1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661) trên địa bàn tỉnh nghệ an

108 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng tại tỉnh Nghệ An đã đạt được một số thành tựu quan trọng: về mục tiêu xã hội, môi trường đạt được ở mức tốt, nhất là ở các huyện đặc

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN HÀ

Hà Nội, 2011

Trang 3

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Đào tạo Sau đại học, các thầy, cô giáo đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức khoa học cho chúng tôi trong cả quá trình học tập, đặc biệt là TS Nguyễn Văn Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, truyền đạt những kiến thức khoa học, kinh nghiệm quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Nhân dịp này tác giả xin cảm ơn Chi cục Lâm nghiệp Nghệ An, Ban Quản lý Dự án 661 tỉnh Nghệ An, Ủy ban nhân dân xã Lục Dạ, huyện Con Cuông và Ủy ban nhân dân

xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi điều tra thu thập số liệu để hoàn thành luận văn

Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhưng do hạn chế về thời gian, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả xử lý tính toán là trung thực

và được trích dẫn rõ ràng

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2011

Tác giả

Trịnh Thị Dung

Trang 4

1.2.2 Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án 10

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.4.1 Đối với nghiên cứu tổng quan kết quả thực hiện dự án của tỉnh 16 2.4.2 Nghiên cứu tác động của dự án tại 2 xã điển hình 17

Trang 5

24

3.2.2 Công tác triển khai thực hiện Dự án 661 ở Nghệ An 27

3.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội - Xã Lục Dạ, Con Cuông 29 3.2.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Huyện Quỳ Châu 31 3.2.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Châu Bình, Quỳ Châu 33

3.3.1 Bộ máy quản lý dự án 661 tại Nghệ an 34

3.3.2 Công tác triển khai thực hiện dự án 661 ở Nghệ an 39

3.4.1 Kết quả đầu tư cho dự án 42 3.4.2 Kết quả thực hiện các hoạt động của dự án 42 3.5 Hiệu quả tác động của dự án 661 tại Nghệ an về mặt kinh tế, xã hội

3.5.1 Hiệu quả tác động của dự án đến Tỉnh Nghệ an 49 3.5.2 Hiệu quả tác động của dự án đến Xã Lục Dạ, Huyện

3.5.3 Hiệu quả và tác động của dự án đến Huyện Quỳ Châu,

3.5.4 Hiệu quả và tác động của dự án đến Xã Châu Bình,

3.6 Nghiên cứu tác động của dự án 661 tại 02 xã điển hình: xã Châu Bình,

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

quốc

cơ hội và thách thức

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.2 Sử dụng ngân sách (vốn trung ương, địa phương và vốn

ODA

37

3.3 Tổng hợp kết quả khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng từ

năm 1999 đến năm 2010 dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

3.7 Diện tích trồng mới rừng sản xuất (từ vốn NSNN hỗ trợ,

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Tình hình kinh tế hộ gia đình tham gia dự án xã Châu Bình

trước và sau khi tham gia dự án 661

3.4 Tổng hợp thu thập trong một năm của hộ gia đình trước và

sau khi tham gia dự án 661 – xã Lục Dạ

3.10 Đánh giá của người dân về mực nước sông suối trong xã

sau khi dự án 661 diễn ra – xã Châu Bình

72

3.11 Đánh giá của người dân về mực nước sông suối trong xã

sau khi dự án 661 diễn ra – xã Lục Dạ

72

3.12 Đánh giá của người dân về độ trong, đục của nguồn nước

sau khi diễn ra dự án 661 tại xã Châu Bình

73

Trang 10

3.13 Đánh giá của người dân về độ trong, đục của nguồn nước

sau khi diễn ra dự án 661 tại xã Lục Dạ

Trang 11

MỞ ĐẦU

Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích tự nhiên của đất nước, đó là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng và là cơ hội cung cấp việc làm cho hơn 24 triệu người thuộc nhiều dân tộc khác nhau, những người đang sống gần và trong khu vực có rừng Trong vòng 50 năm qua việc khai thác gỗ và lâm sản để tồn tại đã làm mất đi gần 1/3 diện tích rừng Cụ thể, từ năm 1943 đến năm 1995 diện tích rừng tự nhiên giảm từ độ che phủ của rừng 43,8% xuống còn 28,2%

Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế vùng miền núi, trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực hiện nhiều chương trình, dự án, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phát triển lâm nghiệp đã được quan tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện Chương trình

327 và hiện nay là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661) Nhờ đó mà

độ che phủ của rừng đã nâng lên 37% năm 20051

Nghệ An có diện tích đất trống đồi núi trọc khá lớn, phân bố ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Vì vậy, Dự án 661 có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc trồng rừng sản xuất, phòng hộ, khoanh nuôi phục hồi rừng , chống xói mòn, hạn chế dòng chảy, điều tiết nguồn nước góp phần không nhỏ cho việc sản xuất nông nghiệp, nông thôn miền núi và đồng bằng, đồng thời tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương để xoá đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng

Việc thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng tại tỉnh Nghệ An

đã đạt được một số thành tựu quan trọng: về mục tiêu xã hội, môi trường đạt được ở mức tốt, nhất là ở các huyện đặc biệt khó khăn, tạo động lực để các hộ

1 Bản tin trồng mới 5 triệu ha rừng – số 2 năm 2010

Trang 12

thoát nghèo, từng bước vươn lên trong cuộc sống, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế quốc gia

Với độ che phủ của rừng trước khi có dự án thấp, đời sống của nhân dân trong vùng gặp nhiều khó khăn Sau 12 năm thực thi Dự án đã nâng độ che phủ của rừng từ 38,6% lên 53,1%

Rừng đã phát huy tốt chức năng phòng hộ, nhất là phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ hồ đập, phòng hộ môi trường sinh thái và phòng hộ ven biển; Tuy nhiên, diện tích rừng được Nhà nước đầu tư bảo vệ thuộc dự án 661 hàng năm bình quân 100.000 ha, so với diện tích rừng hiện có 875.009,5 ha, mới đáp ứng tỷ lệ 11,4% (So sánh diện tích rừng phòng hộ được đầu tư bảo vệ 100.000 ha/302.860,0 ha diện tích rừng phòng hộ được qui hoạch, đạt tỷ lệ 33,0%; Suất đầu tư bảo vệ rừng thấp hiện tại 100.000 đồng/ha Nếu tính theo định mức kinh tế kỹ thuật của nhà nước ban hành thì suất đầu tư bảo vệ chưa đáp ứng được)

