Chính vì vậy, chúng ta cần xâydựng một hệ thống lý luận các giá trị về thẩm mỹ mà đặc biệt về cái đẹp nhằm địnhhướng cái đẹp, sáng tạo ra cái đẹp mới nhằm phục vụ đời sống tinh thần nhân
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thu Nghĩa
Hà Nội, năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3Kết luận chương 2
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
75
Trang 4hệ với tự nhiên, với xã hội và đặc biệt là trong nghệ thuật Cái đẹp làm cho cuộc sốngcủa con người thêm sinh động, đa dạng và phong phú Chính vì vậy, chúng ta cần xâydựng một hệ thống lý luận các giá trị về thẩm mỹ mà đặc biệt về cái đẹp nhằm địnhhướng cái đẹp, sáng tạo ra cái đẹp mới nhằm phục vụ đời sống tinh thần nhân dân,hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong sáng.
Immanuel Kant - người mở đầu nền triết học cổ điển Đức với quan điểm duytâm chủ quan đã đưa ra một góc nhìn mới về mỹ học Nghiên cứu quan niệm của Kant
về cái đẹp chúng ta mới thực sự bừng tỉnh trước sự đa dạng, phong phú của nó Cái đẹpkhông thể bị gò ép, rập khuôn máy móc như quan niệm trước đây mà hơn hết cần phảigiải thoát cho cái đẹp, vì chính sự tự do của cái đẹp mới giúp con người giải thoát lối tưduy khuôn mẫu và tự do sáng tạo nghệ thuật, làm phong phú thêm đời sống tinh thầncủa con người
Với những đóng góp của mình, Kant được đánh giá là một trong những nhà triếthọc vĩ đại nhất của lịch sử triết học trước Mác Quá trình nghiên cứu của Kant có thể
4
Trang 5chia ra hai thời kỳ; thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán Trong thời kỳ tiền phê
phán, vấn đề được Kant nghiên cứu nhiều là tự nhiên, còn thời kỳ phê phán, Kant cốgắng xây dựng một hệ thống triết học để tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi lớn: Tôi có thểtri thức được gì? Tôi cần phải làm gì? Và tôi có thể hy vọng gì? Câu hỏi đầu tiên được
ông giải đáp trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý năm 1781 Câu hỏi thứ hai được ông diễn giải trong Phê phán lý tính thực tiễn năm 1788 Với câu hỏi thứ ba liên quan đến các quan điểm mỹ học của ông được đề cập đến trong Phê phán năng lực phán đoán năm 1790.
Tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” của I Kant nghiên cứu mỹ học và
cái đẹp từ học thuyết tự nhận thức, mở ra một cách tiếp cận mới trong lịch sử mỹ học.Các tư tưởng mỹ học và cái đẹp trong tác phẩm này đã được nhiều nhà mỹ học trên thếgiới phân tích sâu sắc Ở Việt Nam, các tư tưởng mỹ học và cái đẹp trong tác phẩm này
đã được biên soạn trong nhiều giáo trình mỹ học trình độ đại học và sau đại học, cũngnhư có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu Các tác giả khi nghiên cứu về tácphẩm này đã có những kiến giải, nhận thức khác nhau về các quan điểm, giá trị và cácđánh giá của Kant về cái đẹp tự nhận thức Song, tất cả những nghiên cứu đó đều khẳngđịnh được những đóng góp to lớn của mỹ học nói chung, tư tưởng về cái đẹp nói riêngcủa Kant đối với lịch sử mỹ học nhân loại Với mong muốn góp một cách tiếp cận và
nhận thức mới về cái đẹp của Kant trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, tôi đã
chọn vấn đề này làm đối tượng nghiên cứu của mình trong luận văn này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Triết học Kant nói chung và mỹ học Kant nói riêng đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu Các công trình nghiên cứu này có nhiều đóng góp to lớn trong việc nghiêncứu tư tưởng triết học và mỹ học của I Kant
Ở nước ta, đã có nhiều tác giả đi vào nghiên cứu triết học I Kant Về phươngdiện lịch sử, người đề cập đến triết học I Kant sớm nhất là GS Trần Đức Thảo trong
tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Marx” Trong đó, GS Trần Đức Thảo đã trình bày
5
Trang 6các luận điểm của phép biện chứng theo cấu trúc tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy ” Đây là những đánh giá đúng đắn và khách quan đối với triết học I Kant Tuy
nhiên, những đánh giá của ông còn sơ lược, chưa đi sâu vào một vấn đề cụ thể
Năm 1962, Nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội) đã cho dịch cuốn “Giáo trình lịch sử triết học - Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm
khoa học Liên Xô biên soạn Bản dịch đã đem đến cho độc giả những nét khái lược vềtriết học cổ điển Đức, trong đó triết học I Kant chiếm một vị trí quan trọng
Trần Thái Đỉnh trong cuốn “Triết học I Kant” đã nêu lên một cách khá toàn
diện các vấn đề triết học I Kant Riêng đối với triết học lý luận, tác giả cũng đưa ranhững luận giải khá sâu sắc Ông cho rằng khi phê phán lý tính thuần túy, I Kant khôngnhằm phá hủy siêu hình học mà trái lại cố gắng xây dựng một siêu hình học mới Tácgiả dành khá nhiều tâm huyết trình bày các nhận thức triết học I Kant Đây là một côngtrình khá đầy đủ và phong phú về triết học I Kant
Trong cuốn “Triết học Immanuen Kant” của tác giả Nguyễn Văn Huyên Nxb
Khoa học xã hội xuất bản năm 1996, , tác giả đã trình bày những nét tổng quát về triếthọc nhận thức và triết học thực tiễn của I Kant
Năm 1997, Viện Triết học đã biên soạn và xuất bản cuốn sách: “I Kant - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức ” Cuốn sách tập hợp bài viết của các tác giả
nghiên cứu về lĩnh vực khác nhau của triết học I Kant Công trình này đề cập đến toàn
bộ triết học I Kant cả thời tiền phê phán và phê phán, nhưng đi sâu vào phần phê phánhơn Trong triết học phê phán của I Kant, các tác giả nghiên cứu trên cả ba mảng nhậnthức, đạo đức và thẩm mỹ
Trong cuốn “Triết học cổ điển Đức”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006, tác giả Lê
Công Sự trên cơ sở phân tích những quan niệm về các phạm trù mỹ học của Kant đã điđến kết luận: Mỹ học Kant chứa đựng nội dung nhân bản sâu sắc và chủ nghĩa nhân đạocao cả Kant không nghiên cứu cái đẹp một cách độc lập tách khỏi chủ thể nhận thức
mà gắn cái đẹp với hoạt động đạo đức của con người Ông đã khẳng định sức mạnh tinh
6
Trang 7thần của con người như một cái cao cả nhất trong những cái cao cả hiện có Con ngườiđồng thời là những giá trị đẹp nhất trong những giá trị hiện có Thông qua phép phântích các phạm trù cơ bản của mỹ học, Kant đã tiến gần tới phép biện chứng về mối quan
hệ giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan trong những khái niệm thẩm mỹ Lýluận về hoạt động nghệ thuật của Kant là phần đóng góp đáng kể trong mỹ học của ông.Bằng lý luận đó, ông đã đề cao năng lực sáng tạo đặc biệt của con người nói chung, vănnghệ sĩ nói riêng Nghệ thuật là lĩnh vực sáng tạo của sáng tạo, khả năng sáng tạo nghệthuật chỉ có ở con người có lý tính
Trong cuốn “Lịch sử triết học”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 do
Nguyễn Hữu Vui chủ biên có viết: Hoạt động nghệ thuật là một trong những lĩnh vực
cơ bản để con người gắn liền lý luận và thực tiễn Ở đây, con người chủ yếu sử dụngkhả năng cảm thụ và đánh giá sự vật Nghệ thuật là hoạt động tự do của con người theochuẩn mực của cái đẹp Vì vậy, phạm trù trung tâm của thẩm mỹ học là cái đẹp Kantkhông quan tâm xem xét vấn đề có tồn tại cái 5 đẹp khách quan trong tự nhiên haykhông, mà chỉ nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa con người với tư cách chủ thể hoạt độngvới các sự vật tự nhiên, nhất là với những thành quả hoạt động của con người
Từ điển Triết học I Kant (A I Kant Dictionary) của Howard Caygill Không chỉnhững khái niệm đơn thuần như cái Đẹp, cái Cao cả, cái Đức mà cả những khái niệmkhó hiểu của I Kant như: tiên nghiệm, hậu nghiệm, siêu nghiệm, võng luận, đều đượctác giả Howard Caygill lý giải một cách công phu và đặt trong lịch sử hình thành pháttriển của nó Chính điều này giúp những người nghiên cứu về triết học I Kant tiếp cậnvới tư tưởng của ông dễ dàng hơn
Đặc biệt là bộ ba tác phẩm phê phán của I Kant, đó là “Phê phán lý tính thuần túy”(1781), “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788) và “Phê phán năng lực phán đoán” (1790),nhưng tập trung chủ yếu vào tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” đã được dịch giảBùi Văn Nam Sơn dịch ra tiếng Việt, do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2007
7
Trang 8Như vậy, việc nghiên cứu về triết học I Kant luôn thu hút sự chú ý của nhiều họcgiả Các công trình nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu
tư tưởng mỹ học của I Kant Tuy nhiên, những nghiên cứu đó phần lớn chỉ dừng lại ởmức độ khái quát, nghiên cứu những nội dung cơ bản của mỹ học và được trình bàytrong các giáo trình triết học lịch sử, lịch sử mỹ học nói chung hoặc trong các tập bàigiảng dùng cho sinh viên chuyên ngành mỹ học nói riêng mà chưa có công trình nàonghiên cứu chuyên sâu về mỹ học Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã cónhững tiếp thu, kế thừa những thành tựu của những công trình nghiên cứu trên Trên cơ
sở đó, tác giả muốn tìm hiểu sâu hơn vấn đề những giá trị tư tưởng mỹ học cơ bản của
I Kant, đặc biệt là tư tưởng của ông về phạm trù phán đoán thẩm mỹ, cái đẹp và bản
chất của nghệ thuật được trình bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ’’
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên nhiệm vụ của luận văn sẽ là:
Thứ nhất, khái quát quá trình hình thành tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ".
Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản về cái đẹp trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ’’ của Kant.
Thứ ba, đưa ra những nhận xét, đánh giá quan niệm về cái đẹp trong tác phẩm
“Phê phán năng lực phán đoán ".
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
8
Trang 9Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Kant về cái đẹp được trình
bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ".
