Tính cấp thiết của đề tài Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định vấn đề “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí c
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X đã xác định vấn đề “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp
phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng; là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của Đất nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng trước hết phải xuất phát từ lợi ích của nông dân, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, cùng với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức trở thành chỗ dựa chính trị vững chắc của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng cao trình độ mọi mặt, có đời sống vật chất
và tinh thần ngày càng cao
Trong những năm qua, nhiều chương trình đã được thực hiện, như Chương trình giống, Chương trình khoa học công nghệ, Chương trình khuyến nông, khuyến công… Bên cạnh đó, chúng ta cũng thực hiện một số chương trình, dự án mang tính phát triển nông thôn như: Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình 135 hay Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm Tuy nhiên, những chương trình hay dự án đó chỉ
mới giải quyết một số khía cạnh riêng rẽ (như về cơ sở hạ tầng, môi trường)
hoặc nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho những vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo
Để nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển bền vững, chúng ta cần phải chú trọng đến việc nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân ở nông thôn, đặc biệt phải nâng cao vai trò của người dân
Trang 22
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của người dân, trong thực hiện các dự án phát triển nông thôn Có rất nhiều lý do và lực cản như trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế chính sách, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém,…
Hiện nay, một số mô hình phát triển nông thôn mới đang thực hiện ở một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, đã vận dụng một cách có chọn lọc các phương pháp, kế thừa bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, nhằm huy động sự tham gia của người dân Vấn đề nâng cao vai trò của người dân, thực hiện chủ yếu thông qua một số mô hình phát triển nông thôn mới vẫn chưa được cụ thể hoá một cách chi tiết, chưa mô phỏng nó thành phương pháp để thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế
Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển NTM và tình hình trên Đảng
và Chính phủ đã chủ trương phát triển mô hình NTM, mà ở đó người dân nông thôn sẽ làm chủ quá trình phát triển, chúng ta sẽ nhìn thấy một nông thôn khởi sắc, nhìn thấy hình ảnh của một nông thôn mới Viê ̣t Nam phát triển toàn diện và bền vững
Chiến lược quan trọng này sẽ giúp cho người dân nông thôn thoát nghèo, mọi người được sống trong một cộng đồng xã hội có văn hóa hơn, ở đó tình làng nghĩa xóm, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau được phát huy mạnh Đặc biệt là con người của nông thôn sẽ có trình độ hơn, năng động hơn, tha thiết hơn khi tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng địa phương, họ thấy được mục tiêu phát triển phía trước gần hơn và cụ thể hơn
Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 26-NQ/TƯ mà Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Đảng khóa X, ban hành ngày 5 tháng 8 năm 2008 Văn kiện này gần như
là một bảo bối soi sáng cho con đường phát triển nông thôn Viê ̣t Nam phía trước và đó là một cơ hội cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao đời sống dân
cư nông thôn nước ta
Trang 33
Từ những đă ̣c điểm trên, nên việc xây dựng nông thôn mới là nhiê ̣m vu ̣ quan trọng, đang đă ̣t ra nhiều vấn đề cần tâ ̣p trung nỗ lực của Nhà nước và nhân dân, giải quyết những vấn đề cấp bách, đồng thời ta ̣o ra tiền đề cho những giai đoa ̣n tiếp theo
Trong những năm gần đây, xã Đông Phương Yên đang trên đà phát triển, thu nhập bình quân đầu người hàng năm đều tăng, cơ sở hạ tầng đang được chú trọng đầu tư đúng mức Chủ trương của Đảng ủy, UBND xã Đông Phương Yên rất mong muốn trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Việc nghiên cứu tình hình phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn tại địa phương, qua đó đánh giá những thành công, phân tích những hạn chế còn tồn tại từ đó đề xuất những giải pháp để giúp xã đạt được tiêu chí NTM là hết sức quan trọng và cần thiết Chính vì vậy, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Đông
Phương Yên, huyê ̣n Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển xã Đông Phương Yên thành xã Nông thôn mới, theo Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới của Chính phủ
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã Đông Phương Yên, trên cơ sở so sánh với các tiêu chí về Nông thôn mới
- Đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng xã Đông Phương Yên trở thành
xã Nông thôn mới trong 5 năm tới (2011 – 2015)
Trang 4- Số liệu thứ cấp bao gồm: kế thừa các công trình, tài liệu đã công bố và chọn lọc các thông tin cần thiết về việc xây dựng nông thôn mới
3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp thống kê và phương pháp phân tích kinh tế và xử lý số liệu trên bảng tính Excel
3.3 Phương pháp phân tích số liệu
So sánh đánh giá kết quả với chỉ tiêu kế hoạch; so sánh năm sau với năm trước; thực tế với yêu cầu đặt ra về nông thôn mới
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng Nông thôn mới Tham khảo ý kiến của các cơ quan chức năng, ý kiến của lãnh đạo xã và tham khảo ý kiến của người dân về hiện trạng và mục tiêu phấn đấu để đạt được các tiêu chí về xây dựng NTM, theo Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ Tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới
4 Đối tượng nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 – 2011 và những đề xuất triển khai xây dựng NTM tại xã Đông Phương Yên trong 5 năm tới (2011 -2015)
Trang 55
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm những chương sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế- xã hội của xã Đông Phương Yên
Chương 3: Đánh giá các tiêu chí so với Bộ tiêu chí quốc gia về NTM của Thủ tướng Chính phủ
Chương 4: Một số giải pháp xây dựng Nông thôn mới tại xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
Trang 66
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Hiện nay, trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn Tuy nhiên, theo quan điểm nhóm chuyên viên của Liên hợp quốc đề cập đến khái niệm CONTINIUM nông thôn - đô thị để so sánh nông thôn và đô thị với nhau Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian, để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Trong điều kiện Việt Nam có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa -
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng
của các tổ chức khác”
1.1.1.2 Khái niệm về phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa:
“Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh
tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn
được hưởng lợi ích từ sự phát triển”
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Vì vậy, trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:
Trang 77
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”
1.1.1.3 Khái niệm về phát triển nông thôn bền vững
Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả xấu cho thế hệ tương lai [7]
1.1.1.4 Khái niệm về nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn, nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hoá và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại
Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới, là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung, mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa và dân chủ hóa
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông
thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống đã có) ở tính
tiên tiến về mọi mặt”
Trang 88
1.1.2 Mô hình phát triển nông thôn mới
Mô hình phát triển nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng mới có tính tiên tiến về mọi mặt
1.1.2.1 Quan điểm về mô hình nông thôn mới
Những năm gần đây, mô hình nông thôn mới không còn là tên gọi mới mẻ đối với nước ta; mô hình phát triển nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nước ta Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn Việt Nam từ hướng chủ yếu là tự cung, tự cấp sang hướng đáp ứng theo nhu cầu của thị trường Đồng thời, đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi" Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào phát triển bền vững
Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại, để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh tế,
xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn
Đây là quan điểm có tính khái quát và có tính mạch lạc về mô hình phát triển nông thôn mới Như vậy, mô hình phát triển nông thôn mới có đặc điểm chung nhất là gắn với nông nghiệp, nông thôn, nông dân
1.1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của mô hình NTM
Một là, đối tượng của mô hình nông thôn mới là làng - xã Làng - xã thực
sự là một cộng đồng, chịu sự quản lý của Nhà nước, tuy nhiên Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn, mà trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của
người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với Pháp luật của Nhà nước)
Trang 99
Hai là, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những
điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo mọi điều kiện cho người dân có thể làm giàu trên chính quê hương của mình, hay
nói cách khác là “ly nông bất ly hương”
Ba là, nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
Bốn là, dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, Nhà nước, tư nhân…) tham gia tích cực trong mọi quá trình ra
quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người
nông dân thực sự “được tự do và tự quyết định trên luống cày, thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất, kinh doanh làm giàu cho mình, cho
quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức lao
động được giải phóng, nhân dân tích cực tham vào quá trình đổi mới Đó chính
là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Các tiêu chí này đang trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [14]
1.1.2.3 Vai trò mô hình NTM trong phát triển kinh tế xã hội
* Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị
trường, giao lưu và hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở vật chất của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi
Trang 10* Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn
lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã
* Về văn hóa - xã hội: Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp
nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
* Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn
mới, đó là người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông dân kết tinh các tư cách: công dân của làng, người con của các dòng
họ, gia đình
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn
* Về môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng
và củng cố Bảo vệ rừng, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế
- xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng hợp [14]
Trang 11có gì, để từ đó đưa ra những giải pháp để thực hiện
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491 ban hành
Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Bộ tiêu chí đã đưa ra các chỉ tiêu toàn diện về quy hoạch, hạ tầng, kinh tế, tổ chức sản xuất, văn hóa, xã hội, môi trường và hệ thống chính trị Phải coi đây là cuộc vận động toàn diện, đưa xây dựng nông thôn mới thành quyết tâm chính trị của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân Điều quan trọng nhất là phải phát huy tối đa vai trò của chủ thể, vậy chủ thể của nông thôn mới là ai?
Mục tiêu cuối cùng của xây dựng nông thôn mới là nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vì vậy nông dân chính là chủ thể của nông thôn mới Có nhiều ý kiến cho rằng xây dựng nông thôn mới sẽ cần phải có nguồn vốn đầu tư rất lớn từ nhà nước Trước tiên, phải xác định đây không phải là dự án để chờ đầu tư mà đây là một chương trình phát triển tổng hợp về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội và cần phải hiểu rõ vai trò của nhân dân, của cộng đồng là chủ thể xây dựng nông thôn mới tại địa bàn, lấy nội lực
là căn bản Nội lực ở đây bao gồm công sức, tiền của do người dân và cộng động đóng góp để chỉnh trang nơi ở của chính gia đình mình như: xây dựng nâng cấp nhà cửa, xây dựng các công trình vệ sinh, tham gia trực tiếp ngày công lao động…
1.1.3 Những nội dung chủ yếu về xây dựng mô hình NTM
Nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của một nông thôn phát triển, nó khác hẳn với nông thôn truyền thống Nông thôn mới là một nông thôn mà ở đó kinh
tế phát triển cao hơn, đời sống về vật chất văn hoá và tinh thần tốt hơn; bộ mặt nông thôn hiện đại, bao gồm cả cơ sở vật chất phục vụ tốt cho sản xuất, phục
Trang 1212
vụ tốt cho đời sống văn hóa của người dân; đẩy mạnh dân chủ hoá ở nông thôn
và nâng cao vai trò của cộng đồng trong những quyết định về phát triển sản xuất, phát triển văn hoá và xã hội trên địa bàn Ba điều kiện cần trên đây, cho chúng ta đề xuất những chỉ tiêu chủ đạo trong xây dựng mô hình nông thôn mới với ý nghĩa rằng, mỗi địa phương là một mô hình nông thôn mới thì ít nhất cần phải đạt những chỉ tiêu sau:
1.1.3.1 Phát triển kinh tế
Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xã hội được thực hiện
