Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích một số quy định pháp luật tố tụng hình sự cụ thể là Bộluật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chứctòa án nhân
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lê Minh Tường
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lê Minh Tường
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH THỊ MAI
Trang 3Giám đốc Học viện Khoa học xã hội đã quyết định giao cho học viên
Lê Minh Tường đề tài luận văn thạc sĩ: “Vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự từ thực tiễn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng
hình sự; Mã số: 60.38.01.04
Đây là công trình do chính học viên tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Đinh Thị Mai
Học viên thực hiện đề tài xin cam đoan đây là công trình nghiên cứucủa học viên; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưatừng được ai công bố; nội dung luận văn không sao chép bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào
Học viên xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn
Tác giả luận văn
Lê Minh Tường
Trang 4Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Cơ sở của học viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, các Khoa, Phòng, Ban và Bộ phận chuyên môn của Học viện đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia học tập chương trình cao học đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, khóa VI đợt 2 năm 2015.
Các thầy, cô giảng viên của Học viện đã tham gia giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu.
TS Đinh Thị Mai - Giảng viên Khoa Luật của Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Ban lãnh đạo và các Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp số liệu, tài liệu tham khảo, các bản án hình sự
sơ thẩm và phúc thẩm, trao đổi kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Các anh, chị học viên Lớp cao học đào tạo trình độ thạc sĩ về chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự khóa VI đợt 2 năm 2015 đã đóng góp nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn.
Gia đình, người thân đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Minh Tường
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng 2.1 Phân tích số liệu số lượng vụ án giải quyết .29
Bảng 2.2 Phân tích số liệu luật sư bào chữa 31
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người trong hoạt động tư pháp luôn là nội dung được coi trọng và
đề cập trong các đạo luật của mỗi quốc gia Qua lịch sử đấu tranh, tồn tại và pháttriển của loài người, quyền đó vẫn luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm Nhữngnguyên tắc về quyền con người, trong đó có quyền của bị cáo trong hoạt động tưpháp hình sự luôn được hoàn thiện dần theo thời gian và đã được khẳng định trongcác văn bản pháp lý như Đạo luật của Anh năm 1689 về các quyền hoặc Tuyên ngônđộc lập của Mỹ năm 1776 đã ghi nhận: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bìnhđẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong nhữngquyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc” Bản tuyênngôn nhân quyền của Pháp năm 1791 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do vàbình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” ỞViệt Nam, Chương V Hiến pháp năm 2013 có quy định “Quyền con người, quyềncông dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏecủa cộng đồng” và “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi đượcchứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật” Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xãhội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗdựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công
cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả vớicác loại tội phạm và vi phạm” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI củaĐảng mới đây cũng tiếp tục đặt ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư
Trang 7pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công
lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” Tranh tụng trong hoạt động xét xử là mộtnội dung bắt buộc và là mục tiêu hướng tới của hệ thống tư pháp nhằm đảm bảoquyền con người đối với bị can, bị cáo Để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chú trọng bổ sung thêm quyền cho bị cáonhư quyền im lặng, quyền đưa ra chứng cứ, tiếp cận đọc, ghi chép bản sao hồ sơ vụán để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đặc biệt trong hoạt động xét xử ởcấp xét xử sơ thẩm Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng cụ thể hóa nguyêntắc tranh tụng trong hoạt động xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng
Với lí do kể trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vai trò của tòa án trong tranh tung tai phiên tòa sơ thẩm vu án hình sư từ thưc tiễn Quân 5, Thành phố
Hồ Chí Minh” cho luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với đề tài lựa chọn nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu xoay quanh cácquy định về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Từ những góc độ nghiên cứu như vậy, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thamkhảo về lý luận và thực tiễn như:
- Nguyễn Đức Mai (2007), Bàn về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân
dân (số 17), tr 23-28;
- N GUYỄN V ĂN T UÂN (2009), Bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên toà hình
sự và vấn đề hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, T ẠP CHÍ D ÂN CHỦ VÀ P HÁP LUẬT
Trang 8- V Ũ T HÀNH L ONG (2014), Cần tháo gỡ một số vướng mắc nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Luật sư tại phiên tòa hình sự, T ẠP CHÍ K IỂM SÁT ( SỐ 15), TR 33-36;
- T ÔN T HIỆN P HƯƠNG (2015), Các giải pháp về công tác cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự, T ẠP CHÍ K IỂM SÁT ( SỐ T ÂN X UÂN ), TR 28-33;
Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu chưa có ấn phẩm, chưa có tài liệu nào nghiêncứu về những bất cập trong quy định về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiêntòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số quy định pháp luật tố tụng hình sự cụ thể là Bộluật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chứctòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản liên quan về vai trò của tòa án trong tranhtụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn hướng tới nghiên cứu tính cầnthiết xây dựng cơ chế tranh tụng hoàn thiện trong tổ chức, vận hành một phiên tòa sơthẩm hình sự để đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân của bị can, bị cáotrong hoạt động xét xử
Đồng thời, đưa ra những bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháphoàn thiện pháp luật liên quan
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các vấn đề lý luận và pháp luật tố tụnghình sự có liên quan đến đề tài luận văn, tác giả chọn lọc và phát triển ý tưởng khoahọc, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đề vai trò của tòa án trong tranhtụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu mà luận văn hướng tới cụ thể sau:
Trang 9Một là, phân tích các vấn đề lý luận về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay
Hai là, phân tích, đánh giá về các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của
tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự để rút ra các vướng mắc,hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thipháp luật liên quan trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố
Hồ Chí Minh
Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các luật
khác có liên quan
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những khía cạnh pháp lý của một
số quy định của pháp luật về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự Nghiên cứu còn sử dụng so sánh thực tiễn áp dụng quy định này tạithời điểm trước và sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực nhằm đánhgiá về quy định pháp luật liên quan và đưa ra những quan điểm hoàn thiện tại ViệtNam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vai trò của Tòa án trong tranh tụng tạiphiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, trongthời gian không quá 06 năm gần nhất (từ năm 2012 đến hết năm 2017) so với thờiđiểm triển khai luận văn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp phân tíchpháp luật và giải thích pháp luật trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và quan điểm của Đảng cộng sản ViệtNam Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật học truyền thốngnhư phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
