Theo quy định Hiến pháp năm 2013 [14] và Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 [15] thì VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
Trang 1HÀ NỘI, NĂM 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH THIỆN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TÓ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỘI GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VẪN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH THIỆN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TÓ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỘI GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ THỊ TUYẾT HOA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
rp r _ • 2 1 ^ _ w _
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Thiện
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI VÀ VỀ THỰC HÀNHQUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 7
1.1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội phạm giết người 7
1.2 Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra đối với tội giết người 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC hành quyền công tố trong GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỘI GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC tiễn tỉnh QUẢNG NGÃI 36
2.1 Đánh giá chung tình hình tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 36
2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong gia đoạn điều tra đối với tội giết
người tại Quảng Ngãi 40
2.3 Đánh giá kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi 54
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THỰC hành QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAIĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 60
3.1 Yêu cầu của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội
giết người từ thực tiễn tại Quảng Ngãi 60
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra đối với tội giết người từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi 62
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS - Bộ luật hình sự
BLTTHS - Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT - Cơ quan điều tra
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiềumặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, du lịch góp phần nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh, tình hình tội phạm diễn biến phứctạp Đáng chú ý là tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con ngườinói chung và tội giết người nói riêng xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tăng về số
vụ và người phạm tội ngày càng gia tăng, hậu quả thiệt hại gây ra ngày càng lớn vềtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và gây ra dư luận xấu trong xã hội.Việc điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó
có vai trò của VKSND trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án này còn nhiều hạnchế Vì vậy, việc nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động Thực hành quyền công tốđối với loại tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp Bộ chính trị
đã ban hành nhiều chỉ thị, Nghị quyết trong đó có Nghị quyết số 08-NQ/TW, về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, theo đó: “VKS các cấp thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác" [3] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã xác định rõ: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là THQCT ( ), tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điểu tra” [5] Các đường lối của Đảng đã được thể chế hóa
Trang 7trong Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2002, Luật tổ chức VKSND (sửa đổi, bổ sung năm 2014), về đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tình hình mới.
Theo quy định Hiến pháp năm 2013 [14] và Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm
2014 [15] thì VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó cần chú trọng “ Tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” Trong những năm qua công
tác công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án giết ngườinói chung và tội giết người nói riêng của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã có sự tiến bộ,góp phần đảm bảo cho hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội khởi tố vụ án, khởi
tố bị can, điều tra, truy tố, xét xử được tuân thủ theo quy định của pháp luật, đáp ứngyêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Bên cạnh những kết quả đạt được, chúngtôi nhận thấy từng lúc, từng nơi các cơ quan tố tụng có nhận thức pháp luật khácnhau, chưa có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ
án, vì giữa lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn có sự khác nhau, đặc biệt là cácquy định liên quan đến chức năng THQCT của VKS; còn nhiều vụ án phải trả hồ sơđiều tra bổ sung, Tòa án xét xử khác tội danh, khung hình phạt VKS truy tố; Vụ án bịTòa án cấp trên tuyên hủy án điều tra lại còn xảy ra đã ảnh hưởng nhiều đến côngtác đấu tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh thời gian qua Vì vậy, việcnghiên cứu, làm rõ thực trạng, qua đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác THQCT đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời giantới là một yêu cầu có tính cấp bách, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “ Thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra tội giết người từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi'” làm luận văn Thạc sĩ Luật học.
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đề tài THQCT được nhiều nhà khoa học pháp lý cũng nhưnhững người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu Qua tìm hiểu, tác giả nhậnthấy các công trình nghiên cứu như:
- Sách chuyên khảo: THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai
đoạn điều tra do tác giả Lê Hữu Thể làm chủ biên [16] Quyển sách này chú trọng
nhiều đến hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự và sosánh mô hình tố tụng với nhiều nước, chưa phân tích sâu về hoạt động THQCT
- Sách chuyên khảo: Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố tronghoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp
của tác giả Nguyễn Hải Phong [11] Cuốn sách chủ yếu đề cập đến giải pháp tăng
cường trách nhiệm công tố găn với hoạt động điều ra vụ án hình sư
- Luận án tiến sĩ luật học: QCT ở Việt Nam của Lê Thị Tuyết Hoa [7] Đây là
công trình nghiên cứu mang tính lý luận về QCT từ lịch sử phát triển đến thực trạngTHQCT ở Việt Nam qua các thời kỳ Luận án tiến sĩ luật học: THQCT trong tố tụnghình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An của Tôn Thiện Phương chủ yếu đề cập đến lý luận
về thực hành quyền công tố và khái quát thực trang THQCT trong vụ án nói chung
tại Nghệ An [12].
- Bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí có: "Nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp"
của Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003
- Chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
ma túy ” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do VKSND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện năm
2016 hoặc Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Trần Hoàng Tuấn, năm 2015 [19]; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Biện pháp ngăn chặn tạm giam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Công Thành năm 2016; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Kiểm sát khám nghiệm hiện trường từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Đinh Trường Giang, năm 2016;
Trang 9Mặc dù có nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở những góc độ, phạm vikhác nhau về THQCT ở những giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự trong đó cónghiên cứu về THQCT đối với một số loại tội phạm Nhưng chưa có công trình nàonghiên cứu, khảo sát về Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội giếtngười từ thực tiễn Tỉnh Quảng Ngãi Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên vềvấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sĩ Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện lànguồn tư liệu tham khảo cho học viên thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học củamình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về tội phạm giết người và phápluật về THQCT trong giai đoạn điều tra tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam; đánh giá đứng thực trạng công tác THQCT trong giai đoạn điều tra tộigiết người từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng THQCT trong giai đoạn điều tra tội giết người trong thời gian tới phù hợp vớithực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã nêu trên, luận văn phải nghiên cứu nhữngvấn đề như sau:
- Nghiên cứu nhằm làm rõ một số vấn đề về lý luận, pháp luật về tội phạmgiết người và pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra tội giết người;
- Nghiên cứu thực trạng của công tác THQCT trong giai đoạn điều tra tội giếtngười trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến 2017;
- Nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc tronghoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra tội giết người người trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi; từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiệnđứng quy định THQCT trong gia đoạn điều tra đối với tội giết người trong thời giantới
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật về tội phạm giết người và phápluật về THQCT, thực trạng áp dụng những quy định về THQCT trong giai đoạn điềutra theo BLTTHS năm 2003 vào thực tiễn giải quyết đối với tội giết người trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi
Khi phân tích có đối chiếu, so sánh quy định của BLTTHS năm 2003 vớiBLTTHS năm 2015 và chỉ ra những điểm mới, sửa đổi bổ sung đã được khắc phụcnhững quy định pháp luật cũ không phù hợp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ cho phép, luận án chỉ nghiên cứu về lý luận, pháp luật vềtội phạm giết người và pháp luật THQCT và thực tiễn công tác THQCT ở giai đoạnđiều tra đối với tội giết người theo quy định BLTTHS năm 2003 trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi trong 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2017)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm củaĐảng về nhà nước và pháp luật nói chung và tổ chức, hoạt động của VKS nhân dânnói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụthể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiêncứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận cơ bản về THQCT trong giai đoạn điều tra;
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 11Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh giá, phân tích thực trạng công tác THQCTtrong giai đoạn điều tra đối với tội giết người ở tỉnh Quảng Ngãi, luận văn tìm ra cácgiải pháp nâng cao chất lượng THQCT đối với các VAHS nói chung và đối với các
vụ án giết người nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệutham khảo cho việc học tập và nghiên cứu liên quan đến hoạt động THQCT tronggiai đoạn điều tra cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách pháp luật và đặcbiệt là cán bộ VKSND tỉnh Quảng Ngãi trong công tác thực tiễn
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội giết người và về thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối vớitội giết người tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
VÀ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội phạm giết người
Con người với tư cách là thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn là đối tượngđược quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà nước, đặc biệt là ở các nhà nướchiện đại thì vấn đề con người càng được quan tâm, xã hội càng phát triển thì việc bảo
vệ con người và các lợi ích của con người càng được chú trọng [8].
