Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, kiến thức, thực hành phòng bệnh của phụ nữ còn hạn chế có thể là yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng UTCTC.. Do đó, sự hiểu biết của mẹ về UTCT
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
KIẾN THỨC VÀ THựC HÀNH PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ CÓ CON GÁI 11-14 TUỔI HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG• • •
HỌC Cơ SỞ DỊCH VỌNG, QUẬN CÀU GIẤY, HÀ NỘI, NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC sĩ Y TẾ CÔNG CỘNG• • •
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720301
Trang 2NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
KIẾN THỨC VÀ THƯC HÀNH PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ CÓ CON GÁI 11-14 TUỔI HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG• • •
HỌC Cơ SỞ DỊCH VỌNG QUẬN CÀU GIẤY HÀ NỘI NĂM 2012 • • • • •
LUẬN VĂN THẠC sĩ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720301
Hướng dẫn khoa học:
TS Hà Văn Như
HÀ NỘI, 2012
Trang 3Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội và các thầy cô giáo vì đã tạo điều kiện cho tôi học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu mà tôi đã lựa chọn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn, người đã luôn tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian từ lúc bảo vệ đề cương đến khi hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp cao học Y tế công cộng 14
và 15 vì đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến mẹ tôi vì đã động viên tôi trong suốt hơn 2 năm học tại trường Đại học Y tế công cộng
Trân trọng!
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 3
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ và kiến thức về bệnh UTCTC 4
1.2 Tình hình UTCTC trên thế giới và ở Việt Nam 7
1.3 Các biện pháp phòng UTCTC 9
1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành phòng UTCTC 12
1.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng UTCTC 24
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 30
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 32
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.7 Biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 33
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 36
2.9ẵ Sai số và biện pháp khắc phục 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 38
3.1.Thông tin chung của ĐTNC 38
3.2 Kiến thức về bệnh và phòng bệnh UTCTC 40
3.3 Thực hành phòng bệnh UTCTC 46
3.4 Nguồn thông tin tiếp cận 53
3.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng bệnh UTCTC 55
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 60
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 60
4.2 Kiến thức về bệnh và phòng bệnh UTCTC 60
4.3 Thực hành phòng bệnh UTCTC 64
Trang 54.4 Nguồn thông tin về UTCTC 67
4.5 Một số yếu tố liên quan 67
4.6 Hạn chế của nghiên cứu 70
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 84
PHỤ LỤC lế GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN cứu 84
PHỤ LỤC 2 Bộ CÂU HỎI PHỎNG VẮN 85
PHỤ LỤC 3 KHUNG LÝ THUYẾT 95
Trang 6Bảng 3.1 Các đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 38
Bảng 3.2 Một số thông tin về tiền sử sản khoa 39
Bảng 3.3 Khả năng phòng tránh và các hành vi lối sống giúp phòng bệnh UTCTC.43 Bảng 3.4 Kiến thức của các bà mẹ về một số thông tin liên quan đến vắc-xin phòng bệnh UTCTC 44
Bảng 3.5 Một số kiến thức về sàng lọc UTCTC 45
Bảng 3.6 Điểm kiến thức trung bình 46
Bảng 3.7 Thông tin về khám phụ khoa 48
Bảng 3.8 Thông tin về khám sàng lọc phát hiện sớm UTCTC 48
Bảng 3.9 Điểm thực hành 52
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức chung về bệnh và khám phụ khoa 55
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kiến thức về sàng lọc UTCTC và khám phụ khoa 56
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thực hành PĐÂĐ-CTC và trình độ học vấn 56
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thực hành PĐÂĐ-CTC và số lần sinh 57
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC cho con gái và tuổi của mẹ 57
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc-xin và việc cho con gái tiêm vắc-xin 58
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa dự định cho con gái tiêm vắc-xin và tuổi của mẹ 58
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa dự định cho con gái tiêm vắc-xin và lo ngại về tác dụng phụ của vắc-xin 58
DANH SÁCH BẢNG
Trang 7Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ bà mẹ nghe đến UTCTC 40
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bà mẹ biết về các yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC 40
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phần trăm số yếu tố nguy cơ ĐTNC nhắc đến 41
Biểu đồ 3.4 Độ tuổi dễ mắc bệnh UTCTC nhất 41
Biểu đồ 3.5 Kiến thức về các triệu chứng của bệnh UTCTC 42
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bà mẹ nghe đến vắc-xin HPV phòng bệnh UTCTC 43
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ bà mẹ nghe nói về sàng lọc UTCTC 45
Biểu đồ 3.8 Các biện pháp tự phòng bệnh UTCTC 47
Biểu đồ 3.9 Lý do không khám sàng lọc UTCTC 49
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ bà mẹ dự định khám sàng lọc trong thời gian tới 50
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ con gái ĐTNC được tiêm vắc-xin 50
Biểu đồ 3.12 Lý do không cho con gái tiêm vắc-xin 51
Biểu đồ 3.13 Dự định cho con gái tiêm vắc-xin 51
Biểu đồ 3.14 Những người tham gia vào quyết định cho con gái tiêm vắc-xin 52
Biểu đồ 3 15 Nguồn thông tin tiếp cận về bệnh UTCTC 53
Biểu đồ 3.16 Nguồn thông tin về vắc-xin phòng bệnh UTCTC 54
Biểu đồ 3.17 Nguồn thông tin về sàng lọc UTCTC 54
Biểu đồ 3.18 Nhu cầu về nguồn thông tin UTCTC 55
DANH SÁCH BIÊU ĐÒ
Trang 8CBYT Cán bộ y tế
CDC Trung tâm phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ
(Centers for disease control)ĐTNC Đối tượnng nghiên cứu
FDA Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc chữa bệnh Hoa Kỳ
(Foods and Drugs Administration)
KP Kiến thức, thực hành (Knowledge and Practice)
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
NACI National Advisory Committee on Immunization
(ủy ban tư vấn tiêm chủng quốc gia Canada)PĐÂĐ-CTC Phiến đồ âm đạo-cổ tử cung (Pap smear)
QHTD Quan hệ tình dục
SAVY Điều tra Quốc gia về VỊ thành niên và Thanh niên Việt Nam
(Survey Assessment of Vietnamese Youth)TĐHV Trình độ học vấn
THCS Trung học cơ sở
TTHN Tình trạng hôn nhân
ƯTCTC Ung thư cổ tử cung
VIA Kiểm to cổ tử cung bằng mắt thường bằng dung dịch axít Axêtic
(Visual Inspection with Acetic Acid Application)VSDTTƯ Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
VILI Kiểm tra cổ tử cung bằng mắt thường bằng dung dịch iốt Lugol
(Visual inspection with Lugol's iodine)WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
DANH MỤC TỪ VIÉT TẮT
Trang 9thường gặp nhất ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam Theo WHO (2010), UTCTC có xu hướng gia tăng ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, kiến thức, thực hành phòng bệnh của phụ nữ còn hạn chế có thể là yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng UTCTC Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy, nghiên cứu về kiến thức, thực hành của bà mẹ có con gái 11-14 tuổi học tại trường THCS Dịch Vọng, quận cầu Giấy từ tháng 4/2012 đến tháng 8/2012 Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 205 bà mẹ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 98,0% bà mẹ nghe đến bệnh UTCTC 39,0%, 63,9% và 29,3% bà mẹ có kiến thức chung về bệnh, kiến thức về vắc-xin và kiến thức về sàng lọc đạt về thực hành phòng bệnh, 89,0% và 54,8% bà mẹ đạt về thực hành khám sàng lọc UTCTC và làm phiến đồ âm đạo - cổ tử cung (PĐÂĐ-CTC) Chỉ có 6,0% học sinh nữ 11-14 tuổi đã tiêm vắc-xin HPV phòng bệnh UTCTC 58,7% bà mẹ dự định cho con gái tiêm vắc-xin HPV Việc mẹ từng khám phụ khoa
ít nhất 1 lần trong 1 năm có liên quan đến kiến thức chung về bệnh UTCTC và kiến thức về sàng lọc UTCTC Yếu tố liên quan đến thực hành khám sàng lọc UTCTC bằng PĐÂĐ-CTC của mẹ là trình độ học vấn và số lần sinh con Yếu tố liên quan đến tiêm vắc-xin cho con gái là tuổi của mẹ và kiến thức về vắc-xin Yếu tố liên quan đến dự định cho con gái tiêm vắc-xin là tuổi của mẹ, lo ngại về tác dụng phụ của vắc-xin Nguồn thông tin đối tượng nhận được về UTCTC, vắc-xin, sàng lọc UTCTC là truyền hình (92,0%; 74,1% và 85,4%) 96,0% và 68,2% bà mẹ có nhu cầu thông tin về bệnh và phòng bệnh UTCTC từ tờ rơi và CBYT Nghiên cứu đưa
ra một số khuyến nghị: Tăng cường truyền thông với nhiều hình thức, đặc biệt là tờ rơi và CBYT, hướng đến đối tượng phụ nữ có con gái 11-14 tuổi tại các phường thuộc quận cầu Giấy Các bà mẹ cần tìm hiểu nhiều hơn về bệnh UTCTC và các biện pháp phòng bệnh cũng như too đổi với chồng con về UTCTC để có quyết định đúng đắn về việc đi khám sàng lọc định kỳ và cho con gái tiêm vắc-xin HPV Ngoài
ra, các bà mẹ cũng cần khám phụ khoa đều đặn vì qua đó họ có thể tiếp cận được với nguồn thông tin đáng tin cậy về UTCTC và được tư vấn hoặc được khám sàng lọc
Trang 10ĐẶT VẤN ĐÈ
Ung thư cổ tử cung là một trong những ung thư phụ khoa thường gặp nhất ở phụ nữ Gánh nặng bệnh tật của UTCTC gây ra đứng thứ hai sau ung thư vú Hàng năm, có hơn nửa triệu trường hợp mắc mới ƯTCTC và trên 200.000 trường hợp tử vong do ung thư này Theo WHO, có 80% số ca UTCTC chủ yếu ở các nước đang phát triển năm 2010 và uớc tính đến năm 2025 số ca mắc mới UTCTC sẽ tăng lên750.000 Ở Việt Nam, UTCTC xếp thứ 5 trong 10 ung thư hàng đầu ở nữ giới Năm
2008, có 5.174 trường hợp mắc mới (11,4/100.000 người) và hơn 2.472 phụ nữ tử vong do UTCTC (5,7/100.000 người) [84] UTCTC gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người phụ nữ, nặng nhất là tử vong, ngoài ra còn ảnh hưởng đến khả năng mang thai, sinh con, chất lượng cuộc sống giảm sút UTCTC còn làm suy kiệt
về tinh thần và tâm lý xã hội của người bệnh, cũng như sự đau buồn của gia đình người bệnh
Mặc dù UTCTC là một căn bệnh nguy hiểm, nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu người phụ nữ có kiến thức và thực hành phòng chống UTCTC Các biện pháp phòng ngừa UTCTC bao gồm như hành vi lối sống lành mạnh, khám sàng lọc đều đặn và tiêm vắc-xin phòng bệnh Trong các biện pháp sàng lọc, PĐÂĐ-CTC được áp dụng rộng rãi nhất và lâu năm nhất ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, khám sàng lọc đều đặn không được thực hiện do ý thức và thói quen của người phụ nữ chỉ tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh khi có triệu chứng bệnh, do đó khi phát hiện ra bệnh thì đã ở giai đoạn muộn Ở Việt Nam, thực trạng khám sàng lọc UTCTC của phụ nữ Việt Nam vẫn còn hạn chế Theo WHO (2010), tỷ lệ này chỉ là 4,5% đối với phụ nữ thành thị và 5% ở phụ nữ nông thôn [84]
Bên cạnh biện pháp PĐÂĐ-CTC, tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC tuy mới được áp dụng cách đây khoảng một thập kỷ, nhưng theo các thử nghiệm lâm sàng
có đối chứng thì cũng đem lại hiệu quả phòng bệnh Độ tuổi nên được tiêm phòng cho trẻ em gái từ 11 đến 14 tuổi Một trong lý do cần tiêm phòng sớm cho trẻ em gái ở độ tuổi này vì tuổi quan hệ tình dục (QHTD) đang có xu hướng ngày càng sớm Trung bình độ tuổi QHTD lần đầu ở Việt Nam ở nữ giới trong Điều tra Quốc
Trang 11gia về VỊ thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY) 1 là 19,5 và giảm xuống còn 18,0 ở SAVY 2 [20] Điều đó dẫn tới nguy cơ nhiễm vi rút HPV cao Đây là một trong những vi rút gây ra các bệnh liên quan đến đường tình dục phổ biến nhất Tiêm phòng vắc-xin giúp phòng ngừa lây nhiễm vi rút HPV hiệu quả Ở Việt Nam, theo truyền thống văn hoá người mẹ là người có vai trò chăm sóc, quán xuyến việc gia đình đặc biệt là vấn đề sức khỏe của con cái Do đó, sự hiểu biết của mẹ về UTCTC không chỉ có thể giúp phòng bệnh cho bản thân người mẹ mà còn cho con gái của họ.
