1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của bên nhận quyền tại tp HCM tt

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 593,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nhà khoa học khác lại cho rằng chất lượng sự duy trì và phát triển NQTM phụ thuộc vào chất lượng mối quan hệ CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền Rubin, 1978; Shane, 1996 , mối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

TRẦN THỊ TRANG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỰ ĐỊNH DUY TRÌ THAM GIA HỆ THỐNG NQTM CỦA BÊN NHẬN QUYỀN TẠI TP.HCM

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Người hướng dẫn khoa học:

Vào hồi ……… giờ ……… ngày ……… tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trang 3

A Các công trình chính liên quan đến luận án

1 Trần Thị Trang, 2016 Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống nhượng quyền thương mại: Trường hợp ở Việt Nam Tạp chí Khoa học và Công nghệ Số 8(105), trang 108-112

2 Tran Thi Trang, 2016 The effect of commitment and franchising law enforcement on franchisee's intentions to remain in the franchise system Proceedings of the 5th International conference on emerging challenges: partnership enhancement ISBN: 978-604-93-8961-0, page 111-116

3 Võ Thanh Thu và Trần Thị Trang, 2015 Tác động của chất lượng mối quan hệ và đặc điểm cá nhân đến quyết định duy trì tham gia hệ thống nhượng quyền thương mại Tạp chí Phát triển kinh tế Số 10, trang 92-110

B Các công trình liên quan khác

4 Trần Thị Trang, 2015 Quản lý nhà nước về nhượng quyền thương mại và một số khuyến nghị Tạp chí Tài chính Số 611, trang 20-22

5 Võ Thanh Thu, Trần Thị Trang và đtg, 2015 Hoạt động nhượng quyền thương mại (franchise) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - thực trạng và giải pháp thúc đẩy phát triển Đề tài NCKH cấp tỉnh (Sở Khoa học Công nghệ Tp.HCM)

6 Nguyễn Đông Phong, Võ Thanh Thu và Trần Thị Trang, 2015 Cẩm nang hướng dẫn kinh doanh nhượng quyền thương mại NXB Kinh

tế Tp.HCM

7 Tran Thi Trang and Vo Thanh Thu, 2015 Franchising – Problems and recommendation Proceedings of the 5th International conference on emerging challenges: Managing to Success ISBN: 978-604-938-723-4, page 473-480

8 Tran Thi Trang, 2014 Service quality in convenience franchising stores Proceedings of the 5th International conference on Green Technology and Sustainable Development ISBN: 978-604-732817-

8, page 650-654

Trang 4

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN ÁN 1.1 Bối cảnh nghiên cứu của luận án

Có nhiều nghiên cứu mang tính học thuật về sự duy trì và phát triển NQTM, nhưng đa số các học giả cho rằng, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu và lợi ích chung mà cả hai Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền hướng đến Đây là những nhân tố quan trọng nhất để duy trì mối quan hệ vì sự thua lỗ của bên này sẽ tác động không thuận lợi đến bên kia và ngược lại Một số nhà khoa học khác lại cho rằng chất lượng sự duy trì và phát triển NQTM phụ thuộc vào chất lượng mối quan hệ (CLMQH) Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền (Rubin, 1978; Shane, 1996) ), mối quan hệ này được thể hiện qua ba yếu tố sau: (1) Chất lượng hợp đồng NQTM quy định trách nhiệm, quyền quyết định và chia sẻ nguồn lực giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền (Rubin, 1978; Pizanti và đtg, 2003), (2) Phát triển mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền và (3) CLMQH trong hoạt động NQTM phụ thuộc nhiều vào năng lực của Bên nhận quyền (Kaufmann và đtg, 1995; Nathan, 2004)

