SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀINGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP THỂ DỤC NGOẠI KHÓA PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG CHO HỌC SINH
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀINGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP THỂ DỤC NGOẠI KHÓA PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG CHO HỌC SINH THPT CHU VĂN AN - TP SẦM SƠN
Trang 2MỤC LỤC
g
1 Mở đầu……….……… 1
1.1 Lý do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục đích nghiên cứu……….…… 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu……….…… 1
1.4 Địa điểm nghiên cứu 1
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 1
1.6 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1 Thời gian nghiên cứu.……… 3
2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh phổ thông (tuổi 16-18) … 4
2.3 Khái quát về khả năng PHVĐ ……… 4
2.4 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động 5
2.5 Một số vấn đề về khả năng PHVĐ của học sinh PTTH 5
3 Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu……… 5
3.1 Đánh giá thực trạng chất lượng tập luyện Thể dục nội và ngoại khóa của học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn 5
3.2 Lựa chọn và ứng dụng bài tập phát triển khả năng PHVĐ cho học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn 13
4 Kết luận kiến nghị 19
4.1 Kết luận 19
4.2 Kiến nghị 19
2
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong xã hội ta ngày nay, thể dục thể thao (TDTT) là lĩnh vực được đôngđảo quần chúng quan tâm và tập luyện với mục đích rèn luyện nâng cao sứckhỏe để lao động có hiệu quả và hoàn thiện chính bản thân mình
Giáo dục thể chất (GDTC) là một mặt cơ bản, quan trọng của nền giáodục xã hội xã hội chủ nghĩa, nó liên quan tới sự nghiệp đào tạo con người pháttriển toàn diện cân đối, con người có “Đức - Trí - Thể - Mỹ” con người mới làmchủ cho một xã hội văn minh tiến bộ trong tương lai Từ nhiều năm nay ngànhGiáo dục đào tạo nước ta đã không ngừng đổi mới nhằm nâng cao chất lượngđào tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Thực hiện mục tiêu của ngành trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
đã xây dựng đổi mới phương pháp giảng dạy đồng thời đề ra nhiệm vụ: Tăngcường đội ngũ cán bộ tri thức khoa học, có sức khỏe, có năng lực thực hànhgiỏi, kiến thức chuyên môn vững vàng để đáp ứng được nhiệm vụ giảng dạy vàhọc tập của ngành Giáo dục
Để có thể học và hoàn thiện tốt các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong Thểdục thì đòi hỏi ở học sinh phải thực hiện một số động tác một cách liên tục Tấtnhiên để làm được điều đó thì phải thông qua tập luyện có mục đích và thườngxuyên
Xuất phát từ những lý do trên với mục đích nâng cao chất lượng giờ họcthể dục trong nhà trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng bài tập thể dục ngoại khóa phát triển khả năng phối hợp vận động cho học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn"
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc đánh giá thực trạng khả năng PHVĐ của học sinh THPTChu Văn An - TP.Sầm Sơn đề tài tiến hành phân tích tổng hợp những cơ sở lýluận và thực tiễn nhằm lựa chọn một số bài tập phát triển khả năng PHVĐ cóhiệu quả tiến hành tập luyện ngoài giờ nhằm nâng cao khả năng phối hợp chohọc sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Gồm: giáo viên thể dục, HS trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
1.4 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại: Trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài tiến hành giải quyết 2 nhiệm
Trang 41.6 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sửdụng các phương pháp sau:
1.6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu khoahọc, giúp hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, hìnhthành cơ sở lý luận về phương pháp phát triển khả năng PHVĐ của đối tượngnghiên cứu Các tài liệu chuyên môn được tham khảo là 7 tài liệu
1.6.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình nghiên cứu tham khảo ýkiến các chuyên gia để lựa chọn các bài tập trong các vấn đề nghiên cứu gặpphải Là phương pháp quan trọng để tìm hiểu thực trạng trong tập luyện, lựachọn các test đánh giá khả năng PHVĐ