Trong các nội dung xây dựng nông thôn mới thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá từ đó làm tăng thu nhập của người dân là quan trọng nhất Tuy vậy, không phải bất cứ địa phương nào cũng có điều kiện để sản xuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuất hàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phương nào có điều kiện phát triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá và cần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại, để tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới Nói như vậy, không có nghĩa là địa phương nào chỉ thuần nông và không có nhiều đất làm trang trại thì không thể phát triển sản xuất hàng hoá
và do đó khó có điều kiện để xây dựng nông thôn mới, chẳng hạn như ở Đồng bằng sông Hồng nhiều địa phương chủ yếu sống bằng nông nghiệp trong khi đất chật, người đông thì sẽ mãi mãi không có điều kiện xây dựng nông thôn mới Thật ra, những địa phương như vậy vẫn có thể phát triển sản xuất
Trang 1313
hoạch các khu chăn nuôi tập trung là vẫn có thể thực hiện được và chính việc xây dựng các trang trại chăn nuôi tập trung có thể đẩy mạnh, để trở thành chăn nuôi quy mô lớn, tạo ra sản xuất hàng hoá Ngoài ra, có thể thực hiện biện pháp "cấy nghề" để trở thành địa phương có sản xuất ngành nghề và đó là điều kiện để mở rộng sản xuất hàng hoá theo hướng phát triển ngành nghề
1.1.3.2 Phát triển cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn
Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới là có một bộ mặt nông thôn đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế, mà còn nâng cao đời sống của người dân Đối với
cơ sở hạ tầng, đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y
tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất
Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng, trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất (hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này) thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống
Xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá,
mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y
tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển
1.1.3.3 Phát triển văn hoá và nâng cao dân trí
Việc nâng cao dân trí, phát triển văn hoá sẽ là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, kích thích sáng tạo, đẩy mạnh sản xuất cho chính họ và cho cộng đồng dân cư nông thôn, trong công cuộc phát triển nông
Trang 1414
nghiệp, nông thôn nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hoá, có lối sống văn minh hiện đại là mẫu người nông dân mới trong nông thôn đổi mới, không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn
ở nước ta
Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có những nội dung thiết thực, trong việc xây dựng con người có trình độ văn hoá chuyên môn lại vừa có văn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và
có tính lâu dài Trong xây dựng nông thôn mới, không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tính thiết thực và được cả cộng đồng tham gia Do đó, xây dựng các hạ tầng văn hoá xã hội luôn luôn phải đi đôi với những nội dung của những hoạt động này
Địa phương xây dựng nông thôn mới cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh
1.1.3.4 Đảm bảo dân chủ thực chất ở nông thôn
Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới là một trong những yếu tố cơ bản, để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và
từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác
kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêu cuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.1.3.5 Phát triển nguồn lực con người
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, yêu cầu cấp thiết là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra
Trang 1515
sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh tốt hơn Người nông dân giờ đây đang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình Để nông dân có thể làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơn cho nông dân đặc biệt là vấn đề nâng cao trình độ các mặt về sản xuất, thị trường, quản lý Trong xây dựng nông thôn mới, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và ngành nghề
1.1.3.6 Bảo vệ môi trường và tài nguyên
Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện thiết yếu để phát triển nông thôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng để tăng trưởng một cách bền vững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường cũng là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp, hơn nữa nếu có điều kiện có thể kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển các cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn, còn có thể tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi có cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống và
là lá phổi xanh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, 6 nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới bao gồm phát triển kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng nền văn hoá mới, phát huy dân chủ
ở cơ sở, phát triển nguồn lực và bảo vệ môi trường nông thôn là 6 yêu cầu cơ bản phải luôn được gắn kết với nhau Trong qúa trình xây dựng nông thôn mới, cũng phải đánh giá xem một địa phương có khả năng xây dựng mô hình nông thôn mới hoặc đã trở thành một mô hình nông thôn mới hay chưa? Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta còn nghèo nàn và lạc hậu thì yêu cầu đồng thời phải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó thực hiện Tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được thay đổi cho phù hợp và đảm bảo để công cuộc xây dựng nông thôn mới thu
Trang 1616
1.1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của người dân trong phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay
1.1.4.1 Một số đặc điểm của nông dân Việt Nam
Nông dân Việt Nam có bản chất cần cù, thông minh và sáng tạo đó là truyền thống lâu đời của người dân nông thôn Ngày nay, người dân nông thôn Việt Nam một lòng theo Đảng, luôn tán thành chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, thể hiện từ tinh thần hăng say lao động, dám đương đầu với khó khăn và thách thức để vươn lên; cùng nhau góp sức với các tầng lớp khác
để hoà chung với đất nước trong công cuộc đổi mới, vai trò của người dân nông thôn đang được phát huy trên nhiều lĩnh vực; Quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy, nông dân tham gia ngày một nhiều hơn trong các hoạt động phát triển kinh tế xã hội thôn, bản
Trong những năm gần đây, người dân nông thôn đã được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, với những công nghệ hiện đại trong sản xuất thâm canh, cũng như tiếp cận được thông tin trong nước và trên thế giới một cách nhanh chóng, Đảng và Nhà nước rất khuyến khích người dân nông thôn làm giàu một cách chính đáng, để rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các vùng, miền