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy đứng trước thực trạng trên, việc nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống UTCTC của người phụ nữ
có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp can thiệp góp phần giảm tỷ lệ mắc UTCTC cho họ Đặc biệt là ở Việt Nam, các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống UTCTC của người phụ nữ còn rất hạn chế nên việc nghiên cứu vấn đề này là rất cần thiết
Quận Cầu Giấy là một quận thuộc thành phố Hà Nội với tổng dân số của quận là 238.668 người tính đến hết năm 2010 Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành phòng bệnh UTCTC trên đối tượng là mẹ của các
em học sinh nữ độ tuổi THCS được thực hiện trên địa bàn quận cầu Giấy Vì vậy,
tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức và thực hành phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ có con gái 11-14 tuổi học tại trường trung học cơ sở Dịch Vọng, quận
Cầu Giấy, Hà Nội, năm 2012” nhằm đưa ra thực trạng kiến thức và thực hành của
bà mẹ về phòng chống UTCTC Từ đó có cơ sở đưa ra các khuyến nghị góp phần nâng cao thực hành phòng bệnh cho đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
1 Mô tả kiến thức và thực hành phòng bệnh ung thư cổ tử cung của các bà
mẹ có con gái 11-14 tuổi học tại trường THCS Dịch Vọng, quận cầu Giấy, năm
2012.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng bệnh UTCTC cho bản thân và cho con gái của bà mẹ có con gái 11-14 tuổi học tại trường THCS Dịch Vọng, quận cầu Giấy, năm 2012
Trang 13Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương tổng quan tài liệu gồm 5 phần: (1.1) Một số khái niệm, thuật ngữ và kiến thức về bệnh UTCTC; (1.2) Tình hình UTCTC trên thế giới và Việt Nam; (1.3) Các biện pháp phòng UTCTC; (1.4) Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành phòng UTCTC trên thế giới và Việt Nam; (1.5) Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng UTCTC; và (1.6) Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
l ể l Một số khái niệm, thuật ngữ và kiến thức về bệnh UTCTC
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ
Cổ tử cung (CTC) là phần bên dưới của tử cung Phần trên tử cung - còn gọi
là thân tử cung là nơi bào thai phát triển, cổ tử cung nối liền giữa phần thân tử cung
và âm đạo Phần cổ tử cung gần với thân tử cung nhất được gọi là cổ tử cung trong Phần gần âm đạo hơn gọi là cổ tử cung ngoài Hai loại tế bào lát là các tế bào tuyến (ở cổ tử cung ngoài) và các tế bào trụ (ở cổ tử cung trong) Nơi giao nhau giữa hai loại tế bào này gọi là vừng chuyển tiếp [78]
“Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh
UT, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể” [8]
Ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô tại cổ tử cung, bắt nguồn từ sự xâm
nhập của vi rút HPV tại vừng chuyển tiếp [78] Bệnh bắt đầu từ những tổn thương tiền ung thư (một tỷ lệ các trường hợp này sẽ tiến triển thành ung thư), tiếp đến
là ung thư tại chỗ và ung thư xâm lấn
Khám phụ khoa: là quy trình khám các bộ phận thuộc vùng chậu, gồm các
bước chuẩn bị, khám bụng và bẹn, khám bộ phận sinh dục ngoài, khám âm đạo bằng mỏ vịt và khám âm đạo phối hợp với nắn bụng (bằng hai tay) Thầy thuốc sẽ kiểm tra cổ tử cung cùng với khám các cơ quan khác trong vùng khung chậu Mỏ vịt được sử dụng để quan sát cổ tử cung và lấy tế bào âm đạo làm xét nghiệm [4] Theo trường Đại học Florida Atlantic, khám phụ khoa là khám các bộ phận sinh dục
Trang 14ngoài là âm hộ và bộ phận sinh dục trong gồm âm đạo, tử cung, buồng trứng và vòi trứng Fallop [47] Khám phụ khoa có mục đích là kiểm tra các vấn đề về phụ khoa khi có các triệu chứng chẳng hạn như đau không rõ nguyên nhân tại vùng bụng dưới hoặc xung quanh vùng chậu, dịch âm đạo gây ngứa, mùi khó chịu, chảy máu âm đạo kéo dài quá 10 ngày, mất kinh, đau bụng kinh Nữ giới ở bất kỳ độ tuổi nào cũng nên khám phụ khoa nếu có ít nhất một trong các triệu chứng nêu trên [82]
Sàng lọc: là quy trình kiểm tra các đối tượng không có triệu chứng của một
bệnh, nhưng có nguy cơ cao đối với bệnh đó [6] Mục tiêu của sàng lọc là giảm tỷ lệ
tử vong do ung thư [10]
Sàng lọc UTCTC: là quy trình phát hiện các tế bào bất thường tại cổ tử cung
[67] Một số XN được sử dụng trong sàng lọc UTCTC là PĐÂĐ-CTC, VIA, VILI
và XN AND HPV [6]
Phiến đồ âm đạo-cổ tử cung (Pap smear): Thầy thuốc sẽ lấy tế bào trên bề
mặt cổ tử cung và âm đạo bằng một que bẹt hoặc bàn chải nhỏ Các tế bào sẽ được phết và cố định trên lam kính, nhuộm và soi trên kính hiển vi PĐÂĐ-CTC được chỉ định cho phụ nữ đã có QHTD, đặc biệt ưu tiên nhóm nguy cơ cao (30-50 tuổi) [6] PĐÂĐ-CTC có thể được thực hiện sau khi cán bộ y tế kiểm tra âm đạo và cổ tử cung trong khám phụ khoa Lúc này, cán bộ y tế có thể lấy tế bào ở cổ tử cung để kiểm tra xem có sự thay đổi bất thường nào đối với các tế bào này hay không [82], [67] Những trường hợp tránh làm xét nghiệm này gồm: đang trong thời kỳ mang thai, thụt rửa âm đạo, được điều trị bệnh phụ khoa trước đó 7 ngày, đang trong thời
kỳ kinh nguyệt, phá/sảy thai trong 20 ngày trước đó [6]
Quan sát cổ tử cung với axỉt axêtic (VIA): Phương pháp quan sát cổ tử cung
với axít axêtic hay còn gọi tắt là VIA là phương pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch axít axêtic 3-5% và quan sát bằng mắt thường để phát hiện những bất thường bao gồm các tổn thương tiền UT [6]
Quan sát cổ tử cung sử dụng Lugol (VILI): Phương pháp quan sát cổ tử cung
sử dụng Lugol dựa trên nguyên lý bắt màu của glycogen biểu mô vảy của CTC khi tiếp xúc với dung dịch Lugol chứa iốt và quan sát bằng mắt thường Trong trường hợp CTC có biểu mô dị sản vảy, mô viêm, mô tiền ung thư hoặc mô UTCTC, các
Trang 15biểu mô này chứa ít glycogen nên không bắt màu hoặc ít bắt màu dung dịch Lugol
Do đó, chỉ thấy màu vàng nhạt của dung dịch Lugol nằm trên biểu mô nơi được chấm dung dịch [6]
Xét nghiệm ADN HPV: Xét nghiệm ADN HPV là biện pháp giúp phát hiện
các chửng HPV nguy cơ cao, có thể thực hiện độc lập hoặc phối họrp với PĐÂĐ- CTC [6]ề
Soi cổ tử cung: Máy soi phóng đại hình ảnh cổ tử cung được sử dụng để
quan sát tổn thương, có thể kết hợp với chấm axít axêtic hoặc dung dịch Lugol [6]
Sinh thiết: một mảnh mô nhỏ sẽ được lấy ở vị trí nghi ngờ sau khi soi cổ tử
ung thấy bất thường, nhuộm, soi trên kính hiển vi để giúp chẩn đoán ung thư [6]
Soi cổ tử cung và sinh thiết được sử dụng trong chẩn đoán UTCTC [6]
1.1.2 Sự phát triển của UTCTC
Ung thư cổ tử cung là ung thư tiến triển chậm Quá trình hình thành UTCTC kéo dài từ vài năm đến hàng chục năm Hầu hết tế bào lót CTC không chuyển ngay sang dạng ung thư mà tế bào bình thường của CTC thay đổi dần sang dạng tiền ung thư Sau đó, phải mất nhiều năm dạng tiền ung thư mới phát triển thành ung thư [78] Dưới 10% số ca mới nhiễm vi rút chuyển sang giai đoạn tiền ung thư sau khoảng 5-10 năm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ phụ nữ ở giai đoạn tiền ung thư sẽ chuyển sang giai đoạn ung thư xâm lấn [5] Ung thư cổ tử cung có hai loại chính, trong đó phổ biến hơn là ung thư biểu mô tuyến, liên quan tới biểu mô tuyến lót CTC ngoài (80%) Chỉ có khoảng 20% số ca UTCTC là ung thư biểu mô trụ, liên quan tới các
tế bào biểu mô trụ, nằm rải rác dọc theo ống tử cung trong [7], [45]
1.1.3 Một sổ dấu hiệu và triệu chứng của UTCTC
Tùy vào các giai đoạn tiến triển của bệnh UTCTC, người bệnh có các triệu chứng khác nhau:
Giai đoạn tại chỗ, bệnh thường không có biểu hiện lâm sàng gì đặc biệt, mà
chỉ có thể được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học [3]
Giai đoạn ung thư xâm nhập, triệu chứng đầu tiên là ra máu âm đạo bất
thường sau giao hợp hoặc sau mãn kinh, ra dịch nhầy âm đạo màu vàng, hoặc lẫn
Trang 16máu, có mùi hôi Khi ung thư lan rộng, người bệnh có triệu chứng chén ép như đau hông, đau thắt lưng, phù chi Khi ung thư xâm lấn bàng quang, triệu chứng là đái ra máu và khi xâm lấn trực tràng là đi ngoài ra máu Triệu chứng toàn thân là mệt mỏi, gầy sút và thiếu máu [3].
