiến thuộc TP.Hòa Bình Tổng diện tích tự nhiên là 82.264,58 ha
3.1.1.3 Khí hậu
Khu vực phòng hộ hồ Hòa Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt:
Trang 29- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nắng nóng, nhiệt
độ, độ ẩm cao, lượng mưa lớn chiếm tới 80% trong năm Thường có gió lốc, gió bão và mưa đá, tập trung từ tháng 5 đến tháng 7
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Thời tiết khô hanh, nhiệt độ và độ ẩm thấp, mưa phùn gió rét, đôi khi có sương muối trong tháng
12 và tháng 1 năm sau (Theo tài liệu của Trung tâm khí tượng thủy văn Hòa Bình)
- Nhiệt độ cao nhất là 38-400C, thấp nhất là 50C, nhiệt độ trung bình trong năm là 24-250C
Lượng mưa cả năm 1800-2000 mm, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, trung bình 1400-1600 mm, chiếm 88% lượng mưa cả năm Mùa khô chiếm khoảng 12% (khoảng 200 mm)
Độ ẩm không khí trung bình 84,5% (cao nhất 97,7%, thấp nhất 75,6%)
3.1.1.4 Thủy văn
Hồ thủy điện Hòa Bình là tâm điểm vùng dự án nên mọi hoạt động về nông, lâm nghiệp đều nhằm duy trì và điều tiết nguồn nước Hồ thủy điện ở địa phận tỉnh Hòa Bình có chiều dài từ đập đến giáp địa phận tỉnh Sơn La khoảng 100 km, chiều rộng mặt hồ trung bình 2 km, nơi rộng nhất có thể 6
km Lưu lượng nước hàng năm 1460 m3/năm Mặt hồ có diện tích khoảng
9000 ha, nên mực nước ngầm thường cao, độ ẩm không khí lớn trên 80%
Địa hình phức tạp tạo thành nhiều dòng suối lớn nhỏ dày đặc chảy trực tiếp ra hồ Các dòng suối thường ngắn nên mùa khô thường cạn gây khó khăn trong sinh hoạt và sản xuất
3.1.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Đất đai trong vùng được hình thành trên các loại đá mẹ và đá vôi, đá sa thạch, phiến thạch, đá mắc ma … đất đai thông thường nhất, tuy nhiên độ mài mòn còn tốt, tầng đất dày độ dốc lớn, rừng cạn kiệt nên cũng hay bị sạt lở, phần lớn gồm các nhóm đất sau:
- Feralitic màu vàng hình thành trên nền đá phiến thạch kết cấu hạt mịn
- Feralitic màu nâu, hoặc nâu đen phát triển trên nền đá vôi
Trang 30- Feralitic màu vàng phát triển trên nền đá sa thạch hạt thô
- Feralitic màu nâu đỏ có trên đá mắc ma và trầm tích
Các loại đất trên có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ - thịt nặng, tầng dày từ
50 - 70cm thích hợp cho nhiều loại cây nông, lâm nghiệp
3.1.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
Toàn khu vực: 126.378 khẩu, gồm các dân tộc: Mường, Dao, Kinh, Tày, và các dân tộc khác Trong đó:
- Dân tộc Mường : 55,3% <=> 69.877 người
- Dân tộc Tày : 21,5% <=> 27.171 người
- Dân tộc Kinh : 12,4% <=> 15.67 người
- Dân tộc Dao : 9,6% <=> 12.133 người
- Dân tộc khác : 1,2 % <=> 1.517 người
Tổng số lao động : 37.913 lao động
+ Lao động Nông nghiệp chiếm: 91,3%
+ Lao động tiểu thủ công nghiệp chiếm: 0,6%
+ Lao động các ngành nghề khác : 8,1%
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng
- Đã xây dựng được hệ thống đường bộ với tổng chiều dài 1.930km; hệ thống thuỷ lợi được đầu tư nâng cấp, cung cấp nước cho 80% diện tích vụ chiêm xuân và 85% diện tích vụ mùa
- 100% xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, 90% số hộ được sử dụng điện
- Hệ thống các công trình thuỷ lợi, mạng lưới kênh mương được tu sửa
và xây dựng mới phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp
- 60% số hộ nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
3.1.3 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng
3.1.3.1 Hiện trạng đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên: 82.264,58 ha Chi tiết thể hiện tại bảng sau:
Trang 31
Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai vùng dự án
T
dụng Sản xuất
Tổng diện tích đất tự nhiên (ha) 82.264,58