Tính mạng của con người là giá trị cao nhất của con người Quyền được sống,được tôn trọng vào bảo vệ là quyền cơ bản, hàng đầu của con người, của côngdân.Hiến pháp nước ta quy định mọi người có quyền sống Tính mạng của con ngườiđược pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều 19 Hiếnpháp năm 2013)
Tội giết người (Điều 93 BLHS năm 1999, Điều 123 BLHS năm 2015) đượchiểu là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hìnhthức Tội phạm này xâm trực tiếp đến quyền được sống của con người Đối tượng tácđộng của tội phạm là con người đang sống đang tồn tại trong thế giới khách quan với
tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội Mặt khách quan của tội phạm giết người đượcthể hiện ở hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hìnhthức, bằng các công cụ, phương tiện khác nhau Hậu quả của tội giết người là gây racái chết (dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm), nếu hành vi tước đoạt tính mạngcủa người khác được thực hiện nhưng vì những nguyên nhân khách quan khác nhau
mà hậu quả chết người không xảy ra thì hành vi đó được coi là giết người chưa đạt.Chủ thể của tội phạm giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độtuổi do pháp luật quy định.Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý
Trang 13trực tiếp hoặc gián tiếp với động cơ và mục đích khác nhau nhưng đây không phải là
dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm [31, tr.60-61].
Như vậy, có thể khái niệm tội phạm giết người là những hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015)
do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý xâmphạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác được Hiến pháp vàpháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, có thể khái quát tội giết người có bốnđặc trưng cơ bản sau đây: Về măt khách quan của tội phạm được biểu hiện bao gồm
cả hành động hoặc không hành động; hành vi tước đoạt sinh mạng của người khácphải là hành vi trái pháp luật; hành vi trái pháp luật và hậu quả chết người phải cómối quan hệ nhân quả với nhau; hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác phải làhành vi được thực hiện do lỗi cố ý (bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp)
- Đối tượng gây án: Đối tượng tác động của hành vi giết người chỉ có thể làcon người đang sống Vì khách thể của tội giết người là xâm phạm tới quyền đượcsống của con người nên đối tượng tác động chỉ có thể là những người đang sống.Thời điểm bắt đầu cuộc sống của con người được tính từ khi con người được sinh racho đến khi trút hơi thở cuối cùng Như vậy việc giết người chưa được sinh ra hoặcsau khi đã chấm dứt sự sống thực sự không bị coi là phạm tội giết người Hành vitước đoạt tính mạng phải nhằm vào đối tượng là người khác chứ không phải bản thânngười phạm tội Do vậy, tự tước đoạt tính mạng của mình không thuộc hành vi kháchquan của tội giết người Mỗi con người đều có quyền và nghĩa vụ đối với cuộc sốngcủa chính bản thân mình Tính mạng là cái quý giá nhất đòi hỏi sự bảo vệ từ chínhbản thân con người Con người có quyền năng lớn nhất đối với tính mạng của mình
Có trường hợp tước đoạt tính mạng người khác do được sự đồng ý của nạn nhân.Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi này vẫn bị coi là trái pháp luật
Trang 14- Về nạn nhân: trong vụ án giết người phần lớn là nam giới Nguyên nhân chủyếu Là do mâu thuẫn bộc phát va chạm nhỏ nhặt nạn nhân không kiểm chế đượcuống rượu, bia say bị kính thích mạnh dẫn đến thiếu bình tĩnh không làm chủ đượcbản thân dẫn đến có lời nói xúc phạm người phạm tội.
- Động cơ mục đích: Động cơ phạm tội được hiểu là nhân tố bên trong thúcđẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Bất kỳ một hành vi có ý thức nào của conngười cũng đều do những nhân tố khách quan hoặc chủ quan thúc đẩy hoặc tác động.Khi thực hiện tội phạm, bao giờ người phạm tội cũng hướng tới một mục đích nào
đó Giết người để làm gì, vì điều gì? Tuy vậy, động cơ phạm tội lại không phải là dấuhiệu định tội của tội giết người Dù giết người với động cơ như thế nào đi chăng nữathì việc xác định tội danh vẫn không thay đổi Trên thực tế việc giết người được thựchiện với nhiều động cơ và mục đích khác nhau
Động cơ hành động, nhân cách của người phạm tội và mục đích hành độngluôn có mối liên quan với nhau, vì mỗi quyết định hành động của con người đềuđược quy định bởi nhiều yếu tố, trong đó có nhân cách của người phạm tội và động
cơ hành động Do vậy, việc nghiên cứu nhân cách người phạm tội (trước hết là thái
độ đối với tính mạng, sức khoẻ người khác) cũng như động cơ hành động của họ cóthể giúp xác định được mục đích hành động (hành động nhằm đạt cái gì?) và qua đóxác định được thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết người đãthấy trước Ở đây cần chú ý: + Từ một động cơ có thể có nhiều mục đích khác nhauđược đặt ra và một mục đích có thể xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau
+ Xử sự của một người có thể phù hợp với nhân cách nhưng cũng có thể tráivới nhân cách của họ
Động cơ sẽ có ý nghĩa quyết định cho việc chứng minh người phạm tội mongmuốn hậu quả chết người, nếu câu trả lời tại sao người phạm tội đã thực hiện tộiphạm cũng là câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi người phạm tội muốn gì qua hành viphạm tội của mình Giữa nhân cách, mục đích chính của người phạm tội và thái độ
có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra luôn có mối liên hệ với nhau Trong
Trang 15trường hợp có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội đã đánhgiá việc đạt được mục đích chính của mình quan trọng hơn, cần thiết hơn việc tránhhậu quả chết người, nên đã chấp nhận hậu quả chết người để đạt được mục đích Sựđánh giá và lựa chọn này là kết quả tác động qua lại của những yếu tố khách quan vàchủ quan khác nhau, trong đó có nhân cách người phạm tội và mục đích chính củangười đó Từ mối liên hệ như vậy có thể sử dụng tình tiết nhân cách và mục đíchchính của người phạm tội cùng với những tình tiết khác để xác định thái độ chủ quancủa họ đối với hậu quả chết người đã thấy trước.
+ Một số động cơ của tội giết người được quy định là tình tiết định khungtăng nặng như:
Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác
Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân
Vì vậy, trong vụ án giết người, việc xác định động cơ phạm tội có ý nghĩaquan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành viphạm tội
- Thời gian địa điểm: Về thời gian của tội giết người xảy ra nhiều nhất từkhoảng từ 6 giờ đến 18 giờ và thường xảy ra vào các ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần.đây là thời điểm tập trung nhiều người, các hoạt động sinh hoạt xã hội và sự căngthẳng trong va chạm, mâu thuẫn giữa các thành viên trong xã hội
- Công cụ, phương tiện phạm tội
Phương tiện phạm tội được hiểu là những đối tượng được chủ thể của tộiphạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình Công cụ phạm tôị là mộtdạng cụ thể của phương tiện phạm tội
Khi thực hiện hành vi giết người, người phạm tội có thể sử dụng hoặc khôngcần sử dụng phương tiện hay công cụ phạm tội Trên thực tế, số lượng các vụ giếtngười bằng không hành động và không sử dụng đến phương tiện, công cụ phạm tộirất ít Thông thường, người phạm tội sử dụng các loại phương tiện công cụ chínhsau:
Trang 16- Các loại vũ khí nóng bao gồm thuốc nổ, súng, lựu đạn Loại vũ khí này rấtnguy hiểm cho tính mạng của con người và có khả năng làm chết nhiều người cùngmột lúc.