1.1.4 Các yểu tổ nguy cơ của bệnh UTCTC
Cấc yếu tố nguy cơ của một bệnh là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh đó
[78] Vi rút HPV có mặt ở hầu hết các trường họrp UTCTC và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh UTCTC [6], [78], [72] Có tới 99% số phụ nữ mắc UTCTC được chẩn đoán đã từng bị nhiễm vi rút HPV qua đường tình dục [85] Do
đó, có nhiều bạn tình [5], [26], [43], [57], hoặc chồng/bạn tình QHTD với nhiều người [72], QHTD sớm (trước 16 tuổi) [5] làm tăng nguy cơ nhiễm vi rút HPV Tuy nhiên, chỉ có những chửng vi rút HPV nguy cơ cao, như HPV-16 và HPV-18 mới dẫn đến UTCTC Hai chủng này có mặt ở khoảng 70% số ca UTCTC [76] Các chửng vi rút HPV là HPV-6 và HPV-11 gây ra đa số trường họrp mụn cóc sinh dục [84] Vi rút HPV chủ yếu lây nhiễm qua QHTD có thâm nhập, sau đó là qua da, niêm mạc tạo ra các mụn cóc trên da [78]
Bên cạnh đó, các yếu tố hành vi lối sống gồm điều kiện vệ sinh sinh dục kém, viêm nhiễm sinh dục kéo dài, hút thuốc lá, chế độ dinh dưỡng không đầy đủ,
sử dụng thuốc tránh thai đường uống kéo dài (trên 5 năm); di truyền, sinh đẻ nhiều, sinh đẻ sớm và tình trạng kinh tế kém là những yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ của bệnh UTCTC [6] Thông thường, phụ nữ 35-55 tuổi có nguy cơ mắc UTCTC cao nhất [76] Tại Việt Nam, phụ nữ thường mắc ƯTCTC ở độ tuổi trung bình là
45, nhưng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả khi mang thai [5]
1.2 Tình hình UTCTC trên thế giói và ở Việt Nam
iề2.iề Tình hình UTCTC trên thể giới
Trên thế giới, UTCTC là một trong những dạng ung thư thường gặp nhất ở
nữ giới Số ca UTCTC chiếm 13% của tất cả các loại ung thư ở nữ giới [53] Theo thống kê năm 2008 của Tổ chức nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC), trên thế giới
Trang 17có 530.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTCTC và 275.000 phụ nữ tử vong
Tại Đông Nam Á, UTCTC cũng là một trong bệnh ung thư gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ tại các nước Indonesia, Malaysia, Phillipine, Thái Lan và Việt Nam[43] Tử vong do ƯTCTC cao nhất ở Cambodia (22/100.000 phụ nữ), tiếp theo là
Ấn Độ (18/100.000) [65]
I.2.2 Tình hình UTCTC ở Việt Nam
Theo số liệu của IARC (2008), UTCTC tại Việt Nam ở vị trí thứ 5 về tỷ lệ mắc mới trong số các ung thư ở nữ giới, sau các ung thư gan, phổi, vú và dạ dày, và xếp thứ 4 về tỷ lệ tử vong do ung thư ở nữ giới Cũng trong năm 2008, Việt Nam có 5.174 trường họp mắc mới UTCTC được phát hiện và 2.472 trường hợp tử vong do bệnh này Theo WHO (2010), tỷ lệ mắc mới và tử vong do UTCTC ở Việt Nam làII,4/100.000 và 5,7/100.000 phụ nữ Theo ước tính của WHO, đến năm 2025, số ca mắc mới UTCTC ở Việt Nam sẽ tăng lên 7.516 người, tăng 145% so với năm 2008
và số ca tử vong do loại ung thư này sẽ tăng lên 166% (4109) [84] số mắc mới UTCTC năm 2010 là 5.664, tăng hơn 404 trường hợp so với năm 2000 [9]
Tỷ lệ mắc mới UTCTC ở TP HCM cao có thể do người dân đi sàng lọc nhiều [1], [2] Theo báo cáo về 89 trường họrp UTCTC tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh trong 6 năm (1992-1997), người mắc UTCTC trẻ tuổi nhất là 22, già nhất là 80
Trang 18Lứa tuổi sinh để từ 36-45 mắc UTCTC cao nhất, chiếm 40,4% so với 30,3% ở nhóm tuổi mãn kinh [16].
1.3 Các biện pháp phòng UTCTC
Các biện pháp dự phòng UTCTC gồm các biện pháp dự phòng cấp 1 là tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ của bệnh và tiêm vắc-xin HPV và biện pháp dự phòng cấp 2 là khám sàng lọc phát hiện sớm UTCTC chủ yếu bằng PĐÂĐ-CTC, ngoài ra VIA, VILI và xét nghiệm ADN HPV [5] Các biện pháp sàng lọc UTCTC giúp phát hiện sớm các tổn thương tiền UTCTC để có những giải pháp điều trị hợp
lý và kịp thời tránh những tổn thất về chi phí do điều trị UTCTC
1.3.1 Tiêm phòng vắc-xin HPV
Hiện tại có hai loại vắc-xin HPV là Cervarix (nhị giá) và Gardasil (tứ giá)
Cả hai loại vắc-xin này đều có tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm HPV-16 và HPV-18 Riêng Gardasil còn có tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm HPV-6 và HPV-11 [71], [37]
Các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng cho thấy vắc-xin HPV khá an toàn
Lý do là vắc-xin có cấu tạo gồm vỏ ngoài protein của chính vi rút HPV và không chứa vật chất di truyền (DNA) [35] Những tác dụng phụ của vắc-xin này không nhiều, chủ yếu là đau đầu, sốt, nôn nao, choáng váng, nôn hoặc ngất xỉu [69] Mỗi loại vắc-xin được tiêm ba lần theo thứ tự các tháng 0, 1-2 và 6 [32] Theo thử nghiệm lâm sàng có đối chứng tại Canada (2009), vắc-xin HPV không chỉ phòng bệnh UTCTC mà còn giảm nguy cơ mắc các mụn cóc sinh dục và các tổn thương tiền UTCTC Vắc-xin HPV có khả năng phòng ngừa sự lây nhiễm vi rút HPV và các bệnh do vi rút này gây ra như các mụn cóc sinh dục, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo và các ung thư dương vật Tuy nhiên, do vắc-xin cũng chỉ ngăn chặn được 1 số chủng vi rút HPV nhất định, nên sàng lọc UTCTC vẫn cần thiết một khi đã QHTD
Dự phòng UTCTC là sự kết hợp giữa tiêm phòng vắc-xin cho trẻ em gái 9-26 tuổi
và sàng lọc UTCTC thường quy cho phụ nữ có gia đình
WHO, Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc chữa bệnh Mỹ (FDA) và Trung tâm phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo tiêm vắc-xin HPV cho trẻ em gái 11 và 12 tuổi, có thể bắt đầu tiêm cho trẻ em gái từ 9 tuổi, và có thể tiêm cho
Trang 19những người từ 13-26 tuổi, đặc biệt khi chưa có QHTD và trước đó chưa tiêm đủ liều vắc-xin [35] Gardasil được khuyến cáo tiêm cho cả nam và nữ tò 9 đến 26 tuổi trong vòng 6 tháng với trình tự tiêm ở các thời điểm 0, 2 và 6 tháng Đến tháng 01/2011, Gardasil được cho phép tiêm cho phụ nữ đến 45 tuổi Ceravix được tiêm cho nữ tò 10 đến 25 tuổi với trình tự là 0, 1 và 6 tháng Theo khuyến nghị của ủy ban tư vấn tiêm chủng quốc gia của Canada (NACI), vắc-xin HPV nên được tiêm cho trẻ từ 9 đến 13 tuổi trước khi có QHTD lần đầu để đảm bảo vắc-xin đạt hiệu quả cao nhất [71] Tháng 7/2012, úc thực hiện chiến dịch tiêm chủng mở rộng vắc- xin HPV (Gardasil) cho nam giới chưa QHTD, nhằm bảo vệ bạn tình nữ của các nam giới này giảm nguy cơ nhiễm vi rút HPV qua đường tình dục [60].