Trang 10pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những dữ liệu, thông tin thực tiễn xét xử tạiTòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
sư trên địa bàn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung; trên
cơ sở đó, góp phần không ngừng hoàn thiện và nâng cao lý luận về vai trò của Tòa
án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của Tòa án trongtranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 Thực trạng về vai trò của Tòa án trong tranh tụng từ thực tiễn củaTòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Yêu cầu và giải pháp đảm bảo vai trò của Tòa án trong tranh tụngtại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA
ÁN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trang 111.1 Khái niệm tranh tụng và vai trò của tòa án trong tranh tụng
1.1.1 Khái niệm tranh tụng
Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sựhình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử nhân loại.Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù thuộc hệ thống luật án lệ (common law), hệthống luật lục địa (civil law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì hoạt động tốtụng đều có đề cao cơ chế tranh tụng Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảođảm cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc,đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “tranh tụng” là “kiện cáo lẫn nhau”
Theo nghĩa Hán Việt, thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận”
và “tố tụng”, và Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng Trong tố tụng bao giờ cũng có
sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án phân xử
Để có cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham gia tốtụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và tranh luận để bảo vệyêu cầu của mình
Trong một số tài liệu, thông thường người ta thường đề cập đến hệ thốngtranh tụng (Adversarial System) Theo từ gốc tranh tụng trong tiếng Anh là
“Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu Như vậy về bản chất tranh tụng là
“cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) màgiai đoạn đương đầu tại tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm, là chính Tuy nhiên,không nên hiểu một cách giản đơn tranh tụng là tranh luận, tranh cãi giữa hai bên tạiphiên tòa, mà hiểu tranh tụng diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả haibên tiến hành một cách quyết liệt để “cạnh tranh” nhau để “chống” lại nhau Theođúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội (công tố) cố gắng để thuyết phục cácthành viên Hội đồng xét xử tin rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội thì
Trang 12ngược lại, cố gắng và phải sử dụng mọi biện pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏnhững lời buộc tội do bên công tố đưa ra Và điều đáng lưu ý là trong hệ thống tốtụng tranh tụng gốc, Luật sư của bị cáo có thể bất chấp thủ đoạn để bảo vệ thân chủbằng mọi giá Phiên tòa tranh tụng thật sự là một “chiến trường” theo đúng nghĩa của
nó khi mà kết cục phiên tòa, chỉ có một bên giành được phần thắng
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hộiloài người Cơ chế tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ đại Ở thời kỳ
đó, nguyên cáo và bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào chữa trước tòa án.Sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” Cùng với thờigian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định, đếnnay đã được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới
Ở Việt nam, về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghinhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được banhành từ năm 1945 đến nay Đặc thù của tố tụng hình sự là các chủ thể tham gia tốtụng và chủ thể tiến hành tố tụng cùng nhau xác định sự thật khách quan trên cơ sởxem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiếtkhác nhau của vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Để
có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham giavào quá trình tố tụng hình sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cungcấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quanmột cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khácnhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Tất cả các hoạt động
kể trên trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quátrình tranh tụng
Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Trang 13- Theo nghĩa rộng: tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự
thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án Như vậy,hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạnkhởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạngiám đốc thẩm, tái thẩm
- Theo nghĩa hẹp: tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với
nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên, để từ đó nhằm chứngminh cho đối phương và Tòa án thấy rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp
Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng Tranh tụng tại phiêntòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa raquan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở nhữngchứng cứ và lời khai không thể bác bỏ để Hội đồng xét xử phán quyết
1.1.2 Khái niệm vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự
Thuật ngữ “vai trò” có nghĩa là “tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong
sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức”
Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi mạnh dạn cho rằng,
Vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là sự thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các phương diện hoạt động cơ bản của Tòa án mà đại diện là Hội đồng xét xử trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia tranh tụng khác trong quá trình tranh tụng nhằm đưa ra quan điểm, chứng
cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
1.2 Các chủ thể của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Tranh tụng tại phiên toà chính là sự đối đáp giữa một bên buộc tội (Kiểm sátviên hoặc người bị hại) và một bên gỡ tội hoặc giữa hai bên có quyền và lợi ích đối
Trang 14lập nhau bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu bằng cách hỏi đáp và tranhluận.
Như vậy, có 2 chủ thể chính tham gia trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa
sơ thẩm hình sự, gồm:
- Bên buộc tội: Đại diện chính là Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩmhình sự Đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, người bịhại hoặc đại diện của người bị hại cũng tham gia buộc tội và tranh luận, đối đáp, hỏi
và đưa ra ý kiến hoặc trình bày quan điểm về một vấn đề cụ thể, đồng ý hay phản đối
ý kiến của người khác
- Bên gỡ tội: Chủ thể chính là bị cáo hoặc người bào chữa của bị cáo, nhằmtrả lời hoặc đưa ra những ý kiến, quan điểm phản bác hoặc tranh luận về quan điểmbuộc tội của Kiểm sát viên (Viện kiểm sát) hoặc của bên bị hại
Đối với Tòa án mà trực tiếp là Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài, điềukhiển việc tranh tụng, điều khiển phiên tòa, điều khiển quá trình xét hỏi, tranh luậncũng như quyết định xử lý các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà (chỉ huy tranhtụng), trên cơ sở tranh tụng, tranh luận mà các bên đã đưa ra quan điểm, chứng cứchứng minh và Tòa án (Hội đồng xét xử) phải đánh giá khách quan toàn diện vụ ántìm ra chân lý và đưa ra kết luận phán quyết đúng sai
1.3 Đặc điểm, ý nghĩa và mối quan hệ của tòa án với các chủ thể khác trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình cácbên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thậtcủa vụ án trên cơ sở những chứng cứ và lời khai không thể bác bỏ để Hội đồng xét