1.6.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát sư phạm là quan sát quá trình tập luyện và quá trình kiểm tra yhọc của đối tượng nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng khả năng PHVĐ củađối tượng nghiên cứu thông qua các bài tập được sử dụng trong tập luyện Cácyếu tố quan sát bao gồm:
- Khối lượng tập luyện
- Mật độ tập luyện
- Các dạng bài tập
- Các biểu hiện diễn biến sư phạm v.v
1.6.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này sử dụng nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá khả năngPHVĐ của học sinh một cách chính xác và khách quan thông qua những bài tập
đã lựa chọn Trên cơ sở đó có những nhận xét, kết luận về hiệu quả của các bàitập đã lựa chọn trong việc nâng cao PHVĐ cho đối tượng nghiên cứu
Để xác định được khả năng PHVĐ của học THPT Chu Văn An - TP.SầmSơn chúng tôi đã kiểm tra các năng lực thông qua các bài thử dưới đây:
Nhằm đánh giá khả năng phối hợp các bộ phận cơ thể, khả năng tiếp thu
kỹ thuật và phân biệt thời gian, hướng, chiều và nhịp điệu của động tác
Khả năng PHVĐ được thử nghiệm thông qua bài tập được sử dụng trongtập luyện Các yếu tố quan sát bao gồm:
- Khối lượng tập luyện
- Mật độ tập luyện
- Các dạng bài tập
- Các biểu hiện diễn biến sư phạm v.v
1.6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để xác định hiệu quả lựa chọn các bài tập nhằm phát triển khả năngPHVĐ cho học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn Chúng tôi tiến hành thực
Trang 5nghiệm sư phạm trên đối tượng học sinh PTTH Đối tượng thực nghiệm đượcchia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 36 người, tổng số đối tượng là 72 người Trướcthực nghiệm chúng tôi tiến hành kiểm tra khả năng PHVĐ thông qua 4 Test như
đã trình bày ở mục 2.3.4 trên tất cả 2 nhóm thực nghiệm và đối chiếu Dùngphương pháp toán học thống kê, có thể nhận thấy sự khác nhau tin cậy giữachúng
Nhóm thực nghiệm: Nội dung tập chính là bài tập phát triển khả năngPHVĐ đã lựa chọn ở mục 2.3.4 Các bài tập được thực hiện trên sân thể dục củanhà trường vào giờ ngoại khóa
Nhóm đối chiếu: Nhóm đối chiếu cũng được tập luyện vùng thời gian nhưnhóm thực nghiệm, nhưng nội dung tập luyện là các bài tập theo sở thích cánhân của từng học sinh (không bắt buộc)
Thời gian thực nghiệm được tiến hành trong 10 tuần, mỗi tuần 2 buổi vàothời gian ngoại khóa và thời gian dành cho mỗi buổi tập là 60 phút
1.6.6 Phương pháp kiểm tra y học
10 giây nhân với 6
Cách xác định lượng vận động thông qua mạch đập: Theo chỉ dẫn của tổchức bảo vệ sức khỏe quốc tế Mạch của người khỏe mạnh trong những giờ tậpluyện đạt từ 65-85% so với mạch đập tối đa cho phép
Với kết quả kiểm tra mạch sau khi kết thúc buổi tập từ 5 đến 10 phút, sauthời gian đó ở người khỏe mạnh kết quả kiểm tra cần phải hồi phục về mức độban đầu, nếu hồi phục chậm có nghĩa là lượng vận động bài tập bị quá tải
1.6.7 Phương pháp toán học thống kê
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp truyền thống đượctrình bày trong cuốn “Đo lường thể thao” và “Phương pháp thống kê trongTDTT”
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Thời gian nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2020 đến tháng 05/2021 với
03 giai đoạn triển khai nghiên cứu như sau:
+ Giai đoạn 1: Được tiến hành từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2021 Vớinhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, thu thập tư liệu, xác định địa điểm
và hướng nghiên cứu, xác định nhiệm vụ và các vấn đề cần làm sáng tỏ trongnghiên cứu, chuẩn bị đối tượng, phương tiện để giải quyết nhiệm vụ của đề tài
Sau khi đã phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan chúng tôi tiếnhành phỏng vấn và tìm ra hướng nghiên cứu, từ đó đề xuất lựa chọn nội dung vàphương pháp nhằm phát triển khả năng PHVĐ cho học sinh THPT Chu Văn An
- TP.Sầm Sơn
Trang 6+ Giai đoạn 2: Từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2021, tiến hành giải quyếtnhiệm vụ 1 và 2 của đề tài
+ Giai đoạn 3: Từ tháng 4/2021 đến tháng 5/2021 hoàn chỉnh việc xử lý,viết dự thảo kết quả nghiên cứu, sửa chữa và hòan tất đề tài