- Vũ khí lạnh như dao, kiếm, búa, côn, gậy Đây là những loại vũ khí thủcông, thô sơ được sử dụng trong các vụ giết người với động cơ mục đích gây rốihoặc mang tính chất côn đồ
- Phương pháp, thủ đoạn phạm tội
Phương pháp, thủ đoạn phạm tội được hiểu là cách thức thực hiện hành viphạm tội, trong đó có cách thức sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội Đây cũngkhông phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội giết người Tuy nhiên,phương pháp và thủ đoạn phạm tội có sự ảnh hởng không nhỏ tới tính nguy hiểm củahành vi Trên thực tế, tội giết người được thực hiện với rất nhiều phương pháp và thủđoạn khác nhau Có vụ giết người được thực hiện một cách man rợ và trắng trợn.Cũng có những vụ được thực hiện một cách tinh vi, xảo quyệt với phương thức vàthủ đoạn được tính toán rất cẩn thận và kỹ lưỡng Có nhiều vụ được thực hiện mộtcách tự phát, không chuẩn bị trước, song cũng có những vụ giết người mang tínhchất chuyên nghiệp và chuẩn bị kỹ càng
Thủ đoạn và phương pháp thực hiện tội phạm luôn luôn thể hiện tính chất vàmức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó, nó luôn được coi là tình tiết đượcxem xét và cân nhắc đến khi quyết định hình phạt và được coi là tình tiết tăng nặngtrách nhiệm hình sự theo điều 48 BLHS
Trang 17Việc nghiên cứu đặc điểm hình sự của tội giết người có ý nghĩa quan trọng.đây là căn cứ định hướng cho cơ quan điều tra, điều tra viên đề ra phương pháp tổchức các hoạt động điều tra loại án này có hiệu quả nhanh chóng tìm ra tội phạm Đểxác định một người có phạm tội giết người hay không phải căn cứ vào nhiều yếu tốnhư mục đích, lỗi, hoàn cảnh, điều kiện, thực tế xảy ra và hậu quả xảy ra Trênphương diện khoa học hình sự thì để quy kết một người phạm tội giết người phải căn
cứ vào những dấu hiệu cơ bản sau: Thứ nhất, người phạm tội phải là người có đủnăng lực chịu trách nhiệm hình sự (đủ 14 tuổi trở lên), thể hiện ở hành vi khách quancủa tội phạm bao gồm cả hành động và không hành động Thứ hai, về mức độ nguyhiểm cho xã hội thì hành vi đó phải là hành vi tước đoạt tình mạng của người kháctrái pháp luật (điều này để phân biệt với việc giết người ở dạng khác như khi thựchiện nhiệm vụ: thi hành án tử hình ) Thứ ba, về lỗi hành vi tước đoạt tính mạngngười khác là hành vi được thực hiện do cố ý, có nghĩa là người phạm tội nhận thức
rõ hành động (không hànhđộng) của mình tất yếu gây ra cái chết của nạn nhân Thứ
tư, chủ thể là nạn của hành vi giết người phải là người còn sống, vì tội giết người làtội xâm phạm đến tính mạng con người (khác với xâm phạm thi thể, mồ mả ) Đặcđiểm hình sự của tội giết người luốn là vấn đề quan trọng để xác định khung hìnhphạt và định tội danh tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng giảiquyết vụ án một cách hiệu quả đạt kết quả cao nhất trong giải quyết vụ án
Thực tiễn cho thấy trong quá trình THQCT các vụ án giết người, do KSVkhông chú ý các dấu hiệu đặc trưng của tội Giết người và các điểm khác biệt cơ bảngiữa tội giết người với một số tội phạm có dấu hiệu tương tự, xảy ra hậu quả chếtngười, dẫn đến tình trạng VKS truy tố về các tội Cố ý gây thương tích, tội Bắt giữngười trái pháp luật, tội Đe dọa giết người, tội Giết người do vượt qua giới hạnphòng vệ chính đáng, tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.nhưng khi xét xử tòa án các cấp đã đổi sang tội danh giết người hoặc ngược lại Do
đó, để xác định chính xác tội danh cần nắm vững các dấu hiệu đặc trưng của tội giết
Trang 18người và phân biệt sự khác biệt giữa tội giết người với một số tội phạm có dấu hiệutương tự xảy ra hậu quả chết người sau đây:
Phân biệt tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết
người
Sự khác nhau cơ bản giữa tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”dẫn đến chết người là ý thức chủ quan của người phạm tội, được chứng minh bởi cácyếu tố như: động cơ, mục đích phạm tội; vị trí tấn công trên cơ thể người bị hại vàmức độ nghiêm trọng của thương tích; nguyên nhân và thời gian chết của nạn nhân;
vũ khí, hung khí tấn công và cường độ tấn công
+ Động cơ, mục đích phạm tội:
Đối với tội “Giết người”, động cơ mục đích của người phạm tội là mongmuốn tước đoạt sinh mạng của người khác (lỗi cố ý trực tiếp) hoặc không mongmuốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra (trường hợp lỗi cố ýgián tiếp) Động cơ, mục đích giết người có thể là: giết người vì ghen tuông, vì quan
hệ tình ái, giết người để trả thù cá nhân, giết người thuê để kiếm tiền và trong nhiềutrường hợp, động cơ giết người có thể đi liền với các mục đích khác nhau như giếtngười để cướp tài sản, giết người bịt đầu mối hoặc để che giấu tội phạm khác
Đối với tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người, người phạm tội chỉnhằm xâm phạm đến sức khỏe của nạn nhân mà không mong muốn tước đoạt sinhmạng của họ, hậu quả chết người xảy ra nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạmtội, có thể do những yếu tố khách quan khác mang lại như do người bị hại bị bệnh lý,chỉ cần một lực tác động không đáng kể cũng dẫn đến chết; do người bị hại say rượu
có nồng độ cồn trong máu cao; do mất máu mà không được cấp cứu kịp thời
+ Vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân và mức độ nghiêm trọng của thươngtích:
Đối với tội “Giết người”, thông thường người phạm tội lựa chọn những vùngxung yếu trên cơ thể (như vùng đầu, vùng cổ, ngực, vùng bụng ) để tấn công làmcho nạn nhân có thể chết ngay Trong trường hợp này cần xác định người phạm tội
Trang 19nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra cái chết cho nạn nhân nhưng vẫn thựchiện hành vi và mong muốn (hoặc bỏ mặc) cho hậu quả xảy ra.