Kết quả trồng rừng diện tích 69.330,5 ha/ 76,538,8 ha đạt tỷ lệ 90,6% Trồng rừng phòng hộ thực hiện hoàn thành tốt kế hoạch trồng rừng Trung ương giao hàng năm, đặc biệt kế hoạch trồng rừng phòng hộ năm 2009 - 2010 đạt trên 100%; Trồng rừng sản xuất áp dụng sử dụng giống trồng rừng bằng công nghệ mô, hom các loài cây mọc nhanh, cho năng xuất cao, bình quân

120 m3/ chu kỳ 7 năm, đáp ứng tốt mục tiêu kinh doanh và được nhân dân đồng tình cao chủ trương chính sách phát triển rừng nguyên liệu;

Vì vậy, để phát hiện những mặt tích cực cũng như những mặt cần bổ sung của Dự án 661 đối với cộng đồng và làm căn cứ kiến nghị, đề xuất đối với các Dự án khác có đặc điểm tương tự, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá kết quả thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (dự

án 661) trên địa bàn tỉnh Nghệ An”

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Khái niệm về Dự án

Nói đến Dự án tức là nói đến một vấn đề nào đó mà con người cần quan tâm giải quyết Hay nói cách khác không có vấn đề thì sẽ không có Dự án Có nhiều quan điểm khác nhau về Dự án Mỗi quan điểm về Dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu, khái niệm về Dự án

đã và đang được bổ sung hoàn thiện

Theo Cleland và King (1975) [1] thì Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu định trước

Clipdap cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định Gittinger (1982) [2] lại đưa ra quan điểm: Dự án là tập hợp các hoạt động mà ở đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại Trong quá trình này các công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định

Theo Ngân hàng Thế giới: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định

Theo Lyn Squire Dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều càng tốt

David Jary và Julia Jury trong Từ điển xã hội học đã đưa ra định nghĩa

về Dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục

Trang 14

đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng

xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo

sự thành công của Dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính

kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng

1.1.2 Đánh giá Dự án

Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạt động của

Dự án Đây là khâu then chốt trong một chu trình Dự án nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án trên cơ sở

so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước, hay nói khác đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp,

tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra

Trong các Dự án mà ở đó vai trò tham gia của các bên liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thì công tác đánh giá đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan Đánh giá có sự tham gia là một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý Dự án và các thành viên được hưởng lợi

từ Dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác định lại chính sách hoặc mục tiêu, chiến lược, sắp xếp lại các tổ chức, các đơn vị triển khai lại các nguồn lực nếu cần thiết Nó là cơ hội cho cả người bên trong và người bên ngoài cộng đồng dừng lại phản ánh về quá khứ và đưa ra quyết định cho tương lai

Các lý thuyết về hướng dẫn và đánh giá được đề cập chi tiết trong các công trình nghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmidt L.Therse Barker, Jim Woodhill, FAO, WB

Các đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra những nhận định, điển hình là các công trình nghiên cứu của WHO, L.Therse Barker Đây là

Trang 15

một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là hệ thống các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và sử dụng như thế nào Đối với một Dự án, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của Dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng hưởng thụ

Trong một Dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển khai Dự án cho cộng đồng Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần vào cuối Dự án - đó mới chỉ là đánh giá tổng thể Trong quá trình thực hiện

Dự án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn Nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ Dự án

Các tác giả như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady đã phân chia thành hai loại đánh giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu Dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ số đo đạc hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình, mở rộng diện đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét các vấn đề của

Dự án

Các phương pháp đánh giá Dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ những năm 1950 của thế kỷ XX, khi các Dự án phát triển cộng đồng ra đời Các phương pháp bao gồm: Phương pháp người dân tham gia đánh giá (PRA), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não

Trang 16

1.1.3 Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án

Trên thế giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường của

Dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm năm có thể chia làm hai giai đoạn

- Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm 1970 với đặc trưng là nghiên cứu xung quanh những vấn đề về chất lượng môi trường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế

Ban đầu là những nghiên cứu về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái thông qua việc hạn chế nạn phá rừng Nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến đất đai và môi trường đã được công bố như: Nghiên cứu của Freizendaling (1968) về “Tác động của con người đến sinh quyển”; Gober (1968) về “Đất và việc giữ độ phì của đất - các nhân tố ảnh hưởng đến

sử dụng đất” Tổ chức FAO trong nhiều năm nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc đã đưa ra các mô hình canh tác có hiệu quả như SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4

Đến đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành luật chính sách quốc gia về môi trường, thường gọi tắt là NEPA Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động đến môi trường của việc làm được kiến nghị Tiếp theo Hoa

Kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức cũng lần lượt ban hành luật đánh giá tác động môi trường [ Lê Thạc Cán, 1994] Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philippine, Indonesia đã ban hành các quy định về đánh giá tác động môi trường

Năm 1972, Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị về môi trường của con người với mục đích là tìm hướng giải quyết những tác động không mong

Trang 17

muốn của khoa học và kỹ thuật gây ra đối với môi trường sống Các tổ chức UNEP, UNDP, WB đã công bố “Tuyên bố về các chính sách và thủ tục về môi trường” nói lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường và quy định trong các Dự án phát triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) [4]

Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tài liệu “Phân tích các Dự án lâm nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H Contresal biên soạn Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư Dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các Dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển

- Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trưng của giai đoạn này là phát triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Từ những năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được nêu ra và ngày càng trở nên phổ biến Ngày nay quan điểm phát triển bền vững đã trở thành một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua Bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường là một cấu thành thiết yếu trong quá trình thúc đẩy phát triển bền vững Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các quyết định có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phương

Tại Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin)

đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm

vi từng nước trên thế giới” [10]

Trang 18

Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác Theo mô phỏng này hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế,

xã hội và sinh thái môi trường Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, cũng như thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm về Dự án

Các chương trình Dự án đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của một khu vực, đặc biệt là các vùng miền núi Do tính phức tạp của quá trình thực hiện (về mặt kinh tế,

kỹ thuật, tổ chức, xã hội) nên cần phải chuẩn bị đầy đủ cả về cơ sở vật chất,

cơ sở khoa học, thực tiễn và chính sách của Chính phủ theo một kế hoạch chặt chẽ, chi tiết và hợp lý trước khi thực thi Dự án