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả đi sâu nghiên cứu về cái đẹp theo quan niệm của Kant Để hoàn thành
luận văn tác giả tiến hành nghiên cứu bộ ba tác phẩm phê phán của I Kant, đó là “Phê phán lý tính thuần túy " (1781), “Phê phán lý tính thực tiễn " (1788) và “Phê phán năng lực phán đoán " (1790), nhưng tập trung chủ yếu vào tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán " (1790), đã được dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch ra tiếng Việt, do Nhà
xuất bản Văn học xuất bản vào năm 2007
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời, luận văn dựa trên nhữngnghiên cứu của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lịch sử triết học nói chung, về triếthọc I Kant nói riêng; các sách, bài nghiên cứu của các tác giả về triết học cổ điển Đức,triết học I Kant như những chỉ dẫn quý báu về mặt phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh, phân tích tổng hợp, kết hợp giữa lôgic và lịch sử, diễn dịch, quy nạp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ quan điểm về cái đẹp trong mỹ học I Kant
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, họcviên, người nghiên cứu về mỹ học, nghệ thuật, triết học I Kant Luận văn cũng có thểđược sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứu mỹ học nói chung
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương 4 tiết
9
Trang 10Chương 1IMMANUEL KANT VỚI TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN”
1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và những tiền đề cho sự hìnhthành triết học I Kant
1.1.1 Điều kiện kinh tế
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Đức vẫn còn là một quốc giaphong kiến điển hình, lạc hậu cả về kinh tế và chính trị Việc tiếp tục tăng cường quyềnlực duy trì chế độ quân chủ của triều đình vua Phổ Phriđrich Vin Hem đã cản trở đấtnước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, khiến cho công nghiệp, thủ côngnghiệp, nông nghiệp bị hạn chế, khiến người dân Đức cảm thấy bất bình trước tình cảnhđất nước thời bấy giờ Nhiều sử gia đánh giá, nước Đức thế kỷ XVIII là một trongnhững nước lạc hậu bậc nhất châu Âu, cuộc chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648) vớinước láng giềng đã làm tiêu hao sinh lực của nó Suốt thời gian dài nước Đức nằmtrong tình trạng trì trệ, bảo thủ, bị chia năm xẻ bảy bởi nạn cát cứ Bộ máy nhà nướccủa chế độ quân chủ tỏ ra hà khắc, nhưng kém năng động và hết sức quan liêu, đàn áp
tư tưởng tự do và dân chủ Xét theo mức độ cách mạng thì Đức lạc hậu hơn so với Anh
200 năm, so với Pháp 50 năm Đó là sự cách biệt quá lớn Song quy luật phát triển củatri thức triết học cho thấy rằng chính khi trong đời sống xã hội và sinh hoạt tinh thầnnảy sinh những tình huống có vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết, thì khi ấy, tùy thuộc vàođiều kiện cụ thể, vào khả năng chủ quan của tư duy con người, truyền thống văn hóa,
mà xuất hiện hàng loạt phương án khác nhau nhằm giải quyết chúng Nước Đức nửasau thế lỷ XVIII hội đủ các đặc điểm ấy Hơn nữa giai cấp tư sản Đức sinh sau đẻ muộn
đã biết tiếp thu kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, kết thừa có chọn lọc và phát triểnchúng trong điều kiện của mình, bất chấp tình trạng trì trệ của hiện thực vật chất Tínhvượt trước của tri thức, tư tưởng chính là ở đây Vậy là trên bản đồ Tây Âu lúc đó xuấthiện ba cường quốc với ba thế mạnh khác nhau: nước Anh với ưu thế vượt trội về kinh
Trang 11tế, nước Pháp được xem là diễn đàn các tư tưởng và phong trào chính trị, nước Đức vớicuộc cách mạng trong lĩnh vực lý trí.
Nói về thời kì lịch sử đó, Ăngghen đã nói như sau: không một ai cảm thấy mình
dễ chịu Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp trong nước đều bịgiảm đến mức thấp nhất Nông dân, người làm nghề thủ công, chủ xưởng chịu hai tầngđau khổ vì chính sách ăn bám và vì tình hình làm ăn khó khăn Giai cấp quý tộc và cácông hoàng thấy rằng mặc dù chúng đã bóp nặn đến cùng những thần dân của chúngnhưng số thu của chúng khó mà đua kịp số chi ngày càng tăng lên Mọi việc đều bi đát
và cả nước đều công phẫn Không có giáo dục, không có những phương tiện tác độngđến ý thức quần chúng, không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội, không có cảđến sự buôn bán nhỏ nào tới các nước khác Không có gì cả ngoài sự đê tiện và ích kỉ.Tinh thần ham lợi thấp kém, hèn hạ thảm hại thấm nhuần trong toàn dân Tất cả đều hưnát, lung lay sắp sửa đổ và cũng không thể hy vọng được một sự thay đổi tốt, vì rằngtrong dân tộc không có một lực lượng nào đủ sức để có thể dọn đi được cái tử thi đã rữacủa cái chế độ đã lỗi thời ấy [20, 561 - 562]
Về kinh tế, giai cấp tư sản Đức chủ trương ưu tiên phát triển ngành thương mại,thủ công nghiệp và trong sản xuất theo lối công trường thủ công (những xí nghiệp lớn
tư bản chủ nghĩa) ở Đức hầu như chưa có vào nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) bắtbuộc phải phục vụ cho bọn phong kiến đang thống trị ở Đức lúc bấy giờ Trong khi thịtrường bên trong phát triển còn rất yếu, và việc buôn bán trên thị trường còn rất hạn chếthì khách hàng chủ yếu là tầng lớp thống trị và số đông quan lại, giai cấp tư sản trongmỗi nhà nước Đức nhỏ ấy đã bị ràng buộc vào những khách hàng ấy Nền kinh tế chủyếu ở trình độ thủ công lạc hậu, những di tích của chế độ nông nô, phường hội, chuyênchế phản động đều là những lực cản kìm hãm sự phát triển lên tư bản chủ nghĩa củaĐức Ngoài ra, nước Đức còn chịu sự tác động của những mối liên hệ từ bên ngoài làmcho nước Đức không có điều kiện để phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩatrong lòng chế độ phong kiến và làm cho nước Đức rơi vào tình trạng cực kỳ bi đát vềkinh tế chính trị - xã hội
Trang 121.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Những chuyển biến về kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phân bố lực lượng giai cấptrong xã hội Giai cấp quý tộc phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong bộ máy nhànước và ngoan cố tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến
Do đó, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô hạn của các tiểu vương quốc làmột trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa
Do sự chuyển biến về kinh tế và chính trị, những mâu thuẫn cơ bản của xã hộiĐức ngày càng bộc lộ rõ Bước vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, mâu thuẫngiữa giai cấp tư sản với chế độ quân chủ chuyên chế và mâu thuẫn giữa giai cấp côngnhân cùng đông đảo quần chúng nhân dân lao động với giai cấp quý tộc phong kiếncàng trở nên sâu sắc Điều đó phản ánh mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản chủnghĩa ngày càng phát triển với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu đang kìm hãm sứcsản xuất
Rõ ràng khi phân tích xã hội tư bản có thể thấy rằng trong thực tiễn lẫn nhậnthức phương pháp biện chứng thâm nhập khắp nơi, thể hiện tính chất của thời đại mớinăng động và phát triển Phép biện chứng của triết học cổ điển Đức, theo nghĩa này, là
sự kế thừa, hệ thống hóa, cụ thể hóa, làm sâu sắc thêm tinh thần biện chứng của thờiđại Nó là tinh thần của thời đại được trình bày bởi phong cách Đức Vì thế, bên cạnhnhững nét tiêu biểu, độc đáo, sáng tạo, phụ thuộc vào năng lực chủ quan của nhữngngười sáng tạo ra tri thức, vào điều kiện của gia đình, xã hội ở những chặng đường nhấtđịnh, sự hình thành phong cách tư duy Đức không thoát khỏi quy luật phổ biến, chiphối diện mạo sinh hoạt tinh thần chung
Hiện thực của nước Đức và bối cảnh của thời đại in đậm dấu ấn của mình trongcuộc hành trình tư tưởng của các nhà triết học, làm nổi bật mâu thuẫn giữa hệ thống vàphương pháp, thậm chí giữa các thời kỳ khác nhau ở cùng một nhà triết học Có thể lấyKant, Fichte, Schelling và Hegel làm sáng tỏ mâu thuẫn khó vượt qua này : phươngpháp biện chứng tồn tại trong hệ thống duy tâm, tư tưởng tiến bộ, cách mạng đan xenvới các yếu tố bảo thủ; hoặc sự xung đột giữa hai thời kỳ (thời kỳ “tiền phê phán” và
Trang 13thời kỳ “phê phán” ở Kant, thời kỳ Jena và thời kỳ Berlin ở Fichte, thời trẻ và thời đứngtuổi ở Schelling ).
Điểm qua những nét chính về bối cảnh lịch sử của sự ra đời triết học cổ điểnĐức có thể xác định tiền đề thực tiễn của nó là cách mạng Pháp và hiện thực nước Đứcnửa sau thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XIX Cách mạng Pháp, sự hiện thực hóa lý tưởngcủa các nhà khai sáng, tác động tích cực đến định hướng dân chủ, nhân văn trong triếthọc cổ điển Đức, khơi dậy tinh thần hoài nghi và phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều
và bảo thủ cả trong khoa học lẫn trong chính trị C Mác xem triết học Kant là lý luậnĐức của cách mạng Pháp [17,131] Hiện thực nước Đức được thể hiện ở hệ thống triếthọc Kant, Fichte, Schelling, Hegel, Feuerbach bằng tính hai mặt của nó Một mặt triếthọc cổ điển Đức phản ánh khát vọng chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, nỗ lực vượtqua sự ngưng đọng của đời sống hiện thực; mặt khác, các nhà triết học Đức, từ Kantđến Hegel, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đức, chịu sự quy định của hiện thực đó,buộc phải chấp nhận những giới hạn của tự do; sự tuân phục các chuẩn mực phổ biến
đã trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối”, sức mạnh cưỡng chế mang ý nghĩa của tính tất yếukhông cưỡng được; những câu hỏi được nêu ra chưa hẳn tìm thấy lời giải đáp thỏađáng, mặc dù, nói như Kant, đó chỉ là lời giải đáp hình thức Mâu thuẫn của triết học cổđiển Đức cũng chình là mâu thuẫn của thực tại được tái hiện lại trong các hệ thống lýluận
Những va chạm mang tính chất giai cấp gay gắt ở đêm trước cách mạng đã thểhiện trong triết học dưới dạng mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực, giữa “cái hợp lý”
và “cái phi lý” Sau khi hoàn thành cách mạng, giai cấp tư sản lại giảng hòa với thựctiễn, bởi vì bây giờ thực tiễn đã trở thành “cái hợp lý” Mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiệnthực đều mạnh như nhau cả ở Đức lẫn ở Pháp Ở Đức tính chất lạc hậu về kinh tế vàchính trị khiến cho mâu thuẫn này khó được giải quyết triệt để Cách mạng ở Đức chỉdiễn ra thành công trong lĩnh vực lý trí, vì bản thân thực tiễn chưa đủ chín muồi để làmbùng nổ cách mạng như đã từng thấy tại Anh và Pháp Xuất phát từ tình trạng xã hộingưng đọng, triết học và nghệ thuật Đức hướng về hoặc nước Pháp cách mạng, hoặc
Trang 14quá khứ để làm sống lại các giá trị thời vàng son Kant, Fichte, Hegel, Goethe,Schiller đã từng ngợi ca cách mạng Pháp, xem nó như sự trỗi dậy của bình minh, biểutượng của tự do, đánh dấu sự khởi sắc của thời đại mới Voltaire và Rousseau được tônvinh thành những hiệp sỹ của công lý Tuy nhiên, nước Pháp giai đoạn chuyên chế cáchmạng, tức giai đoạn Jacobin, đã làm cho các nhà triết học và các nhà thơ Đức hoảng sợ.
