Năng lượng nguyên tử NLNT là lĩnh vực công nghệ cao, đặc thù, nhạy cảm về chính trị, xã hội, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ nhất định, đa ngành, có tinh thần trách nhiệm và tính kỷ l
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ THU HÀ
GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số : 8.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN CHÍ THÀNH
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 7
1.1 Một số khái niệm cơ bản 7 1.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao 11 1.3 Đặc thù và nội dung đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 14 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình
độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 16 1.5 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tri thức và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử 19 1.6 Bài học kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 30
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO TẠI VIỆN NĂNG LƯỢNG
NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 36 2.1 Giới thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 36
2.2 Phân tích thực trạng công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 45 2.3 Đánh giá tổng hợp công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 53
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO CHO VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 56
3.1 Định hướng phát triển của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 56 3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4LPƯNC Lò phản ứng nghiên cứu
NEST Chương trình đào tạo chuyên gia hạt nhân
NLNT Năng lượng nguyên tử
NLNTVN Năng lượng nguyên tử Việt Nam
NKM Quản lý tri thức hạt nhân
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
R&D Nghiên cứu và phát triển
TSO Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật
UNESCO
VINATOM
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trang 5DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU
Hình 1: Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện nghiên cứu 5
Hình 1.1: Một số trường phái quan niệm cơ bản về nhân lực KH&CN 8
Hình 1.2: Các giai đoạn quản lý tri thức 21
Hình 3.1: Sơ đồ đào tạo cán bộ đầu đàn cho ngành hạt nhân Việt Nam 59
Biểu đồ 2.1 Phân bố trình độ cán bộ VINATOM năm 2014, 2017 48
Bảng 2.1 Nhu cầu đào tạo của Viện NLNTVN giai đoạn 2015 - 2020 49
Bảng 2.2 Số liệu đào tạo NCS giai đoạn 2012 – 2016 49
Bảng 2.3 Phân bổ NCS ở các chuyên ngành năm 2016 50
Bảng 2.4 Số lượng cán bộ được cử đi đào tạo SĐH ở nước ngoài 51
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực (nguồn lực con người), nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Có nguồn nhân lực chất lượng cao mới có khả năng áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới và tận dụng được các nguồn lực khác một cách hiệu quả nhất trong quá trình phát triển xã hội
Năng lượng nguyên tử (NLNT) là lĩnh vực công nghệ cao, đặc thù, nhạy cảm về chính trị, xã hội, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ nhất định, đa ngành, có tinh thần trách nhiệm và tính kỷ luật cao để đảm bảo an toàn, an ninh cho các cơ sở và các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng NLNT, đặc biệt là điện hạt nhân
Trong những năm qua, chủ trương phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT nói riêng, đã được đề cập tại nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước Gần đây, chủ trương này đã được khẳng định trong Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 và Nghị quyết 20-NQ/TW, Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”
Ngành NLNT của Việt Nam được hình thành và phát triển hơn 40 năm nay, thực
sự đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân (KTHN) và công nghệ bức xạ (CNBX) đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ví dụ như phát triển y học hạt nhân, điều trị ung thư trong các bệnh viện, tạo ra các giống lúa, đậu tương, … bằng đột biến phóng xạ trong nông nghiệp, phát triển các kỹ thuật chiếu xạ thanh trùng giúp mở rộng việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang các nước tiên tiến Trong công nghiệp, ứng dụng KTHN để đánh giá chất lượng, hỏng hóc, lão hóa các thiết bị công nghiệp, các công trình giao thông v.v đang ngày càng được phổ biến rộng rãi Các kỹ thuật hạt nhân ngày nay góp phần quan trọng trong quan trắc, phân tích, đánh giá ô nhiễm môi trường Ngoài việc thúc đẩy các ứng dụng KTHN vào đời sống, việc xây dựng năng lực để phát triển điện hạt nhân sẽ tạo ra một sự tiến bộ vượt bậc, đóng góp tích cực cho
Trang 7khoa học và công nghệ như nghiên cứu cơ bản như vật lý hạt nhân, thủy nhiệt, cơ học dòng chảy, khoa học vật liệu v.v và góp phần đưa nền KH&CN, nền công nghiệp Việt Nam lên một trình độ cao hơn
Được thành lập từ năm 1976, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN)
là Viện nghiên cứu quốc gia, đảm nhận các nhiệm vụ chính trong nghiên cứu và ứng dụng NLNT, bao gồm cả phát triển điện hạt nhân (ĐHN) của đất nước
Cho đến nay, Viện NLNTVN có 9 đơn vị trên phạm vi toàn quốc, với tổng số cán
bộ viên chức khoảng 800 người, trong đó có hơn 60 cán bộ là GS., PGS., Tiến sỹ Trong giai đoạn hiện nay, ngoài nhiệm vụ thường xuyên là thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, Viện NLNTVN tập trung thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng sau đây:
Thứ nhất, xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ Hạt nhân (KH&CNHN)
dự kiến tại Đồng Nai Trung tâm KH&CNHN với vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD bao gồm nhiều tổ hợp nghiên cứu lớn như: Lò nghiên cứu công suất 10-15 MW, các phòng thí nghiệm đồng bộ về nghiên cứu công nghệ, thiết kế nhà máy ĐHN, phân tích
an toàn các công nghệ thiết kế ĐHN, xử lý chất thải phóng xạ, nghiên cứu vật liệu thép hợp kim sử dụng trong lò phản ứng và các ngành công nghiệp khác, và các phòng thí nghiệm hiện đại về ứng NLNT trong lĩnh vực sản xuất đồng vị phóng xạ, khoa học vật liệu, công nghệ bức xạ, công nghệ sinh học và y học
Thứ hai là triển khai nhiệm vụ xây dựng Mạng lưới quan trắc phóng xạ và ứng phó sự cố, nhằm giúp ứng phó với các tình huống sự cố (mặc dù xác suất rất thấp) từ 8
tổ máy ĐHN của Trung Quốc đang vận hành gần biên giới Việt Nam
Thứ ba, xây dựng Cơ sở Chiếu xạ của Viện NLNTVN tại Đà Nẵng, và phát triển thành Viện Nghiên cứu phóng xạ môi trường biển, đưa KTHN vào nghiên cứu biển, phóng xạ trong nước biển nhằm góp phần bảo vệ môi trường biển Việt Nam Thực tế cho thấy, muốn thực hiện thành công các nhiệm vụ đặt ra trước mắt của ngành NLNT, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định Do đó, Viện NLNTVN cần xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để có một nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, sẵn sàng tiếp quản các cơ sở nghiên cứu trên khi đưa vào hoạt động
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, thời gian qua, Viện NLNTVN
đã xem “Phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao” là một chương
Trang 8trình đột phá, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của Viện Trung tâm Đào tạo hạt nhân được thành lập trong Viện NLNTVN nhằm triển khai các nhiệm vụ đào tạo, phối hợp với các đối tác nước ngoài như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Ấn Độ
… để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Tuy nhiên, do bối cảnh thay đổi, đặc biệt
là việc dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận (tháng 11/2016), việc đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao của Viện trong những năm qua còn hạn chế, còn nhiều vướng mắc, chưa đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Giải pháp đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (Nghiên cứu trường hợp Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam)” là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, các chính sách về phát triển nguồn nhân lực NLNT đã được chú trọng và đầu tư kinh phí rất lớn, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng Các nước như Hàn Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản, Pháp… được coi là những nước đi tiên phong trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực NLNT và rất thành công trong lĩnh vực này
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT nói riêng là chủ đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều mức độ và góc độ khác nhau Trong đó, đáng chú ý là các đề tài sau đây:
- Phát triển nguồn nhân lực ngành hạt nhân, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trần Chí Thành, 2015);
- Đề án đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đến năm 2020 của Bộ Khoa học và Công nghệ (Hoàng Anh Tuấn, 2014);
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực KH&CN trình độ cao ở Việt Nam đến năm 2020 (Tạ Doãn Trịnh, 2012);
Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp tích cực cả về lý luận và thực tiễn, tuy nhiên, chưa đưa ra được các giải pháp đào tạo cho nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT nói chung và Viện NLNTVN nói riêng trong tình