Tuy nhiên, người dân nông thôn có những hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại như: tính cam chịu, ít có động lực và ý chí vươn lên; tính bảo thủ,
ít tư duy sáng tạo; một số còn ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước và sự hỗ trợ từ bên ngoài; trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ địa phương, nhất là ở cấp thôn, bản còn hạn chế và yếu kém; vốn ít, máy móc lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém, Từ những vấn đề đó đã làm hạn chế vai trò của người dân nông thôn
1.1.4.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của người dân và trong phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay
Những năm gần đây, trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Đảng
và Nhà nước rất quan tâm đến vai trò của người dân trong việc tham gia phát triển nông thôn Tại Đại hội đại đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có một
Trang 1717
Đảng ta vẫn xác định vai trò quan trọng của khối liên minh công, nông
và tri thức là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc đã chỉ rõ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
và các hội quần chúng cần đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng hoạt động, khắc phục cho được tình trạng hành chính hoá, phô trương, hình thức;
làm tốt công tác dân vận theo phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” [8]
Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của
cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân [1]
Quy chế dân chủ ở cơ sở là khâu đột phá đưa sinh hoạt chính trị ở nước ta lên một tầm cao mới, củng cố và kiến tạo những điều kiện có tính nền tảng cho sự nghiệp dân chủ hoá ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn Như vậy, Quy chế dân chủ ở cơ sở là điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, là diễn đàn lớn cho nông dân phát huy quyền tự chủ của mình trong phát triển nông thôn và như vậy vai trò của nông dân được củng cố và nâng cao
Ngày 04 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Tại Quyết định này đã nêu rõ mục tiêu đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: có 50%
số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) Đồng thời, Quyết định cũng nêu rõ vai trò, trách nhiệm và phân công quản lý, thực hiện đối với các bộ, ban, ngành trong việc triển khai mô hình xây dựng nông thôn mới; trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, huyện trong việc hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung, tiêu chí của Bộ tiêu chí,
Trang 1818
Có thể nói đây là một văn bản đã cụ thể hóa, chi tiết hóa các nội dung, mục tiêu của Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Quyết định đã
đề ra lộ trình cụ thể, mục tiêu cụ thể, vai trò trách nhiệm của các bộ phận có liên quan trong việc thực hiện Quyết định Đồng thời, Quyết định cũng đưa ta vấn đề vốn và nguồn vốn để thực hiện Chương trình và một số giải pháp chủ yếu về thực hiện
1.1.4.3 Nội dung và vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới
Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng nông thôn mới, được coi như nhân tố quan trọng, ảnh hưởng lớn sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận, phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động trong phát triển nông thôn, vai trò của người dân ở đây được thể hiện:
Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định,
các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia
xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:
- Dân biết: người dân tham gia vào các giai đoạn của quá trình xây
dựng các công trình liên quan đến xây dựng NTM, nắm được thông tin đầy
đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn
Trang 1919
- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các
hoạt động phát triển NTM Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình, cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý
và duy tu, bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân
có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
- Dân kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự
giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình
và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình
- Dân quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã
tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong, cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra, để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần
chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như, thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi
Trang 2020
Hình 1.1: Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng NTM
Nâng cao vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng người dân như xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước, nội quy,… Phát huy vai trò của trưởng thôn, làng, bản, trưởng dòng họ và các tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây dựng các mối quan hệ tốt trong thôn, xóm, làng, bản
Đào tạo việc lập và thực hiện các dự án phát triển, cũng như việc vận hành
và bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ Đào tạo cách quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Thiết lập các tổ, nhóm quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ, hình thành các tổ nhóm tiết kiệm, tín dụng nông thôn [4]
Việc xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực và do người dân làm chủ xuất phát từ:
Trang 2121
Nhu cầu thực tế đòi hỏi phải có mô hình phát triển nông thôn,
Các bài học, những mô hình thành công trong và ngoài nước,
Các nguyên tắc cơ bản phát triển dựa vào nội lực và do người dân làm chủ
Tinh thần chỉ đạo của Trung ương “người dân địa phương chịu trách nhiệm chính và thực hiện việc xây dựng và phát triển, Trung ương, tỉnh, huyện và các đơn vị tư vấn, hỗ trợ và thúc đẩy”
Hình 1.2: Các lực lượng chính tham gia vào hệ thống
phát triển nông thôn
Theo các quan điểm trên, lực lượng tham gia vào hệ thống phát triển nông thôn mới được chia làm 2 cấp: (1) Cấp được hỗ trợ từ trên xuống hay từ bên ngoài cộng đồng dân cư và (2) Cấp thực hiện là các cộng đồng dân cư (làng, bản, thôn, ấp) mà người dân tại đó chính là tác nhân chính của sự phát triển nông thôn Vai trò của cấp hỗ trợ là xây dựng khung pháp luật, hoạch
Cấp xã: Đóng vai trò cầu nối
Cấp hỗ trợ bao gồm:
Trang 2222
giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời, giúp đỡ
hỗ trợ người dân nông thôn, khơi dậy phát huy nội lực của người dân để tăng cường và huy động làm người dân có đủ tự tin và năng lực tận dụng và sử dụng các cơ hội phát triển và nguồn hỗ trợ tài chính cho các hoạt động phát triển một cách có hiệu quả Cấp xã là cấp đóng vai trò cầu nối và là điểm giao thoa của các hỗ trợ từ trên xuống và các nhu cầu về phát triển từ các cộng đồng của cấp thực hiện lên