Tại Việt Nam, Bộ Y tế Việt Nam khuyến cáo tiêm vắc-xin HPV cho nữ giới tuổi từ 10 đến 26 nếu chưa QHTD [5] Trẻ em gái 9-13 tuổi tiêm vắc-xin sẽ có hiệu quả cao nhất, vắc-xin có hiệu quả nhất trước khi người được tiêm bị nhiễm vi rút HPV, do đó nên tiêm vắc-xin trước khi QHTD lần đầu [81]
iề3.2ề Sàng lọc UTCTC trên thể giới và tại Việt Nam
Sàng lọc UTCTC trên thế giới
Tại châu Âu, một số nước như Đan Mạch, Phần Lan và Anh thực hiện sàng lọc UTCTC trên toàn quốc, trong khi phần lớn các nước còn lại như Pháp, Ý và Thụy Điển chỉ thực hiện ở một số vùng và một số nước khác như Slovenia, Thụy
Sỹ, Tây Ban Nha và Cộng hòa Séc có thực hiện các chương trình sàng lọc cơ hội và thậm chí không có chương trình sàng lọc như Estonia [28] ễ
Độ tuổi sàng lọc UTCTC được quy định khác nhau tùy từng quốc gia Ở các nước châu Âu, sàng lọc chủ yếu tập trung vào lứa tuổi 20-64 [28] Tại vương quốc Anh, phụ nữ từ 20-60 tuổi được yêu cầu tham gia sàng lọc UTCTC cứ 3-5 năm/lần Nếu nhóm có nguy cơ mắc ƯTCTC cao nhất là nhóm tuổi 25-49 được sàng lọc đều đặn 3 năm/lần thì có thể giúp giảm 84% trường họrp lẽ ra sẽ phát triển thành UTCTC nếu không được sàng lọc Do đó, chương trình sàng lọc ung thư quốc gia tại Anh khuyến cáo những phụ nữ dưới 25-49 tuổi sàng lọc 3 năm/lần, còn 5 năm
Trang 20đối với những người trên 50 tuổi [32] Viện nghiên cứu ung thư Mỹ khuyến cáo phụ
nữ từ 21-65 tuổi tại nước này với tần suất 3 năm/lần [67]
Tại các nước đang phát triển tỷ lệ UTCTC mới mắc vẫn có xu hướng tăng Theo Gakidou E và cộng sự (2002), tỷ lệ sàng lọc UTCTC tại 30 trong 57 nước đang phát triển chỉ chiếm 19%-45% Đặc biệt, tỷ lệ này ở Bangladesh, Ethiopia và Myanmar chỉ khoảng 1% [39]
Theo Esa Lăără và cộng sự (1987), tỷ lệ tử vong do UTCTC ở Đan Mạch, Phần Lan, Ai-xơ-len, Nauy và Thụy Điển giảm tương ứng là 25%, 50%, 80%, 34%
và 10% giữa 1965 và 1982 [55] Tại Anh, tỷ lệ tử vong do UTCTC giảm mạnh ở phụ nữ độ tuổi 40-60, tỷ lệ giảm 60-80% [75] úc và Anh áp dụng chương trình sàng lọc ƯTCTC bằng PĐÂĐ-CTCcó hệ thống từ những năm 1960, tỷ lệ mắc mới UTCTC trong đối tượng phụ nữ tuổi 20-69 tò giai đoạn 1991-1993 đến giai đoạn 1998-2000 đều giảm 33% [33]
Sàng lọc UTCTC ở Việt Nam
Độ tuổi khám sàng lọc và khoảng thời gian giữa hai lần khám sàng lọc UTCTC khá dao động và phụ thuộc vào các hướng dẫn khác nhau [84] Từ năm
1999 đến 2004, sàng lọc UTCTC với PĐÂĐ-CTC dựa trên cộng đồng được thực hiện tại 10 quận/huyện miền Nam và miền Trung Việt Nam trên phụ nữ từ 30 đến
55 tuổi với sự phối hợp của Dự án phòng chống UTCTC Việt Mỹ [80] Trong các chương trình tầm soát tại các địa phương trong cả nước, đối tượng sàng lọc UTCTC chủ yếu là phụ nữ 30-60 tuổi [11], [13], [12], [14] Theo WHO (2010), tỷ lệ này chỉ
là 4,5% ở phụ nữ thành thị và xấp xỉ 5% ở nông thôn [84]
Cho đến cuối năm 2010 tại Việt Nam chưa có chính sách quốc gia áp dụng trên toàn quốc về sàng lọc UTCTC Sàng lọc định kỳ và có hệ thống để phát hiện sớm ung thư qua các xét nghiệm thích hợp và dễ tiếp cận còn hạn chế Các tổn thương tiền UTCTC chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả khi phát hiện Theo
“Tài liệu hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp UTCTC” do Bộ Y tế ban hành năm 2011, đối tượng sàng lọc VIA và/hoặc PĐÂĐ- CTC là những phụ nữ trong độ tuổi 21-70 đã QHTD Nhóm đối tượng đích cần sàng
Trang 21lọc UTCTC là phụ nữ trong độ tuổi 30-50 Phụ nữ độ tuổi 21-29 nên sàng lọc 2 năm/lần, phụ nữ độ tuổi 30-70 tuổi sàng lọc 2 năm/lần và sau 3 lần xét nghiệm sàng lọc liên tiếp có kết quả âm tính thì có thể sàng lọc 3 năm một lần, còn đối với những phụ nữ trên 70 tuổi có thể ngừng sàng lọc nếu có ít nhất 3 lần xét nghiệm sàng lọc
có kết quả âm tính hoặc không có kết quả bất thường trong vòng 10 năm trước đó
[ 6 ].
l ẳ 4 ề Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành phòng UTCTC
Các nghiên cứu tại Việt Nam về kiến thức và thực hành phòng UTCTC chủ yếu chỉ tập trung vào sàng lọc bệnh hoặc tiêm vắc-xin Rất ít nghiên cứu kết hợp cả
2 mảng dự phòng UTCTC: khám sàng lọc cho mẹ và tiêm vắc-xin cho con Phần tổng quan gồm các nội dung: kiến thức về bệnh UTCTC (kiến thức chung về bệnh, kiến thức về vắc-xin và kiến thức về khám sàng lọc) và thực hành phòng bệnh (tiêm vắc-xin HPV và khám sàng lọc)
1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
1.4.1.1 Kiến thức về UTCTC
Kiến thứcvề bệnh UTCTC
Tỷ lệ phụ nữ nghe nói đến bệnh UTCTC trong một số nghiên cứu trên thế giới dao động từ 9,59% đến 93% Năm 2009, Serena Donati và cộng sự trên 667 phụ nữ 18-26 tuổi tại Italia cho thấy có 83% phụ nữ nghe nói đến bệnh này [44] Tỷ
lệ này trong nghiên cứu của Chantal Sauvageau và cộng sự (2006) trên 471 phụ nữ 18-69 tuổi tại Quebec, Canada là 93% [75] Nghiên cứu của Sandeep Singh và cộng
sự (2010) trên 812 phụ nữ đã kết hôn tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ này chỉ là 9,59% [77] Tuy nhiên, tỷ lệ này trong nghiên cứu của Al-Meer và cộng sự (2008) trên 500 phụ nữ với 57,8% có trình độ đại học hoặc tương đương tại 5 cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại đất nước đạo Hồi - Qatar là 85% [24]
Mặc dù vi rút HPV là yếu tố nguy cơ hàng đầu của UTCTC, song tỷ lệ biết đến vi rút này tương đối thấp qua một số nghiên cứu, dao động từ 0% đến 59% [22], [44], [59], [79] Một nghiên cứu định tính trên 50 phụ nữ gốc Somali tại nước Anh
Trang 22cho thấy không ai biết vi rút HPV là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh UTCTC [22] Tỷ lệ trong nghiên cứu tại 4 nước châu Á của Song-nan Chow và cộng sự năm 2008 cũng chỉ là 19% trong tổng số 1.617 bà mẹ [36] Azadeh Stark và cộng sự (2003) tại Mỹ và Serena Donati và cộng sự (2012) tại Italia đưa ra các tỷ lệ lần lượt là 19% và 59% [79], [44].
Tỷ lệ phụ nữ biết đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC trong một số nghiên cứu tại châu Á tương đối thấp Nghiên cứu của F M Al-Meer và cộng sự nghiên cứu năm 2008 cho thấy tỷ
lệ phụ nữ biết bệnh LTQĐTD tăng nguy cơ của bệnh UTCTC là 24,8% [24] Cũng trong năm này, Song-nan Chow và cộng sự nghiên cứu trên 1.617 bà mẹ có con gái10-26 tuổi tại Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan và 480 bác sỹ phụ trách dịch vụ tiêm vắc-xin HPV Kết quả cho thấy 38% bà mẹ và 42% bác sỳ cho rằng bệnh LTQĐTD là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC [36]
Hành vi tình dục có nguy cơ gồm QHTD với nhiều người, bạn tình/chồng QHTD và QHTD sớm là các yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC Nghiên cứu của Mykell Marie Barnacle (2008) trên 624 phụ nữ 18-26 tuổi tại Mỹ cho thấy các phụ
nữ nhắc đến các hành vi này tương đối cao (tương ứng với các tỷ lệ là 80%, 77% và 55%) [28] F M Al-Meer và cộng sự cho thấy 6,8% và 4,8% phụ nữ biết đến các hành vi QHTD với nhiều người hoặc có chồng QHTD với nhiều người
Một số nghiên cứu cho thấy vệ sinh sinh dục kém làm tăng nguy cơ mắc bệnh UTCTC Nghiên cứu định tính của Abdullahi và cộng sự (2006) cho thấy vệ sinh sinh dục không sạch sẽ và viêm nhiễm bộ phận sinh dục không được điều trị là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC [22] Sandeep Singh và cộng sự (2010) tại Ấn Độ cho thấy 51,20% phụ nữ không nghĩ vệ sinh sinh dục kém có thể gây ra UTCTC [77]
Ngoài những yếu tố nguy cơ trên, các nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ còn biết các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá [22], [24], tuổi cao, kết hôn sớm trước
18 tuổi [24], chế độ dinh dưỡng, sử dụng rượu, ma túy, không tập thể dục, các yếu
tố di truyền và không khám sàng lọc đều đặn [22] Theo nghiên cứu của Do HH và cộng sự, 53% phụ nữ nghĩ rằng tuổi cao là yếu tố nguy cơ của bệnh ƯTCTC và
Trang 2362% cho rằng không làm PĐÂĐ-CTC thường quy để phát hiện sớm UTCTC thì có nguy cơ mắc UTCTC cao hơn [42].
Azadeh Stark và cộng sự (2003) tiến hành nghiên cứu hồi cứu tìm hiểu kiến thức về HPV của 328 phụ nữ được chẩn đoán và điều trị UTCTC chưa xâm lấn tại
Mỹ Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi tự điền được gửi cho ĐTNC dưới dạng thư
và rà soát hồ sơ bệnh án Kết quả cho thấy 34,6% phụ nữ không tin UTCTC có thể phòng tránh được [79] Năm 2006, Abdullahi và cộng sự (2006) nghiên cứu định tính trên 50 phụ nữ gốc Somali đang sống tại Anh cho thấy nhiều người quan niệm bệnh UTCTC không thể phòng tránh được mà là do ý trời [22]
Kiến thức về tiêm phòng vắc-xin HPV cho con gái
Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nghe đến vắc-xin dao động trong khoảng 9%-75,l% Tỷ lệ trong nghiên cứu của Silvina Arrossi và cộng sự (2009-2010) trên 1.200 bà mẹ có con gái 9-15 tuổi tại Argentina năm 2009-2010 là 36,5% [27] Một nghiên cứu của Tabassum H Laz và cộng sự (2010) tại Mỹ trên 2.171 cha mẹ có con gái 11-17 tuổi là 67,3% [58] Tỷ lệ nghe đến vắc-xin HPV trong nghiên cứu của Serena Donati và cộng sự tại Italia (2008) và nghiên cứu của Kang Moon Hee
(2011) trên 101 bà mẹ có con gái 8-19 tuổi tại Hàn Quốc và tương ứng là 52,0% và 75,1% [44] và [54] Một số nghiên cứu ở châu Phi cho kết quả thấp hơn Theo nghiên cứu trên 264 bà mẹ tại Ghana của M A Coleman và cộng sự (2011), tỷ lệ này là 40% [37] Yumi Taylor DiAngi và cộng sự (2009) trên 376 phụ nữ 20-84 tuổi tại Botswana, tỷ lệ này chỉ là 9% [40]
Theo các bà mẹ trong nghiên cứu của Song-nan Chow và cộng sự (2008) tại
4 nước châu Á, tuổi tiêm vắc-xin nên là trước khi kết hôn (39%) hoặc dạy thì (36%) [36]
Theo kết quả của một số nghiên cứu, kênh thông tin chủ yếu là truyền hình
và bạn bè trong khi vai trò của CBYT còn nhiều hạn chế trong phổ biến thông tin về vắc-xin Các bà mẹ chủ yếu biết đến vắc-xin HPV qua bạn bè [44], [54], xem TV[27], [44], [54], hoặc qua cơ sở y tế [54] Trong nghiên cứu của Kang Moon Hee, 35,5% bà mẹ biết về HPV qua xem TY, 26,5% qua cơ sở y tế và 23,5% qua
Trang 24bạn bè [54] Theo Serena Donati và cộng sự, nguồn thông tin về vắc-xin HPV của phụ nữ Italia là bạn bè/gia đình (20%), phương tiện truyền thông đại chúng (28%)
và bác sĩ phụ khoa (8%) [44]
Kiến thức về sàng lọc UTCTC bằng PĐẤĐ-CTC
Các nghiên cứu chưa tìm hiểu về khám sàng lọc nói chung mà chủ yếu là về PĐÂĐ-CTC bởi vì đây là biện pháp phổ biến nhất để sàng lọc UTCTC Tỷ lệ phụ
nữ nghe đến PĐÂĐ-CTC có sự chênh lệch qua các nghiên cứu [23], [24], [49], [74]
Tỷ lệ nghe đến PĐÂĐ-CTC trong các nghiên cứu của Peter A Aboyeji và cộng sự (2001), Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) và Carmen Justina Gamarra và cộng sự (2003) lần lượt là của 68,9%; 76,9% và 92,5% Trong các nghiên cứu này, kiến thức đạt thỏa mãn hai điều kiện: nghe đến PĐÂĐ-CTC và biết lợi ích của biện pháp này
là phòng bệnh UTCTC Tỷ lệ kiến thức đạt thấp hơn nhiều, tương ứng là 46,1%;
Mbamara và cộng sự tại Đông Nam Nigeria “không biết” về PĐÂĐ-CTC [64]
Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy nguồn thông tin chủ yếu về PĐÂĐ- CTC chủ yếu qua tivi/đài, bạn bè/gia đình và cơ sở khám chữa bệnh/CBYT [24],[44], [46], [49], [74] Nguồn thông tin chính về PĐÂĐ-CTC mà phụ nữ tiếp cận trong nghiên cứu của Serena Donati và cộng sự là bạn bè/gia đình của họ (60%), phương tiện truyền thông đại chứng (11%), và bác sỹ phụ khoa (31%) Các nguồn thông tin khác là bác sỹ đa khoa, trung tâm chăm sóc bà mẹ trẻ em và internet [44] Trong 483 nữ CBYT tham gia nghiên cứu của Peter A Aboyeji và cộng sự (2001) tại Nigeria, 49,9% người cho rằng nên làm PĐÂĐ-CTC từ 35 tuổi trở lên và 10,4 cho là dưới 20 tuổi; 17,8% nghĩ rằng nên khám hàng năm, 16,6%: 2 năm/lần; 12,5%: 3 năm/lần, 4,7%: 5 năm/lần và 6,2%: 10 năm/lần [23]
Serena và cộng sự cho thấy 65% ĐTNC biết lợi ích của PĐÂĐ-CTC là phát hiện sớm để ngăn ngừa UTCTC [44] Gần 2/3 số phụ nữ tham gia nghiên cứu của Al-Meer và cộng sự (2008) tin rằng PĐÂĐ-CTC có tác dụng phát hiện sớm UTCTC
và gần 2/3 số ĐTNC tin rằng PĐÂĐ-CTC có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị
Trang 25ung thư nếu phát hiện sớm [24] Tỷ lệ trong nghiên cứu của Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) là 41,3% [74].