Trang 9hình mới hiện nay (Việt Nam dừng thực hiện các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và điện hạt nhân Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, nhiều nhà máy được xây dựng và đang vận hành gần biên giới nước ta)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Dựa trên kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tại Việt Nam về đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN trình độ cao và đặc thù phát triển của ngành NLNT, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả để xây dựng nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao của ngành NLNT và Viện NLNTVN
- Đề xuất giải pháp đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao cho Viện NLNTVN trong giai đoạn 2018-2025
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý thuyết
và thực tiễn về đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao, xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN trình độ cao cho ngành NLNT
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình
độ cao tại Viện NLNTVN
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao tại Viện NLNTVN giai đoạn 2014 – 2017
+ Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao và đề xuất các giải pháp thực hiện các nhiệm vụ
này cho Viện NLNTVN
Trang 105 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích, diễn giải các thông tin thứ cấp, sơ cấp và vận dụng tổng hợp kiến thức chuyên ngành để đề xuất giải pháp (Hình 1)
Cụ thể, những thông tin dùng trong phân tích được thu thập gồm:
- Nguồn thông tin thứ cấp: thông tin bên ngoài là sách báo, tài liệu đã xuất bản, mạng internet, các nghiên cứu tổng kết liên quan đến hoạt động đào tạo nhân lực trước đây; thông tin bên trong là các báo cáo thường niên của Viện NLNTVN
- Nguồn thông tin sơ cấp: điều tra, khảo sát các cán bộ phụ trách nhân sự và một số cán bộ của các đơn vị trực thuộc Viện NLNTVN theo phương pháp tự ghi báo (phát và thu phiếu), phỏng vấn nhanh và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê
Hình 1: Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đóng góp vào lý luận quản lý KH&CN, đồng thời góp phần vào việc phát triển nhân lực KH&CN
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ những kết quả nghiên cứu chuyên sâu nêu trên, Viện NLNTVN có thể đề xuất các giải pháp chính sách đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao làm việc trong lĩnh vực NLNT nói chung và Viện NLNTVN nói riêng
Dữ liệu
sơ cấp
Điều tra khảo sát
Lý thuyết về đào tạo nhân lực KH&CN trình độcao trong lĩnh vực NLNT
Thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình
độ cao tại Viện NLNTVN
Giải pháp đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao làm việc tại Viện NLNTVN
Dữ liệu
thứ cấp
Thông tin bên ngoài
Thông tin bên trong
Trang 117 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ
trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ
trình độ cao tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao
cho Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO TRONG LĨNH VỰC
NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ
Nhân lực KH&CN là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm cách tiếp cận riêng của mỗi quốc gia và các tổ chức nghiên cứu
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD (1995), nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây [13, tr.9]:
- Hoàn thành bậc giáo dục đại học (tertiary level of education) (tương ứng bậc 5-8 (tức Mức III) của Bảng ISCED-11_ The international Standard Classification of Education) hoặc những người tuy chưa được đào tạo chính quy như trên, nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương bậc 5-8
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc - UNESCO (2002), nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ [13, tr.12] (Hình 1.1) Như vậy, cách tiếp cận của UNESCO có điểm khác với OECD, thể hiện ở chỗ: UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ, trong khi
đó OECD không tính bộ phận này là nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ có bằng cấp Đồng thời, UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN còn theo OECD, nhân lực KH&CN không nhất thiết phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN
Trang 13Hình 1.1: Một số trường phái quan niệm cơ bản về nhân lực KH&CN [6]
Quan niệm về nhân lực KH&CN của một số nước trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á - ASEAN [6, tr.1]
Thái Lan: Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt,
đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do đó, Thái Lan coi đây là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ
Singapo: Quan niệm của Singapo không phân biệt nhân lực KH&CN là công dân của Singapo hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Singapo, phục
vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Singapo chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực của Singapo Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Singapo cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật
Inđônêxia: Chưa thể hiện rõ định nghĩa hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN, chú trọng vào sinh viên tốt nghiệp và người làm việc trong ngành KHKT Nguyên tắc chỉ đạo trong xây dựng đội ngũ nhân lực KH&CN của Inđônêxia là “think globally, act locally” (tư duy hòa nhập quốc tế, hành động duy trì bản sắc địa phương)
Trang 14Ở Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN Tuy nhiên, trên thực tế, khi thống kê nhân lực KH&CN người ta đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ, kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên vào hoạt động KH&CN” [13, tr.14]
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa trên cho nguồn nhân lực KH&CN nói chung và làm cơ sở để định nghĩa nguồn nhân lực NLNT nói riêng
1.1.2 Khái niệm về nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
+ Khái niệm về nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT
Nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT bao gồm toàn bộ những người tham gia thường xuyên vào hoạt động NLNT, kể cả những người có bằng cấp chuyên môn về NLNT và những người có trình độ kỹ năng NLNT thực tế tương đương tuy không có bằng cấp về NLNT
Theo dự thảo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực NLNT đến năm 2020 của Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ vào ngày 20/9/2014 [3, tr.3] nhân lực NLNT được chia thành 03 nhóm là:
- Nhân lực NLNT trong cơ quan quản lý nhà nước và pháp quy hạt nhân;
- Nhân lực NLNT trong nghiên cứu - triển khai, hỗ trợ kỹ thuật ĐHN;
- Nhân lực NLNT trong các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ
Nguồn nhân lực NLNT là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực KH&CN, vì vậy cũng có thể được phân loại như sau:
Phân loại theo lĩnh vực chuyên môn: có 42 chuyên môn/công việc khác nhau
trong lĩnh vực NLNT như: công nghệ lò năng lượng; công nghệ lò nghiên cứu; an toàn hạt nhân; an toàn bức xạ; công nghệ chế biến quặng phóng xạ; công nghệ nhiên liệu hạt nhân; công nghệ xử lý chất thải phóng xạ; quan trắc phóng xạ môi trường; công nghệ sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ; kỹ thuật kiểm tra không phá huỷ (NDT); quan hệ quốc tế và thực thi điều ước quốc tế về NLNT; quan hệ công chúng, thông tin và truyền thông về ĐHN; văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về năng lượng nguyên tử; cấp phép, thanh tra, kiểm tra an toàn bức xạ và hạt nhân; thanh
Trang 15sát và an ninh hạt nhân; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân; quản lý dự án (ĐHN, KH&CN ); quy hoạch năng lượng, … [3, tr.3]
Phân loại theo trình độ kỹ năng, gồm hai loại chính:
- Nhân lực chuyên ngành hạt nhân;
- Nhân lực chuyên ngành phi hạt nhân
Phân loại theo trình độ đào tạo, bao gồm:
- Công nhân kỹ thuật;
- Cao đẳng;
- Đại học NLNT;
- Thạc sĩ NLNT;
- Tiến sĩ NLNT
Ngoài ra còn có thể phân loại theo độ tuổi và giới tính
Trong giới hạn nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung vào nhóm nhân lực KHCN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT
+ Khái niệm về nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT
Nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT được hiểu là những người tham gia gián tiếp hay trực tiếp vào các hoạt động trong lĩnh vực NLNT (bao gồm hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực NLNT; xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, khai thác, quản lý và tháo dỡ cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm
dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử) - (Luật Năng lượng nguyên tử ngày 03 tháng 06 năm 2008), có trình độ học vấn thạc sĩ trở lên hoặc tương đương, có kỹ năng, bí quyết vượt trội đã được chứng minh bằng kết quả thực tế Ngoài ra, họ có khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cho công việc của ngành NLNT
Trên thực tế, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT thường
là những người tốt nghiệp chuyên ngành vật lý, hóa học, toán học , trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và quản lý của ngành NLNT Họ là những người có đủ năng lực, kinh nghiệm chuyên môn, ngoại ngữ để có thể đại