Họ liên tưởng đến nước Đức tương lai tắm trong máu và nước mắt qua những cuộc tànsát và bạo loạn Bây giờ, trong suy tư của họ hình ảnh quá khứ thay thế cho tương lai,đóng vai trò của sức mạnh an ủi và dẫn dắt Mâu thuẫn là ở chỗ một mặt các triết giaĐức thừa nhận tiến trình lịch sử là không thể đảo ngược, mặt khác họ không thể chấpnhận cái giá quá đắt cho tự do và dân chủ Sự yếu đuối và dao động là đặc trưng chínhtrị của những người thị dân Đức, nó thể hiện khá rõ nét trong hệ thống duy tâm Đức,điển hình là Hegel, phần nào trong yếu tố bất khả tri của triết học Kant, trong “tồn tạituyệt đối” của Fichte thời kỳ B er l i n
1.1.3 Điều kiện văn hóa
Về mặt văn hóa, có thể nói các cuộc cách mạng xã hội thế kỉ XVII - XVIII mởđường cho sự phát triển các tư tưởng xã hội tiến bộ Hầu hết các đại biểu của nó như I.Kant, Hegel đều xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội
Đức vốn là quốc gia có truyền thống văn hóa phát triển cao Đất nước này đãsản sinh ra nhiều nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng thế giới Chínhtrong thời kì này đã xuất hiện những thiên tài lỗi lạc Nền văn hóa Đức một mặt đã tiếpthu đầy đủ các di sản quý báu của nền văn hóa Đức truyền thống Mặt khác, nền vănhóa ấy còn chịu sự tác động của văn hóa thời kì Phục hưng và tư tưởng Khai sáng ởChâu Âu thế kỉ XVIII
Những nhà khai sáng đánh giá cao tiếng nói mỗi dân tộc Đức và chỉ trích tậpquán thời Trung cổ, bắt buộc rằng những tư tưởng khoa học và triết học phải được trìnhbày bằng tiếng Latinh Làm cho số đông nhân dân không hiểu được Họ công kích thầnhọc, chống lại triết học kinh viện và bênh vực cho sự suy nghĩ độc lập như các nhà khaisáng Pháp Dù không đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa vô thần, nhưng trong
Trang 15hoàn cảnh của nước Đức lạc hậu như thế thì sự phê phán của họ đối với tôn giáo đãđóng vai trò tiến bộ và góp phần làm sụp đổ hệ tư tưởng và những đặc quyền của đẳngcấp phong kiến Họ chống lại một cách kiên quyết những đại biểu phản động của chủnghĩa lãng mạn, những người đã tâng bốc thời trung cổ, tuyên truyền chủ nghĩa thần bí
và thần học Những nhà Ánh sáng Đức đã gắn liền nghệ thuật với đời sống và cho nghệthuật là sự thể hiện thế giới quan nhân đạo chủ nghĩa
J.G Hécde (1744 - 1803) là nhà tư tưởng, nhà nghệ thuật vĩ đại của Đức Những
tư tưởng của ông đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị tư tưởng cho trào lưu khaisáng Đức Ông là một trong những người đầu tiên đã đấu tranh cho sự hình thành vàphát triển ý thức dân tộc của nhân dân Đức, chống lại khuynh hướng tôn giáo chủ nghĩa
“chỉ ưa sùng ngoại” của giai cấp quý tộc Chính Hécde đã nêu lên tư tưởng rất quantrọng coi thi ca dân gian có ý nghĩa lớn lao đối với sáng tác văn học Nguyện vong củaHécde khi nghiên cứu lý luận nghệ thuật theo quan điểm hiện thực là nhìn thấy mối liên
hệ giữa nghệ thuật và đời sống
Bên cạnh Hécde, những nhà đại diện cho các ngành văn nghệ, soạn kịch và sânkhấu như Lessing, Schiller và Goethe là niềm kiêu hãnh cho nhân dân Đức nói riêng vànhân loại tiến bộ nói chung Là những nhà bách khoa, các ông không chỉ thành côngtrong những lĩnh vực như khoa học và triết học Đức
Gotthold Ephraim Lessing (1729 - 1781) là nhà văn hóa lớn của dân tộc Đức.Ông đã có công lao to lớn trong việc đấu tranh chống hệ tư tưởng phong kiến và pháttriển nền văn hóa nhân đạo nửa cuối thế kỷ XVIII Không những vậy, ông còn côngkích những đặc quyền đẳng cấp, đã kêu gọi đấu tranh chống lại chế độ nông nô và đãphát triển những quan điểm mỹ học tiên tiến Cũng như mọi nhà khai sáng khác,Lessing tuyên bố rằng quyền của con người là được hưởng đời sống vui sướng và hạnhphúc trên trái đất Tuy chưa đạt tới chủ nghĩa vô thần triệt để nhưng ông đã bác bỏ uyquyền của “thánh kinh”, mạt sát giới tăng lữ, coi những cái đó là thành trì của sự dốtnát và của chủ nghĩa ngu dân Những tư tưởng tiến bộ ngày càng được phát triển xa hơnnữa trong các tác phẩm của Schiller và Goethe Theo Sécnưsepxki thì hai ông đã hoàn
Trang 16thành sự nghiệp của Lessing, là những đại biểu ưu tú nhất của dân tộc Đức và của nềnvăn hóa nhân loại.
Schiller (1759 - 1805) là nhà thơ, nhà soạn kịch lỗi lạc không chỉ với nước Đức
mà còn với văn học thế giới Ông đã kiên quyết vạch mặt chế độ chuyên chế phongkiến, những đặc quyền đẳng cấp Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Schiller đã tấn côngvào những quan niệm lạc hậu của chế độ phong kiến, đóng vai trò tiến bộ trong sựnghiệp văn hóa nhân đạo chủ nghĩa Đức và góp phần thúc đẩy tinh thần chống phongkiến trong các tầng lớp tiên tiến của giới tri thức Đức Cũng như những nhà khai sáng
tư sản khác, Schiller tin tưởng sâu sắc rằng có thể hủy bỏ chế độ phong kiến nông nổbằng sức mạnh của lý trí và giáo dục Trong mỹ học của ông những quan điểm siêuhình trà trộn với những yếu tố biện chứng duy tâm
Johann Wolfgang von Goethe (1749 -1832) được biết đến là một tên tuổi lỗi lạccủa lịch sử triết học và lịch sử văn hóa Đức Ông là lãnh tụ của thi ca Đức và là nhàbách khoa xuất chúng Goethe đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ như kêu gọi mọi ngườinên sống một cách tự nhiên, giản dị và nên từ bỏ những tập quán phong kiến lỗi thời.Những quan điểm về mỹ học của ông thể hiện sự cố gắng của mình để xây dựng chủnghĩa hiện thực trong nghệ thuật Goethe cũng nêu lên nhiều dự đoán có tính biệnchứng trong lĩnh vực mỹ học
Ngoài ra những tác phẩm của Goethe về mặt khoa học tự nhiên cũng rất đặc sắc.Những nghiên cứu của ông về thực vật học chứa đựng những dự đoán xuất sắc đối với
sự phát triển của giới thực vật Trong khoa học giải phấu so sánh, ông đã có một phátminh xuất sắc Goethe khám phá ra xương giữa hai xương hàm của người cái đó chứngminh sự liên hệ giữa người với động vật Goethe chống lại những nhà kinh viện vàđưa ra đề xuất phải nghiên cứu hiện thực bằng cách xuất phát từ những quy luật sẵn cócủa nó Điều này chứng tỏ ông đã đứng trên lập trường duy vật
Bên cạnh những thành tựu về văn hóa, Tây Âu thời kì này còn đạt nhiều thànhtựu về khoa học tự nhiên Việc phát minh ra điện, bản chất về sự sống sau sự sụp đổ củahọc thuyết Phlogiston khoa học tự nhiên mặc dù vẫn chưa bác bỏ được những “vật chất
Trang 17không có trọng lượng” khác như là nhiệt, ánh sáng, tiếng động nhưng đã bắt đầu tiến tớichỗ khám phá ra được rằng: nhiệt, ánh sáng, điện nói chung là tính muôn vẻ về chất của
tự nhiên, đều là những hình thức độc đáo của sự vận động của vật chất
Quan niệm về sự phát triển ngày càng thâm nhập vào khoa học tự nhiên Năm
1755, I Kant đã nêu ra giả thuyết nổi tiếng về sự phát sinh ra vũ trụ Ăngghen cho rằng,theo giả thuyết đó thì trái đất và hệ thống mặt trời được coi như đã xuất hiện trong thờigian, phát minh của Kant đã khởi điểm cho sự tiến bộ sau này Nếu trái đất đã là kết quảcủa một quá trình phát triển, thì trạng thái địa chất, địa lý và khí hậu ngày nay của nó,giới thực vật và động vật của nó cũng phải như thế và trái đất phải có lịch sử không chỉtrong không gian dưới hình thức cái này xếp cạnh cái kia - mà còn cả trong thời gian -dưới hình thức cái này sau cái khác
1.1.4 Tiền đề lý luận, tư tưởng
Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 có ảnh hưởng lớn đến nước Đức, những ngườiĐức tiên tiến đã rất phấn khởi chào đón Sinh viên đại học Tubingơ (trong số này có cảHegel) đã trồng cây Tự do Schiller đã dịch bài Mácxâye ra tiếng Đức Đến khi cáchmạng tư sản Pháp đưa Lui XVI lên đoạn đầu đài, dựng lên chính quyền của nhữngngười Giacôbanh, thì những người tư sản Đức lúc đầu là những người bạn đầy nhiệttình của cách mạng, bây giờ lại trở thành kẻ thù tàn nhẫn của nó Một bộ phận quantrọng của giai cấp tư sản Đức cùng với giai cấp quý tộc rất tức giận về những sự “khủngkhiếp” của cách mạng, nghĩa là sự chuyên chính của Giacôbanh, mặc dù họ vẫn thathiết đến những cải cách ở trong nước họ
Giai cấp tư sản Đức không thống nhất do nước Đức bị chia rẽ ra làm nhiềumảnh, bản thân giai cấp tư sản là một giai cấp yếu hèn và nhút nhát Nó muốn nướcĐức cũng áp dụng những cải cách tư sản đã được thực hiện ở bên bờ sông Ranh nhưnglại sẵn sàng thỏa mãn ngay với những cải cách nửa vời mà những đại gia sáng suốt nhấtcủa tầng lớp quý tộc đã bắt đầu thi hành trong nước Đức
Những nhà lý luận của giai cấp tư sản Đức vẫn đặt hy vọng của họ vào sự tiếntriển tự phát của các biến cố và sáng kiến của “những tầng lớp trên” trong xã hội Điều
Trang 18đó đẩy tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thống nhất nước Đức một cáchkhách quan Nhưng lý luận Đức của cách mạng Pháp lại khác quan điểm của những nhàkhai sáng Pháp bởi vì: Những triết gia Đức khi phản ánh quá trình phát triển của cáchmạng Pháp trong quan điểm của họ, lại coi rằng những kết quả chính trị thực tiễn vàluật pháp mà cuộc cách mạng 1789 - 1794 đã giành được, về căn bản không thực hiệnđược ở Đức Ví dụ như trong triết học Kant thì nền cộng hòa chỉ là một định đề của lítính thực tiễn, chỉ là một nghĩa vụ mà những người có thiện chí phải noi theo, nhưngtrên thực tế thì nền cộng hòa lại là lý tưởng không thể đạt được Cách giải thích cuộccách mạng tư sản Pháp như vậy đã phản ánh một sự yếu ớt thực sự về kinh tế và chínhtrị của nước Đức, đã phản ánh sự phát triển độc đáo của giai cấp đó.