Đối với tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người, người phạm tội khônglựa chọn những vị trí xung yếu để tấn công mà tấn công vào bất kỳ vùng nào trên cơthể nạn nhân nhằm gây thương tích cho họ
Tuy nhiên, việc xem xét vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân và mức độnghiêm trọng của thương tích cũng chỉ mang tính tương đối và trong từng trườnghợp cụ thể cần phải được xem xét một cách toàn diện cùng các yếu tố khác mới cóthể đánh giá đúng ý thức chủ quan của người phạm tội Trong những điều kiện đặcbiệt như sự việc xảy ra trong đêm tối, người phạm tội bị nhiều người tấn công hoặctrong lúc đang giằng co, vật lộn với nhau, bị can không hoàn toàn làm chủ được hành
vi của mình mà đâm chém bừa thì nên xem xét thận trọng, toàn diện để xác định tộidanh cho chính xác
+ Nguyên nhân và thời gian chết của nạn nhân
Đối với tội “Giết người”, nếu nạn nhân bị các vết thương vào các vùng nguyhiểm trên cơ thể như hộp sọ, tim, gan, phổi và chết ngay thì các cơ quan tiến hành
tố tụng xác định tội danh là giết người
Đối với tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người, nạn nhân thường bịthương vào các vùng khác nhau trên cơ thể và phải sau một thời gian điều trị thì nạnnhân mới chết
Nói chung, trong cả hai trường hợp thì thương tích đều là nguyên nhân dẫnđến chết người Tuy nhiên, thời điểm nạn nhân chết không phải là căn cứ duy nhất đểđịnh tội danh vì trong thực tiễn, có những trường hợp xảy ra ngoài quy luật thôngthường nói trên Tùy theo mức độ vết thương, thể trạng và sức khỏe của từng ngườicũng như phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cứu chữa mà nạn nhân có thể chết ngayhoặc sau một thời gian mới chết Do đó, để kết luận chính xác thì phải trưng cầugiám định y pháp Nếu vết thương được xác định là nghiêm trọng, nạn nhân đượccứu chữa trong điều kiện đầy đủ mà vẫn chết thì cần truy tố bị can về tội giết người
Trang 20Ngược lại, vết thương không nghiêm trọng nhưng vì không được cứu chữa kịp thờihoặc việc cứu chữa có sai sót nên nạn nhân chết thì cần xem xét, xử lý người phạmtội về tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.
+ Vũ khí, hung khí tấn công:
Đối với tội “Giết người”, người phạm tội thường sử dụng vũ khí hoặc các loạihung khí có mức độ nguy hiểm cao, có nhiều khả năng gây chết người như súng, lựuđạn, lưỡi lê, dao nhọn, mã tấu đã được chuẩn bị từ trước để tấn công nạn nhân
Đối với tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người, thông thường ngườiphạm tội chỉ sử dụng tay, chân, để đấm, đá hoặc dùng các loại hung khí bất kỳ cómức độ nguy hiểm không cao để tấn công nạn nhân
Tuy nhiên, sự phân biệt trên cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì trên thực tế
có trường hợp người có võ thuật chỉ dùng tay chân đấm đá vào những vùng nguyhiểm dẫn đến hậu quả chết người thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giếtngười Ngược lại, có trường hợp chuẩn bị dao Thailan mang đi đánh nhau, đâm vàovùng nguy hiểm trên cơ thể nạn nhân nhưng được cấp cứu kịp thời nên không chếtcũng chỉ bị xử lý về tội cố ý gây thương tích
+ Cường độ tấn công
Đối với tội “Giết người”, do mong muốn tước đoạt sinh mạng của nạn nhânnên cường độ tấn công của người phạm tội rất cao và quyết liệt để có thể làm chonạn nhân chết ngay
Đối với tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người, do mong muốn chỉgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nên thông thường,cường độ tấn công của người phạm tội có mức độ, hậu quả chết người xảy ra là donhững nguyên nhân khách quan khác
Tóm lại, các yếu tố để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội như đãphân tích trên chỉ mang tính chất tương đối Để định tội danh được chính xác cầnxem xét một cách khách quan, toàn diện các yếu tố trên và cần được xem xét trongmối quan hệ biện chứng với các chứng cứ khác mới có thể xác định được đúng bản
Trang 21chất của tội phạm và ý thức chủ quan của người phạm tội Nếu tuyệt đối hoá mộttrong các yếu tố này sẽ dẫn đến việc xem xét, đánh giá vụ án theo ý chí chủ quan,dẫn đến việc định tội danh không chính xác.
Phân biệt tội “Giết người” với tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
về cơ bản, cấu thành tội phạm của hai tội này gần giống nhau, điều khác nhauduy nhất là ở dấu hiệu lỗi của nạn nhân Đối với tội “Giết người” thông thường, nạnnhân không hề có lỗi Còn trong tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh”, nạn nhân có lỗi là đã thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đốivới người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội, làm cho họmất khả năng tự chủ, kìm chế hành vi của mình Để phân biệt tội “Giết người” vớitội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cần chú ý các đặc điểmsau đây:
+ Hành vi của nạn nhân phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân trước hết bao gồm nhữnghành vi vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm tới lợi ích người phạm tội hoặc đối vớingười thân thích của họ Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy thông thườngnhững hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự nhân phẩm của người phạm tội hoặc đối với người thân thích của họ thì bị coi làhành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân Tuy nhiên, cũng có trường hợpxâm phạm đến tài sản của người phạm tội như đập phá tài sản, đốt nhà, phá hoạivườn tược thì tùy từng trường hợp cụ thể cũng có thể coi là hành vi trái pháp luậtnghiêm trọng của nạn nhân
+ Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với trạng thái tinh thần bịkích động mạnh của người phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả
Mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với vớitrạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải là mối quan hệ nhânquả, biện chứng và tất yếu Nếu không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của
Trang 22nạn nhân thì sẽ không có trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội
và vì thế, nếu người phạm tội không bị kích động bởi hành vi trái pháp luật nghiêmtrọng của nạn nhân thì không thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh mà thuộc trường hợp phạm tội giết người Ví dụ: do A gâythương tích cho con của mình nên B cầm dao đuổi theo để đánh A nhưng khôngđược Khi đi qua nhà A, thấy mẹ của A đang đứng trong sân, B xông vào dùng daochém chết mẹ của A Trong trường hợp này hành vi của B là hành vi giết người bởi
lẽ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng gây nên trạng thái tinh thần bị kích động mạnhcủa B là A chứ không phải mẹ A
+ Người thực hiện hành vi phạm tội phải bị kích động đến mức mất khả năng
tự chủ về hành vi của mình Trong trường hợp người phạm tội bị kích động nhưngchưa đến mức mất khả năng tự chủ thì không bị coi là kích động mạnh và khôngthuộc trường hợp “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” mà họphạm tội “Giết người”, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quyđịnh tại điểm đ, khoản 1, Điều 46 BLHS Ví dụ: do A tát con của mình nên B đã lấygậy tre đập vào đầu khiến A tử vong Trong trường hợp này cần xác định B phạm tộigiết người
+ Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải gây ra trạng thái tinhthần bị kích động mạnh ngay tức thì hoặc ngay sau đó
Điều đó có nghĩa là nếu nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng,nhưng hành vi đó đã xảy ra từ trước, đã bị xử lý hành chính hoặc hình sự nhưng sau
đó, người phạm tội lấy lý do đó để giết nạn nhân thì không coi là “Giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh” mà người phạm tội phải bị xử lý về tội “Giếtngười”
Trên thực tiễn, việc xác định một người có bị kích động mạnh về mặt tinhthần hay không hết sức phức tạp, bởi lẽ trạng thái tâm lý của mỗi người là khác nhau
Vì vậy, trong quá trình KSĐT cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, xem xétmột cách toàn diện các vấn đề liên quan đến vụ án như: nhân thân người phạm tội;
Trang 23quá trình diễn biến của sự việc; nghề nghiệp, trình độ văn hóa, kiến thức xã hội, hoàncảnh gia đình, tính tình, bệnh tật ; quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân để từ
đó xác định người thực hiện hành vi phạm tội đã phạm vào tội “Giết người” hay tội
“Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
Phân biệt tội “Giết người” với tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng” (Điều 96 BLHS)
Hai tội này có nhiều điểm giống nhau, tội giết người do vượt quá giới hạnphòng vệ chính đáng mang đầy đủ các dấu hiệu của tội giết người Tuy nhiên, giữachúng còn có các đặc điểm khác nhau về lỗi của nạn nhân và để phân biệt hai tội nàycần phải căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Lỗi của nạn nhân: Nạn nhân phải là người có lỗi do đang có hành vi xâmphạm lợi ích của nhà nước, tổ chức xã hội, quyền, lợi ích chính đáng của người phạmtội hoặc của người khác