Trang 16diện cho ngành NLNT Việt Nam tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn về NLNT do Cơ quan NLNT quốc tế và các nước liên quan tổ chức Đặc biệt, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT thường là những người giữ vị trí lãnh đạo, chủ chốt trong cơ quan
1.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao
1.2.1 Vai trò của ngành năng lượng nguyên tử trong phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế của các nước phát triển
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới hiện đại cho thấy, để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều quốc gia đã sớm xác định việc ứng dụng NLNT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Chính vì vậy, họ sớm xây dựng và thực hiện chiến lược nghiên cứu, ứng dụng và phát triển NLNT Nhờ đó, NLNT đã phát huy vai trò và
có đóng góp hiệu quả, nâng cao tiềm lực KH&CN của quốc gia, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, NLNT có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trên cả hai lĩnh vực ứng dụng phi năng lượng (ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ) và năng lượng (ĐHN) Quy mô đóng góp cho phát triển kinh tế -
xã hội có xu hướng tăng theo trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, đóng góp của ứng dụng NLNT vào giá trị kinh tế xã hội đạt mức 2 GDP, đạt giá trị 158 tỷ USD vào năm 1997, trong đó đóng góp của các ứng dụng phi năng lượng chiếm 75 và của ĐHN chiếm 25 ; ở Nhật Bản việc ứng dụng năng lượng bức xạ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã đóng góp 1,5 GDP cho ngân sách quốc gia (năm 1997); ở Trung Quốc, việc ứng dụng năng lượng bức
xạ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã đóng góp 10 GDP cho ngân sách quốc gia (năm 1997) [15, tr.1]
Đối với ĐHN: Trong lịch sử phát triển ĐHN đã xảy ra các sự cố nghiêm trọng tại Nhà máy ĐHN Three Mile Island năm 1979 (Mỹ), Chernobyl năm 1986 (Liên Xô cũ) và Nhà máy ĐHN Fukushima năm 2011 (Nhật Bản) đã gây ra ảnh hưởng đáng kể đối với môi trường và con người Nhưng với những ưu thế riêng của ĐHN là hầu như không phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính - một trong những nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu, đặc biệt là giải quyết được vấn đề thiếu hụt nguồn tài nguyên hiện nay, nên theo dự báo của IAEA cho thấy trong thời gian tới việc phát triển ĐHN trên thế giới vẫn gia tăng với tốc độ đáng kể ĐHN đóng góp quan trọng
Trang 17vào tổng sản lượng điện trong một số quốc gia: Đứng đầu là Pháp, năm 2015 ĐHN chiếm tới 76,34 %; thứ hai là Ukraina: 56,49%, Slovakia: 55,9%; Hungary: 52,67%
Mỹ đứng đầu thế giới về số lượng nhà máy ĐHN nhưng sản lượng ĐHN chỉ đóng góp 19,5% cho sản lượng điện quốc gia, đứng thứ 15 trong số 33 quốc gia
Có thể thấy rằng các nước phát triển hiện nay đều có ngành công nghiệp hạt nhân hùng mạnh, và sự phát triển mạnh mẽ này rơi vào khoảng những năm 60-80 của thế kỷ trước Gần đây, một số quốc gia như Hàn Quốc, Ấn Độ, chiến lược phát triển ngành NLNT đã thực sự trở thành chiến lược trụ cột của các quốc gia này trong phát triển khoa học công nghệ, công nghiệp của đất nước, có nghĩa là ngành công nghiệp hạt nhân thành đầu tàu để thúc đẩy khoa học công nghệ và công nghiệp Chính vì chính sách phát triển điện hạt nhân dưới thời Tổng thống Park Chung Hy, nên Hàn Quốc hiện nay đã vươn lên các quốc gia có sự phát triển vượt bậc, đời sống thu nhập đều cao gần với các quốc gia hàng đầu thế giới Điện hạt nhân Hàn Quốc được coi là rất thành công, hiện nay đóng góp gần 40% sản lượng điện quốc gia với giá rẻ, cạnh tranh Ấn Độ có chính sách chú trọng phát triển ngành hạt nhân từ năm 1948, là một trong những ngành quan trọng và được ưu tiên của đất nước Cho đến nay, Ấn Độ sở hữu công nghệ của họ (lò nước nặng, lò tái sinh nhanh), và chương trình phát triển điện hạt nhân đang được triển khai mạnh mẽ Chính ngành hạt nhân, và vũ trụ (làm tên lửa, phóng vệ tinh) đã giúp Ấn Độ phát triển khoa học công nghệ và công nghiệp Tiềm lực khoa học công nghệ hạt nhân cũng giúp Ấn Độ đảm bảo khả năng quốc phòng, an ninh của đất nước Ngoài các nước trên, Triều Tiên cũng đã và đang phát triển đất nước của họ dựa trên tiềm lực khoa học công nghệ của ngành hạt nhân và vũ trụ (phát triển tên lửa đạn đạo)
Như vậy, trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, ngành hạt nhân trở thành chiến lược để thúc đẩy khoa học công nghệ và công nghiệp, và thực sự đã đóng góp tốt cho quá trình phát triển đó
1.2.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao
Nhân lực KH&CN trình độ cao có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, được thể hiện rõ ở những điểm sau:
Nhân lực KH&CN trình độ cao là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách,
Trang 18kế hoạch CNH-HĐH đất nước; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối, chính sách đó
Nhân lực KH&CN trình độ cao đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới, các vật liệu; cải tiến
và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ, tạo ra sự chuyển biến mới về năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh
và hiệu quả của nền kinh tế
Nhân lực KH&CN trình độ cao là lực lượng xung kích trong việc lựa chọn, tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ công nghệ mới của thế giới vào phát triển các ngành KH&CN
Nhân lực KH&CN trình độ cao đóng góp vào việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học, kiến thức và công nghệ sản xuất tiên tiến, thực hiện việc dẫn dắt cho những bộ phận có năng lực và trình độ thấp hơn đi lên, qua đó góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về KH&CN [7, tr.7]
1.2.3 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Trong ngành NLNT cũng như các ngành kinh tế - xã hội khác, yếu tố nhân lực đóng vai trò trọng tâm và là yếu tố quyết định mọi thành công trong việc phát triển ngành Để có đủ nhân lực đáp ứng được yêu cầu thì công tác phát triển nguồn nhân lực được xem là nhiệm vụ quan trọng, cần ưu tiên hàng đầu
Hầu hết các quốc gia đều xem yếu tố con người giữ vị trí trung tâm trong Chiến lược phát triển NLNT và đều dành cho công tác giáo dục - đào tạo nhân lực NLNT những ưu tiên to lớn Đối với các nước đứng đầu thế giới về thành tựu ứng dụng và phát triển NLNT như Mỹ, Nga, Nhật,…việc hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật, nhân lực KH&CN trình độ cao đông đảo, giàu năng lực, có tư duy sáng tạo, được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo đến sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực NLNT, trong đó có nhân lực KH&CN trình độ cao Đảng ta đã khẳng định, phát triển nguồn nhân lực NLNT là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển NLNT Thực hiện chủ trương của Đảng, trong giai đoạn 2010 – 2015, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung quan tâm công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực NLNT nói chung và nhân lực lĩnh vực
Trang 19+ Ngành khoa học và công nghệ trình độ cao, phức tạp và nhạy cảm
NLNT là một lĩnh vực công nghệ cao, đặc thù, nhạy cảm Để hiểu và nắm rõ nguyên
lý hoạt động trong ngành NLNT cần gắn liền với ngành vật lý, hóa học và toán học
Nhân lực, đặc biệt là trong nghiên cứu - triển khai, hỗ trợ kỹ thuật ĐHN và trong các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng phải được đào tạo đúng chuyên ngành về NLNT mới đáp ứng được yêu cầu phức tạp của công việc
Để có thể ứng dụng NLNT vào trong đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng kế hoạch dài hạn và triển khai đồng bộ nhiều mặt như: nguồn nhân lực, trình độ KH&CN, đầu tư lớn cơ sở vật chất…
+ Vai trò của năng lượng nguyên tử và nguồn nhân lực năng lượng nguyên
tử trong phát triển kinh tế - xã hội
a) Năng lượng nguyên tử thúc đẩy phát triển ngành khoa học và công nghệ
Sự phát triển nhanh và mạnh của ngành NLNT là một cuộc cách mạng có ý nghĩa sâu sắc Việc ứng dụng NLNT vào trong các lĩnh vực sản xuất đã và sẽ đem lại những năng suất lao động vượt trội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người
Thực tế đã khẳng định rằng NLNT là một ngành kỹ thuật khó, để có thể khai thác tối đa những mặt tích cực của ứng dụng NLNT trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là trong phát triển ĐHN (một lĩnh vực công nghệ cao, phức tạp
và nhạy cảm) rất cần đầu tư lớn, đồng bộ từ cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị và điều đặc biệt quan trọng là sự đồng thuận của toàn xã hội
Mặt khác, để đạt hiệu quả cao trong việc triển khai các ứng dụng NLNT, cần thường xuyên nghiên cứu, đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất để phù hợp, đồng bộ với sự phát triển của các ngành khác trong xã hội Việc thực hiện và đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng NLNT và tham gia đào tạo chuyên gia về KH&CN hạt nhân hay tăng cường năng lực nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển ứng dụng NLNT và bảo đảm an toàn, an ninh trong ngành NLNT cũng đồng nghĩa với thúc đẩy ngành KH&CN phát triển
Trang 20b) Năng lượng nguyên tử đóng vai trò động lực phát triển kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế mới, tri thức và sức lao động là yếu tố quan trọng nhất Chức năng của nền kinh tế hiện đại là sản xuất và phân phối tri thức Vì vậy, sản xuất và tri thức trở thành nguồn gốc và động lực của tăng trưởng kinh tế