Mặc dù còn rất nhiều ý kiến khác nhau về NQTM, nhưng các nhà khoa học đều nhấn mạnh với đặc điểm chung: Phương thức kinh doanh NQTM là phương thức kinh doanh giúp nhanh chóng mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển thương hiệu thông qua sự đầu tư của các Bên nhận quyền trong hệ thống, cho nên, một hệ thống NQTM cần phải ổn định và phát triển về mặt số lượng các Bên nhận quyền Việc lựa chọn Bên nhận quyền có đủ tiềm lực tài chính, năng lực quản lý tham gia vào hệ thống NQTM là rất cần thiết Các nhà nghiên cứu lý thuyết về NQTM cũng rất quan tâm nghiên cứu khám phá làm thế nào để các Bên nhận quyền này tiếp tục duy trì mối quan

hệ cộng sinh, duy trì sự hợp tác – xây dựng – phát triển hệ thống

Trang 5

NQTM Đây là vấn đề quan trọng, có tính sống còn cho sự phát triển của một hệ thống NQTM Có nhiều nghiên cứu về duy trì hợp tác trong kinh doanh nói chung và duy trì tham gia hệ thống NQTM nói riêng như: Adeiza và đtg (2017), Erlinda và đtg (2016), Jena và đtg (2011), Hanafiah (2009), Lee và đtg (2008), Venetis và đtg (2004), Ulaga và đtg (2006), Chiou và đtg (2004), Morrison (1997),…

Trong hoạt động NQTM, đối với Bên nhượng quyền, Bên nhận quyền vừa là khách hàng vừa là đối tác thành viên của hệ thống NQTM Do vậy, khác với các hoạt động kinh doanh thông thường, khách hàng ở đây (Bên nhận quyền) cần phải được cân nhắc tuyển chọn sao cho có thể tham gia lâu dài vào quá trình phát triển chung của hệ thống NQTM Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền trong các nghiên cứu đề cập trên chủ yếu xoay quanh mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền (sự tin tưởng, sự hài lòng, sự cam kết), và dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền là kết quả của mối quan hệ này Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền như: Giao tiếp, hỗ trợ dịch vụ của Bên nhượng quyền, lợi thế cạnh tranh của Bên nhượng quyền, sự cam kết của hệ thống NQTM, mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền, sự hài lòng chung, đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền,… Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đề cập đến yếu tố pháp luật NQTM cũng như việc thực thi pháp luật NQTM của Bên nhận quyền có ảnh hưởng như thế nào đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền Bên cạnh đó, các yếu tố đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền, CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền đã được đề cập riêng biệt khi nghiên cứu tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM

Trang 6

của Bên nhận quyền Đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền có liên quan đến việc lựa chọn Bên nhận quyền của Bên nhượng quyền cho

hệ thống NQTM Đồng thời, trong một hệ thống NQTM không chỉ tồn tại mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền mà còn có mối quan hệ giữa các Bên nhận quyền trong hệ thống Do vậy, tương quan giữa đặc điểm cá nhân, CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền và dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền như thế nào, vấn đề này cần được nghiên cứu làm rõ hơn Hơn nữa, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, văn hóa, ngôn ngữ, pháp luật, con người, thu nhập, mức sống,… có nhiều điểm khác biệt so với các nước phát triển Vì vậy, hoạt động NQTM, dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền sẽ có những điểm chung nhưng có thể tồn tại những nhân tố, đặc thù riêng cần được khám phá thêm thông qua các nghiên cứu mang tính học thuật và kiểm định qua nghiên cứu thực tiễn

NQTM là một phương thức kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm và góp phần phát triển nền kinh tế (Shane và đtg, 2006) Phương thức kinh doanh NQTM được áp dụng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như: nhà hàng, dịch vụ nhà trọ, bán lẻ, dịch vụ cá nhân, ô tô, bất động sản, dịch vụ thương mại,… Tại Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng, hoạt động kinh doanh theo phương thức NQTM đang trong giai đoạn đầu của

sự phát triển Tuy nhiên, hoạt động NQTM ở nước ta còn mang tính

tự phát, chưa thể hiện sự chuyên nghiệp, thiếu tính bền vững Một trong những nguyên nhân chính của thất bại này là chưa xây dựng được CLMQH tốt giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền, cũng như chưa thực hiện đúng các cam kết cần thiết trong hoạt động kinh doanh NQTM, dẫn đến Bên nhận quyền không duy trì tham gia lâu