1.4.1.2 Thực hành phòng bệnh UTCTC
Thực hành, dự định tiêm vắc-xin HPV cho con
Trong các các dự án thí điểm tiêm vắc-xin HPV được tổ chức ở trường học
và cơ sở y tế tại một số nước trên thế giới (2008-2010), tỷ lệ tiêm vắc-xin này rất cao Tại Peru, Uganda và Ấn Độ các tỷ lệ tương ứng là 82,6%, 88,9% và 77,2- 87,8% [56] Theo điều tra tiêm chủng quốc gia Mỹ năm 2010, cho đến hiện tại rất ít trẻ em gái ở Mỹ được chửng ngừa vắc-xin HPV Tỷ lệ tiêm một liều vắc-xin HPV của trẻ em gái tại nước này chỉ tăng có 4,4% tò 44,3% trong năm 2009 lên 48,7% trong năm 2010 Đối với tỷ lệ trẻ em gái được tiêm ba liều vắc-xin, độ bao phủ chỉ tăng hơn 5% từ 26,7% trong năm 2009 lên 32% trong năm 2010ễ Tỷ lệ hoàn thành
ba liều vắc-xin HPV thấp hơn ở nhóm trẻ em gốc da màu và Tây Ban Nha Tương
tự, độ bao phủ ba liều vắc-xin cũng thấp hơn ở những trẻ em thuộc gia đình nghèo [34] Tại Anh, 76,4% trẻ em gái từ 12-13 tuổi được tiêm vắc-xin HPV thường quy trong năm 2009/2010 đã hoàn thành ba liều vắc-xin HPV, 82,3% được tiêm ít nhất hai liều và 84,3% ít nhất một liều [39] Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được tiến hành tại Argentina năm 2009-2010, chưa bà mẹ nào cho con gái trong độ tuổi 9-15 tiêm vắc-xin HPV phòng UTCTC tại thời điểm nghiên cứu được tiến hành [27] và
tỷ lệ từng cho con gái tiêm vắc-xin trong nghiên cứu của Kang Moon Hee tại Hàn Quốc năm 2011 là 5,9% [54]
Qua một số nghiên cứu trên thế giới được thực hiện từ 2006-2010, có thể thấy rằng tỷ lệ dự định tiêm vắc-xin HPV phòng bệnh UTCTC ở các nghiên cứu nói chung khá cao (trên 70%) Ba nghiên cứu tại Botswana, Ghana và Kenya đưa ra các
tỷ lệ từ 88-95% [29], [37], [40] 93% bà mẹ trong một nghiên cứu tại Nhật của Sharon J B Hanley và cộng sự tại Nhật sẽ cho con gái của họ tiêm vắc-xin nếu không phải trả tiền [51] Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại Italia, Mỹ và một số nước châu Á cho thấy các bà mẹ tỏ ra thận trọng hơn khi quyết định cho con/bản thân tiêm vắc-xin này Donati và cộng sự (2008) tại Italia cho thấy 72% phụ nữ 18-26
Trang 26tuổi chấp nhận tiêm vắc-xin HPV cho bản thân, 22% cần thêm thông tin trước khi
quyết định và 6% không muốn tiêm vắc-xin [44] Tỷ lệ không cho con gái tiêm vắc-
xin của các bà mẹ tại 4 nước Châu Á trong nghiên cứu của Song-nan Chow và cộng
sự (2008) là 3% và 54% cho biết cần phải cân nhắc mới có thể quyết định [36] Trong số cha mẹ chưa cho con tiêm vắc-xin tại nghiên cứu của Tabassum H Laz và cộng sự tại Mỹ, 60% không muốn cho con tiêm [58]
Các lý do khiến cha mẹ/mẹ không cho con gái tiêm vắc-xin HPV khác nhau qua các nghiên cứu Lo sợ về tác dụng của vắc-xin là một trong những lý do quan trọng được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu Trong nghiên cứu ở Mỹ, 19,3% cha
mẹ chưa cho con gái tiêm vắc-xin HPV lo sợ tác dụng phụ của vắc-xin so với 43- 46% trong nghiên cứu tại 4 nước châu Á và 77% trong nghiên cứu tại Ghana, về
giá vắc-xin, các bà mẹ trong nghiên cứu tại một số nước châu Á, Hàn Quốc và Ghana tỏ ra băn khoăn về khả năng chi trả hơn so với các bậc cha mẹ trong nghiên
cứu tại Mỹ (11-20%; 36,8%; 57% so với 1,2%) [36], [37], [54], [58] Không cần
tiêm vắc-xin là lý do được nhắc nhiều nhắc trong nghiên cứu tại Mỹ (25,5%) cũng
là lý do thứ hai trong nghiên cứu ở Hàn Quốc (17,9%) [54], [58] Một nửa số bà mẹ chưa biết có cho con tiêm không ở 4 nước châu Á cần nhiều thông tin hơn mới có thể quyết định so với trên 16% trong nghiên cứu ở Hàn Quốc và Mỹ [36], [54], [58] Nghiên cứu tại Ghana cho thấy các bà mẹ băn khoăn nhiều nhất về sự an toàn của kim tiêm vắc-xin (82%) và sự sẵn có của vắc-xin (62%) [37] Các lý do khác được nhắc đến trong các nghiên cứu trên là con gái vẫn còn nhỏ [36], [54], [58], khả năng sinh đẻ của con trong tương lai, lo sợ vắc-xin có thể khuyến khích con gái họ QHTD sớm [37], chưa biết chồng họ có ủng hộ việc tiêm vắc-xin không [36], [37], chưa được bác sĩ khuyến cáo [58] và con gái chưa QHTD [36], [58], và nếu vắc-xin không phù hợp với niềm tin tôn giáo [37]
Theo một số nghiên cứu, các bà mẹ cho biết họ là người có vai trò quan trọng trong quyết định cho con gái của họ tiêm vắc-xin HPV Một nghiên cứu tại Botswana năm 2009 cho thấy 81% bà mẹ cho rằng họ có vai trò rất lớn trong quyết định cho con tiêm, sau đó là bác sĩ (58%), chồng (45%), con gái (34%) và người lớn tuổi trong gia đình (19%) [40] Theo nghiên cứu của Kang Moon Hee, 40,6% bà mẹ
Trang 27cho biết cả cha và mẹ có vai trò trong quyết định cho con gái tiêm vắc-xin, tiếp đó
là CBYT (32,7%), giáo viên tại trường học của con gái (10,9%), con gái (9,9%) và ảnh hưởng từ bạn bè (5,9%) [59]
Thực hành khám sàng lọc UTCTC bằng PĐẲĐ-CTC
Ở những quốc gia với hệ thống sàng lọc có tổ chức, tỷ lệ khám sàng lọc cao hơn so với ở những nước kém phát triển E Gakidou và cộng sự (2002) trong nghiên cứu trên 57 nước với đối tượng là phụ nữ 25-64 tuổi cho thấy tỷ lệ khám sàng lọc trung bình ở các nước đang phát triển là 19% so với 63% tại các nước phát triển Trong đó, tỷ lệ thấp nhất ở Bangladesh (1%) so với 73% ở Brazil [48] Một nghiên cứu tại nước Anh của Jo Waller và cộng sự (2009) cho thấy 97,4% trong số
580 phụ nữ tuổi 26-64 từng làm PĐÂĐ-CTC [83] Nghiên cứu của José Veríssimo Fernandes và các cộng sự tại Brazil (2007); Carmen Justina Gamarra và cộng sự (2003) tại Argentina; Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) tại Kuwait đưa ra các tỷ
lệ tương ứng là 85,0%; 46,5%; 35,2% [46], [49], [74] Thực hành đạt trong các nghiên cứu này là có làm PĐÂĐ-CTC trong vòng 3 năm trước thời điểm thu thập số liệu trong nghiên cứu của họ Tỷ lệ thực hành đạt ở ba nghiên cứu trước tương ứng
là 64,4%; 30,5% và 23,8% [46], [49], [74]
Phụ nữ đưa ra nhiều lý do về việc họ không khám sàng lọc UTCTC chẳng hạn như không được bác sĩ khuyến cáo [49], [74], sợ phát hiện ra bệnh [74] và không có triệu chứng của bệnh [49], [74] Những lý khác gồm ngại, sợ đau, sợ nhiễm trùng [74], không biết về sàng lọc và không có thời gian do bận [49]
Dự định khám sàng lọc UTCTC của phụ nữ qua các nghiên cứu cũng có sự khác biệt Al-Meer và cộng sự (2008) cho thấy 85% ĐTNC cho biết có dự định khám sàng lọc bằng PĐÂĐ-CTC nếu quy trình khám không gây đau và đơn giản [24] Theo nghiên cứu của Mbamara tại Nigeria (2011), chỉ có 57,1% phụ nữ cho biết có dự định khám sàng lọc [64]
Trang 281.4.2 Môt số nghiên cứu tai Viêt Nam• o I I
1.4.2.1 Kiến thức về UTCTC
Kiến thức về bệnh UTCTC
Qua các nghiên cứu trong vòng 5 năm trở lại đây tại một số tỉnh và thành phố lớn ở Việt Nam, có thể thấy tỷ lệ nghe đến bệnh UTCTC khá cao (77,0%- 88,2%) [19], [70] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) về kiến thức, thái độ và thực hành đối với bệnh UTCTC và các biện pháp dự phòng của cha
mẹ các em gái 11-14 tuổi tại Từ Liêm (Hà Nội) và Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy tỷ lệ cha mẹ tại hai địa bàn này nghe nói về UTCTC tương ứng là 88,2% và 77,8% [19] Nghiên cứu của tổ chức Path (2009) đưa ra tỷ lệ 77% cha mẹ các em gái 11-14 tuổi cho biết có nghe nói về UTCTC [68] Tỷ lệ nghe nói về bệnh UTCTC trong nghiên cứu của c Poulos và cộng sự (2009) tại Vĩnh Long là 85% trong tổng số 236 bà mẹ có con gái 9-17 tuổi [70]
Ý thức về các yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC có thể là tiền đề giúp phụ nữ kiểm soát hoặc tránh tiếp xúc với các yếu tố này nhằm phòng bệnh cho bản thân họ Qua một số nghiên cứu tại Việt Nam, có thể thấy rằng yếu tố nguy cơ thường được nhắc đến nhiều nhất là viêm nhiễm sinh dục kéo dài hoặc vệ sinh sinh dục kém Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) và Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2008) nghiên cứu tại một số tỉnh thành cho thấy tỷ lệ cha mẹ biết yếu tố viêm nhiễm đường sinh dục và vệ sinh sinh dục kém đều từ 70-100% [15], [19] Nghiên cứu của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ) và MSD (2009) so sánh kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến UTCTC giữa nhóm 1 gồm phụ nữ 22-33 tuổi và nhóm 2 gồm phụ nữ 34-45 tuổi có con gái 9-18 tuổi Kết quả cho thấy 88,6% nhóm
1 và 94,3% nhóm 2 biết viêm nhiễm bộ phận sinh dục là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC [17]
Tuy vi rút HPV là yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh UTCTC, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) cho thấy chỉ có 20%-30% cha mẹ các
em gái 11-14 tuổi nghe nói về vi rút HPV và dưới 5% cha mẹ biết đầy đủ về đường lây của vi rút HPV [19] Theo Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2008), những bà mẹ
Trang 29nghe đến HPV là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh UTCTC chiếm 22,6% và biết đường lây của vi rút HPV chiếm 2,2% [15] Không một bà mẹ nào tham gia nghiên cứu của c Poulos và cộng sự (2009) tại Vĩnh Long biết nguyên nhân của bệnh UTCTC là do nhiễm vi rút HPV [70].