Không chỉ những quan điểm chính trị xã hội mà cả những quan điểm triết họccủa các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII cũng đã khác về cănbản với những quan điểm xã hội chính trị và về căn bản với những nhà lý luận của giaicấp tư sản cách mạng Pháp Nếu như những quan điểm của những nhà khai sáng Pháphồi thế kỷ XVIII thường dẫn tới sự hủy bỏ chế độ cũ bằng con đường cách mạng thìnhững nhà lý luận tư sản Đức hồi cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX lại đặt lí tưởng của
họ vào chỗ hòa giải giữa chế độ cũ với chế độ mới bằng con đường cải lương
Các nhà khai sáng Pháp và triết học duy tâm Đức về căn bản thừa nhận phải cónhững cải cách xã hội nhưng phương pháp thực hiện của họ lại hoàn toàn khác nhau.Những nhà duy vật Pháp tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không có sự can thiệp một cách có
ý thức vào quá trình lịch sử thì trật tự xã hội mới không thể thắng lợi được Tất cả hivọng của họ đều đặt vào sự cải tổ lại xã hội về mặt chính trị cho phù hợp với những
“yêu cầu của lí trí và của bản chất con người” Còn những nhà tư tưởng khai sáng Đứcthế kỉ XVIII thì lại đặt hi vọng của họ vào sự phát triển “tự nhiên” của đời sống xã hộibằng cách mạng Thái độ phản đối dùng con đường cách mạng để cải cách nước Đứctheo lối tư sản là một trong những đặc điểm chủ yếu của những quan điểm xã hội vàcách mạng thủ cựu của những nhà triết học tư sản Đức
Trang 19Vào thời kì hoạt động cuối cùng của những nhà tư tưởng Đức (Schelling, Hegel)khi mà họ trở thành kẻ thù của lí tưởng cách mạng Pháp thì trong những quan điểm xãhội chính trị phản động của họ, đã bộc lộ rõ rệt rằng: những nhà tư tưởng bảo thủ củagiai cấp tư sản hèn nhát Đức đã phục tùng lợi ích và tâm trạng của bọn địa chủ quý tộcphản động Do giai cấp tư sản Đức yếu hèn, không đủ năng lực nắm chính quyền, nênnhững nhà lý luận của giai cấp này không những nhà duy vật Pháp mà là những nhàduy tâm sáng tạo ra hệ thống triết học rất trừu tượng, thuần túy, tách khỏi đời sống hiệnthực, phủ nhận con đường cách mạng cải tạo hiện thực địa vị hèn kém về kinh tế vàchính trị của giai cấp tư sản, sự sợ hãi của họ trước những cuộc đấu tranh cách mạngkiên quyết chống chế độ phong kiến tất cả những biểu hiện trên được phản ánh trong
hệ thống triết học duy tâm của Kant, Fichte, Schelling, Hegel
Vậy đâu là tiền đề lý luận của tư tưởng Triết học Đức nửa cuối thế kỉ XVIII đầuthế kỉ XIX Một lần nữa có thể nhận thấy dấu ấn của triết học Khai sáng và chủ nghĩaduy vật Pháp thế kỷ XVIII, những gợi mở khoa học ngay trong phương pháp tư duysiêu hình thế kỷ XVII - XVIII ở Anh, Pháp, Đức Nói như thế có mâu thuẫn không?Hoàn toàn không Phương pháp tư duy của Siêu hình học thời trước có ý nghĩa cáchmạng to lớn trong cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện, mở rộng hơn nữa conđường hướng tới chân lý, khẳng định quyền lực của con người Nếu không có phươngpháp tư duy siêu hình như điều kiện cho sự hình thành phương pháp mới, thay thế nó,thì cũng không thể nói đến quy luật kế thừa, phát triển tri thức, cũng như những bài học
do quá khứ để lại cho các thế hệ nhân loại Sự kết thúc phương pháp tư duy siêu hìnhcũng là sự bắt đầu của phương pháp biện chứng Triết học cổ điển Đức thực hiện sựtổng kết lịch sử về triết học thời trước, và, trên nền chung của những chuyển biến tấtyếu trong đời sống xã hội và lĩnh vực nhận thức, nó đưa ra phương pháp tư duy mớiphù hợp hơn Tương tự như vậy đối với chủ nghĩa duy vật, mà Feuerbach là hiện tượngđiển hình Chủ nghĩa duy tâm Đức thì kế thừa, cải biến, phát triển những tư tưởng nềntảng của chủ nghĩa duy tâm thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII, mà Hume, Leibniz vàWolff xứng đáng được gọi là những bậc tiền bối trực tiếp Nếu ở các nhà duy tâm Đức
Trang 20có đủ hai biểu hiện phổ biến của nó là duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan, thìchủ nghĩa duy vật Feuerbach lại kết hợp với thuyết nhân bản, lấy con người làm điểmxuất phát và nền tảng, nhằm khắc phục phần nào tính chất phiến diện trong lý luận vềcon người của thế kỷ trước Hegel đưa chủ nghĩa duy tâm lên trình độ chủ nghĩa duytâm tuyệt đối, còn Feuerbach lại lấy tự nhiên và con người - sản phẩm hoàn thiện nhấtcủa nó - làm đối tượng chủ yếu, loại bỏ Thượng đế ra khỏi sự quan tâm triết học.
Có thể nói, tư tưởng Triết học Đức nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là sự kếtục và phát triển tất yếu của những trào lưu tư tưởng triết học tiên tiến của thế kỉ XVII -XVIII Những nhà tiền bối về mặt lịch sử của triết học Đức là những nhà tư tưởng lỗilạc như nhà triết học toán học Pháp, Decartes, nhà duy vật Hà Lan Spinoza, nhà triếthọc và khoa học Đức Leibniz, những nhà khai sáng Đức cuối thế kỉ XVIII như Fichte,Schelling, Goethe
1.2 Khái quát chung về tác giả, tác phẩm
1.2.1 Khái quát chung về tác giả
Tất cả những yếu tố khách quan nêu trên đều tác động đến mọi người như nhau,nhưng tại sao chỉ có I Kant mới hình thành tư tưởng về chủ thể nhận thức theo mộtcách riêng của ông Chúng ta cần phải xét đến nhân tố chủ quan ở đây, đó chính là: trítuệ uyên bác của I Kant và cuộc đời bình lặng nhưng ẩn chứa nhiều khác biệt của ông
Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 trong một gia đình trung lưu gốcScottland tại Königsberg - một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc nước Phổ (nay làKaleningrad thuộc Nga), là con trưởng của gia đình 11 người con Thành phố bến cảngKönigsberg thời kỳ này khá phát triển về thương mại, buôn bán, thông thương cho nênKant có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới Thành phố hẻo lánh nàykhông chỉ là kinh đô của Đông Phổ mà còn là trung tâm của trí thức và khu vực nóitiếng Đức (lớn hơn cả Béclin) Một thành phố như vậy, có thể được xem là một nơithuận tiện để mở rộng kiến thức về con người cũng như về thế giới mà không cần phảiviễn du Điều này lý giải vì sao I Kant suốt đời không rời khỏi thành phố quê hươngnhưng ông lại có hiểu biết sâu sắc về thế giới và con người
Trang 21Immanuel Kant chịu ảnh hưởng lớn từ người mẹ giàu tình cảm Mẹ của ông đãảnh hưởng sâu đậm trên sự phát triển thời niên thiếu của ông, Mẹ của Kant là mộtngười Thanh giáo Đức, những người theo giáo phái này có sự nghiêm ngặt, kỷ luật chặtchẽ trong đức tin và sự hành đạo I Kant có tuổi thơ đắm chìm trong tôn giáo từ sángđến tối, bởi thế suốt cuộc đời ông giữ đến cùng ấn tượng u buồn của người Thanh giáoĐức; mặt khác ánh sáng của thời đại đã mách bảo ông cần rũ bỏ những điều cuồng tín
mê muội của tôn giáo Có lẽ vì vậy trong I Kant có sự mâu thuẫn, ông suốt đời đã ghitạc đức tin do mẹ truyền dạy nhưng lại tránh xa giáo đường suốt cuộc đời trai trẻ củamình Sau này trong học thuyết của ông cũng chứa đựng nhiều yếu tố rất đặc biệt, thậmchí là mâu thuẫn Ông khẳng định lý tính thuần túy không thể chứng minh được chúatồn tại hay không tồn tại, nên chúa không thể can dự vào những kết luận khoa học.Song I Kant lại đưa thượng đế vào các quan hệ đạo đức, thượng đế trở thành một tiên
đề đạo đức, khẳng định chính đức tin chứ không phải trí tuệ mới chứng minh được chúatồn tại hay không Có thể nói tính cách và cuộc đời đặc biệt của ông đã tạo nên nhữngnét đặc thù độc đáo trong triết học của ông nói chung và quan niệm về chủ thể nhậnthức của ông nói riêng Ban đầu bố mẹ muốn ông trở thành mục sư nên đã gửi I Kantvào trường trung học Latinh Song như một định mệnh, lòng say mê khoa học tự nhiên
và triết học đã làm cho I Kant quyết định chuyển hướng sang các môn học
Sau khi tốt nghiệp trung học vào mùa thu năm 1740, I Kant vào khoa triết họctrường Đại học Tổng hợp Königsberg Tại đây, Kant có cơ hội được làm quen với cơhọc, thiên văn học, toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như Newton,Descartes, Leibniz, Wolf và tư tưởng chính trị xã hội của các nhà khai sáng Pháp nhưVoltaire, Montesquieu, Rousseau Năm 1745, I Kant tốt nghiệp đại học vào loại xuất
sắc với luận văn “Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn của lực sống” Trong luận
văn này, lần đầu tiên tinh thần phê bình của Kant được bộc lộ vì nhiệm vụ của ông đặt
ra trong luận văn là phản bác lại hai nhà tư tưởng nổi tiếng lúc bấy giờ là Leibniz vàDescartes Với tư tưởng tự do, không bị phụ thuộc vào quyền uy, xem lý trí của mình lànăng lực phán đoán chắc chắn nhất, Kant đã trình bày nguyên tắc sống của mình: Đối
Trang 22với chúng ta, điều đáng quý nhất không phải là đi theo lối mòn đã có, mà phải biết đitheo con đường mà loài người cần đi[31,24] Quả thực cả cuộc đời ông đã hành độngtheo nguyên tắc đó Sau khi tốt nghiệp đại học, I Kant đã làm gia sư trong các gia đìnhquý tộc gần 10 năm Đây cũng là thời gian quý báu để Kant tích lũy tri thức cho sựnghiệp khoa học sau này Năm 1755, sau 10 năm chuẩn bị, I Kant bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ với đề tài “Cách nhìn mới về các nguyên tắc của tri thức siêu hình ”,
nhờ đó ông nhận được danh hiệu phó giáo sư của trường đại học tổng hợp Königsberg.Trong 10 năm, hai lần ông xin làm giáo sư thực thụ đều bị từ chối Vị phó giáo sư vẫnphải kiếm sống bằng cách làm phụ việc cho thư viện Hoàng gia Königsberg trong vòng
15 năm với số lương ít ỏi Mãi tới năm 1770 khi đã 46 tuổi I Kant mới được bổ nhiệmlàm giáo sư lôgic siêu hình học của trường Đại học Tổng hợp Königsberg Ở đây tronggần 30 năm, với lòng hăng say, đức tính cần mẫn và tư chất thông minh của mình, ông
đã giảng dạy nhiều môn khoa học khác nhau và viết nhiều tác phẩm triết học cơ bản.Ông luôn cố gắng tìm hiểu những điểm yếu của đối thủ để có thể phản bác lại trong quátrình tranh luận, đồng thời phát triển các quan điểm riêng của mình Trong giảng dạy,ông cũng hướng dẫn sinh viên theo lối tư duy tự do, chính vì vậy, các bài giảng của ôngthường rất hấp dẫn đối với sinh viên, gợi mở cho họ nhiều ý tưởng mới Thời bấy giờ,các giảng viên tại các trường đại học vẫn thường lấy các kiến thức trong sách giáo khoa
để giảng cho sinh viên Còn Kant chỉ coi sách giáo khoa như là sự gợi mở Trong cácbài giảng của mình, Kant tìm cách khơi gợi để sinh viên thấy rõ được tư tưởng của ôngqua những khái niệm ấy và tự rút ra kết luận
Năm 1789, ở Pháp diễn ra cuộc cách mạng dân chủ tư sản Là người chịu ảnhhưởng sâu sắc từ tư tưởng khai sáng Pháp, I Kant tỏ ý đồng tình với cuộc cách mạngnày Để tránh đụng chạm đến chính quyền nhà nước Phổ, trong các bài viết I Kant giữthái độ ôn hòa, song sự bất đồng là không thể tránh khỏi Trong sự nghiệp khoa học, I.Kant là người gặt hái được nhiều thành công: năm 1786 ông được bầu làm viện sỹ ViệnHàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Béclin; năm 1794 ông trở thành viện sỹ danh dựViện Hàn lâm khoa học Sanh Pêtécbua; năm 1798 hai Viện Hàn lâm Italia và Pari đều
Trang 23bầu ông làm viện sỹ của viện mình Sự nghiệp vẻ vang như vậy nhưng trong đời sốnghàng ngày ông là người bình dị, trầm lặng, có lối sống ngăn nắp, điều độ, suốt đờikhông ra khỏi thành phố quê hương Đặc biệt với nữ giới ông hết sức e dè, không dámquyết đoán vì thế để lỡ nhiều cơ hội lập gia đình để cuối cùng phải sống độc thân Ôngqua đời trong tư thế đang làm việc ở tuổi 80, vào ngày 12/2/1804 Cuộc đời ấy tự lập,nhiều vinh quang đến muộn và sống một mình đã ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm
của ông về chủ thể nhận thức.