Để ứng dụng NLNT phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra các cam kết trước cộng đồng quốc tế về việc chỉ sử dụng NLNT vì mục đích hòa bình để phát triển các ngành kinh tế xã hội Ở nước ta, Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020” tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 [16, tr 4] Tiếp theo đó, ngày 27/12/2007 tại Quyết định số 1855/QĐ -TTg Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 [17] Ngày 24/6/2010 tại Quyết định số 957/QĐ -TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 [23]
Với lợi thế đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao từ ứng dụng NLNT như đã nêu
ở phần trên cho thấy vai trò quan trọng của NLNT đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
+ Nguồn nhân lực năng lượng nguyên tử trong đó nhân lực KH&CN trình
độ cao đóng vai trò trọng tâm trong phát triển lĩnh vực năng lượng nguyên tử và ngành khoa học và công nghệ
NLNT cũng như các ngành kinh tế - xã hội khác, yếu tố nhân lực đóng vai trò trọng tâm và là yếu tố quyết định mọi thành công trong việc phát triển ngành Để có đủ nhân lực đáp ứng được yêu cầu thì công tác phát triển nguồn nhân lực được xem là nhiệm vụ quan trọng cần ưu tiên hàng đầu
Đảng đã khẳng định, phát triển nguồn nhân lực NLNT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển NLNT Thực hiện chủ trương của Đảng, trong giai đoạn 2010 – 2015, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung quan tâm công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực NLNT nói chung và nhân lực lĩnh vực ĐHN nói riêng
Trang 211.3.2 Nội dung đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Nhân lực quản lý nhà nước cần được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cần thiết về quản lý và kỹ thuật trong các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng ĐHN; thẩm định an toàn hạt nhân; đánh giá tác động môi trường; cấp phép; thanh tra an toàn; an ninh, thanh sát hạt nhân và bảo vệ thực thể; quản lý chất lượng trong thiết kế, chế tạo, xây dựng, vận hành nhà máy ĐHN; công nghệ và an toàn lò phản ứng, nhà máy ĐHN; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân và các lĩnh vực khác phục vụ phát triển ĐHN
Nhân lực nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật cần được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về các lĩnh vực KH&CN hạt nhân; công nghệ và an toàn lò phản ứng; an toàn bức xạ và hạt nhân; hệ thống thiết bị nhà máy ĐHN; an toàn địa điểm nhà máy ĐHN; thiết kế, chế tạo, xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN; chu trình nhiên liệu hạt nhân; quản lý chất thải phóng xạ; đánh giá tác động môi trường; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân và hạt nhân và các lĩnh vực KH&CN liên quan phục
1.4.1 Các yếu tố khách quan và chính sách của Nhà nước
+ Các yếu tố khách quan (bên ngoài) bao gồm 5 yếu tố: Thể chế - Pháp luật;
Kinh tế; Văn hóa – Xã hội; Công nghệ; Hội nhập
Đây là những yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến các tổ chức KH&CN nói chung và lĩnh vực NLNT nói riêng Dựa trên các điều kiện môi trường vĩ
mô, các tổ chức KH&CN sẽ đưa ra những cơ hội và thách thức, là một trong những tiền đề để hình thành chiến lược, chính sách phát triển nhằm thúc đẩy đào tạo theo hướng phù hợp với đặc điểm của môi trường, đảm bảo chất lượng nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra
- Yếu tố thể chế - pháp luật: Thể chế pháp luật có sự bình ổn cao, không có yếu
tố xung đột về chính trị, ngoại giao sẽ tác động tốt đến các hoạt động KH&CN, đặc
Trang 22biệt là hoạt động đào tạo trong lĩnh vực NLNT và ngược lại
- Yếu tố kinh tế: Các tổ chức KH&CN, nhất là các đơn vị được Chính phủ giao
nhiệm vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực NLNT chịu tác động rất lớn của yếu tố kinh tế Do vậy, khi đưa ra chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực phải chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và sự can thiệp của Chính phủ đến nền kinh
tế Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ (chính sách tài khóa, chính sách tiền
tệ, luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ, các chính sách ưu đãi cho ngành…) sẽ tác động tới sự vận hành của nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KH&CN, do đó ảnh hưởng đến các quyết định về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực Mặt khác, triển vọng kinh tế trong tương lai (tốc độ tăng trường, mức gia tăng GDP, cơ cấu kinh tế,…) sẽ có tác động tới định hướng cho những chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
- Yếu tố văn hóa xã hội: Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn
hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng và khác nhau, điều này tạo nên sự khác biệt về lối sống, học thức, các quan điểm về vấn đề học tập, tâm lý sống,… của đại bộ phận người dân các quốc gia khác nhau Do đó, các tổ chức KH&CN phải căn cứ vào những đặc điểm văn hóa, xã hội của quốc gia mình để có những chính sách thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực về nội dung, phương pháp, phù hợp với đặc điểm cư dân, điều kiện sống, truyền thống học tập, tâm lý chung của dân tộc
- Yếu tố công nghệ: Công nghệ và tốc độ phát triển KH&CN luôn tạo ra nhiều cơ
hội phát triển song cũng đặt những tổ chức KH&CN trong sự cạnh tranh khốc liệt Điều này đòi hỏi nhân lực của các tổ chức KH&CN phải nắm bắt được công nghệ, áp dụng những thành tựu KH&CN vào thực tế hoạt động của tổ chức Do đó, nội dung đào tạo, số lượng các chuyên đề đào tạo, phải được thiết lập dựa trên sự phát triển của KH&CN, đảm bảo tính thời sự và yêu cầu của thực tiễn Mặt khác, các tổ chức KH&CN phải có những chính sách để cải tiến phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực áp dụng những thành tựu của KH&CN vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao công tác đào tạo
- Yếu tố hội nhập: Xu thế phát triển theo hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa của
nền kinh tế và KH&CN cũng tạo ra những cơ hội phát triển cho những tổ chức KHCN trong nước Quá trình hội nhập sẽ khiến các tổ chức KH&CN phải điều chỉnh phù hợp với các nước trên thế giới Điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu hoạch
Trang 23định chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN
Như vậy nghiên cứu các môi trường bên ngoài để xác định được các cơ hội và thách thức trong đào tạo và chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN, là một trong những cơ sở quan trọng để xác định các chiến lược đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
+ Chính sách của nhà nước
Để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (NLNT) trong đó có nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực NLNT, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT” tại Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 [22]; Dự án Đào tạo nguồn nhân lực cho các dự án nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận tại Quyết định số 584/QĐ -TTg ngày 11/4/2013[19]; Quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực NLNT tại Quyết định số 124/2013/NĐ - CP ngày 14/10/2013[20]
Theo đó, mục tiêu chung là đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT trong
đó có nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực NLNT bảo đảm về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu chương trình phát triển ĐHN, yêu cầu phát triển, ứng dụng an toàn, an ninh NLNT trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước [20, mục.II.1]
Mặc dù hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể về nhu cầu nhân lực NLNT đến năm 2030 nhưng dựa trên định hướng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT của Chính phủ và căn cứ vào hiện trạng cũng như nhu cầu nhân lực đến năm
2020, có thể dự báo rằng nhu cầu nhân lực NLNT đến năm 2030 của nước ta là rất lớn
Để giải quyết được vấn đề trên, Chính phủ cần ban hành các cơ chế chính sách đồng bộ để các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nhằm giải quyết được vấn
để nhân lực NLNT, đặc biệt là nhân lực trình độ cao
1.4.2 Các yếu tố đặc thù của ngành năng lượng nguyên tử và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ảnh hưởng đến công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao
- Đầu tư của nhà nước: Sự eo hẹp về tài chính cho lĩnh vực NLNT nói chung và Viện
NLNTVN nói riêng trong khi lĩnh vực NLNT yêu cầu một nguồn kinh phí rất lớn trong nghiên cứu và triển khai
Trang 24- Đặc thù của ngành năng lượng nguyên tử cũng là một thách thức: NLNT là một
ngành kỹ thuật khó, đòi hỏi chuyên môn sâu và việc ứng dụng chưa được triển khai rộng rãi ở nhiều ngành nghề Hơn nữa môi trường làm việc được coi là rất nhạy cảm, điều kiện lao động rất ngặt nghèo,… Điều này đã tác động đến nhận thức của người dân về vai trò của NLNT cũng như định hướng cho con em học về các chuyên ngành NLNT, lựa chọn ngành nghề về NLNT để sau này phục vụ đất nước
- Thu nhập thấp: Với mức thu nhập, môi trường và điều kiện làm việc như hiện nay
của ngành NLNT có thể nói chưa đủ hấp dẫn để các bậc phụ huynh cho con em mình theo học ngành NLNT- vốn được xem là khó và khổ này Thậm chí, đối với một số người đang làm việc trong lĩnh vực NLNT còn muốn đổi nghề, đối với người ngoài thì nói không với ngành NLNT