Để nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng PTNT, người dân cần được hỗ trợ từ các cán bộ hỗ trợ phát triển cộng đồng hay cán bộ hỗ trợ phát triển nông thôn giúp họ nâng cao tính tự chủ, tự lực và tạo động lực ban đầu Vai trò của cán bộ phát triển là giúp đỡ và tư vấn cho người dân nông thôn xác định các mục tiêu phát triển và xây dựng kế hoạch phát triển nông thôn Như vậy, mọi người dân đều có thể trở thành nhân viên phát triển nếu hội tụ các tiêu chuẩn: có kiến thức về phát triển, có kỹ năng và am hiểu công tác xã hội, có sức khoẻ tốt và nhiệt tình tham gia các phong trào
Hình 1.3: Vai trò của người dân tham gia xây dựng và PTNT
Người dân tại cộng đồng nông thôn đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động phát triển nông thôn Người dân nông thôn cần đổi mới tư duy về phát triển nông thôn từ nhận thức, cách nghĩ và hoạt động phát triển được khởi xướng và bắt đầu từ bên ngoài, do người ngoài làm hộ, làm thay sang cách nghĩ năng động, tự chủ hơn rằng mọi việc phải được bắt đầu và
Vai trò hỗ trợ của bên ngoài
Vai trò của người dân nông thôn
Thời gian
Trang 2323
khởi xướng từ người dân, do dân đề xuất, bên ngoài chỉ hỗ trợ và tư vấn khi cần thiết thì sự nghiệp phát triển nông thôn mới mang lại hiệu quả thiết thực và bền vững
Hình 1.4: Tam giác phối kết hợp 3 nguồn lực trong phát triển NTM
Như vậy, nâng cao vai trò của người dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nông dân là một lực lượng sản xuất, là lực lượng lớn gìn giữ, bảo lưu và phát triển nền văn hoá dân tộc Với vai trò đó, nông dân là người trực tiếp tham gia, đồng thời là đối tượng trực tiếp thụ hưởng thành quả Phát huy vai trò của người dân là “một quá trình động”, các yếu tố quyết định quá trình đó không thể tách rời sự quản
lý của Nhà nước
1.1.5 Mối quan hệ giữa nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong việc xây dựng nông thôn mới
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có mối quan hệ mật thiết với nhau
và chúng có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong gần 30 năm qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn lại đi trước
mở đường trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và
1) Động lực của người dân trong cộng đồng nông thôn
2) Ủng hộ của Nhà nước và
chính quyền địa phương
3) Sự thúc đẩy và hỗ trợ từ
bên ngoài
Trang 2424
giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm thô, từ đó an ninh lương thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càng phát triển
Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước
ta, quá trình này thường đi kèm những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh
tế-xã hội; và nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều
hy sinh Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển.nhất trong nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các nguồn lực quý giá cho phát triển nông nghiệp Thu nhập của người nông dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi diện nghèo đói, nhưng thực
tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo đói không đáng kể Người dân nông thôn không có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu của phát triển, các dịch
vụ cơ bản như vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục cũng chưa được cung cấp đầy đủ Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng,
Trang 2525
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phát triển nông thôn với việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, bình ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên, mỗi quốc gia có một quốc sách phát triển để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình
1.2.1 Kinh nghiệm và bài học của một số nước trên thế giới về sự phát triển mô hình nông thôn mới
1.2.1.1 Mô hình “Làng mới” ở Hàn Quốc [15]
Hàn Quốc vào những năm 1960 vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Những suy nghĩ mang tính thụ động và ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn
Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần
cù, sáng tạo và mang tính cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc phát biểu:
Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ,
tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới
Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất, tạo
động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của người nông dân”, lấy kích
thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
Trang 2626
* Một số hoạt động của mô hình “Làng mới” trong việc nâng cao vai trò
của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình
- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến trung ương
Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành
là bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”;
Ngoài ra , ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực
- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển
Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị và hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào, động lực chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và
sự động viên tinh thần kịp thời từ Chính phủ
- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn
Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần có
sự gắn bó thực sự giữa cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân
- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định
Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, trong đó hoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào tiến hành sau; họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình
- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã
Đây là nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc Hàng
năm, có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình và được đánh giá một cách nghiêm túc và công khai Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn
Trang 2727
của dự án mới được hỗ trợ chương trình khác Chủ trương này được Tổng thống công bố chính thức cho toàn dân, địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, họ tự hào về sự thay đổi và giàu có của làng mình
- Nhà nước và nhân dân cùng làm
Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu,
và giám sát công trình
- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”
Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau 08 năm các dự
án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong vòng 20 năm, rừng đã được che phủ khắp nước và trong vòng 6 năm, thu nhập bình quân các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở vật chất, đường làng, nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình, Phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn, cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại
Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên
tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển
Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “Làng mới Saemaul” là một trong số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách
có chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta
Trang 28đề ra nhiều chính sách để phát triển Xí nghiệp Hương Trấn Đầu năm 1997, toàn quốc có khoảng 20 triệu xí nghiệp Hương Trấn, với số lao động là 130 triệu người: trong đó, xí nghiệp do tập thể quản lý là 1,5 triệu với 60 triệu lao động, 30.000 xí nghiệp Hương Trấn hợp tác, liên doanh với nước ngoài, ngoài
ra là các loại xí nghiệp khác do tư nhân hoặc tư nhân liên doanh, liên kết
Xí nghiệp Hương Trấn là một hình thức mới của công nghiệp hóa nông thôn, đã đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa đất nước, làm giảm chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị Tuy vậy, Trung Quốc rất chú ý phát triển nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là chính và lấy xí nghiệp Hương Trấn làm trụ cột để phát triển nông nghiệp và nông thôn
Sau hơn 20 năm tăng trưởng, các doanh nghiệp nông thôn đã làm thay đổi toàn cảnh kinh tế khu vực nông thôn; trở thành lực lượng chính đứng sau
sự tăng trưởng bền vững chung của Trung Quốc; vai trò to lớn của doanh nghiệp nông thôn Trung Quốc trong việc tạo ra sự bình đẳng hơn về phân phối thu nhập trong nội bộ tỉnh có được là nhờ bản chất nhỏ bé mang tính địa phương và sử dụng nhiều lao động của các doanh nghiệp này
Như vậy, có thể nói rằng, Xí nghiệp Hương Trấn là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp Hương Trấn đã tạo cho nông dân chủ động trong thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc
Trang 2929
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan về doanh nghiệp hoá nông nghiệp
Thái Lan đã lựa chọn chiến lược xuất khẩu nông sản từ năm 1977 Chiến lược đó, đặt mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế của Thái Lan với tính cách một nước nhiệt đới có thể chiếm lĩnh được thị trường thế giới bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến Công nghiệp chế biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy Từ quan điểm đó, họ
đã xúc tiến các hoạt động: [11]
- Tổ chức đó như cách của Thái Lan (có lẽ cũng là nước đầu tiên trong
số các nước đang phát triển) là đi theo công thức 4 nhà: Nhà nước + nhà doanh nghiệp + nhà ngân hàng + nhà nông Việt Nam cũng lấy ý tưởng này nhưng thay nhà ngân hàng bằng nhà khoa học
Kết quả cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy mô hợp lý Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang mô hình trồng trọt như gạo và đặc biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện nay Thái Lan đang là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Đến năm 1998, Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này
1.2.2 Kinh nghiệm và một số bài học của Việt Nam về việc xây dựng nông thôn mới
Phát triển nông thôn Việt Nam đã trải qua nhiều mô hình, mỗi mô hình luôn gắn liền với giai đoạn phát triển của Đất nước
1.2.2.1 Phát triển nông thôn giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1957 - Mô hình chuyển giao ruộng đất cho hộ nông dân
Mô hình phát triển nông thôn nổi bật giai đoạn này là giao ruộng đất về tay người nông dân, với mục tiêu người cày có ruộng Nhà nước thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và triển khai công tác khuyến nông Nhờ vậy, kinh tế hộ nông dân phát triển, hàng triệu người dân hăng hái sản xuất, nông nghiệp sau 3 năm khôi phục kinh tế đã đạt được mức tăng trưởng khá cao Có
thể xem đây là thời kỳ “hoàng kim” của nông nghiệp nông thôn Việt Nam kể
từ sau năm 1939.[19]
Trang 30nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá”
(gọi chung là mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã) tại các vùng sinh thái
với một số xã điểm do Trung ương trực tiếp chỉ đạo
* Một số kết quả đạt được
Chương trình phát xây dựng nông thôn mới, đã triển khai tại 14 xã điểm sau đó đã tăng lên thành 18 xã vào năm 2004, trong thời gian đó các tỉnh cũng lựa chọn khoảng 200 xã đưa vào xây dựng mô hình nông thôn mới bằng nguồn ngân sách tỉnh Chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới, với 5 nội dung
cơ bản là: phát triển kinh tế hàng hoá; phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng khu dân cư văn minh; tăng cường công tác văn hoá, y tế giáo dục ở nông thôn; xây dựng đội ngũ cán bộ Việc thực hiện chương trình đã mang lại những kết quả đáng khích lệ sau:
- Kết quả sản xuất
+ Về sản xuất trồng trọt: Các xã xây dựng mô hình nông thôn mới, đã thực hiện việc quy hoạch chuyển đổi nhiều diện tích đất không hiệu quả kinh tế vào sản xuất các loại cây trồng phù hợp bằng biện pháp đưa giống mới năng suất cao vào thay thế các cây trồng không phù hợp Bên cạnh đó, các xã này còn vận động các nông hộ cải tạo vườn tạp để xây dựng những vườn cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao, đồng thời đã tiến hành thực hiện việc dồn điền đổi thửa rất thành công, từ đó đã làm số thửa của mỗi hộ giảm xuống 4 lần và cho hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế cao
+ Về sản xuất chăn nuôi: Để phát triển sản xuất chăn nuôi, các xã điểm đã cải thiện được tình hình chăn nuôi và đã đưa chăn nuôi trở thành bộ phận chính và
Trang 3131
có hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp Các xã điểm đã phối hợp với các Trung tâm khuyến nông tỉnh, thực hiện các chương trình cải tạo giống và phát triển đàn gia súc gia cầm nâng cao giá trị sản xuất
Cũng như các xã xây dựng mô hình nông thôn mới khác, nhiều xã đã vận động các nông hộ tham gia chương trình phát triển chăn nuôi bò trong đó tăng cường đàn bò Lai sin Kết quả đã có nhiều hộ chăn nuôi bò Lai sin trị giá hàng tỷ đồng; nhiều hộ khác đã phát triển chăn nuôi bò thịt giống lai, đưa tổng đàn bò năm 2002 từ vài trăm con và đến cuối năm 2003 đàn bò đã tăng lên trên nghìn con
1.2.2.3 Kinh nghiệm từ các xã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới của Trung ương giai đoạn 2009 - 2011
Sau gần 3 năm, thực hiện chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới
đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả khả quan Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp Chương trình đã góp phần xác định rõ hơn những nội dung về huy động nội lực, cách thức để người dân thực sự là “chủ thể” trong xây dựng nông thôn mới
Từ kết quả bước đầu cho thấy 7/11 xã đạt được 10 tiêu chí trở lên Trong đó có 3 xã đạt 15/19 tiêu chí trở lên là Thụy Hương, Tân Thịnh và Tân Thông Hội; 3 xã đạt 8-10 tiêu chí gồm Tân Lập, Tân Hội và Tam Phước Một
số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam, huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hòa, phát triển sản xuất gắn vơi quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tam Phước, phong trào cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư ở Tân Thịnh, liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở xã Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập Về cơ bản đây là cơ hội lớn thúc đẩy