Các yếu tố liên quan đến QHTD cũng là một trong những yếu tố được nhắc đến nhiều nhất trong các nghiên cứu trên QHTD với nhiều người được nhắc tới nhiều hơn so với QHTD sớm hay mắc các bệnh LTQĐTD Tỷ lệ biết yếu tố có nhiều bạn tình trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) tại Củ Chi và Từ Liêm; Trần Thị Minh Tâm (2009) tại Sóc Sơn; và Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2008) đưa ra tỷ lệ lần lượt là 70,4%; 85,5%; 78,6% và 69,8% [15], [18], [19] Trong khi đó, chỉ có 11,6% phụ nữ Sóc Sơn biết QHTD sớm là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC so với 47,2% phụ nữ ở Củ Chi và 70,9% ở Từ Liêm [18], [19] Khá nhiều phụ nữ biết nhiễm HIV làm tăng nguy cơ mắc bệnh UTCTC (50-70%) [15], [17], [19] Tuy nhiên, yếu tố chồng/bạn tình QHTD với nhiều người lại không được nhắc đến trong các nghiên cứu này
Một số yếu tốvề sản phụ khoa như sinh đẻ nhiều cũng được tỷ lệ cao phụ nữ trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai (70,1%) và Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng
sự (59,3% ở Củ Chi và 66,4% ở Từ Liêm) nhắc tới Tiếp đó là sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài (48,1%; 41,7% và 49,1%) [15], [19] 75,9% phụ nữ tại Sóc Sơn cho rằng di truyền là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC [18] Các yếu tố khác ít được đề cập hơn là hút thuốc lá [19], [15], điều kiện sống khó khăn [18], môi trường ô nhiễm, điều tiện thời tiết khác nghiệt và rối loạn nội tiết [17]
Kiến thức về triệu chứng của bệnh UTCTC được những người tham gia một
số nghiên cứu nhắc đến gồm ra huyết âm đạo bất thường, khí hư bất thường, tiểu ra máu và đau khung chậu Tuy nhiên, tỷ lệ biết ít nhất 1 triệu chứng của bệnh còn thấp Nghiên cứu của tổ chức Path (2009) tại Việt Nam cho thấy chỉ 50% số cha mẹ các em gái 11-14 có thể kể đúng một triệu chứng của bệnh UTCTC Dưới 25% cha
mẹ biết triệu chứng của UTCTC là ra huyết âm đạo bất thường hoặc ra khí hư bất thường [68] Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) cho thấy cha mẹ các em gái11-14 tuổi kể được triệu chứng của bệnh UTCTC là ra huyết (27,9%), ra khí hư
Trang 30(31,6%) và kinh nguyệt bất thường (31%) [19] Các triệu chứng như đau khi tiểu ra máu, ra huyết âm đạo, ra khí hư, kinh nguyệt bất thường và đau khung chậu bất thường trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai và cộng sự được ĐTNC nhắc đến với các tỷ lệ 3,8%-24,9% [15].
Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy một bộ phận không nhỏ phụ nữ vẫn nghĩ rằng không thể phòng bệnh UTCTC Theo nghiên cứu kiến thức, thái độ
và thực hành sau khám sàng lọc của phụ nữ tại Sóc Sơn của Trần Thị Minh Tâm (2009), chỉ có 7,1% phụ nữ biết UTCTC có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm [18] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2007), 35,8% và 53,2% cha mẹ các học sinh nữ 11-14 tuổi cho rằng bệnh không thể chữa khỏi hoặc khỏ cứu chữa [19] Nghiên cứu của c Poulos và cộng sự năm 2009 trên 300 bà mẹ tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy 57% những người từng nghe đến bệnh này nghĩ rằng bệnh có thể phòng được [70]
Có thể thấy tỷ lệ phụ nữ biết các biện pháp phòng bệnh UTCTC trong một số nghiên cứu tương đối thấp Trần Thị Minh Tâm (2009) cho ứiấytuy phụ nữ biết các biện pháp quan trọng như giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ, QHTD an toàn, không QHTD với nhiều người hay với phụ nữ mại dâm, không hút thuốc lá, có chế độ dinh dưỡng và lao động hợp lý và khám phụ khoa định kỳ chỉ dao động từ 20,5% đến 36,3% [18] Đặc biệt, biện pháp quan trọng nhất đối với phụ nữ có gia đình hoặc đã QHTD độ tuổi 21-70, đặc biệt là độ tuổi 30-50 có nguy cơ mắc UTCTC cao, là làm PĐÂĐ-CTC định kỳ thì cũng chỉ đạt 18,8% Phan Hồng Vân và cộng sự (2008) cho thấy gần 70% phụ nữ không biết UTCTC có thể phát hiện sớm qua khám phụ khoa định kỳ [21] Một biện pháp khác được nhắc đến trong nghiên cứu của Viện VSDTTƯ và MSD (2009) là tiêm vắc-xin (45,7%) [17]
Kiến thức sàng lọc UTCTC
Khám sàng lọc UTCTC, đặc biệt bằng PĐÂĐ-CTC là một trong các biện pháp phòng bệnh UTCTC hiệu quả không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ nghe đến xét nghiệm này trong các nghiên cứu tại một số tinh/thảnh ở Việt Nam trong vòng 1 thập niên trở lại đây chưa cao [15], [19], [21],
Trang 31[70] Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008), tỷ lệ nghe đến xét nghiệm này ở Củ Chi là 16,7% và ở Từ Liêm là 38,2% [19] Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2008) dao động từ 11% đến 38% ở 5 tỉnh/thành phố gồm Thái Bình, Đồng Tháp, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội [15] Nghiên cứu của Phan Hồng Vân và cộng sự (2008) tại Tây Ninh và c Poulos và cộng sự (2009) tại Vĩnh Long tỷ lệ đó cũng chỉ là 21% và 13% [21], [70] Theo Trần Thị Minh Tâm (2009), 50% phụ nữ biết về lợi ích của PĐÂĐ-CTC, trong đó 22,3% phụ
nữ biết rằng PĐÂĐ-CTC là phát hiện bệnh sớm [18] Kênh thông tin chủ yếu về bệnh và sàng lọc UTCTC vẫn là truyền hình (74,3%) và gia đình, bạn bè (17%) [18] Tỷ lệ phụ nữ cho biết được CBYT cung cấp thông tin tương đối thấp (14,3% trong nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm [18] và 16% trong nghiên cứu của Phan Hồng Vân và cộng sự) Các kết quả nghiên cứu này cho thấy kiến thức về sàng lọc của phụ nữ còn rất hạn chế
Kiến thức về vắc-xin HPV
Một số nghiên cứu về sự chấp nhận vắc-xin HPV ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ phụ nữ nghe nói về vắc-xin HPV ngày càng nhiều hơn [15], [19], [31] Thời điểm trước khi vắc-xin HPV Gardasil và Cervarix có mặt tại Việt Nam năm 2009 [84], tỷ lệ nghe đến vắc-xin này còn thấp, nhưng sau đó tăng rõ rệt Năm
2005, Tri A Dinh và cộng sự (2005) tiến hành nghiên cứu về thái độ của 181 bà mẹ
có con gái 10-18 tuổi với 48% bà mẹ chưa học hết trung học cơ sở tại Đà Nằng đối với vắc-xin HPV sử dụng bộ câu hỏi tự điền Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 11% bà mẹ nghe đến vắc-xin HPV [41] Ba nghiên cứu khác trong năm 2007 cho thấy tỷ lệ nghe đến vắc-xin HPV tăng đáng kể Tỷ lệ cha mẹ ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự biết đến vắc-xin này là 40,9% (Từ Liêm) và 18,5% (Củ Chi) [19] Lê Thị Phương Mai và cộng sự cho biết tỷ lệ nghe nói về HPV tại 5 tỉnh/thành phố Hà Nội, Thái Bình, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp dao động từ 18,5% đến 40,9% [15] Năm 2008, Nghiên cứu của Carmen Radecki Breitkopf và cộng sự (2007) với sự tham gia của 139 CBYT (84% nữ: 16% nam) có con gái 9-12 tuổi tại Đà Nang cho thấy 57% cha mẹ nghe đến vắc-xin HPV [31] Tỷ
Trang 32lệ bà mẹ nghe đến vắc-xin HPV trong nghiên cứu của c Poulos (2009) ở Vĩnh Long tiến hành vào năm 2009 đạt 79% [70].