1.5 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tri thức và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành năng lƣợng nguyên tử
1.5.1 Quản lý tri thức và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế
Trong chương trình phát triển nguồn nhân lực của bất cứ cơ quan, tổ chức hạt nhân nào đều bao gồm: Giáo dục và Đào tạo, lập kế hoạch nhân lực và Quản lý tri thức (Knowledge Management - KM)
Cơ quan NLNT quốc tế IAEA đã ban hành bộ tài liệu hướng dẫn về quản lý tri thức: “Guide on Nuclear Knowledge Management (NKM)” trong các tổ chức hạt nhân cho cơ quan vận hành, cơ quan pháp quy và cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật [24] - (Bản dịch Cục Năng lượng nguyên tử) Viện NLNTVN là cơ quan nghiên cứu, triển khai và hỗ trợ kỹ thuật (gọi tắt là cơ quan R&D và TSO) Theo tài liệu hướng dẫn này thì: “Quản lý tri thức được định nghĩa như một cách tiếp cận tích hợp
và có hệ thống để xác định, thu thập, chuyển đổi, phát triển, phổ biến, sử dụng, chia sẻ
và giữ gìn tri thức, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể”
Cơ quan R&D và TSO là nơi tạo ra, sử dụng và sở hữu rất nhiều tri thức, vì vậy chính cơ quan này cần phải thực hiện công tác quản lý tri thức, bao gồm tri thức hiện, tri thức ẩn và đặc biệt là tri thức ngầm
- Tri thức hiện (Explicit knowledge) là các tri thức đã được công bố, tri thức này thường được viết trong sách Điều quan trọng nhất của việc quản lý tri thức hiện là việc xây dựng và sử dụng một bản đồ tri thức – knowledge Mapping (ví dụ như Xây
Trang 25dựng Cổng Thông tin hoặc Thư viện điện tử)
- Tri thức ẩn (Implicit knowledge): là những tri thức chưa được ghi lại thành tài liệu Tri thức ẩn tuy khó phát hiện nhưng vẫn có thể được ghi lại khi cần Nói chung,
có thể chuyển tri thức ẩn thành tri thức hiện thông qua việc chuyển nó thành tài liệu
- Tri thức ngầm (Tacit Knowledge): là tri thức khó nhất để có thể nhớ và vì thế khó có thể chuyển tải Tri thức ngầm không thể được giải thích một cách hoàn chỉnh,
vì nó hoàn toàn được biểu hiện ở cá nhân, được sinh ra từ thực tế và kinh nghiệm, được thể hiện thông qua việc thực hiện một cách thành thạo và được truyền tải bằng cách học việc và đào tạo thông qua các hình thức học, xem và làm Tri thức ngầm có thể được quan sát, tuy nhiên khó có thể được chuyển thể sang tri thức hiện
Trong những năm gần đây, quản lý tri thức hạt nhân nổi lên như một thách thức gia tăng trong các tổ chức hạt nhân Nhu cầu gìn giữ và chuyển giao tri thức hạt nhân được pha trộn bởi những xu hướng gần đây như tình trạng già đi của lực lượng nhân lực hạt nhân, giảm số lượng sinh viên trong các lĩnh vực liên quan đến hạt nhân
và mối đe dọa mất tri thức hạt nhân đã được tích lũy ngày càng hiện hữu trong cộng đồng hạt nhân Nhận thức được những thách thức này, IAEA đã đẩy mạnh chương trình "văn hóa quản lý tri thức" thông qua các hoạt động sau đây:
1/ Đưa ra hướng dẫn đối với việc xây dựng chính sách và thực hiện việc quản lý tri thức trong các loại hình tổ chức hạt nhân (cơ quan vận hành, cơ quan pháp quy, cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật (R&D vàd TSO)
2/ Tăng cường việc đóng góp tri thức hạt nhân trong việc giải quyết các vấn đề
cụ thể, dựa trên nhu cầu và ưu tiên của các nước thành viên
3/ Tổng hợp, phân tích và chia sẻ thông tin để tạo điều kiện tạo lập và ứng dụng tri thức
4/ Thực hiện các hệ thống quản lý tri thức hiệu quả
5/ Gìn giữ và duy trì tri thức hạt nhân
6/ Bảo đảm an ninh nguồn nhân lực bền vững cho lĩnh vực hạt nhân
7/ Nâng cao việc giáo dục và đào tạo hạt nhân
Xây dựng năng lực (Capacity building) là một bước quan trọng đầu tiên trong quá trình đảm bảo cung cấp bền vững nguồn nhân lực có trình độ và sẵn sàng để đảm nhận trách nhiệm sử dụng bền vững, hiệu quả và an toàn các công nghệ, thiết bị hạt nhân Xây dựng năng lực trong IAEA, bao gồm bốn yếu tố thiết yếu sau đây:
Trang 261/ Phát triển nguồn nhân lực (HRD)
2/ Giáo dục và đào tạo (E&T)
3/ Quản lý tri thức hạt nhân (NKM)
4/ Xây dựng mạng lưới quản lý tri thức ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế (NKM Networks)
Chương trình xây dựng năng lực của IAEA bao gồm tất cả các lĩnh vực để đảm bảo an toàn hạt nhân (bao gồm cả hoạt động an toàn, chuẩn bị và ứng phó sự cố bức xạ/hạt nhân) và tăng cường hiệu quả quản lý (xây dựng năng lực dựa trên cơ sở hạ tầng hiện có) Tầm quan trọng của công tác xây dựng năng lực đã được nhấn mạnh trong nhiều tài liệu của IAEA Trong nhiều năm qua, IAEA đã tích cực hướng dẫn, giúp đỡ các quốc gia thành viên phát triển ứng dụng NLNT vì hòa bình và phát triển điện hạt nhân, đồng thời phát triển, duy trì và thực hiện chương trình xây dựng năng lực của chính mình
Về nhận thức xây dựng năng lực hạt nhân cho các quốc gia, IAEA đã có nhiều hoạt động hiệu quả để trợ giúp các quốc gia thành viên xây dựng và phát triển phương pháp luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hạt nhân, xuất bản nhiều ấn phẩm,
tổ chức nhiều hoạt động liên quan đến chủ đề phát triển nguồn nhân lực hạt nhân, quản
lý tri thức hạt nhân, cụ thể như:
Thứ nhất, Tổ chức hội nghị, hội thảo về đào tạo về phát triển nguồn nhân lực
hạt nhân, quản lý tri thức hạt nhân, xây dựng văn hóa an toàn hạt nhân, v.v Trong đó, các hội nghị quốc tế gần đây do IAEA tổ chức về chủ đề này (International Conference
on HRD các năm 2010, 2012, 2014, 2016) đã tập trung vào những thách thức toàn cầu
về xây dựng năng lực, HRD, giáo dục và đào tạo, quản lý tri thức hạt nhân và thiết lập mạng lưới tri thức, bao gồm các chủ đề phản ánh trong các kế hoạch hành động của IAEA về an toàn hạt nhân
Thứ hai, Xây dựng và phổ biến phương pháp luận về các chủ đề liên quan đến
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như: phương pháp đào tạo theo tiếp cận hệ thống (Systematic Approach Training -SAT)
Thứ ba, Phát triển các chương trình hỗ trợ quản lý tri thức như: chương trình
hoạt động chính xác (CAP), các hệ thống đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin như các cổng thông tin điện tử về E-learning, hệ thống quản lý thông tin về khoa học và công nghệ hạt nhân (INIS)
Trang 27Thứ tư, Xây dựng và hỗ trợ các mạng lưới về đào tạo hạt nhân ở các khu
vực như ANENT (châu Á), ENEN (châu Âu), AFRANENT (châu Phi) và nhiều hoạt động khác
Thứ năm, Cử các đoàn chuyên gia (IAEA’s NKM Assistance Mission) giúp các
quốc gia thành viên xây dựng và thực hiện chương trình, chiến lược về đào tạo và phát triển nhân lực, quản lý tri thức hạt nhân
Việc cử các đoàn chuyên gia hỗ trợ quản lý tri thức là một phần trong những nỗ lực của IAEA nhằm hỗ trợ các nước thành viên, đã được thực hiện từ năm 2005 và được đề cập trong tài liệu về "Lập kế hoạch và cử các đoàn chuyên gia hỗ trợ quản lý tri thức đối với các cơ sở hạt nhân" - TECDOC 1586, Planning and Execution of Knowledge Management Assist Missions for Nuclear Organizations, được xuất bản vào tháng 5 năm 2008, đã cung cấp thông tin về các mục tiêu, phạm vi và hướng dẫn cách thức để yêu cầu đoàn chuyên gia hỗ trợ quản lý tri thức của IAEA tới các nước thành viên
Lợi ích của quản lý tri thức đối với tổ chức R&D và TSO hạt nhân
Thứ nhất, Giảm sự phụ thuộc vào cá nhân độc tôn
Các tổ chức R&D hạt nhân chủ yếu dựa vào các nhân viên có năng lực, những chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân Có nhiều nhân viên được đánh giá là các chuyên gia kỹ thuật, và nhiều người trong số họ không có nhiều người kế nhiệm ngay lập tức hoặc nhân viên dự phòng, họ được xem là cá nhân độc tôn (singletons)
Đây là vấn đề nổi bật trong tất cả loại hình tổ chức R&D hạt nhân Tình hình trở nên trầm trọng bởi quá trình già hóa của nhân viên, thiếu hụt kinh phí và do những chiến lược cắt giảm chi phí thường gây ra áp lực lên quá trình tuyển dụng và bàn giao nhiệm vụ Mặc dù trong nhiều cơ quan R&D và TSO đã có các quy trình quy hoạch cán bộ kế cận nhưng việc triển khai áp dụng rộng rãi kỹ thuật quản lý tri thức để giải quyết vấn đề cá nhân độc tôn vẫn chưa được vận dụng rộng rãi Đây là điểm then chốt
mà quản lý tri thức có thể đem lại lợi ích cho các tổ chức R&D và TSO hạt nhân Tất
cả những loại hình cơ quan R&D đều có thể triển khai KM để giảm lệ thuộc vào cá nhân độc tôn
Thứ hai, Tăng cường sức sáng tạo
Khả năng sáng tạo là yếu tố chung liên quan tới tất cả loại hình tổ chức R&D và
là điểm mấu chốt để phân biệt các tổ chức R&D với các tổ chức hạt nhân khác Việc
Trang 28sáng tạo có thể gồm 3 thành phần chính: sử dụng theo cách mới tri thức hiện có, tạo ra những ý tưởng mới, và khai thác những ý tưởng này để mang lại giá trị cho cơ quan
Sự đổi mới này đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện để giải quyết các vấn đề và khả năng liên kết những khái niệm riêng biệt với nhau để tạo ra kết quả mới Các cá nhân có thể thực hiện quá trình này, nhưng sẽ nhanh hơn và hiệu quả hơn khi có sự phối hợp nhóm Do đó, tương tác xã hội là nhân tố thành công chính để đổi mới, đồng thời việc
sử dụng các công cụ và kỹ thuật KM đóng vai trò quan trọng để cải thiện khả năng đổi mới Tất cả những loại hình cơ quan R&D và TSO đều có thể triển khai KM để tăng cường sáng tạo
Thứ ba, Phát triển mối quan hệ cộng tác và đối tác