Quy hoạch đất lâm nghiệp 61.720,99 35.005,17 3.202,00 23.513,82
Trang 323.1.3.2 Đánh giá chung về tài nguyên rừng và diễn biến tài nguyên rừng phòng hộ
a) Rừng tự nhiên
- Thực vật rừng: Rừng tự nhiên của Hòa Bình thuộc kiểu rừng rậm thường xanh nửa mưa mùa nhiệt đới, thực vật rừng khá phong phú và đa dạng, được chia thành các kiểu phụ sau:
+ Kiểu phụ rừng rậm thường xanh cao nguyên, phân bố ở độ cao từ
800 - 1000m, tập trung chủ yếu ở huyện Đà Bắc, một số ít ở huyện Kim Bôi, Lạc Sơn Rừng trung bình có trữ lượng gỗ từ 110 - 150 m3/ha
+ Kiểu phụ rừng thường xanh núi đất: Phân bổ ở độ cao dưới 800 m,
có đặc điểm là rừng nguyên sinh bị khai thác, tác động ở nhiều mức độ khác nhau; những cây gỗ quý đó bị khai thác kiệt, chỉ còn lại phần lớn những cây
gỗ kém giá trị kinh tế, rừng chủ yếu là rừng nghèo, rừng phục hồi; trữ lượng
gỗ từ: 30-50 m3/ha
+ Kiểu phụ núi đá vôi: Núi đá hiểm trở, rừng có 2 tầng: Tầng trên chủ yếu cây Sến, Trai, Nghiến, Táu v.v tầng dưới chủ yếu Ô rô, Hoóc quang, Đinh thối, Sến mủ v.v Rừng tập trung ở các huyện Mai Châu, Lạc Sơn, Tân Lạc
Hệ thực vật rừng của tỉnh Hòa Bình khá phong phú, riêng cây gỗ có khoảng 995 loài, trong 180 họ
Động vật rừng: Trong 4 khu bảo tồn thiên nhiên có 300 loài, 88 họ và
họ phụ thuộc, 25 bộ; trong đó số bộ, họ có nhiều loài nhất là bộ gặm nhấm, bộ
sẻ, bộ linh trưởng
- Tình hình tái sinh phục hồi rừng: Kết quả khoanh nuôi tái sinh rừng cho thấy phần lớn diện tích đất trống Ic và Ib được thiết kế khoanh nuôi tái sinh rừng, nếu được bảo vệ tốt, sau 7 - 8 năm sẽ phục hồi thành rừng non chưa có trữ lượng Do tầng đất sâu, ẩm, đất còn mang tính chất đất rừng, nên thời gian phục hồi rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Hòa Bình tương đối nhanh
b) Rừng trồng: Rừng phòng hộ sinh trưởng và phát triển ở mức trung bình; trong khi rừng sản xuất sinh trưởng và phát triển tốt (do rừng sản xuất được trồng chủ yếu là Keo tai tượng, Keo lai có khả năng mọc nhanh và khá
Trang 33phù hợp với lập địa của Hòa Bình) với sản lượng trung bình 60 - 90 m3/ha cho một chu kỳ 6 - 9 năm
c) Đánh giá trữ lượng rừng: Hiện nay chưa có một cuộc điều tra đánh giá trữ lượng rừng trên phạm vi tỉnh Hòa Bình và vì vậy cần sớm tiến hành kiểm kê toàn diện rừng và đất lâm nghiệp bao gồm kiểm kê trữ lượng rừng, để
có cơ sở khoa học định giá rừng, giao rừng, cho thuê rừng, thuê đất lâm nghiệp
và xây dựng quy hoạch và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp cơ sở
3.1.4 Diễn biến tài nguyên rừng
Rừng tự nhiên: Từ năm 1989 Hòa Bình đã đóng cửa rừng, không khai thác rừng gỗ tự nhiên, nhưng do diện tích rừng gỗ tự nhiên phân bố rải rác; gần xóm bản, giao thông khá thuận lợi, nên công tác bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn Vì vậy, tuy diện tích rừng gỗ tự nhiên tăng (năm 1990: rừng gỗ 42.772 ha, năm 2005: 47.577 ha), nhưng ở một số địa phương chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm
Diện tích rừng trồng sản xuất đang ngày càng tăng, do nhu cầu gỗ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa tăng nhanh, nhu cầu đất trồng rừng của các hộ gia đình là rất lớn và ngày càng có nhiều người dân ở các địa phương tự bỏ vốn để trồng rừng
3.2 Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà
Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà được thành lập theo Quyết định số 69/QĐ-UB ngày 19/2/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình Năm 2007, UBND tỉnh có Quyết định số 1494//QĐ-UBND ngày 27/6/2007 về việc phê duyệt phương án sáp nhập Lâm trường Sông Đà và Lâm trường Mai Châu vào Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà Theo đó, Ban quản lý được UBND tỉnh giao cho quản lý đất rừng theo Quyết định số 64/QĐ-UB ngày 11/3/1987 để trồng rừng và bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có