Trang 7

Do đó, luận án Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia

hệ thống NQTM của Bên nhận quyền tại Tp.HCM được nghiên

cứu nhằm khám phá và kiểm định những nhân tố then chốt góp phần đem đến dự định gắn bó, duy trì lâu dài của Bên nhận quyền đối với

hệ thống NQTM – điều kiện sống còn của một hệ thống NQTM

1.2 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Khám phá nhân tố Thực thi pháp luật NQTM, đặc điểm cá nhân

và CLMQH Bên nhượng quyền – Bên nhận quyền có tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền, điều chỉnh các thang đo kế thừa từ các nghiên cứu trước

- Hai nhân tố CLMQH Bên nhượng quyền – Bên nhận quyền và đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền được xem xét là hai khái niệm đa hướng

1.3 Mục tiêu nghiên cứu luận án

- Thiết kế mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao mức độ dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền và các hàm ý chính sách đối với Nhà nước về hoạt động NQTM

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về vấn đề nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến dự định duy trì

Trang 8

tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

- Về thời gian: Hoạt động NQTM thực tiễn từ 2007 đến nay

- Về không gian:

+ Tổng quan về thực trạng hoạt động NQTM Việt Nam nói

chung và Tp.HCM nói riêng

+ Khảo sát, kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến dự định

duy trì tham gia hệ thống NQTM Bên nhận quyền tại Tp.HCM

- Về đối tượng khảo sát: Bên nhận quyền – lãnh đạo doanh nghiệp hay quản lý cửa hàng nhận quyền – người điều hành và đề xuất các quyết định cho hoạt động kinh doanh NQTM của đơn vị

1.5 Phương pháp nghiên cứu luận án

Luận án lựa chọn cả 2 phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng vấn tay đôi ở giai đoạn nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được thực hiện qua hai giai đoạn là nghiên cứu định lượng sơ bộ với 95 nhà nhận quyền tại Tp.HCM cùng với nghiên cứu định lượng chính thức với kỹ thuật khảo sát 187 doanh nghiệp và cá nhân nhận quyền, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phát triển mầm và phương pháp ngẫu nhiên đơn giản

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM được hiểu là hành vi của Bên nhận quyền trong việc lên kế hoạch hoặc ra quyết định tái

ký hợp đồng NQTM hoặc mở rộng hợp tác với Bên nhượng quyền trong hệ thống NQTM mà họ đang tham gia Khi Bên nhận quyền có hành vi này tức là Bên nhận quyền đang có dự định duy trì tham gia

hệ thống NQTM

2.1 Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

Trang 9

Bảng 2.4: Tổng hợp các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

2 Sự tin tưởng

Erlinda và đtg (2016), Victoria Bordanaba-Juste và đtg (2008), Chiou

và đtg (2004), Morrison (1997)

3 Sự hài lòng

Chen (2011), Huang và đtg (2009), Lee và đtg (2008), Chiou và đtg (2004), Hing (1999), Morrison (1997), Justis và đtg (1991)