Các tổ chức R&D hạt nhân đang tích cực tham gia vào sự phát triển của các liên minh chiến lược quốc tế trong đó yêu cầu chia sẻ nhân viên nghiên cứu và tri thức của
họ trong các mạng lưới uy tín thế giới
Lợi ích này có thể mang lại cho tất cả những loại hình của tổ chức R&D và phổ biến hơn ở những tổ chức được nhà nước hoặc chính phủ tài trợ Sự hợp tác giữa các học viện R&D, chính phủ, trường đại học và ngành công nghiệp đặt ra yêu cầu về cách tiếp cận linh hoạt và quá trình này có thể được thúc đẩy thông qua các công cụ và kỹ thuật KM khác Có thể nhận thấy lợi ích tổng thể của cách tiếp cận này trong hiệu suất công tác, tiết kiệm (chi phí) và uy tín khi áp dụng những giải pháp mới và tiên tiến như
đã đề cập trong phần trên - tăng cường sức sáng tạo
Thứ tư, Sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn sẵn có
Hầu hết các cơ quan R&D đều trải qua việc cắt giảm kinh phí, hoặc được yêu cầu cắt giảm chi tiêu Việc áp dụng những kinh nghiệm thực tiễn tốt về KM có thể không những không làm tăng dự trù kinh phí từ các nhà tài trợ (cả nhà nước và các nguồn khác) mà còn có thể nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí Quản lý tri thức góp phần đảm bảo rằng tất cả nguồn vốn được phân bổ đúng đắn và thu được lợi ích tối đa
từ nguồn kinh phí có giới hạn
Thứ năm, Duy trì và phát triển năng lực cán bộ
Sử dụng tri thức ẩn và tri thức hiện là phần việc cơ bản của cơ quan R&D và TSO hạt nhân, tuy nhiên việc tuyển dụng và sử dụng nhân viên theo đúng năng lực sẽ
là nhân tố quan trọng hơn đóng góp vào sự thành công Chẳng hạn người quản lý phòng thí nghiệm, chuyên gia tư vấn (SME) và cán bộ lâu năm trong phòng thí nghiệm
Trang 29có thể có tri thức phong phú nhưng đó có phải là tri thức cần thiết không? Ngoài ra, phải chăng họ có thái độ và kỹ năng phù hợp? Việc duy trì và phát triển năng lực nhân viên là vấn đề rất quan trọng trong tất cả các cơ quan R&D và TSO Có thể sử dụng một số công cụ và kỹ thuật hữu ích để duy trì và phát triển năng lực nhân viên Ví dụ như xây dựng khung năng lực, các công cụ cơ sở dữ liệu quản lý kỹ năng/năng lực, v.v
Thứ sáu, Bảo vệ tài sản trí tuệ
Tài sản trí tuệ (IP) là tài sản vô hình có giá trị thương mại Trong các tổ chức R&D và TSO hạt nhân việc phát triển IP là chìa khóa quan trọng của tổ chức và cần được bảo vệ Cũng như những tài sản vật chất như các thiết kế, sáng chế, phần mềm, tri thức của nhân viên cũng được xem là IP Thực tế giá trị tri thức của nhân viên trong nhiều tổ chức R&D vượt xa giá trị của tài sản vật chất Việc bảo vệ tất cả loại hình IP
sẽ gồm:
1/ Nắm vững lượng IP đang có
2/ Đánh giá giá trị của IP
3/ Kiểm soát những hạng mục có giá trị cao và tích hợp việc kiểm soát đó vào
hệ thống quản lý
Nắm được lượng "bí quyết tay nghề (know-how) của nhân viên" cũng là việc làm cần thiết như nhiệm vụ phân định tri thức chủ chốt của tổ chức, do đó thực tế có mối liên kết rõ ràng với các công cụ và kỹ thuật KM
Tất cả những loại hình cơ quan R&D đều có thể triển khai KM để bảo vệ tài sản trí tuệ, nhưng đặc biệt phù hợp cho cơ quan R&D có chức năng nghiên cứu ứng dụng, chức năng R&D về thiết kế, chức năng dịch vụ và hỗ trợ kỹ thuật (ví dụ như Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam)
Những kỹ thuật/công cụ liên quan đến KM cần thiết cho việc tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ là:
1/ Định rõ tri thức chủ chốt
2/ Đánh giá rủi ro mất mát tri thức
3/ Lập kế hoạch kế nhiệm
4/ Nắm bắt tri thức ngầm
5/ Nghiên cứu/phát hiện tri thức hiện
6/ Và những công cụ IT thúc đẩy các kỹ thuật nêu trên
Trang 307/ Đào tạo hạt nhân:
Đào tạo hạt nhân là vấn đề rất quan trọng trong các tổ chức R&D có chức năng chủ yếu liên quan tới giảng dạy và đào tạo những sinh viên chất lượng cho ngành công nghiệp hạt nhân mà gần đây đang có nhu cầu ngày một nhiều Việc thực thi thành công chương trình đào tạo và huấn luyện đòi hỏi phải chuyển giao được tri thức Đưa ra cách tiếp cận đa thành phần (Multi-strand) là điều cần thiết và những công cụ được dùng tạo thuận lợi cho công tác đào tạo và huấn luyện gắn kết chặt chẽ với những công
cụ để thực thi KM hiệu quả Mối quan hệ này đang ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong những phát triển gần đây để tiến hành các khóa đào tạo hạt nhân "trực tuyến" trong môi trường lớp học ảo IAEA đã tham gia vào quá trình này và đã đóng góp thông qua các chương trình chẳng hạn Trường đại học hạt nhân thế giới (WNU) và Mạng lưới đào tạo công nghệ hạt nhân châu Á (ANENT) Một số kỹ thuật dùng trong
KM liên quan là: Nghiên cứu/phát hiện tri thức hiện; và những công cụ IT như các cổng thông tin và những công cụ hỗ trợ
8/ Tuân thủ những quy định pháp lý hạt nhân:
Những tổ chức R&D đang vận hành lò phản ứng nghiên cứu và các cơ sở liên quan cần tuân thủ quy định pháp lý hạt nhân, tương tự như đối với cho các nhà máy điện hạt nhân
Chi tiết những quy định pháp lý khác nhau tùy theo từng nước, tuy nhiên có một số khía cạnh chung đều được đề cập Những khía cạnh này đều liên quan tới KM
và gồm:
- Duy trì/kiểm tra năng lực cán bộ
- Tổ chức đào tạo và huấn luyện
- Đặt ra và quản lý về mặt tổ chức đối với những thay đổi (Change considerations)
- Quản lý tài liệu và hồ sơ
Các tổ chức có thiết bị R&D hạt nhân đang hoạt động cần áp dụng những công cụ/kỹ thuật KM như sau:
- Xây dựng khung năng lực cán bộ
- Công cụ cơ sở dữ liệu quản lý kỹ năng/năng lực
- Định rõ tri thức chủ chốt
- Đánh giá rủi ro mất mát tri thức
Trang 31- Lập kế hoạch kế nhiệm
- Nghiên cứu/phát hiện tri thức hiện
- Những công cụ IT chẳng hạn như hệ thống quản lý tài liệu/nội dung, các cổng thông tin và công cụ hỗ trợ
Lộ trình để tiến hành thành công KM
Như bất cứ sáng kiến nào trong một tổ chức, để thực hiện thành công dự án quản lý tri thức cần có sự quản lý chủ động thông qua nhiều giai đoạn phát triển Đối
với các dự án quản lý tri thức, quy trình gồm có 5 giai đoạn như sau (Hình 1.2)
Giai đoạn 1: Định hướng
Giai đoạn 2: Xác lập chiến lược
Giai đoạn 3: Thiết kế và triển khai
Giai đoạn 4: Mở rộng và hỗ trợ
Giai đoạn 5: Quản lý tri thức tập thể
Hình 1.2: Các giai đoạn quản lý tri thức [24]
+ Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam về quản lý tri thức và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành năng lƣợng nguyên tử là: Mất mát tri thức gây ra
hiểm họa khôn lường
Không có văn hóa quản lý tri thức, nhiều tri thức quan trọng của nhân loại đã bị mất, không còn lưu lại được cho thế hệ sau Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA)
đã công khai thừa nhận rằng tri thức đưa con người lên mặt trăng đã bị mất Tri thức
vô giá này được xem như thành tựu khoa học và công nghiệp lớn nhất trong lịch sử loài người được đúc kết bởi lao động của hơn 400.000 kỹ sư, nhà khoa học, kỹ thuật
Trang 32viên tham gia Dự án Apollo trị giá khoảng 150 tỷ đôla, vậy mà đã mất đi chỉ vì một lý
do thật đơn giản: do không có quản lý tri thức (Khoảng 78% tri thức này ở dạng tri thức ngầm, ở trong đầu của những người làm việc ở Dự án Apollo đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang các dự án khác)
Thực tế phát triển điện hạt nhân cũng đã cho thấy một số ý tưởng được xem là triển vọng ở những giai đoạn khác nhau trong lịch sử 50 năm của điện hạt nhân đã bị mất đi, trong đó có những ý tưởng có giá trị to lớn đối với các nhà thiết kế và các nhà đổi mới hệ thống hạt nhân tương lai Nếu bảo tồn được những tri thức đó, sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc
Ngành năng lượng nguyên tử (NLNT) nói chung và điện hạt nhân nói riêng là một ngành khoa học và công nghệ tiên tiến, chứa đựng nhiều tri thức đặc thù, có tính liên ngành, nhạy cảm, đòi hỏi tính kế thừa cao Các tổ chức, cơ quan thuộc ngành NLNT là những tổ chức đòi hỏi nhiều tri thức và có nhu cầu lưu giữ, khai thác một cách có hệ thống và hiệu quả những tri thức đó Chính vì vậy, Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA) đang xây dựng chính sách, hệ phương pháp và hướng dẫn về quản lý tri thức hạt nhân cho các nước thành viên
Vì vậy, Việt Nam (cụ thể là Bộ KH&CN) cần phải xây dựng Thông tư Hướng dẫn (cơ sở pháp lý) về việc triển khai thực hiện công tác quản lý tri thức hạt nhân trong các tổ chức hạt nhân: Cục Năng lượng nguyên tử, Cục An toàn và bức xạ hạt nhân và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
1.5.2 Kinh nghiệm các nước trong đào tạo nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử
Do đặc thù về nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực NLNT như đã nêu trên, tại một
số nước có ngành NLNT phát triển, ban đầu họ đều xây dựng các cơ sở hạt nhân phục vụ đào tạo phát triển, thu hút sinh viên theo học ở những chuyên ngành chuyên sâu trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, qua đó có một đội ngũ nhân lực trình độ cao sẵn sàng phục vụ cho việc phát triển ứng dụng NLNT, đặc biệt là nhà máy điện hạt nhân
Ở nước ngoài, các chính sách về phát triển nguồn nhân lực NLNT đã được chú trọng và đầu tư kinh phí rất lớn, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng Các nước như Pháp, Hàn Quốc, Nga, Nhật, … được coi là những nước đi tiên phong và thành công trong lĩnh vực này
Trang 33+ Kinh nghiệm của Pháp