Sự nghiệp của I.Kant
Immanuel Kant là người sáng lập triết học cổ điển Đức Cùng với Lessing, ôngcũng đồng thời là người xác lập phương pháp tư duy mới trong văn hóa châu Âu Cácnhà nghiên cứu phân biệt hai thời kỳ trong hành trình tư tưởng của Kant thành thời kỳ
“tiền phê phán” và thời kỳ “phê phán” Tên gọi hai thời kỳ này xuất hiện khi Kant thựchiện cuộc cải tổ triết học của mình vào những năm 70 của thế kỷ XVIII Cuộc cải tổnày được tiến hành với mục đích xem xét khả năng tri thức của con người, chống lạichủ nghĩa giáo điều lẫn chủ nghĩa hoài nghi vô căn cứ, mở rộng có tập trung các vấn đềtriết học trên cơ sở phát huy ưu thế của “lý trí thực tiễn” Do vậy, thời kỳ trước cải tổtriết học được gọi là “trước phê phán”, “tiền phê phán” bắt đầu từ năm 1746 đến năm
1769 Thời kỳ phê phán bắt đầu từ những năm 70 đến khi Kant mất
Thời kỳ tiền phê phán
Trong thời kỳ tiền phê phán, I Kant chú ý nhiều đến những vấn đề thuộc khoa
học tự nhiên Tác phẩm “Ý tưởng về việc đánh giá đúng các hoạt lực ” năm 1747 được
coi là mốc đánh dấu thời kỳ này Những công trình nghiên cứu tự nhiên, vũ trụ đóng vaitrò quan trọng trong việc hình thành phép biện chứng Từ các chất liệu tư tưởng củakhoa học tự nhiên thực nghiệm, Kant nhận thức nhu cầu tất yếu giải phóng triết họckhỏi lớp vỏ tư biện và chủ nghĩa giáo điều
Trong thời kỳ này, thế giới quan của ông được thấm nhuần ở một mức độ đáng
kể những yếu tố của chủ nghĩa duy vật tự phát và biện chứng I Kant chịu ảnh hưởngcủa các quan điểm duy tâm thần bí của triết học Leibniz, Wolf và quan niệm duy vật
Trang 24siêu hình của Newton, Descartes Sau này ông đi đến xây dựng thế giới quan độc lậpcủa mình Vì vậy, bên cạnh nhiều quan niệm duy tâm thần bí về cơ bản Kant thể hiệnnhư một nhà duy vật khoa học tự nhiên.
Về phương diện thế giới quan, triết học I Kant thời kỳ tiền phê phán được xây
dựng trên luận điểm nổi tiếng: Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó,nghĩa là hãy cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho bạn thấy thế giới được sinh ra như thế nào I.Kant nhận thấy rằng cần phải giải phóng triết học khỏi cái vỏ học thuật tư biện và chủnghĩa giáo điều Những luận điểm triết học cần phải được chứng minh bằng các tri thức
khoa học tự nhiên Chính vì vậy trong tác phẩm đầu tay “Ý tưởng về việc đánh giá đúng các hoạt lực ”, I Kant đã dựa trên quan điểm vật lý học để giải quyết cuộc tranh
luận giữa phái Descartes và phái Leibniz về vấn đề nguồn gốc và thước đo của sự vậnđộng
Descartes khi giải thích về nguồn gốc của vận động đã đồng nhất vật chất vớiquảng tính Ông không coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, mà coi vận độngchỉ là biểu hiện cụ thể, bên ngoài của các sự vật Cách giải thích của ông đã rơi vàoquan điểm siêu hình về nguồn gốc của vận động Leibniz thì cho rằng, mỗi sự vật đều
có một lực bản chất tiềm ẩn bên trong bản thân nó Lực đó ở bên ngoài quảng tính,thậm chí có trước quảng tính Leibniz gọi đó là “hoạt lực” Hoạt lực này rất đa dạngtrong tính cá thể, nhưng lại thuần nhất trong tính bản chất Chúng sinh ra năng lượnglàm nguồn gốc của vận động Theo dõi cuộc tranh luận đó, Kant đứng về phía Leibniz,nhưng loại bỏ lớp vỏ duy tâm huyền bí, thay các khái niệm “lực bản chất”, “hoạt lực”của Leibniz bằng các khái niệm cụ thể và dễ hiểu hơn như “lực tích cực”, “sự tự vậnđộng” Kant viết: “Vật thể có lực của mình không phải do nguyên nhân bên ngoài làmcho nó vận động Vật thể vận động được là nhờ có một lực, nhưng lực đó không phải
do nguyên nhân bên ngoài, sau sự kích thích bên ngoài; lực đó xuất hiện từ bản chất củavật thể” [15, 80] Tuy không nhìn thấy sự khác nhau giữa quan điểm của Descartes(thước đo số lượng vận động) và của Leibniz (thước đo động năng), song nét mới màKant có được ở đây là đề xuất cách nhìn khác, theo đó triết học cần phải dựa vào tri
Trang 25thức vật lý và bản chất vốn có của thế giới, chứ không phải dựa vào sự trừu tượng hóatoán học.
Năm 1754, I Kant bắt đầu quan tâm đến vấn đề vũ trụ luận Câu hỏi đầu tiênông đặt ra là: Trái đất của chúng ta đang ở tuổi thiếu niên hay đã già? Phải chăng trái
đất đang dần bị diệt vong bởi vì tuổi già của nó Tiếp đó trong tác phẩm “Sự ma sát của thủy triều” ông đã giải thích mối quan hệ giữa hiện tượng thủy triều và chu kỳ của mặt
trăng
Năm 1755, I Kant viết tác phẩm “Lý giải mới những nguyên lý đầu tiên của nhận thức siêu hình” Những nguyên lý đó làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho
sự ra đời của tác phẩm “Lịch sử tự nhiên và lý thuyết bầu trời ” Tác phẩm này được
Ăngghen đánh giá là tác phẩm thiên tài vì trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ranhư là một cái gì đã hình thành trong thời gian
Quan điểm phát triển, dù còn chịu sự chi phối của siêu hình học cũ, đã được
Kant trình bày khá rõ ràng Thứ nhất, theo Kant, vũ trụ hình thành theo những nguyên
nhân tự nhiên và trải qua quá trình lâu dài Các chu kỳ phát triển trong tự nhiên đượcKant ví như hình ảnh chim đại bàng “tự đốt cháy mình, để một lần nữa xuất hiện tươi
trẻ từ đống tro tàn” [15, 218] Thứ hai, mỗi vật thể vũ trụ không chỉ có nguồn gốc tự
nhiên, mà còn có sự kết thúc tự nhiên, nghĩa là chuyển hóa từ trạng thái này sang trạngthái khác Kant đã biến Thái dương hệ vĩnh viễn và bất biến của Newton, với “cú híchcủa Chúa” thành một quá trình lịch sử, đó là quá trình xuất hiện mặt trời và tất cả cáchành tinh từ khối tinh vân đang xoay chuyển Ở Kant, nguyên lý phát triển trong hìnhthức chưa hoàn thiện của nó đã được thể hiện, điều mà trước đó chưa đặt ra trong học
thuyết của Descartes và Newton Thứ ba, trong tác phẩm quan trọng nhất ở thời kỳ tiền
phê phán này Kant đã phác thảo một số nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổbiến Theo ông, vũ trụ là một hệ thống lớn, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ; các hệ thốngnhỏ này lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn Mỗi hệ thống là một thang bậc trong sựphân cấp, giữa chúng có sự tương tác qua lại, tạo nên sự cân bằng ổn định chung củatoàn hệ thống Nếu có sự xê dịch của một yếu tố nào đó, sẽ dẫn đến tình trạng mất cân
Trang 26bằng của hệ thống, và kéo theo sự hủy diệt toàn bộ vũ trụ Tư tưởng của Kant về mốiliên hệ và sự phát triển trong tự nhiên đã đẩy phương pháp tư duy siêu hình đến sự cáochung Ph.Ăngghen viết :“Học thuyết của Cantơ (Kant) cho rằng tất cả các thiên thểhiện tại đều sinh ra từ những khối tinh vân đang xoay tròn, là một thành tựu lớn nhấtcủa khoa thiên văn từ thời Côpécních đến nay Lần đầu tiên, cái quan niệm cho rằnggiới tự nhiên không có lịch sử trong thời gian, đã bị lung lay Chính Kant là người đầutiên đã phá vỡ cái quan niệm hoàn toàn thích hợp với phương pháp tư duy siêu hình đó,
và ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học đến mức là hiện nay phần lớn những lý lẽcủa ông đã dùng để chứng minh vẫn còn có giá trị” [18, 85 - 86]
Đóng góp đáng kể của I Kant trong việc phát triển các tư tưởng biện chứng cầnphải kể đến công trình “Về kinh nghiệm đưa khái niệm số âm vào triết học” (1763),trong đó ông rút ra kết luận rằng sự có mặt của các lực đối lập là quy luật phổ biến của
tự nhiên
Kant kêu gọi việc nghiên cứu hiện thực khách quan Trong tác phẩm
“Những ước mơ của anh chàng ảo tưởng được soi sáng bằng những ước mơ của khoa siêu hình” (1766), ông chế giễu sự “tiếp xúc với các thần linh” Ông còn công kích kịch liệt những kẻ muốn “lượn trên cánh bướm của siêu hình” và “tiêu khiển bằng những ảo tưởng thần linh” Kant cho rằng, bản thân căn nguyên của đời sống nghĩa là
bản tính tinh thần, không bao giờ có thể là đối tượng của tư duy thực nghiệm của chúng
Trang 27giá chung về lịch sử phát triển của thị hiếu thẩm mỹ, trong đó ông đánh giá cao thị hiếucủa người Hy Lạp và La Mã cổ đại, cũng như những nhà khai sáng Anh, ông chưa phânbiệt giữa cảm xúc đạo đức và cảm xúc thẩm mỹ.