xử phán quyết Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một phần của hoạtđộng tố tụng tranh tụng trong giải quyết vụ án hình sự Với những đặc trưng của tố
Trang 15tụng tranh tụng, tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm hình sự có một số đặc điểm nhưsau:
Thứ nhất, tranh tụng trong tố tụng sơ thẩm hình sự luôn tồn tại hai bên có lợi ích đối kháng là bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bị buộc tội (bị cáo/luật sư đại diện quyền lợi cho bị cáo):
Trong tranh tụng, Cơ quan công tố và Luật sư hoàn toàn bình đẳng nhau họđược pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập
và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình Cơ quan công tố dưới danhnghĩa là người đại diện cho quyền lợi của nhà nước (thay mặt nhà nước) đưa ra cácquan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo Còn bên bị buộc tội là bịcáo và những Luật sư của họ cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được luậtpháp cho phép để phản bác lại Hai bên sẽ trực tiếp, liên tục chất vấn và trả lời chấtvấn nhau công khai tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề Khác với tố tụng xét hỏi,
tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng nguyên tắc bằng miệng, công khai, tất cả cáctình tiết, các chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản án đều phải được các bên tranhtụng tại phiên tòa Với khoa học phát triển như hiện nay các thủ tục tố tụng tại phiêntòa đều phải đựơc ghi âm hoặc ghi hình, việc xét xử công khai trực tiếp có thể tiếnhành qua điện thoại, hội nghị và các cầu truyền hình trực tiếp Tòa án tiến hành xét
xử một vụ án ở một nơi có thể nghe lời khai trực tiếp của một người làm chứng nơikhác
Thứ hai, trong quá trình tranh tụng, Tham phán - Chủ tọa phiên tòa giữ vai trò là bên thứ ba vô tư, khách quan và dựa vào lí lẽ của các bên để cân nhắc ra phán quyết (vai trò trọng tài):
Do thủ tục tranh tụng không phân chia thành giai đoạn nên các chứng cứ đều
do các bên trực tiếp đưa ra trong quá trình tranh tụng giữa Công tố viên và bị cáo,Luật sư Thẩm phán ở các nước không có trách nhiệm làm rõ bị cáo phạm tội hay
Trang 16không phạm tội Đây cũng là điểm khác so với tố tụng xét hỏi, theo đó trước khi mởphiên tòa các chứng cứ đã được điều tra, thu thập đầy đủ và thể hiện trong hồ sơ vụ
án Tại phiên tòa, Thẩm phán chỉ kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của cácchứng cứ này Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng xét hỏi không phải là một bêntrung lập mà là người có vai trò chính trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án tạiphiên tòa, Thẩm phán có thể trực tiếp chất vấn nếu như lời khai của bị cáo còn cónhiều mâu thuẫn hay bị cáo chối tội Trong tố tụng xét hỏi, mọi hành vi của nhữngngười tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển củachủ tọa phiên tòa, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những người tham gia
tố tụng khác đều phải thông qua chủ tọa phiên tòa Trong khi đó tại phiên tòa theo tốtụng tranh tụng mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như chonhững người tham gia tố tụng khác Trong nhiều trường hợp họ có quyền ngắt lờibên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra
Thứ ba, bên cạnh vai trò của Tham phán thì quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ tham hình sự có sự tham gia của Hội tham nhân dân:
Hội thẩm nhân dân mặc dù không tham gia vào quá trình tranh tụng giữa cácbên nhưng họ có quyền đặt câu hỏi cho bị cáo; quyền biểu quyết bị cáo có tội haykhông có tội; quyền tham gia nghị án Trong quá trình tranh tụng của cơ quan công
tố và phía Luật sư, bị cáo, các thành viên Hội thẩm nhân dân sẽ tiếp nhận các chứng
cứ và lập luận của các bên để có những quyết định của mình
Từ những đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,
có thể thấy tranh tụng được áp dụng trong các hoạt động: buộc tội, gỡ tội và tài phán.Vai trò của bên buộc tội, bên bào chữa được xác định là các bên có quyền ngangnhau trong việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép để thực hiện chứcnăng của mình khi tranh tụng trước một tòa án công bằng Từ đó, Tòa án phải cótrách nhiệm tạo mọi điều kiện mà pháp luật cho phép để các bên có thể phát huy hết
Trang 17tính chủ động và tích cực khi tham gia giải quyết vụ án hình sự, Hội đồng xét xử làchủ thể chính trong việc đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên các chứng cứ của cácchủ thể khác xuất trình tại phiên toà, ở một mức độ cần thiết, Tòa án tham gia vàoquá trình tranh tụng như trọng tài để góp phần làm rõ các chứng cứ và tình tiết của
vụ án
1.4 Vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.4.1 Xét theo từng giai đoạn của phiên tòa sơ thẩm hình sự
Xét theo từng giai đoạn của phiên tòa sơ thẩm hình sự, vai trò của tòa ántrong tranh tụng thể hiện khác nhau tùy theo từng giai đoạn cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn chuan bị xét xử:
Giai đoạn này có thể bắt đầu từ chuẩn bị xét xử, trong phần thủ tục phiên tòa
và kết thúc khi chuyển sang phần thủ tục xét hỏi Trong thời hạn nghiên cứu, Thẩmphán được phân công chủ tọa phiên tòa cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, thấy vụ án có
đủ điều kiện để mở phiên tòa đưa ra xét xử thì xây dựng kế hoạch xét xử, trao đổi vớiKiểm sát viên về đề cương thẩm vấn, thành phần những người cần triệu tập tham giaphiên tòa và dự kiến các tình huống phát sinh
Tại phần thủ tục, nếu một số vấn đề thực hiện có phát sinh trong giai đoạnnày không đưa đến phải tranh tụng để có phán quyết cuối cùng về vụ án như đã đềcập ở phần trên thì việc chuẩn bị tranh tụng trong giai đoạn này được nhiều chủ thểtham gia và thực hiện khẩn trương nhất Giai đoạn này là tiền đề cho các giai đoạnsau nên thực hiện tốt việc chuẩn bị thì chắc chắn chất lượng tranh tụng sẽ đạt mụcđích, chất lượng cao, hạn chế được việc hoãn phiên tòa làm cho việc xét xử và giảiquyết vụ án được nhanh chóng, không bị kéo dài, đảm bảo tiết kiệm thời gian, tiềncủa cho các chủ thể tham gia tố tụng
- Trong giai đoạn xét hỏi:
Trang 18Đây là giai đoạn thực hiện kiểm tra công khai các chứng cứ làm cơ sở đưa ra
ý kiến về các vấn đề từ đó đánh giá và phán quyết về vụ án Trong giai đoạn này cónhiều chủ thể tham gia Trong đó, đối với hội đồng xét xử thì chủ tọa phiên tòa làngười chủ trì, điều khiển việc xét hỏi để kiểm tra các chứng cứ đã thu thập Trình tựxét hỏi được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử đặt ra nhữngcâu hỏi để làm rõ những vấn đề chưa rõ hoặc có mâu thuẫn, không nên hỏi về toàn
bộ nội dung vụ án mà cần xác định và nêu lên vấn đề để Kiểm sát viên, người bàochữa hỏi để làm sáng tỏ nội dung và các tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử chủđộng hướng các bên đi vào trọng tâm vấn đề, tập trung lắng nghe làm cơ sơ thực hiệnthủ tục tiếp theo
Kết quả tranh tụng trong giai đoạn xét hỏi là cơ sở cho lập luận của các bêntrong việc đề xuất hướng giải quyết vụ án trong phần tranh luận
- Trong giai đoạn tranh luận:
Đây là giai đoạn các bên trình bày luận điểm, luận cứ của mình về những vấn
đề đã được thẩm tra làm rõ ở giai đoạn trước, trên cơ sở đối chiếu với những quyđịnh của pháp luật để đề xuất hướng xử lý phù hợp Kiểm sát viên trình bày quanđiểm luận tội, tranh luận đối đáp về những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa, ngườitham gia tố tụng khác đưa ra, không được né tránh hoặc phát biểu “giữ nguyên quanđiểm” Bị cáo hoặc người bào chữa trình bày lời bào chữa, ý kiến phản bác đối vớiluận tội của Kiểm sát viên, đối đáp các ý kiến của Kiểm sát viên và chủ thể khác cóliên quan
Hội đồng xét xử trong giai đoạn này lắng nghe trình bày và lập luận của cácbên, hướng các bên đi vào trọng tâm vấn đề tranh luận, đối đáp với nhau theo trình tự
tố tụng Những vấn đề mà Kiểm sát viên chưa đối đáp lại với quan điểm của ngườibào chữa và những người tham gia tố tụng khác thì Hội đồng xét xử yêu cầu Kiểm
Trang 19sát viên phải có ý kiến đối đáp và thể hiện quan điểm rõ ràng đối với từng vấn đề màngười tham gia tố tụng đưa ra.