Trong “Phát triển cộng đồng”, tác giả Nguyễn Thị Oanh [19].đã đưa ra hai định nghĩa về Dự án như sau:

- Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể

- Dự án là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong khuôn khổ chi phí nhất định [15]

Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang [6], Dự án được hiểu như một

kế hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định

Trang 19

Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đã đưa ra hai khái niệm về Dự án:

- Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào

đó

- Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định Theo bài giảng về Quản lý lâm nghiệp xã hội của Trung tâm lâm nghiệp

xã hội, để nhìn nhận Dự án một cách đầy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau: hình thức, quản lý, kế hoạch, nội dung

- Về mặt hình thức: Dự án là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

- Về mặt quản lý: Dự án là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường trong tuơng lai

- Về mặt kế hoạch: Dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu

tư và tài trợ Dự án đầu tư là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác kế hoạch nền kinh tế

- Về mặt nội dung: Dự án được coi là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực xác định

Nói tóm lại, tuy có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Mục tiêu của Dự án là tạo sự thay đổi trong

Trang 20

nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường

1.2.2 Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án

Ở Việt Nam các Dự án đầu tư cho việc phát triển rừng đã được tiến hành cách đây trên nửa thế kỷ nhưng chỉ thời gian gần đây mới được thực hiện trên quy mô lớn Thời kỳ đầu chúng ta mới chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả về xã hội và môi trường sinh thái hầu như không được quan tâm đến

Vì vậy vấn đề đánh giá tác động môi trường ở nước ta cho đến nay còn rất mới mẻ, đặc biệt là đánh giá trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường của một Dự án

Trước những năm 1980, ở Việt Nam chỉ có những nghiên cứu nhỏ, không tập trung và chưa toàn diện về xói mòn đất Tuy cũng đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức canh tác đến đất, nước nhưng còn sơ sài và ở mức độ chung chung, các chỉ tiêu đánh giá còn đơn giản

Từ sau những năm 1980, kinh tế đất nước phát triển kéo theo việc suy giảm tài nguyên rừng cả về số lượng lẫn chất lượng do vậy công tác đánh giá tác động môi trường bắt đầu được chú trọng và phát triển Năm 1983, chúng

ta mới chính thức bắt đầu chương trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên

và môi trường Đến năm 1987, Nguyễn Ngọc Sinh lần đầu tiên đưa ra tài liệu

“Giới thiệu các phương pháp đánh giá tác động môi trường”

Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã nêu:

“Trong xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của các chương trình xây dựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, cần tiến hành đánh giá tác động môi trường” Từ đây vấn đề đánh giá tác động Dự án trở thành một yếu tố rất quan trọng

Trang 21

Năm 1994, Lê Thạc Cán [4] hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” tạo tiền đề

cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo

Hoàng Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Song, trong các phân tích, đánh giá tác giả thiên

về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên

Cũng trong năm 1994, nhiều công trình của các tác giả khác đã tiến hành nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của các phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình “Hiệu quả các biện pháp canh tác trên đất dốc” và “Sử dụng đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng”; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công trình “Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình”; Phùng Ngọc Lan, Vương Văn Quỳnh với đề tài “Nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các phương thức canh tác trong các hộ gia đình

ở huyện Hàm Yên - Tuyên Quang”[18, 19, 20]

Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh trên

cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng quế thâm canh thuần loài quy mô hộ gia đình tại Văn Yên - Yên Bái [14] Trong

đề tài tác giả đã trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế lâm nghiệp Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và môi trường

Năm 1996, Đoàn Hoài Nam với Luận văn thạc sỹ: “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương - Hàm Yên - Tuyên Quang”, đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số mô hình rừng trồng, tuy nhiên chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội [5]

Trang 22

Năm 1997, tiếp tục có những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường như: Nguyễn Thị Thanh An với luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường của một số mô hình theo phương pháp hệ số đường ảnh hưởng”; Đoàn Thị Mai với Luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy”[10]

Năm 1998, Cao Danh Thịnh với đề tài thạc sỹ “Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà” [3].đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp kinh tế - môi trường Trong đề tài tác giả

đã nghiên cứu vấn đề định lượng có trọng số các chỉ tiêu đánh giá và cho biết phương pháp tính trọng số bằng tương quan đạt độ chính xác cao hơn cả

Năm 2002, Phạm Xuân Thịnh với đề tài thạc sỹ “Đánh giá tác động của

Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang” [11].đã đề cập đến một số tác động của Dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau Dự án Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của Dự án Công tác đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường ở nước ta hiện nay còn rất mới mẻ Đây lại là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về thời gian và kinh phí nên chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phương pháp luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Do vậy cần phải tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện phương pháp luận cũng như tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời làm phong phú thêm nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này Xuất phát từ những lý do nói trên chúng tôi

đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện chương trình trồng

mới 5 triệu ha rừng (dự án 661) trên địa bàn tỉnh Nghệ An”

Trang 23

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: phân tích, đánh giá kết quả thực hiện dự án 661 ở địa bàn tỉnh Nghệ An làm cơ sơ đề xuất các giải pháp nhằm duy trì và phát huy kết quả Dự án

- Mục tiêu cụ thể:

+ Đánh giá được kết quả thực hiện các mục tiêu cơ bản của dự án 661 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

+ Bước đầu nghiên cứu hiệu quả tác động của dự án 661 trên các mặt kinh

tế, xã hội, môi trường sinh thái ở một số điểm thực hiện dự án tại tỉnh Nghệ An

+ Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và phát huy kết quả của dự án

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là các hoạt động và kết quả thực hiện dự án 661 trên địa bàn tỉnh Nghệ An và tác động của dự án tại 2 xã được lựa chọn nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quát kết quả thực hiện của Dự án trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến 2010 trên địa bàn tỉnh Nghệ An và tác động của dự án tại hai xã điển hình tham gia dự án 661 phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của luận văn

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình triển khai và kết quả thực hiện Dự án 661 trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 1999 đến năm 2010 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến Dự án, đồng thời đánh giá tác động của Dự án trên một số khía cạnh về kinh tế, xã hội và môi trường tại 2 xã chọn làm điển

Trang 24

hình nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát triển Dự án trong giai đoạn hậu dự án và các Dự án lâm nghiệp khác