Trang 3232
phát triển kinh tế - xã hội địa phương Trường học, trạm y tế, trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã được đầu tư xây dựng khang trang, đường làng ngõ xóm được cứng hóa sạch đẹp
- Kết quả phát triển cơ sở hạ tầng
Về hệ thống thuỷ lợi: Các xã điểm đều quan tâm phát triển hệ thống các
công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu và phòng chống lũ lụt trên địa bàn Các
xã đã đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi từ nhiều nguồn kinh phí: vốn vay, vốn của xã và HTX, vốn hỗ trợ từ cấp huyện, vốn hỗ trợ từ tỉnh và vốn huy động từ nhân dân Các xã điểm đã xây dựng được hơn 47 km kênh mương trị giá 11.500 tỷ đồng, nạo vét tu sửa nhiều tuyến kênh mương cũ Trong công tác xây dựng hệ thống thuỷ lợi, nhân dân các xã điểm đã tham gia hết sức tích cực, với giá trị đóng góp lên đến 20 - 40% tổng giá trị công trình
Về giao thông nông thôn: Các xã điểm đã xây dựng, cải tạo và nâng cấp
một lượng lớn các tuyến giao thông liên thôn, liên xã và đường làng ngõ xóm Được ngân sách tỉnh hỗ trợ, 15 km tỉnh lộ qua địa bàn các xã đã được xây dựng Bằng vốn đóng góp của nhân dân, 45 km đường liên xã, liên thôn và đường nội bộ thôn xóm đã được xây dựng và nâng cấp Tổng giá trị xây lắp đường giao thông nông thôn đã đạt được là 14.500 triệu đồng, đường nội bộ thôn chủ yếu do dân thực hiện 100%, còn đường liên thôn có nguồn kinh phí
hỗ trợ của tỉnh để mua xi măng và nhân dân còn góp công xây lắp với tỷ lệ 30% giá trị công trình
Hệ thống điện nông thôn: Được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, huyện và
sự tham gia đóng góp của người dân các xã điểm bước đầu đã cải tạo, nâng cấp được nhiều công trình cáp điện cho sản xuất và sinh hoạt Xã Gia Phố đã thực hiện công trình điện nông thôn, do tỉnh trợ giúp đã xây lắp và có sự đóng góp của cộng đồng, hoàn chỉnh được 8 trạm biến áp để cung cấp điện cho hầu hết các bản làng trong xã và 100% số hộ đã được dùng điện
Trang 3333
Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Trung tâm nước
sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn được Bộ NN&PTNT phân công giúp các xã điểm lập dự án đầu tư, hỗ trợ xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt và thực hiện các dự án vệ sinh môi trường nông thôn đã triển khai nhiều hoạt động trong các năm 2001, 2002 Các xã điểm đã thực hiện các dự án nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, các xã đã lập dự án khảo sát
và thi công hệ thống nước máy, xây dựng hệ thống bể điều áp và đường ống cấp nước sạch đến các cụm dân cư và cấp nước máy cho các cụm dân cư Dự
án vệ sinh môi trường nông thôn đã cải tạo hàng trăm nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn quốc gia, đào hàng trăm hố xử lý chất thải; làm thí điểm hầm biôgas cho hàng chục hộ và sẽ nhân rộng mô hình này trong các năm tới
- Kết quả về phát triển giáo dục đào tạo, văn hoá nông thôn
Các xã điểm đã quan tâm đầu tư các cơ sở phục vụ giáo dục đào tạo, một số xã mạnh dạn vay vốn để xây dựng trường học, sau khi đưa vào sử dụng sẽ thu hồi dần bằng đóng góp của dân Các xã còn dùng ngân sách xã mua đồ dùng dạy học và các trang thiết bị cần thiết cho học tập, tu sửa và bổ sung trang thiết bị cho trường mầm non Các xã đều thực hiện việc xây dựng nhà văn hoá xã, nhà sinh hoạt thôn
* Bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình thí điểm xây dựng nông thôn mới đã bộc lộ một số hạn chế:
- Phần lớn các xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa quan tâm đúng mức đến sản xuất Có mô hình sản xuất còn quá thiên về nông nghiệp, chưa được đầu tư thoả đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hoá Nội dung dân chủ chưa được thể hiện rõ trong các dự án, đa số các xã đều dàn trải mong muốn thực hiện nhiều vấn đề mà chưa xác định rõ những nội dung trọng tâm để triển khai thực hiện
- Phương châm của chỉ đạo xây dựng mô hình là dựa vào nguồn lực tại chỗ là chính, Nhà nước hỗ trợ một phần, nhưng chỉ khoảng một nửa số xã tự
Trang 3434
huy động được sự đóng góp của người dân từ 47 - 55% tổng vốn đầu tư, các
xã còn lại có mức huy động chỉ đạt 10% Tâm lí ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước còn phổ biến
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho các xã đòi hỏi vốn lớn, nhưng đến nay ngoài nguồn vốn thông qua một số chương trình dự án của Bộ NN&PTNT, của tỉnh còn lại các Bộ, ngành khác chưa có sự quan tâm đầu tư thoả đáng
- Chương trình này, từ khi xây dựng và thông qua đã không xác định rõ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và không được ghi vốn riêng Do vậy, khi triển khai đã thiếu nguồn lực cụ thể, không thể tạo ra động lực thu hút nguồn vốn đóng góp của nhân dân Do không có nguồn vốn riêng cho chương trình, các dự án mô hình đều phụ thuộc vào việc lồng ghép các chương trình dự án khác, từ đó dẫn đến việc triển khai các hoạt động của chương trình rất thụ động, không thường xuyên và hiệu quả rất hạn chế
- Việc phối hợp tổ chức thực hiện mô hình của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở chưa tập trung đồng bộ; đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo nhưng trình độ vẫn còn hạn chế, chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển khai dự án, nhiều xã điểm chưa phát huy được tiềm năng sẵn có, việc nhân rộng mô hình gặp nhiều khó khăn
- Một trong những nhược điểm quan trọng nhất là việc thực hiện chương trình vẫn chủ yếu xuất phát từ mong muốn của cấp trên đưa xuống, sự tham gia của người dân từ khâu đề xuất những công trình thiết yếu cho đời sống, sản xuất đến việc quản lý điều hành còn rất yếu, nhiều nơi người dân hầu như không được tham gia mà chỉ được vận động khi cần đóng góp, do đó nhiều công trình không thực sự là nhu cầu cần thiết của nhân dân nên xây dựng xong không được đưa vào sử dụng một cách có hiệu quả và nhanh chóng xuống cấp
Những đánh giá này là bài học rất bổ ích để tiếp thu thực hiện một các mềm dẻo hơn, xác thực hơn công tác xây dựng các mô hình nông thôn mới trong giai đoạn tới
Trang 3535
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIấN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA XÃ ĐễNG PHƯƠNG YấN 2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiờn địa bàn nghiờn cứu
2.1.1 Vị trớ địa lý
Đụng Phương Yờn là một xó nằm về phớa Tõy Bắc của huyện Chương
Mỹ, Thành phố Hà Nội, cỏch trung tõm Huyện khoảng 7km Địa bàn trải dọc Quốc lộ 6A từ km 28 đến km 30, tiếp giỏp với cỏc xó sau:
Phớa Đụng giỏp với 2 xó Trường Yờn và Phỳ Nghĩa
Phớa Tõy giỏp với xó Đụng Sơn
Phớa Nam giỏp với 2 xó Thanh Bỡnh và Trung Hũa
Phớa Bắc giỏp với xó Đồng Quang - huyện Quốc Oai