Kênh thông tin về vắc-xin HPV chủ yếu là báo chí, truyền hình và người thân, bạn bè [17], [70] Nghiên cứu tại Hà Nội với đối tượng là những phụ nữ đa số
có học vấn đại học trở lên và thu nhập trên 5 triệu/tháng cho thấy Internet cũng là một kênh thông tin về UTCTC họ thường tham khảo Tỷ lệ tiếp cận thông tin qua bác sĩ/điều dưỡng chỉ đạt dưới 35% và tờ rơi dưới 15% Nghiên cứu này cũng thăm
dò ý kiến của phụ nữ về kênh thông tin hiệu quả về UTCTC hiệu quả nhất Theo những phụ nữ được phỏng vấn, bác sĩ là kênh thông tin hiệu quả nhất, tiếp đó là truyền hình và Internet [17] Kết quả này ám chỉ rằng vai trò của bác sỹ rất trọng trong việc cung cấp thông tin về bệnh và phòng bệnh UTCTC, nhưng còn hạn chế trong khi đây là kênh thông tin đáng tin cậy và nhiều người có nhu cầu thông tin tò kênh này
1.4.2.2 Thực hành phòng bệnh UTCTC
Thực hành sàng lọc UTCTC
về thực hành phòng bệnh UTCTC, nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm cho thấy 24,1% phụ nữ không khám phụ khoa thường xuyên Tỷ lệ dự định làm PĐÂĐ- CTC là 35,7% [18] Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) cho thấy chỉ có 70% phụ nữ ở Củ Chi và 80% ở Từ Liêm từng khám phụ khoa và 50% khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng/lần [19] Nghiên cứu của c Poulos và cộng sự (2009) cho thấy
có 83% trong số 236 bà mẹ từng khám phụ khoa, 12% trong số 236 bà mẹ cho biết
đã từng khám sàng lọc bằng một xét nghiệm nào đó 24/35 bà mẹ từng làm PĐÂĐ- CTC chưa từng nghe đến xét nghiệm này [70] Các nghiên cứu ít phân tích các yếu
tố liên quan đến thực hành sàng lọc
Thực hành và dự định về việc cho con gái tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC
Tuy tỷ lệ nghe nói về vắc-xin HPV tăng theo thời gian, nhưng tỷ lệ tiêm vắc- xin này ngoài cộng đồng rất thấp có thể do vắc-xin chi phí cao, lại không phải là vắc-xin trong chương trình tiêm chửng mở rộng và nhiều lý do khácễ Chỉ có một số chương trình tiêm vắc-xin HPV miễn phí tại một số trường học và cơ sở y tế ở Việt
Trang 33Nam năm 2008-2009 với tỷ lệ tiêm đạt trên 80% [56] Một số nghiên cứu cho thấy khi được hỏi thì những cha mẹ/mẹ dự định cho con gái tiêm phòng vắc-xin HPV chiếm tỷ lệ khá cao Trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai và cộng sự, tỷ lệ đó
là 74,1% tại Hà Nội đến 91,3% tại Thái Bình [15] Trong nghiên cứu tại Đà Nằng (2009), 73% bà mẹ chấp nhận cho con gái họ tiêm vắc-xin HPV [31]
Vai trò của các cá nhân trong quyết định về việc tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC cũng được xem xét trong một số nghiên cứu Jane K Cover và cộng sự(2012) tiến hành một nghiên cứu định tính trên cỡ mẫu là 133 cha mẹ về sự chấp nhận cho con gái tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC Để quyết định cho con tiêm, họ
có tham khảo ý kiến của bạn bè, gia đình và những người có ảnh hưởng trong cộng đồng của họ [38] Tỷ lệ bà mẹ hỏi ý kiến chồng về việc cho con gái tiêm vắc-xin HPV trong nghiên cứu của c Poulos và cộng sự là 87% [70]
Một bộ phận cha mẹ/mẹ không cho con gái họ tiêm vắc-xin HPV có đưa ra một số lý do giải thích cho quyết định của họ Theo nghiên cứu của Jane K Cover
và cộng sự, lo lắng về tác dụng phụ, vắc-xin vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm và các tác động về lâu dài của vắc-xin đến khả năng sinh sản là những rào cản hàng đầu đối với việc không đồng ý cho con tiêm vắc-xin này [38]
1 Ế 5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng UTCTC
/ ế 5./ ẳ Một số yếu tố liên quan đến kiến thức
1.5.1.1 Một sổ yếu tố liên quan đến kiến thức về vắc-xin
Mohammed A Alsaad và cộng sự (2012) cho thấy những bà mẹ có thu nhập cao hơn, đã từng khám sàng lọc phát hiện sớm UTCTC và có từ 4 con trở xuống có kiến thức về vắc-xin HPV tốt hơn gấp 2,3 lần, 2,6 lần và 2,4 lần so với các bà mẹ thuộc nhóm thu nhập thấp, chưa từng khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh UTCTC và
có từ 4 con trở lên [25]
Serena Donati và cộng sự (2008) tại Italia chỉ ra các yếu tố liên quan đến kiến thức đạt là số năm đi học, từng PĐÂĐ-CTC, số con và chắc chắn về việc tiêm vắc-xin Trong nghiên cứu này, kiến thức được đánh giá thông qua 14 câu hỏi về vi rút HPV, PĐÂĐ-CTC và vắc-xin HPV Một người có kiến thức đạt nếu trả lời được
Trang 34ít nhất 7 trong 14 câu hỏi liên quan đến vi rút HPV (10 câu), PĐÂĐ-CTC (3 câu) và vắc-xin HPV (1 câu) Những phụ nữ có thời gian đi học ít nhất 8 năm có kiến thức đạt gấp 1,54 lần và từng PĐÂĐ-CTC gấp 1,40 lần Trái lại, phụ nữ có ít nhất 1 con
và không chắc về việc tiêm vắc-xin phòng bệnh UTCTC thì có kiến thức về phòng bệnh cấp 1 và cấp 1 đạt chỉ bằng 0,40 và 0,38 lần [44]
1.5.1.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sàng lọc UTCTC
Một số nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp có liên quan đến kiến thức về PĐÂĐ-CTC [24], [50] Theo F M Al-Meer và cộng sự (2008), phụ nữ có việc làm
có điểm trung bình kiến thức cao hơn so với những người thất nghiệp [24] Trong nghiên cứu của N Hadi và cộng sự, phụ nữ làm ở công sở có kiến thức tốt hơn so với phụ nữ làm nội trợ và những người buôn bán [50] Nghiên cứu này cũng cho thấy phụ nữ kết hôn lần đầu muộn có kiến thức tốt hơn [50]
Theo một số nghiên cứu, những phụ nữ có TĐHV cao hơn có kiến thức tốt hơn [24], [49], [64], [74] Chẳng hạn, nghiên cứu của Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) tại Kuwait chỉ ra rằng phụ nữ có học vấn từ cấp 2 trở lên có kiến thức đạt về PĐÂĐ-CTC cao hơn gấp 2,95 lần so với phụ nữ có học vấn thấp hơn [74]
Nghiên cứu của F M Al-Meer và cộng sự (2008) chỉ ra rằng phụ nữ có ít nhất 4 con hoặc có ít nhất 3 lần sảy thai cao hơn so với những phụ nữ khác [24] Ngược lại, nghiên cứu của N Hadi và cộng sự (2009) cho thấy phụ nữ có nhiều con
có kiến thức hạn chế về PĐÂĐ-CTC [50]
/ Ệ 5.2 Ệ Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh
1.5.2.1 Một sổ yếu tố liên quan đến tiêm vẳc-xin
Các nghiên cứu it khi tìm hiểu các yếu tố liên quan với việc từng cho con tiêm vắc-xin HPV có lẽ một phần bởi tỷ lệ tiêm vắc-xin này ngoài cộng đồng còn thấp mà chủ yếu phân tích mối liên quan với việc dự định cho con tiêm vắc-xin này Tabassum H Laz và cộng sự (2010) tại Mỹ cho thấy cha mẹ nghe đến vắc-xin HPV cho con gái tiêm từ 1 liều và từ 3 liều vắc-xin trở lên cao gấp tương ứng 16,57 và 10,60 lần so với những người không nghe đến vắc-xin này [58]
Trang 35Một số yếu tố liên quan đến dự định cho con gái tiêm vắc-xin HPV phòng bệnh UTCTC tìm thấy trong các nghiên cứu trên gồm: tuổi của ĐTNC [44], TĐHV [40], nghe đến vắc-xin HPV phòng bệnh UTCTC, được bác sĩ/cơ sở y tế khuyến cáo, lo sợ về tác dụng phụ của vắc-xin và mẹ từng khám sàng lọc phát hiện sớm UTCTC [51] và kiến thức về vắc-xin HPV [44].