4 Sự cam kết Victoria Bordanaba-Juste và đtg

Trang 10

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

2.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền

2.2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến dự định duy trì tham gia hệ

thống NQTM của Bên nhận quyền

2.2.1.1 Lý thuyết động cơ (Motivation theory)

Dự định thực hiện một hành vi là yếu tố chính của hành vi trong tương lai (Ajzen và đtg, 2005) và nó trải qua ba bước: (i) Hình thành động cơ; (ii) Hành động lựa chọn hoặc ra quyết định; (iii) Thực hiện dự định (Thomas Waweru Gakobo và đtg, 2016) Như vậy, hình thành động cơ là bước khởi đầu cho việc hình thành dự định hay lên

kế hoạch hay ra quyết định thực hiện một hành động

Động cơ là một khái niệm lý thuyết được sử dụng để giải thích tại sao con người tiến hành các hành động cụ thể tại một thời gian cụ thể (Beck, 2004) Còn theo quan điểm của Petri và đtg (2004), động

cơ là khái niệm dùng để mô tả các tác động trực tiếp từ bên ngoài hoặc bên trong một tổ chức đến hành vi, giải thích sự khác biệt về mức độ của hành vi và chỉ ra sự tồn tại của nó

Các lý thuyết tạo động cơ dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu: động

cơ thúc đẩy con người hành động xuất phát từ mong muốn thỏa mãn

và đtg (2004)

9 Môi trường KD Huang và đtg (2009)

10 Định hướng dài hạn Ono và đtg (2009)

11 Chủ nghĩa cơ hội Ono và đtg (2009)

12 Tự chủ nhận thức Hanafiah và đtg (2009)

13 Sự quan tâm gia đình Hanafiah và đtg (2009)

Trang 11

nhu cầu Quá trình thực hiện nhu cầu là một quá trình phức tạp: Cảm thấy có nhu cầu về một cái gì đó và tìm cách để thỏa mãn nó.Trong kinh doanh, động cơ được cho là có tác động mạnh mẽ đến hành vi (Herron và đtg, 1993; Renko và đtg, 2011) Bird (1998) cho rằng dự định của người sáng lập quyết định hình thức và chỉ đạo của một tổ chức Còn trong lĩnh vực NQTM, hai lý thuyết về động cơ có thể rất hữu ích khi vận dụng để hiểu được động cơ tham gia trong hệ thống NQTM của Bên nhận quyền là lý thuyết nội dung và lý thuyết quá trình về động lực Trong đó, lý thuyết quá trình động lực đóng vai trò quan trọng vì chúng giúp hiểu rõ thêm những gì ảnh hưởng đến quá trình hình thành dự định của Bên nhận quyền

2.2.1.2 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior)

Lý thuyết hành vi dự định là lý thuyết về mối liên hệ giữa thái độ

và hành vi, nhận diện kiểm soát hành vi và các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hành vi dự định cá nhân (Ajzen, 1991) Các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lý xã hội (Ajzen, 2002), du lịch (Hsu, 2012), lễ hội và sự kiện (Horng và đtg, 2013; Shen, 2014),

đã vận dụng thành công lý thuyết hành vi dự định để làm rõ tác động của động cơ vào hành vi dự định và hành vi.Lý thuyết hành vi dự định là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (theory of reasoned action - TRA) khi đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 2002) Ngoài ra, lý thuyết này còn xem xét sự liên quan giữa yếu tố niềm tin và việc sở hữu các nguồn lực cần thiết cũng như cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể Một số nghiên cứu trước chứng minh tác động của yếu tố kiểm soát hành vi đến dự định của cá nhân Nghĩa là, hành vi dự định sẽ cao hơn khi một cá nhân nắm giữ quyền kiểm soát thực hiện một hành vi nhất định (Buttle và đtg, 1996; Horng và đtg, 2013; Shen, 2014) Theo Ajzen (1991), lý

Trang 12

thuyết hành vi dự định mặc nhiên công nhận ba thành phần chính cấu tạo khái niệm về dự định: thái độ đối với các hành vi, yếu tố chủ quan và kiểm soát hành vi dự định

Trong lĩnh vực NQTM, lý thuyết hành vi dự định giúp dự đoán được thái độ, hành vi của Bên nhận quyền trong việc có dự định tiếp tục duy trì tham gia hệ thống NQTM hay không