Bên cạnh những phát hiện mới mẻ của Kant đã được trình bày ở trên, ở thời kỳtiền phê phán, Kant cũng gặp một số bế tắc trong việc tìm kiếm quan niệm mới về triếthọc Mặc dù, ông nhận thấy những hạn chế của các phương pháp cơ học trong việcnghiên cứu các quá trình sinh học do sinh học nói riêng và khoa học nói chung thời kỳnày chưa phát triển, song Kant lại đi đến tư tưởng phủ nhận khả năng nhận thức conngười về bản chất của sự sống Ông nghi ngờ khả năng nhận thức thế giới của conngười, đi đến thuyết bất khả tri
Hoàn toàn đúng đắn khi khẳng định học thuyết của I Kant về mâu thuẫn đã đặt
cơ sở cho các hệ thống biện chứng của Fichte, Hegel và do vậy có thể nói I Kant làngười sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức Từ năm 1770 trở đi, do chịu ảnh hưởng củanhiều biến động xã hội và chịu tác động của những tư tưởng triết học mới của các nhàtriết học Anh: Locke, Hium, Berkeley, và các quan điểm chính trị xã hội của các nhàKhai sáng Pháp: Voltaire, Montesquieu, Rousseau, I Kant đã chuyển biến lập trường tưtưởng I Kant phát triển các tư tưởng biện chứng của ông chủ yếu khi nghiên cứu cácvấn đề của lôgic học và của lý luận nhận thức
Có thể nói, trong thời kỳ tiền phê phán, I.Kant viết nhiều công trình về triết họckhoa học tự nhiên Đó là:
- Những suy nghĩ về giá trị chân chính của cuộc sống (1746)
- Về vấn đề trái đất có già đi không, theo quy luật vật lý học? (1754)
- Lý giải mới về các nguyên tắc của nhận thức luận siêụ hình học (1755)
- Sự ứng dụng siêu hình học có liên quan tới hình học trong triết học tự nhiên(1756)
- Góp phần làm rõ lý thuyết về gió (1756)
- Triết lý hão trong bốn hình tượng của tam đoạn luận (1762)
Trang 28- Cơ sở có khả năng duy nhất đối với việc chứng minh sự tồn tại của Thượng
Đế (1763)
- Thử đưa vào triết học khái niệm đại lượng phủ định (1763)
- Quan sát cái đẹp và cái cao cả bằng cảm giác (1764)
- Nghiên cứu các mức độ chuẩn xác của thần học và đạo đức học (1764)
- Cơ sở đầu tiên của sự khác nhau trong các mặt không gian (1768)
- Tác phẩm “Về hình thức và các nguyên tắc của sự cảm thụ cảm tính và thếgiới tiên nghiệm” (1770) đánh dấu bước chuyển của Kant từ thời kỳ tiền phê phán sangthời kỳ phê phán
Thời kỳ phê phán
Thời kỳ phê phán trong triết học Kant bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷXVIII Do ảnh hưởng của các biến động xã hội ở Pháp trước cách mạng tư sản(1789 -1794), do ảnh hưởng của các quan niệm của Leibniz, Woft và đặc biệt là của Hium,Kant đã có sự thay đổi trong nhận thức luận và thế giới quan của mình Chính vì vậy,Kant đề ra nhiệm vụ nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học trước đây trên tinh thầnphê phán Kant nhận thấy, phong cách tư duy thế kỷ XVII - XVIII không còn phù hợpvới việc giải quyết các vấn đề triết học, nên ông mong muốn thực hiện sự đổi mới trong
đó chú trọng đến chủ thể tư duy và chủ thể hoạt động Kant nhận định, để triết học (siêuhình học) hoàn thành tốt thiên chức của mình, cần phải từ bỏ tính minh họa, mô tả, giáohuấn, chuyển sang tinh thần phê phán, bắt đầu từ phê phán tri thức lý luận (“thuầntúy”) Do đó mà xuất hiện lần lượt ba tác phẩm “phê phán”: Phê phán lý trí thuần túy,nghiên cứu có phê phán vấn đề nhận thức lý luận; Phê phán lý trí thực tiễn, tìm hiểuhoạt động thực tiễn của con người, các chuẩn mực, các giá trị, các thiết chế xã hội docon người định ra cho mình trong hoạt động đó( hoạt động thực tiễn tự nó đã là hoạtđộng có lý trí); Phê phán năng lực phán đoán, bàn về tư tưởng thẩm mỹ và tính hợp lýcủa thế giới Việc đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách có phê phán bản chất và khả năngcủa nhận thức, những điều kiện và cơ cấu của trí tuệ đã cho phép Kant thực hiện bướcngoặt Copernic trong triết học
Trang 29Kant chuyển từ triết học miêu tả, minh họa thế giới sang triết học phê phán vớimục đích lấy con người và những băn khoăn trong đời sống của nó làm đối tượngnghiên cứu chủ yếu Ông từng băn khoăn đi tìm nguồn gốc của con người, nêu lên giả
thuyết rằng có thể con người có nguồn gốc động vật (Nhân chủng học năm 1798).
Theo I Kant, triết học cần phải khẳng định lại vị thế của con người trong thếgiới Muốn vậy, triết học phải trả lời được ba câu hỏi sau: Tôi có thế biết được cái gì?,Tôi phải làm gì?, Tôi có thế hy vọng vào cái gì? Đây là ba vấn đề trăn trở của thời đại,phản ánh ba khía cạnh cơ bản trong mối quan hệ giữa con người và thế giới Vấn đề thứnhất thuần túy lý luận, nó được giải đáp trong “Phê phán lý tính thuần túy”(1781) Vấn
đề thứ hai thuần túy thực tiễn, chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong “Phê phán lýtính thực hành”(1788) Vấn đề thứ ba bao hàm cả khía cạnh lý luận và thực tiễn, đó làmục đích của tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”(1790) Theo I Kant, việc lýgiải đúng đắn ba vấn đề nêu trên sẽ tạo tiền đề cho chúng ta đi đến trả lời câu hỏi: “Conngười là gì?” Với bộ ba tác phẩm phê phán trứ danh và từ năm ấy đến thời đại chúng
ta, nền “triết học phê phán” đã thống trị Âu châu duy lý Bộ ba tác phẩm phê phán đượccoi là những tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp của I.Kant Từ khi ra đời, nónhư một mạch ngầm nuôi dưỡng triết học tây Âu
Tính chất duy tâm trong triết học của Kant không nhất quán, đầy mâu thuẫn.Lênin nhận xét: ”Đặc trưng chủ yếu của triết học Cantơ là ở chỗ nó dung hoà chủ nghĩaduy ý chí với chủ nghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiêp giữa hai chủ nghĩa đó kết hợphai khuynh hướng triết học khác nhau và đối lâp trong một hệ thống triết học duy nhất.Khi Cantơ thừa nhận rằng một cái gì đó ở ngoài chúng ta thì Cantơ là người duy vật.Khi ông tuyên bố rằng cái vật tự nó ấy không thể nhận thức được là siêu nghiệm, là ởthế giới bên kia thì ông ta là người duy tâm” [27, 238-239]
Đánh giá về những đóng góp của Kant, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin đềuđánh giá cao những công trình của Kant về khoa học tự nhiên, về những vấn đề phépbiện chứng, nhưng đã bác bỏ thuyết bất khả tri và nghiêm khắc phê phán những quan
Trang 30niệm duy tâm của Kant về không gian và thời gian, về các phạm trù bởi vì, Kant coiphạm trù chỉ là hình thức tiên thiên của lý tính con người.
1.2.2 Khái quát chung về tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán
Phê phán năng lực phán đoán là một trong bộ ba tác phẩm phê phán của Kant
thời kỳ phê phán: Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực tiễn và Phê phán khả năng phán đoán Tác phẩm đầu tiên chính là cơ sở nhận thức luận của Kant đi tới 4
phân tích của Kant trong “Phê phán năng lực phán đoán” Tác phẩm thứ hai là cơ sởmối quan hệ giữa đạo đức và mỹ học của Kant Mỹ học Kant nghiên cứu khái niệmkhông khái niệm tiếp nối tri thức của phê phán 1 và ý chí của phê phán 2, trình bày chủyếu về tình cảm chủ quan Cuốn “Phê phán năng lực phán đoán” trong hệ thống phêphán của Kant có nhiệm vụ điều
hòa giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, giữa khái niệm tiên nghiệm tổng hợp và ý chí tự do, giữa tiên nghiệm và hậu nghiệm, nối liền hoàn chỉnh hệ thống thành một chỉnh thể gắn cái chân, cái thiện với cái mỹ, đề cao thực tiễn tinh thần, mở rộng năng lực tìm cái phổ biến cho cái cá biệt.
Mỹ học Kant chịu ảnh hưởng của hai dòng mỹ học: mỹ học duy lý của Baumgarten và mỹ học duy cảm của Burke Cả hai khuynh hướng mỹ học này đã
có những đóng góp đáng kể cho mỹ học khai sáng thế kỷ XVIII Song chúng làm cho mỹ học đương thời có nguy cơ phân cực ngày càng cao Trong bối cảnh lịch sử
đó, Kant cho ra đời tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán" Với những giải
trình của mình về thẩm mỹ, qua tác phẩm Kant đã dung hòa mỹ học duy lý của Baumgarten và mỹ học duy cảm của Bruke Theo tác giả Bùi Văn Nam Sơn - người
có công dịch và chú giải tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán - đây là một tác
phẩm có kết cấu đa tầng, thực hiện hai chức năng: một mặt thực hiện chức năng
hệ thống như là phần kết thúc đóng góp về mặt phương pháp luận cho việc thúc đẩy luân lý và nghiên cứu về khoa học tự nhiên Vì thế, tác phẩm này được đánh giá như một “viên đá đỉnh vòm” để “hoàn tất và giữ vững” tòa nhà triết học [13, 543].
Trang 31Phê phán năng lực phán đoán có ba ấn bản: lần thứ nhất năm 1790 (gọi là
bản A) in vội vã nên có nhiều sai sót, nhất là nhiều lỗi chính tả khiến Kant rất bực mình (“Không có quyển nào trong các quyển Phê phán của Kant được in một cách thảm hại như lần xuất bản thứ nhất này” ) Lần xuất bản thứ ba năm 1799 (bản C) được in cẩn trọng hơn nhiều, nhưng lại “không có dấu hiệu nào cho thấy Kant
có tham gia vào quá trình sửa chữa và in ấn”, do đó, ấn bản lần thứ hai năm 1793 (gọi là bản B) là bản được đích thân Kant sửa chữa, bổ sung và xác định là bản chính thức.