Năm 1945, Pháp thành lập Cơ quan NLNT (CEA) phục vụ cho việc nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực ĐHN của nước này Đến năm 1956, Pháp chính thức triển khai chương trình phát triển năng lượng hạt nhân Theo đó, Viện khoa học
và kỹ thuật nguyên tử quốc gia trực thuộc CEA được thành lập để đào tạo các kỹ sư và các nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực khoa học và công nghệ mũi nhọn mà các trường đại học chưa có Năm 2008, Chính phủ Pháp thành lập Ủy ban điều phối đào tạo khoa học, kỹ thuật hạt nhân với chức năng kết nối cung - cầu Ủy ban này họp một năm hai lần với sự tham dự của các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới và các cơ sở đào tạo trong nước, các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành quốc gia Nhiệm vụ của Ủy ban là tìm hiểu nhu cầu nhân lực của các cơ sở NLNT và năng lực đào tạo của các cơ
sở đào tạo; thiết lập mối quan hệ đối tác giữa đào tạo và công nghiệp; triển khai hình thức đào tạo mới và đào tạo đội ngũ giáo viên; tuyên truyền về NLNT nhằm thu hút sinh viên, nâng cao chế độ đãi ngộ, tìm nguồn tài chính làm học bổng cho sinh viên
Pháp hiện có khoảng 20 cơ sở đào tạo chuyên ngành liên quan đến ĐHN, với 23 chương trình đào tạo dài hạn và 44 chương trình đào tạo ngắn hạn Pháp là quốc gia có nền giáo dục có bề dày thời gian và kinh nghiệm, do đó, các cơ sở đào tạo chuyên ngành liên quan đến ĐHN cũng được tiếp cận khá nhanh chóng những kinh nghiệm này
+ Kinh nghiệm của Nga
Từ khi thành lập và phát triển đến nay (hơn 65 năm), ngành công nghệ hạt nhân của Liên bang Nga luôn nhận được sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của lãnh đạo cấp cao Liên bang Nga Ngày 7/10/2008, Tổng thống Nga đã ký Sắc lệnh số 1448 “Về hiện thực hóa Dự
án thử nghiệm thành lập các trường đại học tổng hợp quốc gia làm công tác nghiên cứu khoa học”, trong đó có dự án thành lập Trường Đại học tổng hợp quốc gia nghiên cứu hạt nhân Để triển khai thực hiện, mỗi năm Chính phủ và Tập đoàn năng lượng hạt nhân quốc gia Nga (Rosatom) bảo đảm khoảng 800 triệu rúp (26,7 triệu USD) cho Nhà trường (Chính phủ đảm bảo 50 , còn lại do Rosatom đóng góp)
Để phát triển các ngành khoa học ứng dụng, nhất là ứng dụng sản xuất ĐHN, Nga chú trọng đi sâu phát triển nghiên cứu các bộ môn khoa học cơ bản (vật lý lý thuyết, vật lý lượng tử, toán - vật lý…), đồng thời ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao Theo thống kê, hiện nay Liên bang Nga có hơn 20 trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Khoa học chuyên đào tạo các ngành nghề liên quan
Trang 34đến lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế, vận hành, sử dụng nhà máy ĐHN Đứng đầu là các trường đại học kỹ thuật Matxcơva và Trường Đại học năng lượng Matxcơva Ngoài
ra, còn có 7 chi nhánh cùng các trường đại học khác Hệ đào tạo trung cấp có 18 trường Tập đoàn Rosatom liên kết với Bộ Giáo dục và Khoa học Nga trong công tác soạn thảo, thống nhất chương trình giảng dạy, mở các bộ môn mới, xác định chỉ tiêu đào tạo, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp, hỗ trợ vất chất cho các trường đại học
+ Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công đối với dự án ĐHN đầu tiên
ở Hàn Quốc là chủ trương tự chủ tạo nhân lực Họ cho rằng: “Nếu không có nhân lực thì không thể xây dựng được nhà máy ĐHN”, đồng thời, để có được nhân lực giỏi về chuyên môn Hàn Quốc tuyển chọn các kỹ sư trẻ gửi đi đào tạo ở các nước có nền công nghiệp ĐHN tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nhật Bản Sau khi kết thúc khóa học, họ được chuyển đến các công trường xây dựng nhà máy ĐHN để tích lũy kinh nghiệm thực hiện các dự án Hàn Quốc coi đây là điểm quan trọng đảm bảo thành công cho chương trình tự chủ về công nghệ xây dựng nhà máy ĐHN
Việc chuẩn bị nhân lực cho dự án ĐHN đầu tiên ở Hàn Quốc được thực hiện cả trong nước và nước ngoài Sau khi được chỉ định là chủ sở hữu, Dự án ĐHN Hàn Quốc (KEPCO) đã chủ động đưa người đi đào tạo tại các cơ sở hạt nhân trong nước Trong 10 năm đã có khoảng 670 người tham dự khóa học kiểu này Ngoài ra, KEPCO còn tổ chức các lần thi tuyển để tuyển dụng các kỹ sư trẻ đã được đào tạo về hạt nhân tại các trường đại học để bổ sung nhân lực cho ban quản lý dự án Việc đào tạo ở nước ngoài được thực hiện thông qua các hợp đồng thương mại với nhà thầu chính Số lượng được đào tạo gần
300 người, chủ yếu là các lĩnh vực vận hành, kỹ thuật, xây dựng
+ Kinh nghiệm của Nhật Bản
Hội đồng phát triển nhân lực ĐHN Nhật Bản được Chính phủ nước này giao trách nhiệm hoạch định chiến lược phát triển trung và dài hạn nhân lực cho ngành ĐHN Việc quy hoạch, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ĐHN ở Nhật Bản được kết hợp chặt chẽ giữa 4 tổ chức chính: 1) Các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý và giám sát; 2) Các trường đại học có chuyên ngành đào tạo về NLNT và ĐHN; 3) Ngành công nghiệp hạt nhân; 4) Cơ quan nghiên cứu phát triển NLNT
Tại Nhật Bản, hàng năm có khoảng 700-800 sinh viên đại học tốt nghiệp ngành ĐHN, trong đó có 200-300 người được tuyển chọn tiếp tục đào tạo ở cấp cao hơn (thạc
Trang 35sĩ, tiến sĩ), số còn lại bố trí làm việc tại các nhà máy ĐHN và cơ sở nghiên cứu NLNT Công tác phát triển nhân lực ở các nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện ở các viện nghiên cứu, trong đó, Cơ quan Nghiên cứu trung tâm về công nghiệp điện lực Nhật Bản là đơn vị chính thực hiện nhiệm vụ này
Trung tâm Đào tạo năng lượng hạt nhân Nhật Bản là cơ sở đào tạo nhân lực chính quy và lớn nhất tại Nhật Bản, và là cơ quan duy nhất có quyền cấp giấy phép hành nghề cho tất cả các thành viên làm việc trong nhà máy ĐHN Sinh viên đại học tốt nghiệp chuyên ngành ĐHN chỉ được hành nghề sau khi hoàn thành khóa huấn luyện do Trung tâm Đào tạo năng lượng hạt nhân Nhật Bản tổ chức
1.6 Bài học kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
1.6.1 Đào tạo nhân lực trong các Trường Đại học về năng lượng nguyên tử
+ Chương trình đào tạo nguồn nhân lực năng lượng nguyên tử của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Để thực hiện “Kế hoạch tổng thể thực hiện Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đặc biệt là nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực năng lượng nguyên tử có chất lượng cao cho các nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam tại Ninh Thuận vào năm 2020, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã xây dựng và phát triển Đào tạo nhân lực hạt nhân theo các ngành như sau:
- Ngành Kỹ thuật hạt nhân;
- Ngành Hóa học hạt nhân và Phóng xạ;
- Ngành Kỹ thuật trong nhà máy điện hạt nhân
Yêu cầu về đào tạo nhân lực hạt nhân, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, là vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn chuẩn bị cho quá trình đưa điện hạt nhân vào nước ta, chuẩn bị cho sự xây dựng, lắp đặt và vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Ninh Thuận một cách an toàn và ổn định lâu dài, đồng thời chuẩn bị tiền đề cho những kế hoạch phát triển lâu dài về điện hạt nhân cũng như ứng dụng kỹ thuật hạt nhân của nước ta
Tuy nhiên, trình độ đào tạo, chương trình giảng dạy cũng như trang thiết bị cho công tác đào tạo nhân lực hạt nhân của nước ta nói chung và của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội nói riêng còn yếu, chưa đạt được chất lượng đào tạo cũng như về số
Trang 36lượng sinh viên theo yêu cầu của Chương trình điện hạt nhân Việc đầu tư cho đào tạo nhân lực và nghiên cứu ứng dụng về kỹ thuật hạt nhân ở trường đại học công nghệ trọng điểm của đất nước là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn chưa được chú ý thích đáng Đặc biệt do lịch sử của quá trình phát triển, các ngành đào tạo tại Trường Đại học Bách khoa (cũng như các trường đại học khác) tập trung chủ yếu vào kiến thức lý thuyết, thiên về kỹ thuật hạt nhân hơn là đi sâu về công nghệ hạt nhân, các ngành thực sự quan trọng để phát triển ngành điện hạt nhân Do đó việc triển khai đào tạo nhân lực hạt nhân để hỗ trợ chương trình phát triển ĐHN Việt Nam (Ninh Thuận 1
và 2) thực sự chưa thành công và có nhiều tồn tại, nhược điểm
+ Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành năng lượng nguyên tử của Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
Là một trong 5 đơn vị được giao nhiệm vụ theo Quyết định 1558/QĐ-TTg ký ngày
18 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và tập trung vào công tác đào tạo cử nhân Công nghệ hạt nhân phục vụ chương trình điện hạt nhân Đào tạo cử nhân Công nghệ hạt nhân đạt chất lượng quốc tế với những năng lực và kỹ năng chủ yếu sau đây:
- Có kiến thức cơ bản về khoa học và công nghệ hạt nhân, năng lực thực hành nghề nghiệp, khả năng tham gia giải quyết những vấn đề kỹ thuật và công nghệ hạt nhân
- Có kiến thức vững vàng về vật lý hạt nhân và hoá học phóng xạ, có khả năng
sử dụng kiến thức chuyên môn sâu về công nghệ hạt nhân để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà máy điện hạt nhân như hóa học phóng xạ, an toàn bức xạ, theo dõi và đánh giá tình trạng nhiễm xạ môi trường, kiểm tra không phá hủy bề mặt và bên trong các thiết bị, quản lý và xử lý chất thải phóng xạ, ứng dụng đồng vị phóng xạ