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chính là kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có kết hợp với điều tra khảo sát tại hiện trường Hướng giải quyết cụ thể sẽ áp dụng cho từng loại rừng và từng địa điểm cụ thể Các bước tiến hành được sơ đồ hoá như sau:

Trang 25

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu

Bất kỳ một Dự án đầu tư nào khi đi vào hoạt động cũng có những tác động đến kinh tế, xã hội và môi trường Dựa theo mục tiêu của Dự án sẽ lựa

Xác định vấn đề nghiên cứu

Xây dựng đề cương nghiên cứu

Thu thập thông tin hiện trường

Điều kiện tự nhiên,

kinh tế, xã hội

Kết quả trồng rừng 661

Tình hình trồng rừng tại Nghệ an

Trang 26

chọn tác động nào là ưu tiên Những tác động đó cũng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, tích cực hay tiêu cực Tuy nhiên những tác động đó luôn thay đổi theo thời gian và không gian Nắm được sự thay đổi đó con người có thể điều chỉnh theo mục đích của mình Cũng như các hoạt động của Dự án chúng ta có thể nghiên cứu và điều chỉnh sao cho đạt hiệu quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường, hạn chế thấp nhất những tác động xấu

Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” là một trong những Dự án đầu tư nhằm khôi phục, bảo vệ tài nguyên rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính

đa dạng sinh học; Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn, miền núi, ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là vùng biên giới; Cung cấp gỗ nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát trển kinh tế - xã hội miền núi

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:

2.4.1 Đối với nghiên cứu tổng quan kết quả thực hiện dự án của tỉnh

- Kế thừa các số liệu thống kê của tỉnh về tình hình và kết quả thực hiện

dự án 661 hằng năm Để rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, một số tài liệu đề tài kế thừa có chọn lọc bao gồm: Những thông tin, văn kiện về Dự

án, các văn bản của nhà nước như các văn bản pháp luật, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngang bộ, quyết định thực hiện

Dự án Các báo cáo tổng kết của Dự án về diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng qua từng năm thực hiện, điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng vùng

Dự án

- Sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống: phân tích kinh tế, so sánh

xu thế biến động

Trang 27

2.4.2 Nghiên cứu tác động của dự án tại 2 xã điển hình

- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:

+ Lựa chọn điểm nghiên cứu: do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại hai xã và các hộ điển hình tham gia tích cực Dự án

661 đó là xã Lục Dạ - huyện Con Cuông và xã Châu Bình - huyện Quỳ Châu + Điều tra thông qua phỏng vấn hộ gia đình (HGĐ) được đề tài tiến hành như sau:

* Điều tra về kinh tế: Chọn 02 xã điển hình tham gia Dự án, sau đó tiến hành phỏng vấn 30 hộ gia đình/1 xã với mức độ giàu nghèo khác nhau và chia

ra làm 3 nhóm hộ, trong đó 10 hộ khá, 10 hộ trung bình và 10 hộ nghèo Các thông tin phỏng vấn được ghi chép trong phiếu điều tra hộ gia đình

* Điều tra về xã hội: Tiến hành đồng thời với điều tra kinh tế, sử dụng công

cụ là bộ câu hỏi ghi trong phiếu điều tra phỏng vấn tại 30 hộ gia đình trên

* Điều tra về môi trường: Thực hiện như điều tra về mặt xã hội Trong

đó, các số liệu, thông tin thu thập được kiểm tra tính thực tiễn thông qua quan sát trực tiếp và kiểm tra đánh giá

Ngoài ra, khi điều tra có những vấn đề phát sinh, những thông tin mới ngoài bộ câu hỏi cũng được ghi chép lại làm tài liệu tham khảo

+ Xác định mẫu điều tra: Điều tra thu thập thông tin hiện trường, thiết kế bản câu hỏi dành cho các đối tượng khác nhau, chọn mẫu, thực hiện phỏng vấn các đối tượng với dung lượng mẫu thích hợp

- Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệu, thông tin:

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu chung về dự án 661

3.1.1 Mục tiêu của Dự án 661

Dự án 661 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa X) thông qua bằng Nghị quyết số 08/1997/QH10 và được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng

7 năm 1998 Dự án 661 là một chương trình kinh tế - xã hội - sinh thái trọng điểm của Nhà nước Việt Nam Dự án 661 ra đời với các mục tiêu sau:

- Trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có để tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và

tính đa dạng sinh học

- Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định

cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn, miền núi, ổn định chính trị -

xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vực biên giới

- Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội miền núi

3.1.2 Nhiệm vụ của Dự án

Thực hiện Nghị quyết Nghị quyết số 08/1997/QH10 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 661-QĐ/TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án với các nhiệm vụ cụ thể, gồm:

Trang 29

- Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có, trước hết phải bảo vệ diện tích rừng

tự nhiên là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu,

kể cả rừng phòng hộ đã trồng theo chương trình 327, rừng sản xuất có trữ lượng giàu và trung bình Thực hiện ngay từ giai đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết hợp trồng bổ sung và trồng mới

- Trồng rừng: Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ rừng đặc dụng: khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 1 triệu ha, trồng mới 1 triệu ha gắn với định canh, định cư Trồng 3 triệu ha rừng sản xuất: rừng nguyên liệu công nghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ trụ mỏ, cây đặc sản, rừng gỗ quý hiếm khoảng

2 triệu ha cây công nghiệp lâu năm và cây lấy quả khoảng 1 triệu ha, đồng thời huy động các tổ chức và nhân dân triệt để tận dụng diện tích đất trồng để trồng cây phân tán

Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn, khả năng về đất đai và vốn, trên cơ sở các

báo cáo của Chính phủ và Báo cáo giám sát của Ủy ban thường vu ̣ Quốc hô ̣i, tại

kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 73/2006/QH11

Trang 30

ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong giai đoạn 2006 - 2010, cụ thể như sau:

- Bảo vệ có hiệu quả toàn bộ diện tích rừng hiện có, nhất là rừng tự nhiên, trong đó khoán bảo vệ rừng phòng hộ và rừng đặc dụng mỗi năm 1,5 triệu ha

- Trồng mới 1.000.000 ha, trong đó 250.000 ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (bình quân mỗi năm trồng 50.000 ha), 750.000 ha rừng sản xuất (bình quân mỗi năm trồng 150.000 ha)

- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ, rừng đặc dụng 803.000ha, trong đó khoanh nuôi chuyển tiếp 403.000ha, khoanh nuôi mới 400.000ha

- Tổng dự toán vốn đầu tư là 14.653 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách là 4.515 tỷ đồng, vốn vay và nguồn vốn khác phục vụ trồng rừng sản xuất là 9.000 tỷ đồng, vốn dự phòng 1.138 tỷ đồng

- Sau khi hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2006 - 2010 đã được điều chỉnh, Chính phủ tiếp tục bố trí nguồn vốn và điều hành chương trình bảo vệ và phát triển rừng theo cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia để đạt mục tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng

3.1.4 Về cơ chế chính sách đầu tư

Dự án được triển khai thực hiện trong một thời gian dài, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình triển khai dự án thường xuyên thay đổi vì vậy hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, chính sách thực hiện dự án cũng liên tục được bổ sung điều chỉnh Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật phù hợp thực tiễn cơ sở, do vậy đã cơ bản đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của thực tiễn sản xuất

- Cơ chế, chính sách đầu tư:

Trang 31

Từ năm 1999 suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ là 2,5 triệu đồng/ha; khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung là 1 triệu đồng/ha trong 6 năm; bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha/ năm; quản lý dự án đối với Trung ương là 0,7 %, đối với cấp tỉnh, huyện, xã là 1,3 % và đối với dự án cơ sở là 6 %

Năm 2002, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ bình quân được nâng lên 4 triệu đồng/ha

Năm 2006, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ bình quân được nâng lên 6 triệu đồng/ha, khoán bảo vệ rừng 100.000 đồng/ha/ năm; đồ ng thời thí điểm nâng mức giao khoán bảo vê ̣ rừng cho 21 xã nghèo ở huyê ̣n Mường Tè lên 200.000 đồng/ha/năm

Đến năm 2008, trước tình hình giá cả trong nước có nhiều biến động tác động mạnh đến việc tổ chức thực hiện Dự án, đặc biệt là trong đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 164/2008/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 12 năm 2008 điều chỉnh nâng mức đầu

tư trồng rừng phòng hộ, đặc dụng bình quân từ 6 triệu lên 10 triệu đồng/ha (suất đầu tư đối với trồng rừng phòng hộ, đặc dụng là 10 triệu đồng/ha này chỉ

là con số để tính toán kế hoạch hàng năm cho các địa phương Còn đầu tư thực tế các địa phương được tính đúng, tính đủ theo định mức kinh tế kỹ thuật

do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và điều kiện thực tế địa phương); Đồng thời các chi phí khác đã được tăng lên: quản lý dự án chung là 10% trong đó 8% cho các dự án cơ sở, Chi phí khuyến lâm 2%, chi phí quản

lý bảo vệ rừng 5%…vv

- Về chính sách đầu tư đối với rừng sản xuất: từ năm 2003, được sự đồng

ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghịêp và PTNT đã triển khai thí điểm chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo phương thức: Nhà nước hỗ trợ cây giống và một phần phân bón cho hộ gia đình trồng rừng sản xuất nguyên liệu (bình quân 1,5 triệu đồng/ha) Dự án này được triển khai tại các tỉnh Lạng

Trang 32

Sơn, Thanh Hoá và Bình Phước, được người dân đồng tình và đạt kết quả tốt Năm 2006, Chính phủ đã cho nhân rộng cách làm này ra các tỉnh với diện tích 52.000 ha, với kinh phí hơn 100 tỷ đồng và đến ngày 10 tháng 9 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg về một

số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015

3.1.5 Tổ chức thực hiện quản lý Dự án

Sau khi có Quyết định 661 từ Trung ương đến các địa phương đã hình thành hệ thống chỉ đạo thực hiện dự án: ở Trung ương có Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và Ban Điều hành dự án Trung ương; ở các địa phương thành lập Ban Điều hành/Chỉ đạo dự án và Ban quản lý dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cấp tỉnh

Giai đoạn 1998-2005: để tổ chức thực hiện Dự án, Thủ tướng Chính phủ

đã có Quyết định số 07/1998/QĐ-TTg ngày 16 tháng 1 năm 1998 về thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng do Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn làm Trưởng ban, thành viên là Lãnh đạo các Bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Uỷ ban Dân tộc…

Đến năm 2008, để tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện dự án từ Trung ương đến cơ sở nhằm hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu nhiệm vụ theo Nghị quyết 73/QH11 đề ra, Chính phủ đã kiện toàn lại Ban chỉ đạo nhà nước do Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng ban (theo Quyết định số 1832/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

Cùng với Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Ban điều hành Dự án Trung ương cũng được thành lập; Trưởng Ban điều hành là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các thành viên tham gia

Trang 33

là các đồng chí lãnh đạo các Vụ chuyên môn của các Bộ, ngành liên quan Hàng năm Ban điều hành chỉ đạo các Dự án tỉnh và cơ sở xây dựng, triển khai

kế hoạch thực hiện Dự án trên toàn quốc Ban điều hành có chế độ báo cáo từ

Dự án cơ sở lên Ban quản lý dự án tỉnh và lên Ban điều hành Trung ương

Ở các địa phương có tham gia dự án đều thành lập Ban quản lý dự án cấp tỉnh Ban quản lý dự án cấp tỉnh đồng thời tham mưu cho Ban điều hành/Chỉ đạo Dự án tỉnh tổ chức thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Dự án

- Ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có Dự án trồng rừng: chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả thực hiện dự án ở địa phương mình

- Ở cấp huyện không tổ chức Ban điều hành Dự án, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với các Dự án trên địa bàn huyện

- Ở các xã có tham gia Dự án trồng rừng với quy mô nhất định do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thì được bố trí một cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân xã chỉ đạo thực hiện Dự án và được hưởng phụ cấp từ nguồn kinh phí quản lý Dự án

- Các Dự án trồng rừng cấp cơ sở có Ban Quản lý Dự án với biên chế gọn nhẹ gồm giám đốc Dự án, kế toán trưởng và một số cán bộ kỹ thuật chỉ đạo hiện trường

Tuy nhiên, bộ máy quản lý dự án nhiều nơi còn chưa thống nhất, đặc biệt

là các Ban quản lý dự án cấp cơ sở Có những nơi thành lập Ban Quản lý dự

án cơ sở với đầy đủ tư cách pháp nhân, nhưng cũng có những nơi do lâm trường hoặc phòng kinh tế nông nghiệp huyện làm kiêm nhiệm…