Giới nghiên cứu về Kant đều thường dùng bản B này làm căn cứ để trích dẫn hay phiên dịch, vì thế bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn cũng dựa trên bản B (NXB Felix Meiner, Hamburg 2001) Số trang trên lề trái mỗi trang gồm: số trang của nguyên bản B (vd: B100 = trang 100 trong bản B) và số trang trong ngoặc vuông [ ] là từ Tập hợp tác phẩm Kant của Ân bản Viện Hàn Lâm khoa học Phổ, tập V (gọi tắt là ấn bản Hàn Lâm/Akademie- Ausgabe hay AA) Cả hai cách đánh
số trang đều có giá trị như nhau trong việc trích dẫn tác phẩm này theo thói quen của giới nghiên cứu.
Phê phán năng lực phán đoán là tác phẩm chính thứ ba của Kant Trong tác
phẩm này, ông cố gắng hoàn chỉnh hệ thống triết học của mình từ lý tính thuần túy và lý tính thực tiễn dẫn đến sự chấp nhận tự do như một quan niệm và cuối cùng dẫn đến quy luật luân lý Cảm giác say mê và không say mê là phần tiếp nối giữa khả năng tri thức và khả năng ham muốn Nguyên tắc tiếp nối là tính có mục đích Tính này một mặt hiển hiện trong phán đoán cảm năng về cái đẹp và cái cao quý (phần I) và mặt khác trong phán đoán mục đích, một phán đoán xác định mối quan hệ giữa con người và tự nhiên (phần II) Trong cả hai trường hợp, lực phán đoán không giữ vai trò quyết định như trong lý tính lý thuyết, nơi một khái niệm nhất định nào đó được thâu tóm trong một khái niệm tổng quát, mà là phản chiếu, nghĩa là nơi cái tổng quát được thành lập từ cái đơn chiếc Xác định tính cảm năng là một quá trình chủ quan mà trong đó, một đối tượng được lực phán đoán
Trang 32cho là đẹp hay không đẹp Tiêu chuẩn cho những phán đoán ý vị là chúng được thực hiện mà không bị ảnh hưởng bởi sở thích của người phán đoán, là chúng chủ quan, tức là không được tuỳ thuộc vào một khái niệm, là sự phán đoán đưa một giá trị chung và cuối cùng, sự phán đoán xảy ra một cách tất yếu Như trong lĩnh vực luân lý, Kant tìm những tiêu chuẩn hình thức của một phán đoán (theo những điều kiện khả hữu) và loại việc xác nhận nội dung của cái đẹp.
Đối nghịch với cái đẹp, cái cao thượng không bị ràng buộc vào đối tượng cũng như hình thái của nó Cao thượng là cái được khả năng của tâm tư chứng minh là có thể tư duy, vượt qua mọi thước đo của các giác quan Cả hai, cái đẹp cũng như cái cao thượng đều làm vừa ý, nhưng cái cao thượng không gây cảm giác đam mê, mà là cảm giác ngưỡng mộ và kính trọng Theo Kant, cái cao thượng không thể có trong nghệ thuật: nó bất quá chỉ là sự mô phỏng không đạt của cái cao thượng trong thiên nhiên “Cái đẹp là cái làm hài lòng trong sự phán đoán đơn thuần (như vậy là không qua cảm quan theo một khái niệm của giác tính) Từ đó
ta có thể suy ra một cách tự nhiên rằng, nó phải làm hài lòng không qua tất cả những gì thuộc sở thích Cao thượng là cái làm hài lòng trực tiếp qua sự kháng cự
sở thích của các giác quan.
Tư tưởng mỹ học của I Kant trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” có ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại to lớn Tư tưởng mỹ học của I Kant chứa đựng nội dung nhân bản sâu sắc và chủ nghĩa nhân đạo cao cả Lý luận về hoạt động nghệ thuật là phần đóng góp đáng kể nhất của Kant vào lý luận nghệ thuật chung Có thể nói, mỹ học của Kant đã đặt nền móng cho mỹ học thế kỷ XIX, mỹ học Mác - Lênin và mỹ học phương Tây hiện đại Những vấn đề Kant đặt
ra trong mỹ học duy lý đã được Hêghen hoàn thiện một bước và phát triển trong điều kiện của triết học cổ điển Còn những gì ông đặt ra trong lĩnh vực mỹ học kinh nghiệm đã được nhà tư tưởng Nga Tsecnuispxki đúc kết bằng tuyên bố nổi tiếng: “Cái đẹp chính là cuộc sống”.
Trang 33Với triết học tôn giáo và mỹ học, Kant đã đem đến lời giải đáp cho câu hỏi thứ ba, đó là: tôi có thể hy vọng vào chính con người với sức mạnh lý tính và trí tưởng tượng phong phú của nó.
Là người mở ra con đường mới cho triết học phương Tây cổ điển, Kant không thể giải quyết thành công mọi vấn đề của thời đại mình Hệ thống triết học của ông có những thành công và những mặt tiêu cực Mặc dù còn nhiều mặt hạn chế, nhưng triết học mỹ học của Kant có những ý nghĩa lịch sử nhất định của nó.
Tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán chia làm hai phần rõ rệt: phần mỹ
học và phần mục đích luận nghiên cứu sự hoàn thiện Tác phẩm này không chỉ nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ, cái đẹp, mà còn nghiên cứu rất sâu về cái cao cả số lượng, cái cao cả uy lực Đặc biệt trong tác phẩm này, Kant phân biệt khoa học với nghệ thuật và liên kết chúng trong hàng loạt các tri thức về khảo cổ, về lịch sử, về ngôn ngữ và toàn bộ nền văn hóa Kant đã nghiên cứu sự khác biệt giữa tự nhiên
và nghệ thuật gắn với ý chí tự do, với tài năng, với thiên tài.
Tư tưởng mỹ học của I Kant chứa đựng nội dung nhân bản sâu sắc và chủ nghĩa nhân đạo cao cả Trong đó quan niệm về cái đẹp là phạm trù trung tâm trong hệ thống thẩm mỹ học của Kant, việc hiểu được bản chất của cái đẹp là vấn
đề nền tảng để hiểu về thẩm mỹ học của Kant Kant không nghiên cứu cái đẹp một cách độc lập, tách khỏi chủ thể nhận thức, mà gắn cái đẹp với chủ thể nhận thức cái đẹp là một hình thức điển hình của phán đoán thẩm mỹ trên cơ sở khả năng, năng lực thẩm mỹ của con người Cái đẹp được đưa ra từ sự cảm nhận về “vật tự nó” Cái đẹp chính là sản phẩm của chủ thể sáng tạo, là cầu nối trong quan hệ giữa con người với vật tự nó, là cầu nối giữa nhận thức lý tính và nhận thức cảm giác.
Kết luận chương 1 Triết học Kant ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nước Đức hết sức phức tạp
và đầy mâu thuẫn Lịch sử Châu Âu đã cho thấy rằng, cuối thế kỷ XVIII đầu thế
Trang 34kỷ XIX, ở một loạt các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Italya, Hà Lan, chế đọ phong kiến về cơ bản đã rời bỏ vũ đài chính trị - lịch sử của mình để nhường chỗ cho chế độ tư bản.
Về cơ sở khách quan, chúng ta thấy bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của tây Âu cận đại nói chung và nước Đức nói riêng đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời triết học I Kant Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lúc này đang trở thành xu thế tất yếu, nó đòi hỏi phải giải phóng con người để giải phóng sức sản xuất Trong khi đó nước Đức vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu kìm hãm sự phát triển của giai cấp tư sản Đức Những thành tựu rực rỡ của văn hóa phục hưng của tây Âu và cải cách tôn giáo ở Đức đã phần nào thức tỉnh con người đấu tranh giành tự do và là tiền đề để giải phóng con người trong tôn giáo và tín ngưỡng Tiền đề lý luận, khi nghiên cứu tiền đề lý luận cho quan niệm về cái đẹp trong triết học I Kant, rõ ràng chúng ta thấy I Kant nằm trong xu hướng chung của triết học thế kỷ XVII - XVIII nhưng đã tiến xa hơn những vị tiền bối của mình Tiền đề khoa học, I Kant đã không bỏ qua bước tiến vĩ đại của khoa học vũ trụ thời cận đại Không phải ngẫu nhiên ông đặt tên cuộc cách mạng trong triết học của mình là “cuộc cách mạng Côpécníc”, chắc chắn ông đã thấy được bước chuyển vĩ đại của nhận thức con người từ địa tâm sang nhật tâm mà nhà thiên văn học người Ba Lan là người khởi xướng Một thế giới quan mới được xác lập thay thế cho thế giới quan cơ đốc giáo, nó đưa đến một yêu cầu phải xác định lại mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức thế giới I Kant nhận thấy chính con người mới là chủ thể của quá trình nhận thức chứ không phải chúa trời, chủ thể ấy có những quy luật và đặc điểm riêng, ông đã dùng phương pháp phê bình để làm sáng tỏ điều đó
Những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục mà chế độ tư bản đạt được đã góp phần khẳng định sức mạnh thể chất và tinh thần của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, đồng thời tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển khoa học nói chung, triết học nói riêng Triết học của thời đại mới - thời
Trang 35đại tư bản chủ nghĩa đã dám cởi bỏ cái áo thần học vốn lâu nay che đậy chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa giáo điều với những lý thuyết xa rời thực
tế cuộc sống để khoác lên mình tấm áo mới - tấm áo của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy lý Như một nhu cầu của lịch sử, triết học thâm nhập vào cuộc sống, tìm tòi và khám phá sức mạnh lý tính của con người mà triết học I Kant là một ví dụ điển hình cho khuynh hướng đó.
Về nhân tố chủ quan, những nét đặc biệt trong cuộc đời của I Kant, chính những sự đặc biệt này cùng với với bộ óc thiên tài bẩm sinh của mình, Kant không chỉ kiệt xuất trong lĩnh vực triết học mà ông còn khá uyên bác trong những lĩnh vực khác, ông còn là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học và đặc biệt hơn là ông còn là một nhà phê bình nghệ thuật Toàn bộ triết học của Kant nhằm giải đáp cho câu hỏi lớn “Con người là gì?” Quan niệm về chủ thể nhận thức của I Kant có mục đích là luận chứng cho sự tự do của con người trong khám phá và nhận thức thế giới Vì vậy giữa quan niệm về chủ thể nhận thức và vấn đề con người trong triết học của ông có một mối quan hệ gắn bó hữu cơ, không thể tách rời.
Trang 36Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ VỀ CÁI ĐẸP TRONG TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN”
CỦA I KANT
2.1 Những nội dung cơ bản về cái đẹp trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”
Tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ”,gồm hai phần:
- Phần một: Phê phán năng lực phán đoán tham mỹ gồm hai chương:
Chương một: Phân tích pháp về năng lực phán đoán thẩm mỹ: Quyển I: Phân tích pháp về cái đẹp; Quyển II: Phân tích pháp về cái cao cả.
Chương hai: Biện chứng pháp của năng lực phán đoán thẩm mỹ.
- Phần hai: Phê phán năng lực phán đoán mục đích luận gồm hai chương
Chương một: Phân tích pháp về năng lực phán đoán mục đích luận Chương hai: Biện chứng pháp của năng lực phán đoán mục đích luận.