Trang 34Rừng phòng hộ Sông Đà Hoà Bình là khu vực rộng lớn, trải dài theo 2
bờ sông Đà Từ dưới chân đập thuỷ điện Hoà Bình lên đến xã Đồng Nghê - huyện Đà Bắc, nơi tiếp giáp giữa 3 tỉnh: Hoà Bình, Sơn La và Phú Thọ Có tổng diện tích tự nhiên là 82.264,58 ha Gồm 33 xã, phường thuộc các huyện: Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Cao Phong và TP Hoà Bình
Từ năm 1993 đến nay đã qua 2 giai đoạn xây dựng và phát triển do dự
án 327 và dự án 661 đầu tư Độ che phủ của rừng được nâng lên từ 20% lên 49%, Tuy nhiên kết quả đã làm chưa đạt được so với mục tiêu đề ra của dự án
là nâng độ che phủ của rừng lên 65 % vì vậy cần tiếp tục thực hiện để phấn đấu đạt được các mục tiêu Rừng phát triển ổn định góp phần phục vụ chức năng phòng hộ cho Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình hoạt động đủ công suất và lâu dài, đời sống của nhân dân trong vùng dự án được nâng lên, an ninh quốc phòng ổn định, tạo cảnh quan, môi trường xanh, sạch đẹp là nơi du lịch sinh thái
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được ban hành theo Quyết định TTg ngày 29/7/1998 (gọi tắt là Dự án 661) Dự án có 3 mục tiêu chính là:
661/QĐ Đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chú trọng bảo
vệ vốn rừng hiện có và trồng rừng mới, phát huy có hiệu quả chức năng phòng
hộ và bảo vệ môi trường sinh học, tạo điều kiện cho phát triển rừng bền vững của đất nước, đưa độ che phủ lên trên 40% diện tích đất của cả nước
- Tạo ra vùng nguyên liệu gắn với sự phát triển của công nghiệp chế biến lâm sản
- Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo, phát triển sản xuất và ổn định đời sống, bảo đảm quốc phòng, an ninh
3.2.1.1 Tình hình thực hiện các hạng mục lâm sinh
a/ Tiến độ thực hiện Dự án 661 giai đoạn 1999-2007
Từ năm 1999 đến hết năm 2005, bằng nguồn vốn Dự án 661, toàn vùng
dự án đã được đầu tư : 28.005.348.400 đồng; trong đó có 25.565.342.700 đồng đầu tư trực tiếp cho công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng chiếm (91%),
vì vậy số lượng, chất lượng rừng được nâng cao rõ rệt Cụ thể:
Trang 35
Bảng 3.2: Tổng hợp khối lượng vốn đầu tư dự án 661 giai đoạn 1999-2007
Trang 36Nhận xét:
Dự án 661 giai đoạn này đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng, hợp lòng dân, loài cây trồng khá phù hợp, tạo công ăn, việc làm cho nhân dân trong vùng dự án, cải thiện cuộc sống cho các hộ tham gia dự án, nâng cao rõ rệt trong việc việc bảo vệ nguồn nước cũng như môi trường sinh thái, đảm bảo được chức năng phòng hộ cho thuỷ điện Hoà Bình, đáp ứng nhu cầu phát triển rừng bền vững
Tuy nhiên, vì chưa có điều kiện để trồng rừng toàn bộ ngay thời điểm này nên một phần diện tích đất Ib được đưa vào khoanh nuôi, bảo vệ Đến nay, hiện trạng vẫn không thay đổi; do đó cần được cải tạo trồng lại rừng trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế và phòng hộ bảo vệ môi trường cao hơn Suất đầu tư cho bảo vệ rừng được điều chỉnh tăng
từ 50.000đ/ha lên 100.000đ/ha, tuy nhiên quy hoạch 3 loại rừng đã chuyển một phần lớn diện tích bảo vệ sang rừng sản xuất nên thu nhập cho các hộ tham gia nhận khoán bảo vệ hầu như không thay đổi do vậy hiệu quả chưa cao
b/ Tiến độ thực hiện dự án 661 giai đoạn 2006-2010
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, trong những năm qua, Ban quản lý thường xuyên chủ động, tích cực tuần tra, canh gác, ngăn chặn hành vi xâm phạm đến rừng, bảo vệ rừng theo cộng đồng, có biện pháp
xử lý vi phạm riêng theo từng theo từng thôn, bản để cho rừng được phát triển tốt, mang lại nguồn thu góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân tiến tới làm giầu từ rừng Tổng vốn đầu tư: 24.902.999.914 đồng Trong đó:
- Bảo vệ rừng các năm: 109.232,70 lượt ha, vốn thực hiện 9.106.349.540 đồng
- Trồng rừng: 3.537,19 ha, vốn thực hiện 10.072.330.000 đồng
- Chăm sóc rừng trồng các năm: 3.640,18 lượt ha, vốn 3.003.486.150 đồng
Trang 37Bảng 3.3: Khối lượng các công trình lâm sinh giai đoạn 2006-2010
Trang 38Vốn đầu tư lâm sinh giai đoạn này chủ yếu liên quan tới triển khai Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661) Tổng số vốn thực hiện dự án 24.902.999.914 đồng, bình quân 4.150.499.986 đồng/năm Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước được phân bổ như sau:
Bảng 3.4: Nhu cầu vốn đầu từ dự án từ năm 2006-2010
(Nguồn: Dự án rà soát rừng phòng hộ-Trích phụ biểu 02)
Như vậy, có thể thấy rằng việc thực hiện các mục tiêu của Dự án 661 nói chung vẫn chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước vào việc bảo vệ và phát triển rừng trong những năm qua vẫn chưa thực sự rõ nét Ngoài ra, các hoạt động tạo nguồn
thu từ rừng tự nhiên hàng năm hầu như không có Vì vậy, việc "lấy nguồn thu
từ rừng để phục vụ cho phát triển và bảo vệ rừng" là rất khó khăn
3.2.1.2 Công tác tuyên truyền bảo vệ rừng
Công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức về Luật bảo vệ và phát triển
rừng, các Chính sách có liên quan cho người dân là rất quan trọng, giúp cho
người dân hiểu được những Chính sách phát triển rừng của Nhà nước và hiểu
Trang 39được giá trị cũng như lợi ích từ rừng Thường xuyên phối hợp với Uỷ ban nhân dân các xã tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền giáo dục tới các hộ dân, phổ biến phương án bảo vệ rừng, biện pháp phòng chống cháy rừng…
Bảng 3.5: Thống kê số lớp tập huấn, tuyên truyền
3.2.1.3 Xây dựng cơ bản
Phong tục truyền thống của đồng bào miền núi là chăn thả gia súc tự do
Vì vậy, hiện tượng rừng bị gia súc phá hoại cũng là một vấn đề cần quan tâm
và có biện pháp cụ thể để ngăn chặn và hạn chế việc gia súc phá hoại rừng
Từ thực tế trên, hàng năm, Ban thường xuyên phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan như xã, thôn, hộ dân tham gia xây dựng các bảng nội quy, biển báo, nghiêm cấm các hoạt động gây thiệt hại đến rừng
Bảng 3.6: Thống kê bảng nội quy, biển báo
Năm Diện
tích Tổng tiền
Tu sửa bảng xây (cái)
Làm mới bảng nội quy sắt (cái)
Làm mới biển tam giác (cái)
Trang 403.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà
hồ Sông Đà, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao mức sống của người dân
- Rừng đã được bảo vệ ngày một tốt hơn Do có các biện pháp phòng ngừa tốt nên số vụ cháy rừng, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt
- Khoa học công nghệ trong lâm nghiệp bước đầu được quan tâm, đặc biệt trong việc lựa chọn và tạo giống cây trồng chất lượng cao cho trồng rừng sản xuất
- Ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực vào việc tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân
Nguyên nhân các thành tựu
- Đảng và chính quyền các cấp đã quan tâm đến công tác bảo vệ và phát triển rừng, thông qua các chính sách, như giao đất giao rừng, hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn, chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người và nhiều Chương trình, dự án hỗ trợ lâm nghiệp khác như Dự án 661, 472 vv
- Có sự tham gia chủ động và tích cực của các cộng đồng dân cư địa phương và chính quyền các cấp trong công tác bảo vệ và phát triển rừng như tham gia trồng rừng sản xuất, xây dựng Quy ước bảo vệ rừng và các tổ bảo vệ rừng thôn bản
- Có sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong việc trồng rừng, chế biến lâm sản, du lịch sinh thái