- Có kỹ năng thực hành tốt, sử dụng thành thạo một số thiết bị chuyên dụng trong nghiên cứu khoa học, vận hành trang thiết bị phân tích, xử lý vật liệu phóng xạ tại nhà máy điện hạt nhân và các lĩnh vực liên quan
Trường Đại học Khoa học tự nhiên có kinh nghiệm nghiên cứu cơ bản về khoa học cơ bản và Bộ môn Vật lý hạt nhân, Khoa Vật lý là đơn vị phụ trách đào tạo vật lý
và công nghệ hạt nhân cho Chương trình điện hạt nhân Với lực lượng cán bộ giảng viên mỏng và cơ sở cũng chưa được đầu tư nhiều nên việc đào tạo về công nghệ hạt nhân liên quan đến an toàn, thuỷ nhiệt và lò phản ứng chưa đạt được yêu cầu đặt ra so với tiêu chuẩn quốc tế Đánh giá những kết quả đạt được từ khi bắt đầu triển khai công
Trang 37tác đào tạo từ năm 2002, cũng tương tự như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong thời gian 10 năm gần đây khi Việt Nam phát triển chương trình điện hạt nhân, Trường Đại học Khoa học tự nhiên cũng chưa đóng góp được cho đào tạo nhân lực hỗ trợ điện hạt nhân do chưa có một chương trình đào tạo chuẩn về công nghệ hạt nhân và thiếu đội ngũ cán bộ giảng dạy, đào tạo theo chuyên ngành
+ Trường Đại học Đà Lạt
Trường Đại học Đà Lạt là một trong 5 đơn vị được giao nhiệm vụ theo Quyết định 1558/QĐ-TTg ký ngày 18 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1592/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ngày 13 tháng 5 năm 2015
về đào tạo hệ chính quy trình độ đại học thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử với thiết
kế chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, hệ kỹ sư, thời gian đào tạo 4,5 năm Với 05 cuộc hội thảo khung chương trình, Trường đã tiến hành xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến có tham khảo chương trình đào tạo của một số nước phát triển công nghệ hạt nhân với ba chuyên ngành sâu được xây dựng là: Tính toán Lò phản ứng hạt nhân; An toàn bức xạ và kiểm soát phóng xạ môi trường; Ứng dụng chùm bức
xạ trong đời sống
Mặc dù có nỗ lực trong việc cải tiến chương trình chất lượng đào tạo, với sự phối hợp với Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và đối tác Hàn Quốc nhưng đội ngũ cán bộ được đào tạo từ Trường Đại học Đà Lạt vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế
về nghiên cứu, triển khai, về phát triển điện hạt nhân của Việt Nam Rất ít cán bộ tốt nghiệp được tuyển dụng vào các cơ sở nghiên cứu hạt nhân, hoặc làm điện hạt nhân
1.6.2 Đào tạo nhân lực cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Để đáp ứng chương trình phát triển ĐHN nói chung và Dự án ĐHN Ninh Thuận nói riêng, theo đánh giá, nhu cầu nhân lực có trình độ đại học trở lên của các Bộ, ngành, địa phương (chưa kể nhu cầu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam) đến năm 2020 lên tới trên 1000 người bao gồm một lượng đáng kể chuyên gia có trình độ cao trong các lĩnh vực liên quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án đào tạo nguồn nhân lực cho các dự án nhà máy ĐHN tại tỉnh Ninh Thuận, trong đó phần lớn nhân lực có trình độ đại học trở lên sẽ được đào tạo thông qua Đề án 1558 do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện, số nhân lực có trình độ cao đẳng nghề, kỹ thuật viên sẽ do EVN đào tạo chủ yếu ở trong nước EVN
đã gửi đào tạo tại Liên bang Nga hơn 300 sinh viên, theo học ngành điện hạt nhân
Trang 38Đề án 1558 tập trung vào việc đào tạo mới đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và sau đại học các chuyên ngành hạt nhân để đáp ứng yêu cầu cho các Bộ, ngành, địa phương liên quan Tuy nhiên, Đề án 1558 chưa chú trọng và dành kinh phí tương xứng
để đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - triển khai cho phát triển ĐHN Cụ thể là, Đề án chỉ dành chỉ tiêu 500 lượt người đi đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài, không có quy định về bồi dưỡng trong nước
và bồi dưỡng dài hạn ở nước ngoài Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ KH&CN, nhu cầu bồi dưỡng cho giai đoạn đến năm 2020 lên tới 3000 lượt người, với kinh phí trên
500 tỷ đồng (chủ yếu dành cho bồi dưỡng dài hạn và thuê chuyên gia nước ngoài) Trên thực tế, việc đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng, huấn luyện còn rất hạn chế Kinh phí từ ngân sách nhà nước thực tế chi cho bồi dưỡng còn mới chỉ có gần 10 tỷ đồng cho giai đoạn 2011 - 2014 (trong đó khoảng 3 tỷ đồng trực tiếp từ Đề án
a) Các khóa bồi dưỡng trong nước
Tổ chức các khoá đào tạo về công nghệ nhà máy điện hạt nhân, phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân, thực hành thẩm định an toàn báo cáo SAR cho các cán bộ quản lý
và kỹ thuật của các Bộ ban ngành và địa phương cũng như cán bộ của Cơ quan Pháp quy thẩm định báo cáo phân tích an toàn nhà máy điện hạt nhân Kết quả đạt được là hàng nghìn lượt cán bộ đã được tham gia các khoá đào tạo trên từ năm 2007- 2015 b) Các khóa bồi dưỡng, thực tập ở nước ngoài
Cử các cán bộ nghiên cứu, quản lý đi tham gia bồi dưỡng tại nước ngoài về nhà máy điện hạt nhân, nâng cao về hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với nhà máy điện hạt nhân, quản lý sự cố nặng hay sử dụng phần mềm RESRAD trong đánh giá phát tán
Trang 39phóng xạ trong môi trường Kết quả đạt được là hàng trăm lượt cán bộ đã được cử đi nước ngoài đào tạo trình độ cao hay nâng cao về chuyên môn sâu trong lĩnh vực điện hạt nhân
1.6.4 Đánh giá thực tế và các bài học kinh nghiệm
Đào tạo nhân lực cho hạt nhân là một vấn đề phức hợp và có tầm quan trọng vào bậc nhất đối với chương trình điện hạt nhân Đào tạo nhân lực hạt nhân phải đặt ở tầm quốc gia, với một mức độ cấp thiết cao và phải đi trước một bước so với các tiến độ khác của chương trình hạt nhân nói chung và chương trình điện hạt nhân nói riêng Muốn có một nhân lực hạt nhân hùng hậu, và gìn giữ được nhân lực này cần có một chính sách thích hợp
Sự thành công của chương trình hạt nhân do yếu tố nhân lực quyết định một phần lớn Định hướng phát triển đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân cần tập trung vào mục tiêu chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng tốt về chuyên môn và
kỷ luật tốt về an toàn lao động làm nòng cột cho đội ngũ khoa học cơ bản về hạt nhân cho quốc gia trong thập kỷ tới
Tuy nhiên, việc đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và đào tạo nhân lực về kỹ thuật hạt nhân ở các trường đại học công nghệ trọng điểm của đất nước vẫn chưa được chú ý đúng mức, nên hiện nay Việt Nam vẫn đang bị tụt hậu rất xa so với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á trong hầu hết các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu - ứng dụng
kỹ thuật hạt nhân, chưa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của sự phát triển điện hạt nhân
ở Việt Nam Trong Quyết định số 1558/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 18/8/2010 về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” đã nêu rõ: Phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một bước, nhà nước có chương trình đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của chương trình phát triển điện hạt nhân và yêu cầu nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử Bản Quyết định đồng thời nhấn mạnh cần tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là xây dựng các cơ sở giáo dục và đào tạo, các tổ chức nghiên cứu và triển khai về khoa học và công nghệ hạt nhân, đồng thời chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, hoạch định chính sách và luật pháp trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Đào tạo, nghiên cứu về hạt nhân đã được triển khai tại Việt Nam trong 20 năm
Trang 40gần đây, nhằm mục đích hỗ trợ cho chương trình ĐHN của đất nước Mặc dù vậy, số lượng cán bộ nghiên cứu giỏi về lĩnh vực này hiện nay vẫn còn hạn chế, và năng lực tính toán, phân tích an toàn của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đủ để có thể tự phát triển
và thực hiện được các nhiệm vụ lớn của Nhà nước liên quan đến điện hạt nhân như thẩm định và đánh giá an toàn các thiết kế nhà máy điện hạt nhân, do quá trình đào tạo nhân lực, đội ngũ chuyên gia hàng đầu trong an toàn hạt nhân, ĐHN cần thời gian dài, cũng như do trong thời gian qua, việc triển khai xây dựng và đào tạo đội ngũ nghiên cứu (về ĐHN và an toàn hạt nhân) của chúng ta vẫn chưa có cách tiếp cận mang tính
“cách mạng” và chưa quyết liệt, mạnh mẽ Thực tế là những năm qua Nhà nước vẫn chưa đặt ra được những nhiệm vụ thiết yếu liên quan, ở tầm quốc gia để các nhóm nghiên cứu, tư vấn cùng nhau tham gia, giải quyết, đưa năng lực nghiên cứu tư vấn điện hạt nhân lên một mức độ cao hơn
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã làm rõ các nội dung cơ bản về nhân lực KH&CN, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT; Vai trò của nhân lực KH&CN trình độ cao; Đặc thù và nội dung đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT; Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT; Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tri thức và đào tạo nguồn nhân lực ngành NLNT; Bài học kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Các nội dung ở trên là tiền đề để tác giả luận văn phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao tại Viện NLNTVN trong Chương 2 Từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao tại Viện NLNTVN trong Chương 3