+ Mức độ phòng vệ của người phạm tội: Hành vi của người phạm tội đượcthực hiện khi đang bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chínhđáng của mình hoặc của người khác mà chống trả một cách rõ ràng quá mức cầnthiết, không phù hợp, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi xâm hại (hay còn gọi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) vàdẫn đến hậu quả là gây ra cái chết cho nạn nhân Ví dụ: A dùng gậy gỗ để đánh Bnhưng B lại dùng dao, kiếm đâm chém chết A Trường hợp này B tấn công lại A làhành vi phòng vệ nhưng việc B dùng dao, kiếm đâm chém A là vượt quá giới hạnphòng vệ chính đáng (không tương xứng về hành vi và hung khí)
Để làm rõ được điều đó, Kiểm sát viên phải yêu cầu làm rõ tính chất, tầmquan trọng của lợi ích và quyền lợi bị xâm hại; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhội; hung khí được sử dụng của cả hai phía; cường độ của hành vi xâm hại và mức
độ thiệt hại do hành vi xâm hại gây ra; khả năng ngăn chặn hành vi tấn công của nạnnhân trong hoàn cảnh cụ thể Nếu mức độ chống trả của người có hành vi phòng vệ
Trang 24chính đáng rõ ràng vượt quá mức cho phép thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
“Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
Phân biệt tội “Giết người” với tội “Vôý làm chết người”
Giữa tội “Giết người” và tội “Vô ý làm chết người” có điểm chung là đều cóhậu quả chết người xảy ra và có mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả Tuy nhiên,giữa chúng có sự khác biệt cơ bản về hành vi, động cơ, mục đích và lỗi của ngườiphạm tội và do đó, để phân biệt tội “Giết người” với tội “Vô ý làm chết người” cầnphải căn cứ vào các yếu tố trên
+ Về hành vi: trong tội giết người, người phạm tội cố ý tấn công trực tiếp vàonạn nhân gây nên cái chết cho họ Còn trong tội vô ý làm chết người, hành vi củangười phạm tội không trực tiếp nhằm vào nạn nhân
+ Động cơ, mục đích: trong tội giết người, kẻ phạm tội cố ý tước đoạt sinhmạng của nạn nhân, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp; còn ở tội vô ý làmchết người, lỗi của người phạm tội luôn là lỗi vô ý, có thể là vô ý do cẩu thả hoặc vô
ý quá tin
Tiêu chí để xác định một người phải thấy trước và có thể thấy trước được hậuquả nguy hiểm cho xã hội, cần phải căn cứ vào từng hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra sựviệc, một người bình thường cũng có thể thấy trước Ngoài ra, còn phải căn cứ vào
độ tuổi, trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, tay nghề
1.2 Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra đối với tội giết người
người
* Khái niệm thực hành quyền công tố
Theo từ điển tiếng việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyếtvào thực tiễn”, “Thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” Để thực hiện quyềncông tố, Viện kiểm sát nhân dân phải sử dụng các quyền năng thuộc quyền công tốtrong suốt quá trình tố tụng đối với vụ án Do vậy theo chúng tôi khái niệm thực
Trang 25hành quyền công tố được hiểu như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động củaViện kiểm sát nhân dân trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội vàbuộc tội họ trước tòa.
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định pháp luật của Nhà nước ta từ năm 1960đến nay thì Viện kiểm sát nhân dân chính thức là cơ quan được giao chức năng thựchành quyền công tố “Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát
để sử dụng quyền công tố; bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người,đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát phải trông nom,
bảo đảm cho tốt” [13] Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố mấy chục năm
qua của Viện kiểm sát nhân dân các cấp cho thấy 100% các vụ án hình sự đều doViện kiểm sát truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm, đưa ra lời kếtluận của mình tại phiên tòa theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.Cùng với những hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét,bảo đảm cho việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn được hợp
lý và hợp pháp, có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của Cơ quanđiều tra và Tòa án Viện kiểm sát được áp dụng “các biện pháp do Bộ luật tố tụnghình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 13 Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003)
Do đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, nênthực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là hoạc động nhân danh nhà nướcthực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội có căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tộiđược phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọtngười, lọt tội, không làm oan người vô tội
Phạm vi thực hành quyền công tố luôn gắn liền với việc tiến hành các hoạtđộng điều tra, được bắt đầu từ khi vụ việc phạm tội xảy ra và trong xuốt quá trìnhđiều tra đến khi kết thúc việc buộc tội Do đó, thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi việc điều tra kết thúc
Trang 26hoặc đình chỉ vụ án Khi nào và ở đâu, Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt độngnghiệp vụ điều tra như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét,lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can thì khi đó VKS có trách nhiệm thựchành quyền công tố Trong trường hợp không có tội phạm thì quyền công tố bị triệttiêu, theo đó cũng chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, trong đó có thực hành quyềncông tố
Khái niệm THQCT nêu trên về cơ bản phù hợp quy định tại Điều 13 và 17 Luật
tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 112 BLTTHS năm 2003; được quy định mớinhất tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014: “THQCT là hoạt động củaVKS nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện buộc tội của Nhà nước đối vớingười phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác tin báo về tội phạm,kiến nghị khổi tố và trong suốt qua trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự” [13].
Như vậy, khi THQCT trong giai đoạn điều tra VKS được trao rất nhiều quyềnnăng pháp lý để thực hiện Trong đó có những quyền chỉ duy nhất VKS có quyềnthực hiện như quyền truy tố và cũng có quyền năng pháp lý CQĐT hoặc Tòa án hoặc
cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được quyền thực hiện, như quyềnkhởi tố
Nhưng chỉ có VKS là cơ quan được quyền sử dụng tổng hợp các quyền năngpháp lý để đưa người phạm tội ra Tòa và như vậy ở nước ta chỉ có VKS là cơ quanduy nhất THQCT; CQĐT được thực hiện một số quyền năng pháp lý nhưng đókhông phải là THQCT mà mục đích của nó không có gì khác hơn là hỗ trợ VKS đưangười phạm tội ra Tòa; còn Tòa án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội màVKS truy tố
Từ các phân tích nêu trên tác giả luận văn mạnh dạn đưa ra khái niệm THQCTtrong giai đoạn điều tra đối với tội giết người như sau:
“Thực hành quyền công tố trong gia đoạn điều tra đối với tội giết người là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của QCT để truy
Trang 27cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 của BLHS 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015), xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác; được thực hiện từ khi KTVA và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ điều tra theo đúng quy định của pháp luật; nhằm đảm bảo không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
* Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội giết người
Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội giết người chính
là các thẩm quyền được quy định tại Điều 112 BLTTHS năm 2003, khái quát lại đólà:
Thứ nhất: Quyết định phát động quyền công tố để mở cuộc điều tra hình sự
đối với sự kiện phạm tội giết người (khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự);
Thứ hai: Quyết định việc khởi tố bị can để điều tra đối với người thực hiện
hành vi phạm tội giết người (phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bịcan, trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can);
Thứ ba: Quyết định việc có hạn chế hay không quyền tự do, dân chủ của cá
nhân người phạm tội giết người (xét phê chuẩn việc bắt, gia hạn tạm giữ, tạm giam);
Thứ tư: Quyết định việc thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng (đình chỉ
điều tra hoặc đình chỉ vụ án giết người làm chấm dứt giai đoạn điều tra; quyết địnhtruy tố bị can ra tòa làm phát sinh giai đoạn tố tụng mới, giai đoạn xét xử vụ án hìnhsự)
* Đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người
Từ khái niệm trên chúng ta có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản củaTHQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người như sau:
Thứ nhất, THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người chỉ do VKS
tiến hành Dưới góc độ chức năng của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng thìTHQCT là chức năng mà nhà nước chỉ giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
Trang 28tụng duy nhất là VKS Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác không cóchức năng này Cơ sở lý luận là những nguyên lý của V.I Lênin về pháp chế xã hộichủ nghĩa và vai trò của VKS, về vai trò và bổn phận của ủy viên công tố; cơ sở pháp
lý được đưa ra là các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKS từ năm 1959 đến
nay, thì chức năng THQCT được giao cho cơ quan VKS [6, tr.11].