2.2.1.3 Lý thuyết Đại lý (Agency theory)

Lý thuyết đại lý được Jensen và Meckling đưa ra vào năm 1976

Lý thuyết này đề cập đến một thỏa thuận giữa một bên (người ủy thác - principal) cam kết với một bên khác (đại lý - agent) thay mặt

họ thực hiện một số dịch vụ, đồng thời trao cho đại lý một số quyền hạn và tự ra quyết định trong phạm vi đã thống nhất Lý thuyết đại lý chỉ ra rằng mục đích của các hợp đồng với đại lý là cho phép các giao dịch được thực hiện theo cách tích hợp

Trong hoạt động NQTM, tính chất quan hệ đại lý rất rõ nét: Bên nhượng quyền dựa vào Bên nhận quyền thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, đồng thời trao cho đại lý một số quyền hạn và tự ra quyết định trong phạm vi đã thống nhất Lý thuyết đại lý cũng giả định rằng việc kiểm soát các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền được xem xét từ sự khác biệt về mục đích, thông tin và rủi ro liên quan của các bên (Bergen và đtg, 1992) Vận dụng lý thuyết đại lý được xem là một công cụ giúp các Bên nhượng quyền kiểm soát các hoạt động của Bên nhận quyền

2.2.1.4 Lý thuyết CLMQH (Relationship quality)

Dwyer và đtg (1987) đã nghiên cứu đầu tiên về CLMQH Đến năm 1990, Crosby và đtg đã xây dựng thành hệ thống lý thuyết về CLMQH Khi đó, CLMQH được định nghĩa là sự đánh giá về sức mạnh mối quan hệ và sự mở rộng mối quan hệ nhằm đáp ứng những

Trang 13

kỳ vọng và nhu cầu của các bên liên quan CLMQH giữa khách hàng

và công ty là một thước đo xem khách hàng có muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ với người cung cấp dịch vụ hay không (Roberts và đtg, 2003) CLMQH được xem xét trên ba phương diện chính: Sự hài lòng (satisfaction), sự tin tưởng (trust), và sự cam kết (commitment) (Hennig và đtg, 1997; Smith, 1998; Liang và đtg, 2005)

Trong nhiều ngành công nghiệp ngày nay, CLMQH là công cụ nhằm duy trì mối quan hệ dài hạn giữa người bán và người mua (Dwyer và đtg, 1987) Điều này tương tự CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền trong lĩnh vực NQTM Bên nhận quyền chính là khách hàng, là đối tác ký kết hợp đồng NQTM với Bên nhượng quyền Mối quan hệ NQTM là loại mối quan hệ hợp tác dài hạn tiêu biểu Thời gian duy trì mối quan hệ giữa hai bên phản ánh CLMQH giữa họ (Ernández Monroy và đtg 2005)

2.2.1.5 Lý thuyết Đặc điểm cá nhân (Big Five personality traits)

Lý thuyết này đề cập đến tính cách khác nhau cơ bản của mỗi cá nhân thông qua năm đặc điểm: Hướng ngoại (extraversion), sự đồng thuận (agreeableness), sự tận tâm (conscientiousness), ổn định cảm xúc (emotional stability) và sự tưởng tượng (imagination) (Costa và đtg, 1992) Trong NQTM, Peterson và đtg (1990), tính cáchBên nhận quyền là một trong những tương quan ảnh hưởng đến cảm nhận của

họ về NQTM Nghiên cứu những đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền giúp hiểu động cơ tham gia hệ thống NQTM (Lee, 1999)

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, dựa vào đặc điểm cá nhân có thể dự đoán khả năng tương thích mối quan hệ nội bộ (Morrison, 1997), mong muốn duy trì và phát triển hệ thống NQTM của Bên nhận quyền (Weaven và đtg, 2009) Ngoài ra, theo Nguyễn Đông Phong và đtg (2009), NQTM là một phương thức kinh doanh

Ngày đăng: 18/05/2021, 12:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w