- Trong giai đoạn nghị án và tuyên án :
Giai đoạn này Hội đồng xét xử phải đánh giá và công bố kết quả tranh tụng.Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại phiêntòa và chỉ những vấn đề đã được thẩm tra tại phiên tòa thì mới được dùng làm căn cứ
để nhận định, đánh giá, kết luận và quyết định
1.4.2 Xét theo từng hoạt động (mục đích) của tranh tụng Xét theo từng
hoạt động (mục đích) của tranh tụng, vai trò của tòa án trong tranh tụng thể hiện khác nhau tùy theo hoạt động cụ thể như sau:
Thứ nhất, về vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo sự có mặt đầy đủ của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng:
Thể hiện ở việc Tòa án yêu cầu nhân chứng tham gia tố tụng tại phiên tòahoặc xác định tư cách người tham gia tranh tụng chưa được coi trọng trong mục tiêucủng cố tình tiết vụ án:
Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án có trách nhiệm tôn trọng và bảođảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ và yêu cầu triệu tập người làm chứng, đồ vật,tài liệu ra xem xét hoặc việc xác định tư cách tham gia tố tụng Tuy nhiên, đôi khiviệc quyết định trưng cầu các tài liệu, chứng cứ bổ sung, triệu tập thêm người làmchứng hoặc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của một cá nhân chưa được Hộiđồng xét xử đánh giá và thực hiện
Thứ hai, về vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc bảo đảm các quyền của bị cáo tại phiên tòa, trong đó có việc được thực hiện đầy đủ quyền tranh tụng:
Khi xét xử đa số các vụ án được Hội đồng xét xử đảm bảo cho bị cáo đượcthực hiện các quyền của bị cáo tại phiên tòa như quyền được tham gia phiên tòa,
Trang 20quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa, quyền được tranh luận tại phiên tòa, quyềnđược nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án
Rõ ràng, Tòa án có vai trò quyết định trong việc bảo đảm quyền tranh tụngcủa bị cáo được thực hiện hay không được thực hiện đầy đủ tại phiên tòa
Thứ ba, vai trò của Tòa án trong việc yêu cầu và tạo điều kiện để bị cáo và người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo tích cực tham gia vào quá trình tranh tụng:
Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mà nhất là chủ tọaphiên tòa đã quan tâm và tạo điều kiện để cho người đại diện hợp pháp (đại diện theopháp luật) của bị cáo tham gia tranh tụng tại phiên tòa, được quyền trình bày ý kiến,trả lời câu hỏi của người tiến tố tụng (Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên), người thamgia tố tụng (người bào chữa), từ đó đã làm sáng tỏ được nhiều tình tiết quan trọngcủa vụ án, góp phần vào việc xét xử vụ án được khách quan, toàn diện và đúng phápluật
Thứ tư, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc định hướng xét hỏi tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử có vai trò định hướng xét hỏi tại phiên tòa, đề ra được đềcương xét hỏi, đặt ra được các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa và có biệnpháp xử trí kịp thời, nên việc xét xử vụ án và kết tội bị cáo được nhanh chóng, đúngpháp luật và thuyết phục
Thứ năm, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc bảo đảm cho các bên tranh luận được trình bày hết ý kiến, bảo đảm thời gian tranh luận.
Thứ sáu, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định tội danh của bị cáo thông qua tranh tụng:
Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đa số các vụ án đã được Hội đồng xét xử
Trang 21diện, xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm và quá trình tranh luận tại phiên tòa đểxác định chính xác tội danh của bị cáo.
Thứ bảy, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định có hay không việc bỏ lọt (bỏ sót) hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình tranh luận tại phiên tòa.
Thứ tám, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định và áp dụng tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo dựa vào kết quả tranh luận tại phiên tòa:
Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đa số các vụ án đã được Hội đồng xét xửxem xét xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bịcáo, từ đó đã áp dụng đúng pháp luật khi lượng hình
Thứ chín, vai trò của Tòa án trong việc từ kết quả tranh luận, đưa ra phán quyết, bản án và quyết định đúng đắn:
Khi xem xét phán quyết của Tòa án, nếu không dựa trên kết quả tranh luậntại phiên tòa, nhiều phán quyết là không có cơ sở đánh giá Bên cạnh đó, còn cótrường hợp quá trình lập luận, tranh luận tại phiên tòa và nội dung bản án và biên bảnphiên tòa khác nhau về nhiều tình tiết Nhiều biên bản nghị án và phán quyết của Hộiđồng xét xử được làm theo mẫu chung từ các vụ án giống nhau về hành vi, chỉ thayđổi về tình tiết vụ án khiến không tránh khỏi những lỗi văn bản cho thấy quá trìnhtranh tụng không được đề cập chi tiết và cụ thể trong bản án
Khi tranh luận và đối đáp, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi củađương sự đã chuẩn bị bản luận cứ tập trung phân tích các tình tiết, diễn biến vụ việcqua thẩm tra tại phiên tòa, lời buộc tội của Kiểm sát viên; trên cơ sở đối chiếu quyđịnh của pháp luật nhằm gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩ
vụ liên quan ) Thực tế, Luật sư cũng là người tích cực nhất trong việc đối đáp các
Trang 22luận điểm mà Kiểm sát viên đưa ra Nhiều lập luận của luật sư đưa ra đã giúp làmsáng tỏ tình tiết của vụ án Do vậy, Tòa án (Hội đồng xét xử) cần tạo điều kiện đểchủ thể này được thể hiện vai trò tích cực của mình trong đảm bảo nguyên tắc tranhtụng.
1.5 Quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.5.1 Giai đoạn trước Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Sau Cách mạng tháng
Tám, cùng với việc kiện toàn chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945 về việc thành lập Tòa án quân sự, trong đó có quy định “bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho họ”
Quá trình phát triển pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam chịu ảnh hưởnglớn từ mô hình pháp luật tố tụng của Pháp và Xô Viết (Liên Xô), mang đậm phongcách Châu Âu lục địa Tranh tụng thời kỳ Pháp thuộc là sự sao chép cơ bản Bộ luật
Tố tụng hình sự của Pháp giai đoạn này Sau năm 1945, hệ thống cơ quan tư phápđược hình thành nhưng vẫn bị chi phối bởi Bộ luật Tố tụng hình sự Theo Hiến phápnăm 1946, các chức năng của các chủ thể trong Tố tụng hình sự cũng đã được quyđịnh khá rõ Trong đó, Điều 65 Hiến pháp 1946 quy định về sự tham gia của phụthẩm nhân dân Điều 69 quy định các phiên tòa đều phải công khai, trừ trường hợpđặc biệt; người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc nhờ Luật sư bào chữa Vai tròcủa tranh tụng cũng được hỗ trợ bởi Điều 2 Sắc lệnh số 46 ngày 10 tháng 10 năm
1945 quy định về tổ chức của các đoàn thể Luật sư, trong đó chỉ rõ các Luật sư cóquyền làm nhiệm vụ bào chữa trước tất cả các Tòa án cấp tỉnh trở lên và trước tất cảcác Tòa án quân sự
Trong giai đoạn Hiến pháp năm 1959 và 1980, mô hình tổ chức hệ thống Tòa
án đã dần dần được hoàn thiện, tuy nhiên các quy định về tranh tụng chưa được quantâm thỏa đáng Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định “quyền bào chữa
Trang 23của bị cáo được bảo đảm” Tiếp đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và sau đó là
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là hai văn bản phản ánh khá trung thực khi không
đề cập tới quyền tranh tụng tại phiên tòa
Từ năm 2002, thuật ngữ “Tranh tụng” được sử dụng trong Nghị quyết số08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọngtâm công tác tư pháp Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa ghinhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng hình sự
1.5.2 Giai đoạn từ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đến nay
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ hoạt động xét xử không đảm bảo
tranh tụng, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: Nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm Trên nền tảng nguyên tắc hiến định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
đã bổ sung nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2015) Đây là quy định mới, căn cứ pháp lý quan trọng để đảm bảoquyền con người, quyền công dân theo hiến định, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau:
“Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Có thể thấy Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
đã quy định rõ mối quan hệ, vị trí giữa những người tiến hành tố tụng trong đó có vịthế của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng
cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án là bìnhđẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệquan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng Có thể nói chỉ trên cơ sở bìnhđẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì hoạt động tranh tụng mớiđảm bảo chất lượng, có tính thực thi
“Tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án” Theo đó xác định rõ Tòa án cótrách nhiệm tạo điều kiện cho những chủ thể tranh tụng là Kiểm sát viên, bị cáo,