Thứ hai, hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người chỉ
tồn tại trong lĩnh vực TTHS, là hoạt động thực hiện quyền truy cứu TNHS đối vớingười phạm tội, quyết định việc buộc tội và gỡ tội, quyết định áp dụng các biện phápngăn chặn đối với người phạm tội, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định truy
tố người phạm tội ra trước Tòa án, không có trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tưpháp
Thứ ba, như đã phân tích QCT chỉ là một dạng quyền năng và được cụ thể hóa
trong các quy phạm pháp luật Để thực hiện có hiệu quả chức năng THQCT phải doHiến pháp, Luật tổ chức VKSND và BLTTHS quy định, VKS được sử dụng tổnghợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT được quy định trong BLTTHS,Luật tổ chức VKSND, BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạmtội giết người Vì vậy THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người khôngchỉ áp dụng pháp luật đối với người phạm tội mà còn tuân thủ đúng về trình tự, thủtục do pháp luật quy định Đặc điểm này, nhằm đảm bảo cho hoạt động của VKSđược thực hiện một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không có bất cứ một sựcan thiệp nào vào hoạt động của VKS, nhưng đồng thời , hoạt động của VKS cũngđược giám sát bởi nhiều chủ thể khác nhau trong và ngoài tố tụng hình sự
Nắm được đặc điểm này đòi hỏi mỗi KSV khi THQCT hiểu rằng bản thânmình không chỉ áp dụng pháp luật buộc tội người khác mà còn phải tuân thủ phápluật khi thi hành nhiệm vụ
Thứ tư, THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người không chỉ thực
hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội mà còn không làm oanngười vô tội Như vậy THQCT hướng tới mục đích nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm
Trang 29tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời,nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạmgiữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.
Cơ sở pháp lý đặc điểm nêu trên được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và BLTTHS Nghị quyết số 08-NQ/TW, về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới nêu:“VKS các cấp thực hiện tốt chức năng THQCT
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” [3].
Nắm được đặc điểm này của THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giếtngười có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực tiễn, giúp cho người tiến hành tốtụng, đặc biệt là KSV hiểu rõ chức năng, bổn phận của mình, ngoài thu thập, đánhgiá chứng cứ buộc tội còn phải chú trọng đến những chứng cứ gở tội; đảm bảo đánhgiá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan khi THQCT trong vụ án giết người đểkhông để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; bảo vệ quyền conngười Theo đó THQCT không chỉ là thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối vớingười phạm tội
Thứ năm, trong số các vụ án hình sự mà VKS THQCT thì tội giết người là một
trong các tội có tính chất đặt biệt nghiêm trọng với mức án cao nhất là tử hình bởi lẽ
nó xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác - mộttrong những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người Giết người là tộiphạm mà người phạm tội thường sử dụng để thực hiện các tội phạm khác (Giết người
để cướp tài sản) hoặc giết người để che giấu tội phạm khác (Hiếp dâm xong giếtngười) Dưới góc độ định tội danh, hậu quả chết người do hành vi phạm tội gây ra,ngoài định tội danh theo Điều 93 BLHS còn phải xem xét, đối chiếu so sánh vớinhiều cấu thành tội phạm khác: Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chínhđáng, giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh, cố ý gây thương tích dẫnđến chết người Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp nêu trên Vì vậy
Trang 30THQCT đối với tội giết người là một trong những hoạt động đòi hỏi Kiểm sát viênphải có kỹ năng nghiệp vụ, trình độ và tiêu chuẩn nhất định mới đáp ứng nhiệm vụđặt ra.
* Đối tượng của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người
Đối tượng của THQCT không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ làhành vi xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng, được nhà nước bảo vệ và đượcquy định trong BLHS THQCT chỉ tác động vào những hành vi xâm phạm quan hệpháp luật hình sự và người đã thực hiện hành vi đó Vì vậy, đối tượng của THQCTnói chung là tội phạm và người phạm tội
Đối tượng của THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội giết người là yếu tố
mà THQCT tác động tới nhằm thực hiện mục đích truy cứu TNHS và buộc tội nhữngngười có hành vi xâm hại tính mạng con người nhằm làm triệt tiêu quyền được sốngcủa người khác
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về tội giết người, trách nhiệm chứngminh tội phạm và người phạm tội thuộc trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến thành tố tụng Những vấn đề cơ bản cần phải chứng minh như: Có hành
vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành viphạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, lỗi vô ýhay cố ý, có năng lực TNHS hay không, mục đích, động cơ phạm tội;
những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng TNHS và những đặc điểm về nhân thân;tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trong đó, làm rõ hai vấn đềnhằm mục đích xác định có tội phạm hay không có tội phạm, ai là người thực hiện
hành vi phạm tội là đối tượng THQCT [10, tr.16].