Với vị trớ địa lý như trờn, xó Đụng Phương Yờn cú nhiều thuận lợi trong việc sản xuất kinh doanh cũng như giao lưu kinh tế, văn húa Đặc biệt, Đụng Phương Yờn cũn là nơi trung chuyển hàng húa từ Hà Nội, cỏc tỉnh Đồng bằng sụng Hồng lờn Tõy Bắc và ngược lại Điều đú đó và đang được nhõn dõn và cỏn bộ trong xó phỏt huy mạnh mẽ, thụng qua việc xõy dựng chợ buụn bỏn, mở cỏc đại lý lương thực (ngụ, sắn, gạo), hoa quả (xoài, mận) từ Tõy Bắc về và vận chuyển hàng húa cần thiết ngược lại
2.1.2 Đặc điểm thời tiết, khớ hậu
Đông Ph-ơng Yên là một xã thuộc vùng bán sơn địa, mang tính chất miền trung du Bắc bộ rõ rệt, nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp giữa miền núi Tây Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ nên một năm chia thành 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Với đặc tr-ng nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa Hạ nóng ẩm m-a nhiều, mùa Đông khô hanh rét m-ớt, nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 đến 240C,
độ ẩm trung bình từ 74 đến 76% l-ợng m-a trung bình từ 2.300 đến 2.400 mm/năm
Trang 3636
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Đông Ph-ơng Yên
2.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã
Đông Ph-ơng Yên là xã có diện tích tự nhiên ở mức trung bình so với các xã trong Huyện Với tổng diện tích đất tự nhiên 628,08 ha trong đó có đất nông nghiệp, đất chuyên dùng, đất thổ c- và đất ch-a sử dụng, đ-ợc thể hiện qua Biểu 2.1:
Trong cơ cấu đất đai của xã, thì đất nông nghiệp là chiếm tỷ lệ lớn nhất
Cụ thể năm 2008, đất nông nghiệp là 437,76 ha chiếm 69,70 % tổng diện tích
đất tự nhiên Năm 2009, là 437,39 ha chiếm 69,64 % giảm 0,37 ha và năm
2010 là 437,10 ha chiếm 69,59% tổng diện tích đất tự nhiên của xã Diện tích
đất nông nghiệp giảm qua các năm, năm 2009 giảm 0,08 % so với năm 2008 giảm 0,07 % so với năm 2009 Tốc độ giảm bình quân trong 3 năm 2008 -
2010 là 0,08 %/năm
Nh- vậy, đất nông nghiệp trên địa bàn đều giảm qua các năm Các nguyên nhân chính làm giảm đất nông nghiệp ở đây là do sức ép tăng dân số, giãn dân và nhu cầu đất phục vụ cho dịch vụ th-ơng mại, sản xuất phi nông nghiệp Tuy tỷ lệ đất nông nghiệp giảm đi nh-ng đây là dấu hiệu th-ờng thấy của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất n-ớc Trong cơ cấu đất nông nghiệp cũng có sự biến động, đất trồng cây hàng năm giảm bình quân 0,15
%/năm chủ yếu là những diện tích ở ven đ-ờng Quốc lộ 6A, đ-ờng liên xã, liên thôn, một phần do chủ ch-ơng chuyển mục đích sử dụng đất của chính quyền, một phần do nhân dân tự ý chuyển nh-ợng, cho thuê không đúng quy
định, đây là hạn chế trong khâu quy hoạch và quản lý của chính quyền địa ph-ơng Qua cơ cấu đất nông nghiệp ta cũng phát hiện một nhân tố mới trong sản xuất nông nghiệp đó là một diện tích đất đồng cỏ mới xuất hiện năm 2009 với 0,36ha năm 2010 có 0,79ha phục vụ chăn nuôi bò sữa Cần khuyến khích
và giúp đỡ cả về kỹ thuật, kinh tế nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa nâng cao thu nhập từ nông nghiệp cho ng-ời dân
Trang 3838
Đất chuyên dùng đều tăng qua các năm, với tốc độ bình quân 3 năm là 0,11 %/năm, trong đó chủ yếu là đất xây dựng, vì xã đang trong quá trình phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Về đất thổ c-, hàng năm diện tích đều tăng lên do nhu cầu xây dựng nhà cửa, giãn dân, trên địa bàn xã bình quân đất ở khoảng 200 m2 và hầu hết các hộ đều có diện tích đất v-ờn có thể dùng cho xây nhà Không chỉ ng-ời dân trong xã, mà cả những ng-ời ở nơi khác đến định c-, có nhu cầu xây dựng trên diện tích cây hàng năm và diện tích ao hồ bị san lấp để xây dựng nhà cửa Tuy nhiên, trên địa bàn xã vẫn còn một phần diện tích lớn ch-a đ-ợc sử dụng, với số l-ợng là 45,20 ha chủ yếu là đất gò đồi, không canh tác đ-ợc
Xét một số chỉ tiêu bình quân nh- đất canh tác trên hộ, đất canh tác trên khẩu ta thấy các chỉ tiêu này không phải là thấp, năm 2008 bình quân mỗi khẩu là 504,7 m2, năm 2010 là 485m2 Đất nông nghiệp của xã kém màu mỡ, manh mún, gò đồi, việc canh tác cũng gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều công sức Cho nên thu nhập từ nông nghiệp không đủ để đảm bảo cuộc sống của các hộ Vì vậy, nhu cầu cấp thiết phải có nghề phi nông nghiệp để tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân trong xã
Tóm lại, đất đai của xã qua 3 năm biến động không nhiều và biến động cũng theo chiều h-ớng tự nhiên, phù hợp với xu h-ớng chung của cả n-ớc Nh-ng sự phát triển của nó lại là yếu tố tiềm tàng sự bất ổn, ảnh h-ởng xấu
đến kinh tế vì không có sự quy hoạch hợp lý thì không đảm bảo phát triển bền vững Cho nên vấn đề là phải có sự quy hoạch thống nhất và khoa học phù hợp với quy hoạch phát triển chung của Đất n-ớc làm cho sự phát triển có trật tự
và thật sự bền vững
2.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của xã
Lao động là yếu tố rất cần thiết của bất kỳ quá trình sản xuất nào, đặc biệt là trong khu vực nông thôn Quy mô, cơ cấu góp phần quyết định đến sự thành công của sự nghiệp phát triển kinh tế ở nông thôn Chính vì vậy, để xem xét tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa ph-ơng chúng ta phải xem xét tình hình lao động và nhân khẩu ở nơi đó
Trang 3939
Đông Ph-ơng Yên cũng giống nh- hầu hết các xã của huyện Ch-ơng
Mỹ, là xã có mật độ dân số t-ơng đối cao (khoảng 1.430 ng-ời/km2), lực l-ợng lao động dồi dào Cùng với xu thế phát triển chung của toàn xã hội, số nhân khẩu, số lao động, số hộ trong xã đều tăng qua các năm Tình hình cụ thể về lao động và nhân khẩu của xã đ-ợc thể hiện trong Biểu 2.2:
Về tổng số hộ, năm 2008 có 2.380 hộ, năm 2010 có 2.459 hộ, tăng lên
79 hộ Việc tăng số hộ là do một số hộ lớn tách cho con cái ở riêng và một số
hộ ở nơi khác đến xin nhập hộ khẩu để kinh doanh buôn bán ở khu vực chợ Trong cơ cấu ngành nghề ta thấy hộ thuần nông giảm đi sau mỗi năm, còn nhóm hộ kiêm, hộ chuyên, hộ dịch vụ, ngành nghề khác đều tăng lên điều đó cho ta thấy cơ cấu kinh tế đang chuyển biến đúng h-ớng một cách tích cực, cần phát huy
Về nhân khẩu năm 2008, toàn xã có 10.219 ng-ời, năm 2009 có 10.324 ng-ời, tăng thêm 105 ng-ời, tốc độ tăng 1,03 %/năm và năm 2010 có 10.432 ng-ời tăng thêm so với 2009 là 108 ng-ời tốc độ tăng là 1,05 %, tốc độ tăng dân số bình quân trong 3 năm là 1,04 % Tốc độ tăng nh- vậy là t-ơng đối cao
và có xu h-ớng tăng nhanh hơn, do cả hai nguyên nhân là tăng dân số tự nhiên
và tăng cơ giới (di dân từ nơi khác đến)
Trên thực tế, do kết quả hoạt động của Ban Dân số kế hoạch hoá gia
đình và do nhận thức của ng-ời dân tăng lên, nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã t-ơng đối thấp khoảng 1,6 %
Về cơ cấu nhân khẩu, số hộ thuần nông giảm, hộ kiêm, hộ chuyên tăng làm cho số khẩu nông nghiệp giảm xuống, khẩu phi nông nghiệp và khẩu kiêm tăng lên Khẩu nông nghiệp không phải hoàn toàn làm nông nghiệp mà còn tham gia phụ sản xuất hàng thủ công và buôn bán
Trang 40II Tæng sè nh©n khÈu Ngêi 10,219 117.83 10,324 107.64 10,432 99.78 101.03 101.05 101.04
3 KhÈu chuyªn Ngêi 940 10.84 1,018 10.61 1,125 10.76 108.30 110.51 109.40