Trang 24người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa
vụ của mình và hoạt động tranh tụng tiến hành trên cơ sở dân chủ, bình đẳng Tạiphiên tòa các chủ thể tranh tụng bình đẳng với nhau trên cơ sở đưa ra quan điểm, tàiliệu, chứng cứ, phân tích đánh giá để lập luận, đối đáp bảo vệ quan điểm của mình
“Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng,tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều luật của Bộ luậthình sự, các Luật khác có liên quan để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mứcbồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ýnghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa Bản
án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kếtquả tranh tụng tại phiên tòa” Đây là một trong những điểm mới, tiến bộ nhất đượcghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tất cả tài liệu chứng cứ liên quanđến vụ án đều phải được xem xét, đánh giá, tranh luận làm rõ tại phiên tòa; bản án,quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, chấp nhậnhay không chấp nhận phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định, điều này thể hiện rõnét tính ưu việt khi kết hợp giữa mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn
Với chủ trương Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắctranh tụng trong xét xử, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nhiều quyđịnh để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, cụ thể: Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghịcủa Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệutập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụngkhác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa;
đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi,hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Điều 279 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015) Bên cạnh đó, nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn
Trang 25chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều Luật sư tham gia, nhưng đối vớiKiểm sát viên Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ cho phép tối đa 02 Kiểm sátviên tham gia Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định nàytheo hướng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyềncông tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãnphiên tòa Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiềuKiểm sát viên (khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)
Đặc biệt, nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo việctranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trongphần xét hỏi, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòavới thủ tục tranh luận tại phiên tòa thành “thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V,chương XXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quyđịnh về trình tự xét hỏi, theo đó, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tìnhtiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hànhviệc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý (khoản 1 Điều 307
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa,
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về nội dung luận tội củaKiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng
cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bịcáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự,những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại,
xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tìnhtiết khác có ý nghĩa đối với vụ án
Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặckết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp
Trang 26tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng Kiến nghị các biện phápphòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự năm2015) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu vàlập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và người thamgia tố tụng khác trình bày tại phiên tòa Đồng thời bổ sung trách nhiệm của Hội đồngxét xử là “lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bàochữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sựthật của vụ án Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiêntòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án (khoản 4 Điều
322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền của Tòa án trong việcxem xét, kết luận tính hợp pháp các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,Kiểm sát viên, người bào chữa; xem xét, kết luận tính hợp pháp của các chứng cứ, tàiliệu do các chủ thể tố tụng thu thập, cung cấp (Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể các trường hợp và cáchthức Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ (Điều 252 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án trongviệc bảo đảm tranh tụng
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về quyền trong việc thu thậpchứng cứ (trước đây Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ giao cho Cơ quan tiếnhành tố tụng), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung cho người bào chữa cóquyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ thay vì chỉ cóquyền thu thập, đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu
Trang 27Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cho người bị buộc tội có quyềnnắm bắt được các chứng cứ buộc tội như quyền được nhận đầy đủ các quyết định tốtụng liên quan đến việc buộc tội; quyền được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tàiliệu đã được số hóa trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đổi mới trình tự xét hỏi tại phiên tòa nhằmtăng cường trách nhiệm, sự chủ động của các chủ thể tố tụng Theo đó, thay vì quyđịnh như trình tự trước đây: “Chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến Hội thẩm, sau đóđến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự” (khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) Bộ luật Tố tụnghình sự năm 2015 quy định: Trong mọi trường hợp, “Chủ tọa phiên tòa hỏi trước”,sau đó “quyết định người hỏi trước hỏi sau” theo thứ tự hợp lý (khoản 1 và 2 Điều
307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định đối với những vụ án nghiêmtrọng, phức tạp, có thể có nhiều Kiểm sát viên cùng thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử tại phiên tòa (Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) thay vìchỉ có tối đa hai Kiểm sát viên tham gia phiên tòa như Bộ luật Tố tụng hình sự năm2003
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định đối với Kiểm sát viên phải đưa
ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để tranh tụng đến cùng với từng ý kiến của người thamgia tố tụng (Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định: Trong nội dung bản ánphải phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội,chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa vànhững người tham gia tố tụng (Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyđịnh) Đây là nội dung bổ sung rất quan trọng, thể hiện sự khách quan và tinh thần
Trang 28trách nhiệm đầy đủ của Tòa án khi phán quyết số phận pháp lý của con người (vai tròquan trọng của Tòa án).
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định về việc tranh tụng khôngchỉ được thực hiện ở phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm mà còn được thực hiện ở cả phiêntòa giám đốc thẩm; Tòa án có trách nhiệm đảm bảo tranh tụng bình đẳng giữa Kiểmsát viên với những người tham gia tố tụng (Điều 386 và 403 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn bổ sung thêm nhiều quy định
mới
Thể chế hóa nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” được ghinhận trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã phản ánhbước tiến của nền tư pháp nước ta, tạo sự chuyển biến về chất, có tính quyết định đốivới hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải thayđổi mạnh mẽ từ ý thức đến hành động, phải xác định bảo đảm tranh tụng là tráchnhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là đối với Tòa án với vai trò trọng tài,công bằng, công tâm trong xét xử Đối với các chủ thể khác tham gia tranh tụng(Kiểm sát viên, người bào chữa ) với tư cách là một bên tranh tụng thì cần phảichủ động trang bị đầy đủ hơn về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tinh thần tráchnhiệm, bản lĩnh và sự chuẩn bị chu đáo cho mỗi phiên tòa nhằm đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ trong tình hình mới
Kết luận Chương 1
Được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, tranh tụng trong xét xử là nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo tính côngbằng, dân chủ, bình đẳng cho những bên tham gia tố tụng Với đặc trưng của phiêntòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có xu hướng tạo
cơ hội cho bên buộc tội và bên gỡ tội tranh luận và cung cấp những tình tiết; chứng
Trang 29cứ mới làm sáng tỏ vụ việc và sự thật khách quan của vụ án nhằm bảo vệ quyền conngười, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân,bảo vệ công lý.
Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảođảm” (khoản 5 Điều 106 Hiến pháp năm 2013) Như vậy mô hình tranh tụng ở nước
ta hiện nay là được xây dựng trên nền tảng của mô hình thẩm vấn, đồng thời tiếp thu
có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, tăng cường quá trìnhtranh luận, trao đổi, kiểm tra chứng cứ và chứng minh một cách dân chủ và côngbằng để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theopháp luật; bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giáchứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa Quá trình tranh tụng phải được thực hiện ở mọigiai đoạn (từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử); các chủ thể đều có quyền bình đẳngtrong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thậtkhách quan của vụ án; mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội và cáctình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranhluận, làm rõ tại phiên tòa (Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) Chỉ có nhưvậy, mới đạt được sự “tâm phục, khẩu phục”; hạn chế kháng cáo, kháng nghị làmkéo dài quá trình giải quyết vụ án, củng cố lòng tin của nhân dân vào công lý, sựcông bằng của pháp luật
Qua nghiên cứu cũng cho thấy kể từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thihành, các quy định về tranh tụng trong xét xử dần được bổ sung và quan tâm thôngqua nhiều cơ chế và quy định nhằm tạo lập cơ chế tranh tụng khi xét xử
Tuy nhiên, một số quy định liên quan tới tranh tụng cũng tồn tại nhiều hạnchế cần khắc phục trong thời gian tới
Các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng đúng và đầy đủ các quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sẽ không làm oan người vô tội, không
bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra án oan sai
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG
TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình xét xử và hoạt động tranh tụng tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh và tại Tòa án nhân dân Quận 5
Năm 2016, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 56.916 vụ việccác loại, giải quyết 55.069 vụ, đạt tỷ lệ 96,75%; số lượng vụ án còn lại chưa giải quyết hầuhết là các vụ án mới thụ lý, đang trong quá trình chuẩn bị xét xử và còn trong thời hạn giảiquyết theo quy định của pháp luật So với cùng kỳ năm 2015, thụ lý giảm 100 vụ, giải quyếttăng 506 vụ, tỷ lệ giải quyết tăng 1,05% Về chất lượng xét xử, Tòa án nhân dân hai cấpThành phố Hồ Chí Minh có 366 bản án, quyết định bị hủy, trong đó hủy do lỗi chủ quan là
166 vụ, chiếm tỷ lệ 0,30%, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2015; có 907 bản án, quyết định
bị sửa, trong đó sửa do lỗi chủ quan là 356 vụ, chiếm tỷ lệ 0,65%
Năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 67.711 vụ việccác loại, đã chuyển thẩm quyền 2.547 vụ việc, còn lại phải giải quyết là 65.164 vụ việc; đãgiải quyết 49.972 vụ việc (không tính tạm đình chỉ), đạt tỷ lệ 76,69%, còn lại 15.192 vụ việcchưa giải quyết, trong đó có 8.244 vụ việc đang tạm đình chỉ, các vụ án tồn còn lại 6.948 vụ,
số lượng vụ án tồn còn lại chưa giải quyết hầu hết là các vụ án mới thụ lý, đang trong quátrình chuẩn bị xét xử và còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật So vớicùng kỳ năm 2016, thụ lý tăng 911 vụ, giải quyết giảm 618 vụ, tỷ lệ giải quyết giảm 0,74%
Về chất lượng xét xử, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh có 307 bản án, quyếtđịnh bị hủy, trong đó hủy do lỗi chủ quan là 150 vụ, hủy do lỗi khách quan là 157 vụ; có 754bản án, quyết
định bị sửa, trong đó sửa do lỗi chủ quan là 280 vụ, sửa do lỗi khách quan là 474 vụ
* Tình hình giải quyết xét xử các vụ án hình sự năm 2017 của Tòa án nhân dân haicấp Thành phố Hồ Chí Minh: Tòa án nhân dân hai cấp đã thụ lý 6.782 vụ/ 11.659 bị cáo, đã
Trang 31giải quyết theo thủ tục phúc thẩm 694 vụ/ 1.364 bị cáo), đạt tỷ lệ 99,57%, số vụ còn lại chưagiải quyết là 29 vụ/ 71 bị cáo, trong đó có 01 vụ/ 03 bị cáo đang tạm đình chỉ So với năm
2016, lượng án hình sự thụ lý giảm 1.601 vụ, giải quyết giảm 1.669 vụ, tỷ lệ giải quyết tăng0,17%, trong đó:
- Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 1.484 vụ/ 3.660 bị cáo, đã giảiquyết 1.474 vụ/ 3.614 bị cáo (Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 780 vụ/ 2.250 bị cáo, giảiquyết theo thủ tục phúc thẩm 694 vụ/ 1.364 bị cáo), đạt tỷ lệ 99,33%, số vụ còn lại chưa giảiquyết là 10 vụ/ 46 bị cáo, có 12 vụ/ 16 bị cáo được đưa ra xét xử lưu động So với năm 2016,lượng án hình sự thụ lý giảm 195 vụ, giải quyết giảm 193 vụ, tỷ lệ giải quyết tăng 0,04%
- Tòa án nhân dân quận, huyện (24 quận huyện) đã thụ lý 5.298 vụ/ 7.999 bị cáo, đãgiải quyết 5.279 vụ/ 7.974 bị cáo, đạt tỷ lệ 99,64%, số vụ còn lại chưa giải quyết là 19 vụ/ 25
bị cáo, trong đó có 01 vụ/ 03 bị cáo đang tạm đình chỉ; có 336 vụ/ 397 bị cáo được đưa ra xét
xử lưu động So với năm 2016, lượng án hình sự thụ lý giảm 1.496 vụ, giải quyết giảm 1.476
vụ, tỷ lệ giải quyết tăng 0,21%
* Tình hình giải quyết xét xử các vụ án hình sự năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận5: đã thụ lý 206 vụ/ 290 bị cáo, đã giải quyết 206 vụ/ 290 bị cáo, đạt tỷ lệ 100% (trong đó:xét xử 145 vụ/ 207 bị cáo, trả hồ sơ yêu cầu điều điều tra bổ sung 55 vụ/ 82 bị cáo và đìnhchỉ xét xử 01 vụ / 01 bị cáo) số vụ còn lại chưa giải quyết là 00 vụ/ 00 bị cáo; có 21 vụ/ 23 bịcáo được đưa ra xét xử lưu động So với năm 2016, lượng án hình sự thụ lý giải quyết tăng
Hiện trên địa bàn Quận 5 có hơn 2.000 đơn vị hoạt động theo luật doanh nghiệp, 25
Trang 32thay đầy tích cực của đời sống kinh tế đã tạo nguồn cho Quận 5 chuyển đổi mới bộ mặt đôthị ngày càng khang trang, hiện đại với những công trình xây dựng và chỉnh trang đô thị quy
mô Với tính chất phức tạp như vậy, công tác xét xử của Tòa án nhân dân Quận 5 đối với các
vụ án hình sự phản ánh thực tiễn áp dụng quy định tranh tụng và vai trò của Tòa án trongtranh tụng
Có thể khẳng định, chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân Quận 5 ngày càng đượcnâng cao, trong đó có nhiều vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, ví dụ như vụ án
“Cướp tài sản” do Chung Tiến Q và đồng phạm gây ra, vụ án “Cướp tài sản” do Võ Kỳ Chgây ra, vụ án “Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” do VõVăn Th và đồng phạm gây ra, vụ án “Cưỡng đoạt tài sản” do Lê Thiết Th và đồng phạm gây
ra, vụ án “Đánh bạc” do Nguyễn Ngọc X và đồng phạm gây ra, vụ án “Giả mạo chức vụ, cấpbậc” do Nguyễn Tấn Ch và đồng phạm gây ra, vụ án “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan,
tổ chức” do Lê Thị N gây r a, vụ án “Cố ý gây thương tích” do Trương Thành L và đồngphạm gây ra, vụ án “Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” doNguyễn Minh S và đồng phạm gây ra, vụ án “Tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép” do LêCông Ph gây ra, vụ án “Chống người thi hành công vụ” do Giang Mỹ H gây
ra, vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” do Nguyễn Thị H gây ra, vụ án “Bắt giữ
người trái pháp luật” do Nguyễn Trọng Thu S và đồng phạm gây ra
Quận 5 còn là nơi có nhiều Trung tâm thương mại, Chợ, Trường học, Bệnhviện lớn đóng trên địa bàn, nên tình hình an ninh trật tự có phần phức tạp nhất là cáctội như: Trộm cắp tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Lừa đảo chiếmđoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
Trang 33Đa số các vụ án đều được xét xử một cách nghiêm minh và đúng pháp luật.Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã làm tốt công tác thực hành quyền xét xửcủa Hội đồng xét xử tại phiên tòa, không phát sinh án oan sai, không bỏ lọt tộiphạm, không làm oan người vô tội.
Chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân Quận
5, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đạt hiệu quảcao, kỹ năng và chất lượng xét hỏi tại Tòa án được đảm bảo Người tiến hành tốtụng và tham gia tố tụng đều nhận thức hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một trongnhững hoạt động quan trọng có tính quyết định đến kết quả giải quyết vụ án Dovậy, việc xét hỏi đã được các bên chủ động thực hiện, hầu hết các vụ án đều đượccác chủ thể tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên) vàcác chủ thể tham gia tố tụng (Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Bảng 2.1: Phân tích số liệu số lượng vụ án giải quyết
Trang 34Hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên với Người bào chữa (Luật sư), bịcáo và những người tham gia tố tụng khác là hoạt động trọng tâm của phiên tòa xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự Tất cả các vụ án, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túcviệc tranh luận theo quy định tại các Điều 320, 321 và 322 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015; Điều 18 của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014 và Quychế công tác Thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Donghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm vững các căn cứ pháp luật, ghi chép đầy đủ, kịp thời diễnbiến và những vấn đề, những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa nên Kiểm sát viên
và Người bào chữa (Luật sư) đã đối đáp và làm rõ từng vấn đề với lập luận sắc bén,
có căn cứ
Trên thực tế xét xử, trước đây có phiên tòa diễn ra hoặc là Kiểm sát viên ngạitranh luận, giữ thái độ im lặng; hoặc nếu có thì khi tranh luận thì áp đặt, chụp mũmột cách khiên cưỡng, thiếu cơ sở pháp lý, không thuyết phục Thái độ và ngôn từkhi tranh luận có lúc gay gắt, dễ mất đi ý nghĩa tranh luận, luận bàn mà nhiều khimang tính “tranh cãi”, “đôi co”, làm giảm tính nghiêm minh trong xét xử Khi thamgia đối đáp chưa thực hiện đối đáp, lập luận đến cùng các vấn đề mà chỉ trình bàyqua loa là giữa nguyên quan điểm đã truy tố
Bảng 2.2 Phân tích số liệu luật sư bào chữa
Trang 352.2 Thực trạng vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
Từ thực tiễn xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân Quận 5,Thành phố Hồ Chí Minh, có thể đánh giá thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
và vai trò của Tòa án trong hoạt động tranh tụng cho thấy còn có những hạn chế.Thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vàtrên cơ sở quan điểm chỉ đạo về cải cách hoạt động tư pháp, các phiên tòa xét xử vụ
án hình sự tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã được tổ chứctheo tinh thần cải cách tư pháp, đáp ứng phần nào yêu cầu tranh tụng được chútrọng đã góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử và giải quyết các vụ án hình
sự Hàng năm mỗi Thẩm phán phải đăng ký ít nhất 01 phiên tòa hình sự sơ thẩm rútkinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp, mỗi Kiểm sát viên phải đăng ký ít nhấtphiên tòa
xét xử
Số bị cáo có Luật sư bào chữa
HĐXX chấp nhận quan điểm bào chữa Chỉ định Bị cáo yêu cầu
Trang 36mẫu theo tinh thần cải cách tư pháp Tuy nhiên, có thể thấy những bất cập cụ thể liên quan tới vai trò của Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa:
Thứ nhất, về vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo sự có mặt đầy đủ của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng:
Thể hiện ở việc Tòa án yêu cầu nhân chứng tham gia tố tụng tại phiên tòahoặc xác định tư cách người tham gia tranh tụng chưa được coi trọng trong mục tiêucủng cố tình tiết vụ án
Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án có trách nhiệm tôn trọng và bảođảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ và yêu cầu triệu tập người làm chứng, đồvật, tài liệu ra xem xét hoặc việc xác định tư cách tham gia tố tụng Tuy nhiên, đôikhi việc quyết định trưng cầu các tài liệu, chứng cứ bổ sung, triệu tập thêm ngườilàm chứng hoặc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của một cá nhân chưa đượcHội đồng xét xử đánh giá và thực hiện
Ví dụ: Vụ án xét xử bị cáo Nguyễn Văn D và đồng phạm bị truy tố về tội
“Cướp giật tài sản”, vụ án có người làm chứng rất quan trọng là ông Bù Thành H,quá trình điều tra Cơ quan điều tra ghi lời khai của ông H về việc ông nhìn thấy bịcáo T chở đồng phạm cướp giật giỏ xách (túi xách) của người bị hại, quá trình xét
xử sơ thẩm vụ án Tòa án không triệu tập người làm chứng đến phiên tòa, tại phiêntòa người bị hại vắng mặt, bị cáo không nhận tội nhưng Hội đồng xét xử đã căn cứvào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để kết luận bị cáo phạm tội “Cướpgiật tài sản” và tuyên án đối với bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo; vụ
án được xét xử theo trình tự phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định Tòa
án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì đã không triệu tập ngườilàm chứng đến tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nên đã quyết định hủy bản án
sơ thẩm để xét xử lại
Trong thủ tục xét hỏi, mặc dù trước khi tiến hành phiên tòa, các thành viên
Trang 37cứ trong hồ sơ vụ án và công khai tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, nhưng trong thựctiễn có những nội dung có thể phát sinh trong quá trình tranh tụng đòi hỏi Hội đồngxét xử phải xem xét những vấn đề còn mâu thuẫn giữa phần xét hỏi tại phiên tòa vàcác tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để có hướng làm rõ vụ việc, tuy nhiênđiều này đôi khi chưa được coi trọng và chưa được lưu tâm xem xét, đôi khi còn bị
bỏ qua
Ví dụ: Vụ án xét xử bị cáo Lê Quốc T bị truy tố về tội “Vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử đã tậptrung thẩm vấn xác định được hành vi phạm tội của bị cáo nhưng chưa xác địnhđược yếu tố lỗi có thuộc hoàn toàn về bị cáo hay không, người bị hại có lỗi haykhông để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Kiểm sát viên không tham gia xéthỏi mà căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để kết luận lỗi gây ra vụ tai nạngiao thông làm cho người bị hại là ông Nguyễn Đào Ph chết là hoàn toàn thuộc về
bị cáo Tại phiên tòa bị cáo khai và cho rằng người bị hại cũng có một phần lỗi vìkhi băng qua đường nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thì người bị hại cóđeo tai phone nghe nhạc nên khi bị cáo điều khiển xe vào ngã tư phát hiện thấyngười bị hại thì bị cáo có bấm còi nhưng do bị hại đang đeo tai phone nghe nhạctiếp tục băng qua đường nên đã không nghe được tiếng còi xe của bị cáo nên dẫnđến bị cáo xử lý không kịp để xe ô tô tông vào người bị hại gây tai nạn làm chongười bị hại chết, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết này cho bị cáo đểgiảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vụ tai nạn xảy ra theo bị cáo thì cũng có một phầnlỗi của người bị hại và không do lỗi hoàn toàn của bị cáo như cáo buộc của Kiểmsát viên; đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa và là tình tiết quan trọng của vụ