*Phạm vi thực hành quyền công tố trong gia đoạn điều tra đối với tội giết người
Xác định đúng đắn phạm vi THQCT có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệuquả hoạt động này, nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Trang 31Hiện nay đề cập đến phạm vi THQCT có nhiều ý kiến khác nhau Có quanđiểm cho rằng, THQCT bắt đầu từ khi có quyết định truy tố và kết thúc ở phiên tòa
sơ thẩm, không có ở giai đoạn điều tra Quan điểm này đã thu hẹp phạm vi THQCT,bởi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là cả một quá trình, bắt đầu
từ khi tội phạm xảy ra, mặt khác VKS còn phải thực hiện nhiệm vụ này trong cácphiên tòa phúc thẩm Cũng có quan điểm khác cho rằng, THQCT bắt đầu từ khikhởi tố vụ án và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án Xác định phạm
vi THQCT như trên vừa quá rộng, vừa không đầy đủ, vì THQCT không chỉ xuất hiện
từ khi khởi tố vụ án mà xuất hiện trước đó; tuy nhiên cũng không nên mở rộng quáphạm vi THQCT đến khi người phạm tội thi hành xong bản án bởi vì ở giai đoạn thihành án không có việc điều tra, thu thập chứng cứ để buộc tội, không có việc áp dụngpháp luật để kết tội
Về nguyên tắc chung, khi có tội phạm giết người xảy ra và cơ quan chức năngtiếp nhận thông tin về tội phạm thì xuất hiện QCT Các hoạt động phê chuẩn hoặckhông phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏquyết định tạm giữ, huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án và yêu cầu khởi tố vụán là hoạt động THQCT của VKS và có thể thực hiện trước khi khởi tố vụ án hình
sự Như vậy, thời điểm bắt đầu của hoạt động THQCT xuất hiện từ trước khi khởi tố
vụ án Tiếp đó, THQCT tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố cho đến khi vụ án được xét xử và có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, không phảitrong mọi trường hợp, phạm vi THQCT đều kéo dài đến giai đoạn xét xử, có nhữngcăn cứ có thể làm chấm dứt việc THQCT như: không có sự việc phạm tội, ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực TNHS, đã hết thời hiệutruy cứu TNHS, đình chỉ vụ án dẫn đến vấn đề triệt tiêu THQCT ở giai đoạn tốtụng sớm hơn
Trên thực tế hoạt động THQCT của VKS phát sinh không chỉ trong trường hợp
Cơ quan điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố mà trongcác trường hợp khác, như: khi người phạm tội ra tự thú, hoặc khi cơ quan có thẩm
Trang 32quyền điều tra trực tiếp phát hiện người phạm tội quả tang (đây không phải là tinbáo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố) và ra Quyết định tạm giữ người Việc VKSphê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏ quyết định tạm giữ trong trường hợpnày cũng thuộc nội dung THQCT Vì vậy chúng tôi cho rằng thời điểm bắt đầuTHQCT trong gia đoạn điều tra từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khởi
*Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong trong giai đoạn điều tra vụ án giết người
- Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm
2015, Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có hai chức năng là THQCT vàkiểm sát HĐTP Như vậy, THQCT và Kiểm sát HĐTP trong quá trình giải quyết vụ
án giết người là hai chức năng độc lập của VKSND, có sự khác nhau nhất định, đángchú ý như sau:
+ Về mục đích: hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra là nhằm chứngminh tội phạm và người phạm tội, bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tộigiết người đều phải được phát hiện và xử lý Trong khi đó, mục đích của kiểm sátHĐTP là kịp thời phát hiện mọi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ ángiết người, có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh
+ Về nội dung: Hoạt động THQCT đối với tội giết người là các hoạt động phêchuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyềntrong tố tụng hình sự; Yêu cầu hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động tố tụng;Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết địnhcủa Tòa án trong trường hợp VKS nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm,
Trang 33người phạm tội Trong khi đó, nội dung của kiểm sát HĐTP quá trình giải quyết vụ
án giết người thể hiện dạng như là yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm loại trừ viphạm pháp luật
- Tuy nhiên giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP trong quá trình giải quyết vụ
án giết người có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ chonhau Xét góc độ chung nhất cả hoạt động THQCT và KSHĐTP có chung một mụcđích bao quát là nhằm bảo đảm cho hành vi phạm tội giết người được xử lý kịp thời,việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trong thực tiễn, hoạt động THQCT dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sáttuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Các quyết định như khởi tố vụ án, khởi tố
bị can; hủy quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ việc ápdụng các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT đượccủng cố thêm về sự chính xác và bảo đảm tính khách quan khi dựa trên kết quả củahoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật, tức là quá trình kiểm tra tính có căn cứ vàhợp pháp trong các tình tiết của vụ án để từ đó thực hiện các quyền năng thuộc phạm
vi QCT Ngược lại, hoạt động THQCT chính là sự thể hiện quyền năng của VKStrong tố tụng hình sự, là một trong những biện pháp để bảo đảm tính khả thi tronghoạt động phát hiện và loại trừ vi phạm pháp luật như: khi phát hiện vi phạm, tộiphạm xâm phạm hoạt động tư pháp, của người tiến hành tố tụng cố ý làm sai lệch hồ
sơ vụ án, bức cung, nhục hình , VKS có thẩm quyền khởi tố, điều tra và xử lý theoquy định pháp luật
đoi với tội giêt người
Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2002, BLTTHS năm 2003 vàquy chế công tác THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ
án hình sự năm 2009 của Viện trưởng VKSND tối cao thì nội THQCT ở giai đoạnđiều tra tội giết người của VKSND bao gồm:
Trang 34* Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
và kiến nghị khởi tố tội giết người
BLTTHS năm 2003 chỉ quy định chung về chức của VKS trong kiểm sát giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tại Điều 101, 103 BLTTHS năm
2003 và hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA- BTC- BNN&PTNT-VKSNDTC của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, VKS nhân dân tối cao mà chưa quy định rõquyền năng cụ thể của VKS và cơ chế pháp lý để bảo đảm cho VKS thực hiện tốtquyền năng đó Chính vì vậy, Điều 12 Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 và đặcbiệt là tại các điều 145, 146, 147, 148, 150 BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổiquan trọng theo hướng quy định cụ thể hơn, chính thức ghi nhận hoạt động THQCTtrong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố; quy định rõnội dung của THQCT trong giai đoạn này, cụ thể:
BQP Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác:
Theo quy định tại Điều 81, Điều 87 BLTTHS năm 2003, VKS có quyền quyếtđịnh phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữnhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, bảo đảm người bị tình nghi không bỏtrốn, cản trở quá trình xác minh tin báo hoặc tiêu hủy chứng cứ
Ngoài ra cần lưu ý là tại Điều 110, Điều 118 BLTTHS năm 2015, biện phápbắt khẩn cấp đã được thay thế bằng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Quy định này nhằm phù hợp với Điều 20 Hiến pháp 2013 "Không ai bị bắt nếu không
có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang” [14] Theo quy định tại BLTTHS năm 2015,
trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai và ra quyết định tạm giữ, ra lệnhbắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó Lệnh bắt người bị giữ trong
Trang 35trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyềnkèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
- Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ
quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2003, trong quá trình thực hiện chứcnăng THQCT, khi xét thấy quyết định tạm giữ không có căn cứ hoặc trái pháp luật,VKS có quyền hủy bỏ quyết định tạm giữ và quyết định trả tự do ngay cho người bịtạm giữ Quyền năng này được giữ nguyên tại Điều 117 BLTTHS năm 2015; Điều
12, Điều 22 Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 Đây là quyền năng quan trọngcủa VKS nhằm bảo vệ quyền công dân, quyền con người theo Hiến pháp 2013.Ngoài ra BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm một số quyền năng thuộc chứcnăng THQCT của VKS trong giai đoạn này như: Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh vàyêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố thực hiện; Hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp quyết định tạmđình chỉ giải quyết tin báo không có căn cứ; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luậtnghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS nhân dân đã yêu cầu nhưngkhông được khắc phục Thực hiện tốt những quy định này ngay từ đầu sẽ góp phầnquan trọng trong việc giảm thiểu oan, sai và chống bỏ lọt tội phạm trong tố tụng hìnhsự
* Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Ra quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003, VKS có thẩm quyền ra quyếtđịnh khởi tố vụ án trong những trường hợp: a) VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố
vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; b) Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án
Ngoài ra Khoản 1 Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và cụ thể hóa tạiĐiều 153, 154 BLTTHS năm 2015 đã có một số thay đổi quan trọng, bổ sung thêm
Trang 36các trường hợp VKS quyết định khởi tố vụ án Theo đó, ngoài 02 trường hợp nêutrên, VKS trực tiếp quyết định khởi tố vụ án trong các trường hợp: VKS trực tiếp giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; VKS trực tiếp phát hiện dấuhiệu tội phạm.
- Thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại Điều 156 BLTTHS năm 2003, khi xác định tội phạm đã khởi
tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn có hành vi phạm tội khác,VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án Đây cũng là mộttrong những quyền năng thuộc phạm vi QCT của VKS, nhằm bảo đảm việc khởi tố
vụ án hình sự có căn cứ và phù hợp với tình tiết khách quan trong vụ án
- Hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Quyền hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự của VKS được quy định tại Điều
109 BLTTHS năm 2003 và cơ bản được giữ nguyên tại điểm b, c khoản 1 Điều 161BLTTHS năm 2015 Theo đó, khi THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự, VKS cóquyền hủy bỏ quyết định khởi tố không có căn cứ và trái pháp luật Đây là hoạt độngpháp lý thuộc chức năng THQCT của VKS nhằm hủy bỏ quyết định khởi tố vụ ánhình sự không có căn cứ và trái pháp luật
- Phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, yêu cầu thay đổi, bổ sung quyết
định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra các quyết định trên:
THQCT của VKS đối với hoạt động khởi tố bị can được quy định tại Điều 126BLTTHS năm 2003, Khi đã xác định chính xác quyết định khởi tố là có căn cứ thìVKS ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và chuyển cho CQĐT để tiếnhành việc điều tra.Đặc biệt, theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, trongquá trình nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn khởi tố bị can, VKS có quyền yêu cầu
bổ sung chứng cứ Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu
bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi
tố bị can Trường hợp xác định quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái
Trang 37pháp luật thì theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015, VKS ra quyếtđịnh hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Cũng theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, trong quá trình điều tra
vụ án hình sự, khi phát hiện có người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thìVKS yêu cầu khởi tố bị can Nếu đã có yêu cầu mà CQĐT không thực hiện thì VKScăn cứ khoản 4 Điều 179 BLTTHS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can, không phảichờ đến khi kết thúc điều tra mới tiến hành khởi tố và trả hồ sơ cho CQĐT nhưBLTTHS 2003
Về việc yêu cầu thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can: Trong quátrình điều tra vụ án hình sự, khi có căn cứ xác định hành vi của bị can không đúngvới tội danh đã khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội khác thì VKS yêu cầuthay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS sẽtrực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi choCQĐT để tiến hành điều tra
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành điều tra khi cần thiết:
Khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003, khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015quy định, khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn:
“Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”.
Việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện ngay từ khi kiểm sát khámnghiệm hiện trường, tử thi, ngay sau khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điềutra Yêu cầu điều tra có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Bên cạnh việc đề ra yêu cầu điều tra, theo quy định tại Điều 131, 135, 137, 138BLTTHS năm 2003; Điều 183, 186, 188, 189 BLTTHS năm 2015, khi cần thiết,VKS có thể tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hỏi cung bị can, lấy lời khaicủa người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
Trang 38quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cho đối chất để làm rõ sự thật khách quancủa vụ án Hoạt động này của KSV có thể được thực hiện trong giai đoạn điều trahoặc giai đoạn truy tố.
- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:
+ Áp dụng biện pháp ngăn chặn:
Theo quy định tại các điều 80, 81, 87, 88, 93 BLTTHS năm 2003, biện phápbắt khẩn cấp, các trường hợp gia hạn tạm giữ, bắt bị can để tạm giam, áp dụng biệnpháp tạm giam, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo của CQĐT cùng cấp phảiđược VKS phê chuẩn Các điều 113, 118, 119, 121, 122 của BLTTHS năm 2015 cómột số quy định mới về nội dung, căn cứ cũng như thủ tục áp dụng các biện phápngăn chặn này Tuy nhiên về nội hàm cũng như chức năng THQCT của VKS đối vớicác biện pháp ngăn chặn cơ bản được giữ nguyên Đây là những biện pháp ảnhhưởng trực tiếp đến quyền con người, việc áp dụng phải đặc biệt thận trọng, xem xéttoàn diện về nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng nhưcác tình tiết khác có liên quan Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳnuôi con dưới 36 tháng, là người già yếu, người bị mắc bệnh nặng có nơi cư trú rõràng thì không tạm giam mà phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp:
Bị can bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặnkhác nhưng lại tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điềutra; bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu khôngtạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại cho an ninh quốc gia
+ Thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:
Điều 94 BLTTHS năm 2003 và Điều 125 BLTTHS 2015 đều quy định: Đối vớinhững biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy
bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định.Trong quá trình điều tra, nếu thấy có căn cứ để thay đổi biện pháp tạm giam như: bịcan có nơi cư trú rõ ràng, tích cực hợp tác điều tra, thành khẩn khai báo, tính chất,mức độ nguy hiểm không nghiêm trọng thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi biện
Trang 39pháp ngăn chặn và chuyển cho CQĐT để thi hành Đối với các biện pháp ngăn chặnkhác, VKS chỉ ra quyết định thay đổi khi đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện.Cũng theo quy định tại Điều 125 BLTTHS năm 2015, khi thấy việc áp dụngbiện pháp ngăn chặn không có căn cứ, khi thấy không cần thiết hoặc khi vụ án bịđình chỉ điều tra thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyếtđịnh hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cần lưu ý là đối với những biện pháp ngăn chặn
do VKS áp dụng hoặc phê chuẩn thì việc hủy bỏ phải do VKS quyết định
* Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ khi kết thúc điều tra, VKS nhận được hồ sơ
vụ án do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyếtđịnh sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; 2) Trả lại hồ sơ để điềutra bổ sung; 3) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự Theo quy định pháp luật,hoạt động THQCT trong giai đoạn truy tố bao gồm những nội dung sau:
- Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai người bị hại, đối
chất
Theo quy định tại các điều 131, 135, 137, 138 BLTTHS năm 2003; các điều
183, 186, 188, 189 BLTTHS năm 2015, khi cần thiết, Viện kiểm sát có thể tiến hànhmột số hoạt động điều tra như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng,người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan đến vụ án, cho đối chất nhằm kiểm tra, xác minh và củng cố tài liệu, chứng cứcủa vụ án
Trên cơ sở kết quả hỏi cung, lấy lời khai, đối chất, đối chiếu với kết quả điềutra, nội dung vụ án và quy định pháp luật, VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa án đểxét xử bằng bản cáo trạng, ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc ra quyết địnhđình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can theo quy định pháp luật
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng do VKS thực hiện trong giaiđoạn truy tố nhằm yêu cầu CQĐT tiếp tục việc điều tra, thu thập chứng cứ hoặc bổ
Trang 40sung thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúngpháp luật Theo quy định tại Điều 168 BLTTHS năm 2003, Điều 245 BLTTHS năm
2015, Thông tư liên tịch số: 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA- TANDTC ngày 27tháng 08 năm 2010 VKS nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao
”Hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung”,
sau khi kết thúc điều tra và nhận hồ sơ vụ án, trong giai đoạn truy tố, VKS trả hồ sơđiều tra bổ sung khi có một trong các căn cứ: Còn thiếu chứng cứ để chứng minh mộttrong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà VKS không thể tự mình
bổ sung được; Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; Có ngườiđồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố
bị can; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
- Quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can:
Theo quy định tại Điều 169 BLTTHS năm 2003, Điều 248 BLTTHS năm
2015, VKS quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trongcác căn cứ: 1) Không có sự việc phạm tội; 2) Hành vi không cấu thành tội phạm; 3)Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hìnhsự; 4) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ
án có hiệu lực pháp luật; 5) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6) Tộiphạm đã được đại xá; 7) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừtrường hợp cần tái thẩm đối với người khác; 8) Tội phạm thuộc trường hợp khởi tốtheo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố;9) Người thực hiện hành vi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự
- Ban hành bản cáo trạng truy tố bị can:
Theo quy định tại Điều 167 BLTTHS năm 2003, Điều 243 BLTTHS năm
2015, trong thời hạn luật định, khi có đủ căn cứ, VKS quyết định truy tố bị can ratrước Tòa án bằng bản cáo trạng Bản cáo trạng là cơ sở pháp lý để Tòa án xét xử, làcăn cứ xác định giới hạn xét xử, các bị cáo thực hiện quyền bào chữa và KSV thựchiện quyền buộc tội tại phiên tòa Về nội dung, bản cáo trạng phải đáp ứng yêu cầu