Kể từ khi đi vào hoạt động, giai đoạn 1998 - 2005 cả nước có 723 dự án

cơ sở trong đó có 415 chủ dự án cơ sở là Ban quản lý rừng, có 185 chủ dự án

cơ sở là Lâm trường và có 123 chủ dự án cơ sở là UBND huyện, thị xã Các

Trang 34

dự án cơ sở được rà soát, xây dựng lại theo hướng dẫn nội dung của Dự án

661 Thực hiện Nghị quyết 73/QH11 của Quốc hội khóa 11 và nhất là sau khi tiến hành rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2006/CT-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương đã tiến hành rà soát lại các dự án 661 cơ sở Hiện tại cả nước có 944 dự án (trong đó

có 655 dự án trồng rừng phòng hộ, đặc dụng và 289 dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất) Các dự án cơ sở thường được xây dựng trên phạm vi địa bàn 1 huyện hay 1 đơn vị trực thuộc các Bộ, ngành

3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội - Tỉnh Nghệ an

Nghệ An có diện tích 16.498,5 km2, thuộc khu vực Bắc Trung bộ Việt Nam, tọa độ địa lý 18033’43’’ đến 19024’43’’ vĩ độ Bắc và từ 103052’53’’ đến

105045’50’’ kinh độ Đông cách thành phố Hà Nội 300 km; Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa ; Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; Phía Tây giáp với Biển Đông với

bờ biển dài 82km; Diện tích đất tự nhiên: 1.648.729 ha chiếm 5,01% diện tích đất tự nhiên toàn quốc

Dân số: 3.103.400 người (theo tổng cục thống kê năm 2007) gồm các dân tộc: Kinh, Khơ mú, Sán dìu, Thái, H’mông, Ơ đu, Thổ

Mật độ trung bình 188 người/km2; Tỉnh lỵ là Thành phố Vinh; Các huyện thị: Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hoà và 17 huyện gồm Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn

Địa hình: tỉnh Nghệ An nằm ở Đông bắc dãy Trường sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, vùng đồi núi chiếm ¾ diện tích sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Đỉnh núi cao nhất là Pulaileng (2.711m) ở Huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng

Trang 35

huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0.2m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên toàn tình

Khí hậu, thời tiết: Nằm trong vùng khí hậu thời tiết gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây – Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8)

và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Nhiệt

độ trung bình hàng năm 230C - 240C, nhiệt độ cao nhất là 42,70C xảy ra vào năm 1996, tháng lạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm, tần suất sương muối thường xảy ra vào mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau; Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.610,9mm, lượng mưa thấp nhất là 1110,1 mm

ở huyện Tương Dương; Độ ẩm trung bình hàng năm là 84%, độ ẩm thấp nhất

là 42% vào tháng 7

Sông ngòi: Tổng chiều dài sông ngòi trên địa bàn tỉnh là 9,828km, mật

độ trung bình là 0,7km/km2 Sông lớn nhất là Sông Cả (Sông Lam) bắt nguồn

từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng

ở Nghệ An là 17.730km2) Nhìn chung, nguồn nước khá dồi dào, đủ đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân

Biển và bờ biển: Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều

đá ngầm, cồn cát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợi thế cho việc phát triển ngành du lịch ở Nghệ An

Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, đã phổ cập được giáo dục tiểu học cho 10 huyện miền núi là 314.420 em Số học sinh người dân tộc thiểu số chiếm 36% Số giáo viên toàn tỉnh có 35.000 người trong đó giáo viên là người dân tộc thiểu số có 59 người

Trang 36

- Tài nguyên đất: Tỉnh Nghệ An có 1.648.728 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 195.944 ha, chiếm 11,88%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 685.504 ha, chiếm 41,57%; diện tích đất chuyên dùng là 59.221 ha, chiếm 3,59%; diện tích đất ở là 14.893 ha, chiếm 0,9%; diện tích đất chưa sử dụng và sống suối là 693.166 ha chiếm 42,04%

- Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 142.333 ha chiếm 72,63%, riêng đất lúa chiếm mặt nước chưa sử dụng là 4.634 ha

Tài nguyên rừng: Tính đến năm 2002, Tỉnh Nghệ An có 697.057 ha rừng, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 630.457 ha, diện tích rừng trồng là 66.660 ha Tổng trữ lượng gỗ tính đến năm 2002, toàn tỉnh có trên 50 triệu m3

gỗ nhiều loại gỗ quý như pơmu, samu, sấu, đinh hương, sến ngoài ra còn có hàng tỷ cây tre, nứa, mét và có 226 loài dược liệu quý

Mạng lưới cơ sở hạ tầng: Toàn tỉnh có 7.009 km đuờng giao thông Trong đó, đường do Trung ương quản lý dài 665km; đường do tỉnh quản lý dài 344 km; đường do huyện và xã quản lý dài 6.000 km, chiếm 85,60%, kết cấu phổ biến là mặt cấp phối tự nhiên và đường đất chiếm 87%, mặt nhựa chiếm 13%, vùng miền núi có 1.398km (đường nhựa và đá dăm dài 86km) Chất lượng đường giao thông nông thôn miền núi kiém hơn so với đường giao thông đồng bằng và trung du Tính đến tháng 9 năm 2002 còn 15 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm 10 huyện miền núi

Tình hình dân tộc và tôn giáo: Những năm gần đây đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên đáng kể Các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể đã vận động đồng bào định canh định cư, phát triển sản xuất, không di cư trái phép sang Lào

Nhân dân Nghệ An tham gia hai tôn giáo chính là Công giáo và Phật giáo Tình hình thiên tai hỏa hoạn: Các sự cố thường xảy ra như nắng nóng kéo dài Địa hình dốc, nhiều khe suối cho nên mưa thường xảy ra lũ quét ở các

Trang 37

huyện vùng cao (Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu) Về mùa khô thường xảy ra hạn hán kéo dài đến hỏa hoạn ở một số huyện vùng núi cao

Tình hình đời sống: Toàn tỉnh có khoảng 17,53% hộ đói nghèo, trong đó

tỷ lệ đói nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 là 31,95% Mức thu nhập bình quân vùng miền núi, dân tộc, vùng sâu còn thấp