Kant đã dành phần I của quyển sách Phê phán năng lực phán đoán thẩm mỹ
để bàn về bản chất và giá trị hiệu lực của phán đoán thẩm mỹ Như đã giới thiệu ở chương 1, thời kỳ phê phán Kant chịu nhiều ảnh hưởng của các triết gia Khai sáng Anh và Pháp Các triết gia thời Khai sáng đã tranh luận rất sôi nổi về bản chất của phán đoán thẩm mỹ Thời bấy giờ, có thể chia làm ba lập trường chủ
yếu: duy lý, duy cảm, duy nghiệm Cả ba lập trường này đều có điểm chung là quy
phán đoán thẩm mỹ về cho các hiện tượng khác Kant vừa tiếp thu vừa phê phán
cả ba lập trường ấy để đưa ra các quan điểm riêng của mình Ông cho rằng, cái đẹp có tính quy luật riêng, kinh nghiệm thẩm mỹ cũng quan trọng không kém nhận thức lý thuyết hay thực hành.
Các nhà mỹ học duy lý như Baumgarten, Woft, Leibniz vẫn xem phán đoán
sở thích là một hình thức thấp của nhận thức và đòi hỏi chủ thể phải đứng sau đối tượng, cái đặc thù phải đứng sau cái phổ biến Sở thích cá nhân chỉ giữ vai trò tạm
Trang 37thời và thứ yếu trong việc phán đoán về cái đẹp và về nguyên tắc, phải được thay thế bằng một phán đoán của giác tính có giá trị phổ biến Sở thích chỉ là khả năng đánh giá về vẻ đẹp nhưng không thể tự mình thẩm tra được Thời kỳ này các nhà
mỹ học duy lý vẫn chịu ảnh hưởng của Platon và Aristotle khi coi nguồn gốc của cái đẹp là tỉ lệ chính xác, là trật tự và sự cân đối, hài hòa, tỉ lệ của các bộ phận hợp thành.
Ngược lại, các nhà mỹ học theo thuyết duy cảm như E Burke hay thuyết duy nghiệm như David Hume tuy có thừa nhận một chuẩn mực thực tế về sở thích cho sự đồng thuận, nhưng chỉ xem đó là phán đoán theo thói quen của các nhà phê bình có kinh nghiệm và từ các tác phẩm bậc thầy đã được thời gian thử thách, còn
về cơ bản thì David Hume cho rằng vẻ đẹp không phải là một tính chất ở trong bản thân sự vật; nó chỉ có mặt trong đầu óc của người nhìn ngắm nó và mỗi đầu
óc nhận ra một vẻ đẹp khác nhau Nói cách khác, tuyệt đối không thể tranh cãi về
sở thích, và do đó, không còn có sự khác biệt về chất giữa sự tự do đích thực và tính hơn hẳn của phán đoán thẩm mỹ so với quy ước và sự yêu ghét tùy tiện.
Trước đó trong Phê phán lý tính thuần túy, Kant đã từng tìm cách “dung
hòa” giữa thuyết duy lý và duy nghiệm trong khi bàn về nguồn gốc và bản chất của nhận thức Trong tác phẩm này, Kant vừa khẳng định tính chủ quan của phán đoán thẩm mỹ, vừa cho rằng trong phán đoán thẩm mỹ, những đối tượng vẫn được thẩm định dựa theo một quy tắc, tức một cái phổ biến, nhưng không phải dựa theo các khái niệm khoa học hay các nguyên tắc luân lý.
Năng lực phán đoán thẩm mỹ là chủ quan, nhưng ta không quên rằng nó có tính phản tư, nên cái phổ biến không phải là cái gì có sẵn để được mang lại cho nó.
Vì thế, đối lập lại với mọi nền mỹ học dựa vào tác phẩm, tức biến tác phẩm nghệ thuật thành cái hiện thân cho một chân lý khách quan có thể thưởng ngoạn được một cách cảm tính, Kant không xem sự hài lòng thẩm mỹ là kết quả của tính hoàn hảo của một sự vật, nghĩa là của tính hợp mục đích khách quan và nội tại có sẵn
Trang 38nơi đối tượng Theo Kant, cái đẹp không nằm ở vẻ ngoài hay hình thức của đối tượng, không phải là một thuộc tính khách quan mà là một thuộc tính tương quan, phụ thuộc Đẹp hay không đẹp xuất phát từ phán đoán của chủ thể, nhờ sự hình dung thẩm mỹ về đối tượng ở trong chủ thể.
Xuất phát từ “cái phổ biến chủ quan”, Kant đã đề xuất một lý luận về nghệ thuật phản đối mọi loại mỹ học đề ra các quy tắc cố định và cứng nhắc cho các ngành nghệ thuật từ thơ, kịch cho đến âm nhạc, điêu khắc v.v Theo Kant, các quy tắc đó sẽ gò ép sự sáng tạo thẩm mỹ Theo Kant, khái niệm về “tính phổ biến chủ quan” sẽ vừa đạt đến điểm chung là tính phổ biến, vừa chú ý đến điểm đặc thù là tính chủ quan để phân biệt nghệ thuật với các khoa học khác.
Khi nghiên cứu về cái đẹp, Kant mong muốn giải đáp được câu hỏi khi ta bảo một đối tượng là đẹp thì có nghĩa là gì? Bảo như thế này là đưa ra một phán đoán Phán đoán luôn mang hình thức: X là P, tức gán một thuộc tính (P) cho một đối tượng X bất kỳ Và một phán đoán - trong đó thuộc tính “đẹp” được gán cho một đối tượng - được Kant gọi là phán đoán sở thích, vì chính sở thích làm cho ta phán đoán một đối tượng là đẹp hay xấu Sở thích là quan năng phán đoán về cái đẹp Kant xuất phát từ sự kiện hiển nhiên rằng con người có sở thích và chỉ hỏi:
Ta thực sự làm gì khi ta nói: “X là đẹp”? Nghĩa là, Kant không bàn trực tiếp về những sự vật đẹp mà chỉ phân tích lời nói của ta về những sự vật đẹp, tức bàn về vấn đề cơ bản: bảo sự vật là đẹp, có nghĩa là gì? Việc phân tích này được tiến hành
từ bốn phương diện của phán đoán sở thích: chất, lượng, tương quan, hình thái 2.1.1 Cái đẹp ở phương diện chất
Khi nghiên cứu cái đẹp ở phương diện chất trong tác phẩm Phê phán năng
lực phán đoán của Kant, dựa vào quan điểm của ông về các phán đoán logic trong
tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy ta sẽ thấy chất của phán đoán là xét tính
khẳng định, tính phủ định, tính hạn định của nó Do đó, chúng ta cần xem phán đoán sở thích có đặc tính gì, và khác với các loại phán đoán khác ở chỗ nào Đặc
Trang 39điểm đầu tiên được nêu ngay trong đề mục §1: “Phán đoán sở thích là có tính
thẩm mỹ” [13, 58] Kant nêu như vậy để phân biệt phán đoán thẩm mỹ với một
phán đoán lôgíc Phán đoán lôgíc là khẳng định thuộc tính khách quan của đối tượng, nên còn được gọi là phán đoán nhận thức Do đó, theo Kant: cơ sở quy định của phán đoán sở thích là có tính chủ quan Nhận xét về cái đẹp là nói đến thái độ, tình cảm của người đang nhận xét, điều thường không cần phải quan tâm nơi một phán đoán nhận thức “Để phân biệt cái gì đấy là đẹp hay không, ta không dùng giác tính để liên hệ biểu tượng về nó với đối tượng nhằm có được nhận thức, trái lại, liên hệ với chủ thể và tình cảm vui sướng hay không vui sướng của chủ thể ấy thông qua trí tưởng tượng Như thế, phán đoán sở thích không phải là một phán đoán nhận thức, do đó, không có tính lôgíc, mà có tính thẩm mỹ, được hiểu là một phán đoán mà cơ sở quy định (Bestimmungsgrund) của nó không thể là gì khác hơn là chủ quan Mọi liên hệ của những biểu tượng đều có thể là khách quan, kể cả của những cảm giác (trong trường hợp ấy, nó có nghĩa là cái thực tồn (das Reale) của một biểu tượng cảm tính) Ngoại lệ duy nhất cho việc này là tình cảm vui sướng hay không vui sướng Nó không biểu thị điều gì hết ở trong đối tượng, mà là một tình cảm trong đó chủ thể tự cảm nhận theo kiểu được biểu tượng tác động” [13, 58].
Nói cách khác, thấy một cái gì đó là đẹp nghĩa là có sự hài lòng với đối tượng Và “hài lòng” rõ ràng không phải là một thuộc tính của đối tượng, mà là một trạng thái của chủ thể Vậy sự hài lòng của một phán đoán thẩm mỹ có đặc điểm cụ thể gì? Kant liên hệ vấn đề này với “tình cảm về sự vui sướng hay không vui sướng” “Vui sướng" hay “không vui sướng” thường được hiểu là “khoái lạc” hay “đau đớn” trong tâm lý học hiện đại hay trong phân tâm học nặng màu sắc sinh lý, tình dục Với Kant - cũng như trong truyền thống triết học nói chung, tình cảm này được hiểu theo nghĩa rất khái quát như là “sự hài lòng”, sự “vui sướng”
Trang 40hay ngược lại Để xác định tình cảm này về mặt thẩm mỹ cũng không có cách nào tốt hơn là so sánh và phân biệt nó với các hình thức khác của sự hài lòng:
Trước hết, là phân biệt sự vui sướng trước sự vật đẹp với sự vui sướng trước sự vật dễ chịu Sự phân biệt này rất quan trọng với Kant và được ông xác định rõ: “Dễ chịu là cái gì làm hài lòng các giác quan ở trong cảm giác Định nghĩa này lập tức tạo cơ hội cho ta phê phán nghiêm khắc và đặc biệt lưu ý đến một sự lẫn lộn hết sức thông thường về hai ý nghĩa có thể có của từ “cảm giác” Mọi sự hài lòng (khi ta nói hay khi ta nghĩ tới) thì bản thân đã là cảm giác (về một niềm vui sướng) Do đó, tất cả những gì làm ta hài lòng - và chính vì làm ta hài lòng - nên đều là dễ chịu cả; (và tùy theo các mức độ khác nhau hay các mối quan hệ của
nó với những cảm giác dễ chịu khác mà trở nên hấp dẫn, đáng yêu, ngon lành, thích thú v.v ) Nhưng, nếu thừa nhận như thế thì: những ấn tượng của giác quan vốn quy định xu hướng; hay những nguyên tắc của lý tính vốn quy định ý chí; hay những hình thức được phản tư đơn thuần của trực quan vốn quy định năng lực phán đoán, nghĩa là tất cả những gì liên quan đến tác động đối với tình cảm vui sướng, ắt đều cùng là một thứ giống hệt nhau cả, bởi đấy là tính dễ chịu ở trong cảm giác về trạng thái của con người Và cũng vì lẽ kỳ cùng mọi hoạt động của các quan năng của ta đều phải nhắm vào và hợp nhất lại trong cái thực tiễn như là mục tiêu của chúng, nên ta ắt không thể buộc các quan năng của ta có sự đánh giá nào khác hơn về các sự vật và giá trị của các sự vật ngoài sự thích khoái mà chúng hứa hẹn mang lại Còn về phương cách làm thế nào đạt được điều ấy thì không bàn đến Và vì lẽ ở đây chỉ có thể có một sự phân biệt duy nhất ở trong việc chọn lựa phương tiện thôi, nên người ta chỉ có thể trách nhau là điên rồ và thiếu khôn ngoan chứ tuyệt nhiên không thể lên án sự thấp hèn và xấu xa, bởi mọi người, tùy theo cách nhìn sự vật của mỗi người, đều chạy theo một mục tiêu mà đối với họ là
sự thích khoái” [13, 61].