án để xem xét lỗi trong vụ án có hoàn toàn thuộc về bị cáo như cáo buộc của Kiểmsát viên hay không để nhằm quyết định hình phạt đối với bị cáo Tuy nhiên Hộiđồng xét xử đã không xem xét tình tiết này để hoãn phiên tòa trả hồ sơ yêu cầu điều
Trang 38chấp nhận đề nghị của bị cáo mà tiếp tục xét xử vụ án và tuyên án đối với bị cáo,kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ” xử phạt bị cáo 02 năm tù Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo, vụ
án được xét xử theo trình tự phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định Tòa
án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì tại phiên tòa phát sinhtình tiết mới có ý nghĩa đến việc xem xét định định hình phạt đối với bị cáo nhưngkhông được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sungđược do đó Hội đống xét xử phúc thẩm đã quyết định hủy bản án sơ thẩm để điềutra xét xử lại
Thứ hai, về vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc bảo đảm các quyền của bị cáo tại phiên tòa, trong đó có việc được thực hiện đầy đủ quyền tranh tụng:
Khi xét xử đa số các vụ án được Hội đồng xét xử đảm bảo cho bị cáo đượcthực hiện các quyền của bị cáo tại phiên tòa như quyền được tham gia phiên tòa,quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa, quyền được tranh luận tại phiên tòa,quyền được nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án
Tuy nhiên có vụ án quyền của bị cáo đã không được thực hiện tại phiên tòatheo quy định của pháp luật
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn T và đồng phạm bị truy tố về tội “Cướp giật tàisản”, tại phiên tòa trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa khi chủ tọa phiên tòa tuyên
bố khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo kêu oan, cóbiểu hiện phản đối và không trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử, manh độnggây rối trật tự phiên tòa, tấn công lực lượng cảnh sát bảo vệ hỗ trợ tư pháp tại phiêntòa và đập đầu vào vành móng ngựa để tự sát Với diễn biến xảy ra tại phiên tòa nhưvậy, Hội đồng xét xử đã quyết định cách ly bị cáo ra khỏi phòng xử án và yêu cầu
Trang 39chờ xử phía sau tòa án rồi bật loa cho bị cáo nghe nội dung diễn biến phiên tòa chođến khi kết thúc phiên tòa mà không cho bị cáo tham gia phiên tòa Như vậy vôhình dung Hội đồng xét xử đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tại phiên tòatrong việc cách ly bị cáo ra khỏi phòng xử án không đúng pháp luật, không đảm bảocho bị cáo được thực hiện các quyền của bị cáo tại phiên tòa như quyền được thamgia phiên tòa, quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa, quyền được tranh luận tạiphiên tòa, quyền được nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án.Trong trường hợp này lẽ ra Hội đồng xét xử phải động viên bị cáo bình tĩnh thamgia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giải thích quyền vànghĩa vụ của bị cáo tại phiên tòa, phân tích pháp luật để bị cáo yên tâm tin tưởngvào sự khách quan vô tư của Hội đồng xét xử, cho bị cáo được tham gia phiên tòa,được thực hiện đầy đủ các quyền của mình, nhưng Hội đồng xét xử đã không thựchiện việc này mà cách ly bị cáo ra khỏi phòng xử án ngay sau khi khai mạc phiêntòa là không đúng pháp luật, đã tước đi các quyền của bị cáo tại phiên tòa nhưquyền được tham gia phiên tòa, quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa, quyềnđược tranh luận tại phiên tòa, quyền được nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồngxét xử nghị án Sau khi xét xử, bị cáo kháng cáo kêu oan, vụ án được xét xử phúcthẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc Tóa án sơ thẩm đã vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng, không đảm bảo quyền của bị cáo tại phiên tòa và đãquyết định hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo quy định của phápluật.
Thứ ba, vai trò của Tòa án trong việc yêu cầu và tạo điều kiện để bị cáo và người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo tích cực tham gia vào quá trình tranh tụng:
Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mà nhất là chủ tọaphiên tòa đã quan tâm và tạo điều kiện để cho người đại diện hợp pháp (đại diện
Trang 40kiến, trả lời câu hỏi của người tiến tố tụng (Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên), ngườitham gia tố tụng (người bào chữa), từ đó đã làm sáng tỏ được nhiều tình tiết quantrọng của vụ án, góp phần vào việc xét xử vụ án được khách quan, toàn diện vàđúng pháp luật.
Tuy nhiên, trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa một số vụ án chưa đượcHội đồng xét xử (nhất là chủ tọa phiên tòa) quan tâm tạo điều kiện để cho người đạidiện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo tham gia quá trình tranh tụng tạiphiên tòa, nhất là đối với những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên phạm tội,Tòa án triệu tập người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo đếnphiên tòa để tham gia tố tụng nhưng tại phiên tòa họ đã không được tạo điều kiện để
họ được tham gia vào quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
Ví dụ: Vụ án vụ án Nguyễn Thanh S và đồng phạm bị truy tố về các tội
“Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, các bị cáođều là người chưa thành niên phạm tội; Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xửđồng thời đã triệu tập người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo
là cha, mẹ của các bị cáo đến phiên tòa để tham gia tố tụng tại phiên tòa Trong quátrình tranh tụng tại phiên tòa, phần xét hỏi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và ngườibào chữa đã không hỏi người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo
về các tình tiết liên quan đến nhân thân của bị cáo, hoàn cảnh gia đình của bị cáo đểlàm rõ nguyên nhân phạm tội của các bị cáo để xem xét khi lượng hình, Hội đồngxét xử và nhất là chủ tọa phiên tòa đã không tạo điều kiện cho người đại diện hợppháp (đại diện theo pháp luật) của các bị cáo trình bày ý kiến, đến phần tranh luậnchủ tọa phiên tòa cũng chỉ hỏi người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của
bị cáo có ý kiến tranh luận gì không mà không gợi mở cho họ những vấn đề mà họcần tranh luận, trình bày ý kiến tại phiên tòa
Thứ tư, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc định hướng xét hỏi