3.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội – Huyện Con Cuông

Con Cuông là huyện miền núi vùng cao, nằm ở vị trí cửa ngõ phía tây của tỉnh Nghệ An, cách tỉnh lị thành phố Vinh 120 km, bao gồm 12 xã và 01 thị trấn Huyện Con Cuông phía Đông giáp Huyện Anh Sơn, Phía Tây Nam giáp nước CHDCND Lào, Phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương, Phía Nam giáp nước CHDCND Lào, Phía Bắc giáp huyện Quỳ Hợp và huyện Tân Kỳ Huyện Con Cuông bị phân chia bởi dòng sông Lam, tạo thành hai vùng kinh tế, sinh thái rõ rệt đó là vùng hữu ngạn và vùng tả ngạn Dân số gần 15.820

hộ, 65.239 khẩu và 40.509 lao động, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 70%, bao gồm các dân tộc: Thái, Kinh, Tầy, Nùng, Hoa và Đan Lai

Tổng diện tích tự nhiên 173.831,12 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp

là 154.537 ha, diện tích còn lại là 19.279 ha diện tích đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, quốc phòng, an ninh

Cơ sở hạ tầng văn hóa: Là huyện vùng cao được sự quan tâm của tỉnh và các ban ngành cấp tỉnh, cơ sở hạ tầng đã có sự thay đổi rõ rệt; có 12/13 xã, thị trấn có điện lưới Quốc gia; có 27 km đường Quốc lộ 7A chay xuyên suốt từ đầu đến cuối huyện và có 13 km đường tỉnh lộ nối QL 7A và đường 48

Có 11/13 xã, thị trấn có trường học cao tầng, xây dựng trường chuẩn quốc gia 17/48 trường, có 100 trẻ em được đến trường Huyện có 01 bện viện

đa khoa, 3 phòng khám đa khoa khu vực, 13/13 xã, thị trấn có trạm y tế xã, 11/13 xã có bác sỹ về xã, có y sỹ nhi khoa

Trang 38

Thực trạng kinh tế: Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn năm 2009 là 563.747 triệu đồng, đạt 99.5% kế hoạch cả năm

 Hiệu quả và tác động của dự án

Trước năm 1998, diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị xâm hại nghiêm trọng, đặc biệt là tại các vùng đệm, gần khu dân cư diện tích có xu hướng thu hẹp dần, tài nguyên rừng (gỗ, lâm sản, động vật) bị khai thác, buôn bán trái phép, nhiều nơi trở thành điểm nóng, độ che phủ rừng giảm có nơi chỉ còn 20-30%, diện tích phát triển rừng hàng năm hầu như không tăng mà có chiều hướng giảm, nguyên nhân là:

Để có lương thực đảm bảo đời sống nhân dân, hàng năm huyện giao hàng ngàn ha diện tích rừng cho bà con nông dân để sản xuất nương rẫy, do công tác quản lý nhà nước lỏng lẻo, nên việc sản xuất nương rẫy không đúng theo quy hoạch và khai thác gỗ rừng trái phép ồ ạt, do vậy hàng năm có hàng ngàn ha đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bị tàn phá

Là huyện miền núi vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 70% đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nguyên nhân là do chưa khai thác hết tiềm năng đất đai, sức lao động, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật chủ yếu sống dựa vào rừng đó là phát rừng làm nương rẫy khai thác gỗ và lâm sản trái pháp, săn bắt động vật rừng đổi bán lấy lương thực nên ảnh hưởng rất lớn đén quản lý bảo vệ rừng

Nhờ có các chương trình đầu tư từ dự án 661, đến năm 2010 diện tích rừng được quản lý, bảo vệ 128.094,4 ha (100% diện tích rừng); trồng rừng năm 2010 gồm: trồng cây phân tán vụ xuân là 30.000 cây các loại trong đó có 12.000 cây keo lai huyện cấp cho các xã, thị Trồng rừng nguyên liệu 2.500

ha trong đó: Dự án 147 là 1.392,7 ha, dự án 661 là hơn 100 ha Công ty Tân Hồng là 327 ha, trồng rừng thay thế nương rẫy 300 ha, diện tích keo lai dân tự

bỏ vốn trồng là 380,3 ha Công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ rừng, kiểm tra

Trang 39

kiểm soát lâm sản được tăng cường thường xuyên, rừng được bảo vệ tốt Tích cực ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ vi phạm lâm luật Xây dựng và thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy và quản lý bảo vệ rừng, không có cháy rừng xảy ra

3.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội – Xã Lục Dạ, Huyện Con Cuông

- Xã Lục Dạ là xã miền vùng cao, huyện Con Cuông, cách trung tâm huyện lị 12 km về phía Nam – Tây Nam Phía Bắc giáp xã Yên Khê, Phía Nam giáp xã Môn Sơn, Phía Đông giáp xã Môn Sơn – huyện Anh Sơn, Phía Tây giáp xã Môn Sơn, xã Yên Khê

- Khí hậu thủy văn: Chế độ nhiệt ở đây có 02 mùa rõ rệt, mùa nóng từ

tháng 4 đến tháng 9, tháng nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ lên đến 410C, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ có lúc thấp nhất 60C, Nhiệt độ bình quân của nhiều năm qua là 220C, số giờ nắng bình quân năm là 1.600 giờ Lượng mưa bình quân trong một năm là 1950 mm, là nơi chịu ảnh hưởng rất lớn của gió Đông - Bắc và gió Phơn Tây - Nam ( Gió Lào)

Điều kiện đất đai: Gồm đất feralit trên đá mẹ phiến thạch sét, Đất bồi tụ trên núi, Đất thịt trung bình phụ trên nền thịt nặng hoặc sét Hiện trạng đất đai: Diện tích tự nhiên 12.275,65 ha trong đó: Đất nông nghiệp 11.998,64 ha, Đất sản xuất nông nghiệp 1.097,07 ha gồm : Đất trồng cây hàng năm 720,34

ha, đất trồng lúa 287,2 ha và đất trồng cây lâu năm 376,73 ha Đất Lâm nghiệp: 10892,37 ha gồm: Đất rừng sản xuất 2.492,0 ha, (Rừng tự nhiên 2.976,0 ha, rừng trồng 527 ha, đất trống 1.326,5 ha) Đất rừng phòng hộ 2,732,1 ha, (Rừng tự nhiên 2.628,8 ha, rừng trồng 38,3 ha, đất trống 65,5 ha) Đất rừng đặc dụng 7.3330,8 ha, (Rừng tự nhiên 3.326,3 ha, rừng trồng 0 ha, đất trống 4,5 ha) Đất phi nông nghiệp 172,55 ha, Đất chưa sử dụng 104,46 ha