Yumi Taylor DiAngi và cộng sự (2009) nghiên cứu trên 328 bà mẹ tại Botswana với tuổi trung bình là 37, phần lớn thu nhập thấp hoặc không có thu nhập theo chuẩn tại nước này, 31% có học vấn từ tiểu học trở xuống Nghiên cứu chỉ ra rằng những bà mẹ có TĐHV trên tiểu học dự định cho con gái tiêm vắc-xin của họ chỉ bằng 0,20 lần so với những người có TĐHV dưới tiểu học [40] Nghiên cứu của Sharon J B Hanley và cộng sự (2010) trên 2.192 bà mẹ có con gái 11-14 tuổi tại Nhật Bản cho thấy có mối liên quan việc mẹ từng nghe đến vắc-xin HPV (OR = 2,58), được khuyến cáo về việc tiêm vắc-xin từ bác sĩ (OR = 12,60) hoặc cơ sở y tế địa phương (OR = 27,80), lo sợ về tác dụng phụ của vắc-xin (OR = 0,03) và mẹ không khám sàng lọc UTCTC (OR = 0,49) với dự định cho con gái tiêm tiêm vắc- xin HPV của bà mẹ [51] Ngoài ra, nghiên cứu của Serena Donati và cộng sự cho thấy những người có kiến thức đạt từ 7 điểm trở lên dự định tiêm vắc-xin cao gấp 2,46 lần so với nhóm có điểm kiến thức thấp hơn trong khi nhóm 25-26 tuổi chỉ bằng 0,48 lần so với nhóm tuổi nhỏ hơn [44]
1.5.2.2 Một số yểu tổ liên quan đến sàng lọc UTCTC
Các yếu tố có mối liên quan với thực hành làm PĐÂĐ-CTC trong một số nghiên cứu gồm tuổi, tình trạng hôn nhân (TTHN), TĐHV và tình trạng việc làm/nghề nghiệp, thu nhập[30], [63], [66], [74], [73], có bệnh phụ khoa, dự định làm PĐÂĐ-CTC [63], được bác SĨ/CBYT khuyến cáo [63], số con [49], hút thuốc lá [52] và kiến thức [62], [66]
Tuổi là một yếu tố được phân tích trong nhiều nghiên cứu về mối liên quan với việc từng làm PĐÂĐ-CTC của phụ nữ Có thể thấy một xu hướng là lứa tuổi trong khoảng 30-49 có xu hướng làm PĐÂĐ-CTC nhiều hơn so với các nhóm tuổi nhỏ hơn hoặc lớn hơn Theo một nghiên cứu của Y Rodvall và cộng sự (2005) tại
Trang 36Thụy Điển, phụ nữ thuộc nhóm tuổi 25-29 ít khám sàng lọc UTCTC hơn so với phụ
nữ ở nhóm tuổi ngoài 30 [73] Nghiên cứu Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) cũng cho thấy phụ nữ thuộc nhóm tuổi 20-29 thực hành không đạt (nghĩa là không làm PĐÂĐ-CTC trong vòng 3 năm trước thời điểm thu thập số liệu) cao gấp 7,76 lần so với nhóm 30-49 tuổi [74] Phụ nữ 35-44 tuổi trong nghiên cứu của Patricia Bessler và cộng sự (2005) có xu hướng làm PĐÂĐ-CTC nhiều hơn 5,4 lần so với nhóm 45-54 tuổi [30] Trong nghiên cứu của Sylvia c Mupepi và cộng sự (2007) tại Zimbabwea, phụ nữ từ 45 tuổi trở lên có xu hướng khám sàng lọc cao chỉ bằng 0,10 lần so với nhóm 25-35 tuổi [66] Ngoài ra, nghiên cứu s Luengo Matos và cộng sự (2000) tại Tây Ban Nha cho thấy phụ nữ tuổi 40-50 PĐÂĐ-CTC trong vòng 5 năm cho đến thời điểm thu thập số liệu nhiều hơn gấp 1,45 lần so với nhóm
từ 51 tuổi trở lên [63]
Một số nghiên cứu cho thấy TTHN có liên quan đến việc từng làm PĐÂĐ- CTC Thường thì phụ nữ ở góa, độc thân hoặc ly thân/ly dị không làm PĐÂĐ-CTC nhiều hơn so với những phụ nữ có chồng [52], [61], [73] Theo Bo T Hansen và cộng sự (Na-uy, 2004-2005), phụ nữ ly dị và độc thân không làm PĐÂĐ-CTC nhiều hơn gấp 1,15 và 1,38 lần so với phụ nữ có chồng [52] Nghiên cứu của C.-C Liao và cộng sự (2000) cho thấy phụ nữ chưa kết hôn và góa chồng không đi PĐÂĐ-CTC cao gấp 7,6 lần [61] Y Rovall và cộng sự (2005) tại Thụy Điển cho thấy những phụ nữ có hoặc góa chồng tham gia chương trình sàng lọc UTCTC nhiều gấp 1,32 lần và 1,36 lần so với phụ nữ độc thân [73]
Mona AI Sairafia và cộng sự (2006) cho thấy phụ nữ thuộc nhóm có học vấn dưới cấp 2 thực hành không đạt gấp 2,85 lần so với nhóm có học vấn cao hơn [74] Theo Y Rodvall và cộng sự, phụ nữ có việc làm PĐÂĐ-CTC nhiều gấp 1,82 so với phụ nữ không đi làm [73]
Nghiên cứu trên 2.409 phụ nữ 40-70 tuổi tại Tây Ban Nha của s Luengo Matos và cộng sự (2000) cho thấy những phụ nữ có dự định làm PĐÂĐ-CTC và được bác sĩ khuyến cáo có xu hướng làm xét nghiệm này gấp tương ứng 4,76 và 2,44 lần so với những người không có dự định và không được khuyến cáo [63] Theo nghiên cứu của Carmen Justina Gamarra và cộng sự (2003) tại Argentina, phụ
Trang 37nữ có ít hơn 6 con khám sàng lọc UTCTC nhiều hơn so với phụ nữ nhiều hơn 6 con [49].
Frida s Lyimo và cộng sự (2002) tại Tanzania cho thấy phụ nữ có kiến thức
về bệnh UTCTC đạt có xu hướng khám sàng lọc gấp 8,90 lần so với những người
có kiến thức về bệnh không đạt Nghiên cứu này sử dụng 17 câu hỏi kiến thức, và quy định kiến thức theo ba mức: điểm cao, trung bình và thấp [62] Theo Sylvia c
Mupepi và cộng sự (2007), phụ nữ không có kiến thức về sàng lọc UTCTC có xu hướng khám sàng lọc chỉ bang 0,17 lần [66] Ngoài ra, theo Bo T Hansen và cộng
sự (2004-2005) tại Na-Uy, phụ nữ từng hoặc đang hút thuốc lá không đi PĐÂĐ- CTC gấp 0,94 lần và 1,41 lần so với phụ nữ chưa bao giờ hút thuốc lá [52]
Theo Trần Thị Minh Tâm (2009), phụ nữ có kiến thức tốt dự định khám sàng lọc UTCTC cao gấp 3,7 lần so với người có kiến thức chưa tốt (p>0,05) Lý do phụ
nữ trong nghiên cứu này không đi khám sàng lọc UTCTC là sợ phát hiện bệnh (19,4%) hoặc gia đình không cho đi (8,3%) [18]
1 Ế 6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây của thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp quận Tây
Hồ, phía Đông giáp quận Đống Đa và quận Ba Đình, phía Nam giáp quận Thanh Xuân, phía Tây giáp quận Từ Liêm Quận gồm có 8 phường là Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa và Yên Hòa Tính đến hết năm 2010, tổng dân số của quận là 238.668 người 100% các phường
có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về công tác y tế, người dân có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh rất đa dạng như bệnh viện, phòng khám công lập và tư nhân với loại hình dịch vụ chất lượng cao và các phương tiện truyền thông phong phú
Nằm trong địa bàn quận cầu Giấy, trường Trung học cơ sở Dịch Vọng được lựa chọn để tiếp cận đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ của các em học sinh lứa tuổi
từ 11-14 đang học tại trường Trong năm học 2011-2012, nhà trường có 1.072 em học sinh theo học thuộc các khối từ lớp 6 đến lớp 9 Tổng số học sinh nữ là 458 em,
Trang 38chiếm 42,7% Các học sinh sống chủ yếu tại 3 phường đông dân cư thuộc quận cầu Giấy là Dịch Vọng, Quan Hoa và Dịch Vọng Hậu với tỷ lệ phân bố khá tương đồng.
Hiện nay, chưa có con số thống kê chính thức về tỷ lệ UTCTC trên địa bàn quận Cầu Giấy nhưng theo đánh giá nhanh cán bộ y tế tại TTYTDP quận cầu Giấy nhận định rằng đây là một vấn đề sức khoẻ địa phương quan tâm Một trong lý do
đó là mặc dù bệnh UTCTC là căn bệnh nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể chữa được nếu người phụ nữ có kiến thức và hành vi dự phòng bệnh Ngoài ra, theo đánh giá nhanh của nghiên cứu viên qua phỏng vấn nhanh 20 em học sinh lứa tuổi từ 11-
14 tại trường vào tháng 4/2012, thì tỷ lệ các em được tiêm phòng vắc xin HPV rất thấp khoảng (1/20) Trong khi đó, trên địa bàn quận cầu Giấy chưa có một nghiên cứu nào đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành (KP) của những người mẹ có con trong lứa tuổi THCS thì việc nghiên cứu thực trạng KP phòng bệnh UTCTC trên đối tượng này là rất cần thiết hiện nay trên địa bàn Quận
Trang 39Chương 2 ể PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 ề Đối tượng nghiền cứu
Những phụ nữ có con gái 11-14 tuổi (tuổi dương lịch) học tại trường THCS Dịch Vọng năm học 2011-2012 và đang sống tại quận cầu Giấy
Tiêu chuẩn loại trừ ĐTNC:
- Đối tượng từ chối không tham gia nghiên cứu
- Đối tượng không có khả năng tà lời câu hỏi
- Điều tra viên đến nhà từ 3 lần trở lên nhưng không gặp
2.2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội, từ tháng 4/2012 đến tháng 8/2012
2 ể 3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu này là thiết kế cắt ngang có phân tích
2 ẳ 4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2ề4.iề Cỡ mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn sau (WHO):
= Z2l-g/2P(l~P)W
n ~ d 2 (N — 1) + z\_ a / 2 V (1 - v)
Trong đỏ:
n: là số ĐTNC tối thiểu cần điều tra
Z: là hệ số tin cậy Với mức ý nghĩa a = 0,05 và độ tin cậy 95% thì z = 1,96, p: là tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về phòng UTCTC Để số lượng ĐTNC
là lớn nhất, chúng tôi lấy p=0,5
Trang 40d: là tỷ lệ sai số tuyệt đối có thể chấp nhận được (d=0,05)
N: Tổng quần thể gồm 421 em học sinh nữ thuộc các khối lớp 6-9 thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng Các em thuộc cùng một mẹ thì chỉ đưa vào danh sách 1 em
Thay các giá trị trên vào công thức tính cỡ mẫu, ta có n =202 Để dự phòng
có những trường hợp không tiếp cận được hoặc từ chối tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu được cộng thêm 10% Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu là: 202 + 20,2 = 222,2; lấy tròn thành 222 phụ nữ
2.4.2 Quy trình chọn mẫu
Trường THCS Dịch Vọng là trường THCS trong địa bàn quận cầu Giấy Năm học 2011-2012, nhà trường có 1.072 em học sinh theo học, thuộc các khối 6-9 Tổng số học sinh nữ là 458 em, chiếm 42,7% Các học sinh sống chủ yếu tại 3 phường đông dân cư thuộc quận cầu Giấy là Dịch Vọng, Quan Hoa và Dịch Vọng Hậu.Từ danh sách nhà trường cung cấp, cập nhật địa chỉ của gia đình các em học sinh nữ 11-14 tuổi Danh sách gồm 421 em học sinh thỏa mãn các tiêu chí lựa chọn nêu ở mục 2.1 Nghiên cứu sẽ thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên khung mẫu
là danh dách các bà mẹ của các học sinh nữ này Các bước thực hiện như sau:
Bước 1: Lập danh sách khung mẫu gồm những phụ nữ có con gái 11-14 tuổi Bước 2: Tính khoảng cách mẫu k = tổng phụ nữ có con gái tò 11-14 tuổi/cỡ mẫu Với tổng cá thể trong khung mẫu là 421, k=l,89, lấy tròn lên thành 2 Chọn ngẫu nhiên một số trong các số có giá trị <2, số này là số thứ tự của phụ nữ trong danh sách được chọn đầu tiên Đối tượng tiếp theo được chọn bằng cách cộng số thứ tự của đối tượng đầu tiên với khoảng cách mẫu (k), cho đến khi có đủ 222 đối tượng Thực tế, chỉ có 205 người trả lời phỏng vấn, còn 12 người đến nhà từ 3 lần trở lên nhưng không gặp và 5 người từ chối không tham gia phỏng vấn Như vậy, số đối tượng được phỏng vấn đáp ứng yêu cầu là 205 người