Trang 40

- Hiện trạng sông suối: Xã có 01 dòng sông chính chảy dài dọc xã là Khe Mọi, đổ ra sông Giăng và hệ thống khe suối: Khe Sú, khe Cá, khe Yên Hòa… đảm bảo tưới tiêu, sinh hoạt cho trên 80% toàn xã

- Dân số - lao động: Toàn xã có 1.668 hộ, phân bổ trên 12 thôn bản, với 7.443 nhân khẩu (có 7.175 khẩu nông nghiệp chiếm 96,4%, còn lại khẩu phi nông nghiệp) Tổng số lao động 2.278 trong đó lao động nông nghiệp 1.732 chiếm 76%, còn lại phi nông nghiệp Tỷ lệ tăng dân số 1,0%, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo cũ là 37,9%, theo chuẩn mới là 67,8% Thu nhập người dân 4.000.000 đồng/người/năm,

- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp chiếm 56,9%, Tiểu thủ công nghiệp chiếm 25,7% , Thương mại chiếm 17,3% Tổng giá trị sản xuất năm 2010: Sản xuất nông nghiệp đạt 29,4 tỷ, Tiểu thủ công nghiệp đạt 19,1 tỷ, dịch vụ thương mại đạt 12 tỷ Tổng thu ngân sách địa phương năm 2005 là 1,2 tỷ, năm 2010 là 1,5

tỷ Trồng trọt: Diện tích lúa cả năm 574 ha, năng suất 56,1 tạ/ha, diện tích ngô

150 ha, năng suất đạt 45 tạ/ha, diện tích lạc 48 ha, năng suất đạt 20 tạ/ha, rau các loại 3 ha, năng suất đạt 2,5 tạ/ha Chăn nuôi: Tổng đàn trâu 2.200 con, đàn bò 1.234 con, đàn lợn 5.778 con, gia cầm 65.840 con,

- Dân sinh kinh tế: Hệ thống giáo dục của xã gồm có 01 trường mầm non với 271 cháu, 11 giáo viên, 02 trường Tiểu học với 620 học sinh và 70 giáo viên; 01 trường trung học cơ sở với 416 học sinh và 33 giáo viên; hệ thống các trường về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của xã

Cơ sở văn hóa có 8/12 thôn bản có cơ sở đạt theo tiêu chuẩn của bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch Có 01 bưu điện văn hóa xã được xây dựng trên khuôn viên 400m2, diện tích sử dụng 150 m2 Cơ sở y tế: có 01 phòng khám

đa khoa khu vực Có 01 trạm y tế được xây dựng trên diện tích 4000 m2 (nhà cấp 4, 04 giường bệnh, 04 y sỹ)

Ngày đăng: 18/05/2021, 13:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cao Thế Cường (2008), Bước đầu đánh giá tác độ Dự án 661 tại xã Nghĩa Lộc, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tác độ Dự án 661 tại xã Nghĩa Lộc, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Cao Thế Cường
Năm: 2008
4. Lê Thạc Cán và tập thể tác giả (1994), Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn - Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường -Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn
Tác giả: Lê Thạc Cán và tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
5. Trần Hữu Dào (1995), Đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng Quế của các hộ gia đình tại Văn Yên- Yên Bái, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng Quế của các hộ gia đình tại Văn Yên- Yên Bái
Tác giả: Trần Hữu Dào
Năm: 1995
6. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
7. Đoàn Hoài Nam (1996), Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương- Hàm Yên – Tuyên Quang, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương- Hàm Yên – Tuyên Quang
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 1996
8. Hoàng Thị Nhung (2005), Bước đầu đánh giá tình hình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại xã Hoà Bình, thi xã Hoà Bình, Luận văn tốtnghiệp, Trung tâm Lâm nghiệp xã hội, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tình hình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại xã Hoà Bình, thi xã Hoà Bình
Tác giả: Hoàng Thị Nhung
Năm: 2005
9. Vũ Nhâm (2002), Phương pháp đánh giá Dự án trồng rừng có sự tham gia, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá Dự án trồng rừng có sự tham gia
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2002
10. Đoàn Thị Mai (1997), Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy
Tác giả: Đoàn Thị Mai
Năm: 1997
11. Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự (1996), Giáo trình lập và quản lý Dự án đầu tư, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập và quản lý Dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự
Năm: 1996
12. Vương Văn Quỳnh (1997), “Chỉ số xói mòn của mưa ở Việt Nam” Thông tin Khoa học Lâm nghiệp, (1), tr. 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chỉ số xói mòn của mưa ở Việt Nam”
Tác giả: Vương Văn Quỳnh
Năm: 1997
13. Vương Văn Quỳnh (1999), Bài giảng quản lý nguồn nước, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý nguồn nước
Tác giả: Vương Văn Quỳnh
Năm: 1999
14. Cao Danh Thịnh (1998), Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn Sông Đà, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn Sông Đà
Tác giả: Cao Danh Thịnh
Năm: 1998
15. Phạm Xuân Thịnh (2002), Đánh giá tác động của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn , tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn , tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Phạm Xuân Thịnh
Năm: 2002
16. Trần Văn Thông (2008), Đánh giá tác động của dự án trồng rừng Việt - Đức (KFW2) tại vùng Dự án xã Kỳ Lạc, Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của dự án trồng rừng Việt - Đức (KFW2) tại vùng Dự án xã Kỳ Lạc, Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Trần Văn Thông
Năm: 2008
17. Thủ tướng Chính phủ, (1998): Quyết định về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Số 661/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998
18. Trung tâm Lâm nghiệp xã hội (2000), Bài giảng quản lý lâm nghiệp xã hội, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý lâm nghiệp xã hội
Tác giả: Trung tâm Lâm nghiệp xã hội
Năm: 2000
19. Nguyễn Thị Oanh (1995), Phát triển cộng đồng, Đại học mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1995
1. Ban Quản lý Dự án trồng rừng 661 tỉnh Hà Tĩnh năm 2010, Báo cáo tổng kết thực hiện Dự án Khác
2. Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2010, Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 66 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w