2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh phổ thông (tuổi 16-18)
Lứa tuổi này các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận cơthể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần Chức năng sinh lý đã tươngđối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan của cơ thể cũng đượccao hơn Sự phát triển cơ thể của nam và nữ học sinh THCS đã có sự khác nhau
về giới tính Từ cấp II đến cấp III các em có sự khác biệt rõ rệt, sự khác biệt rõrệt về tầm vóc, khả năng tâm lý và thể lực
- Về tâm lý: Ở lứa tuổi này là tuổi hình thành thế giới quan tự ý thức hìnhthành tính cách và hướng về tương lai, đó cũng là tuổi lãng mạn ước mơ độc đáo
và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, các em có thái độ tự giác tích cực trong họctập, xuất phát từ động cơ hoạt động đúng đắn và bước tới việc lựa chọn nghề saukhi học song PTTH
- Về sinh lý:
Hệ thần kinh: tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện, khả năng tư duy,phân tích, tổng hợp và trìu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện cho việc hìnhthành nhanh chóng phản xạ có điều kiện
Hệ cơ xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, mỗi năm cao thêm 0,5-1cmđối với nữ, nam từ 1-3cm hình dáng của cột sống đã ổn định
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển tương đối hoàn thiện, buồng tim phát triểntương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam từ 70-80 lần/phút, nữ từ 75-85 lần/phút Phản ứng tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt sau vận động mạnhhuyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng
Hệ hô hấp: Đã phát triển tương đối hoàn thiện vòng ngực trung bình củanam từ 67-72cm, nữ từ 69-74cm dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng lúc 15tuổi khoảng 2-2,5 lít nhưng tuổi 16-18 từ 3 lít đến 4 lít tần số hô hấp gần giốngvới người lớn Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồngngực ít, chủ yếu là co giãn cơ hoành
Ở lứa tuổi này cấu trúc giải phẫu cơ thể phát triển mạnh nhưng chưa hoànthiện cụ thể như: Xương tăng về chiều dài, tim phát triển to ra, thành mạch dàylên, sự phục hồi sau vận động nhanh Do vậy công tác huấn luyện cần sử dụnglượng vận động hợp lý để cho sự phát triển cơ thể các em vẫn tuân theo sự pháttriển tự nhiên
2.3 Khái quát về khả năng PHVĐ
- Khả năng PHVĐ là cơ sở quan trọng để học sinh tiếp thu nhanh chóng
và hoàn thiện các kỹ thuật phức tạp, thực hiện một cách tối ưu trong điều kiệnthi đấu Khả năng PHVĐ là một trong những yếu tố quyết định thành tích, cùngvới các khả năng thể lực khác (sức nhanh, sức mạnh, sức bền) Chiến thuật, cácphẩm chất tâm lý nó tạo nên một tập hợp các tiền đề quan trọng trong việc đạtđược những thành tích cao trong thể thao
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy rằng do chưa hiểu rõ bản chất và thành phầncủa khả năng PHVĐ nên việc lựa chọn các phương tiện và phương pháp giáo
Trang 7dục còn gặp nhiều khó khăn và chưa có được hiệu quả cao Chính vì vậy màchúng tôi mạnh dạn nghiên cứu để lựa chọn một số bài tập ngoại khóa phát triểnkhả năng PHVĐ cho học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn.
Khả năng PHVĐ là vấn đề phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau tronghướng nghiên cứu, đặc biệt là trong cách phân lợi các khả năng PHVĐ Vấn đềnày hiện vẫn còn đang tiếp tục thảo luận Trong nghiên cứu của đề tài chúng tôiquan tâm tới một số vấn đề sau:
2.4 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động
Việc lựa chọn các phương pháp tập luyện nhằm phát triển khả năngPHVĐ cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
- Phương pháp chính là tập luyện, phương tiện chính là bài tập thể dục
- Các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng PHVĐcần yêu cầu học sinh thực hiện chính xác và thường xuyên kiểm tra sự chính xáccủa việc thực hiện bài tập một cách có ý thức
2.5 Một số vấn đề về khả năng PHVĐ của học sinh PTTH
Khả năng PHVĐ là khả năng phối hợp các bộ phận cơ thể của học sinh đểcùng một lúc thực hiện các động tác có hiệu quả cao nhất Còn là những nănglực vận động được khai thác và tập luyện một cách có hệ thống và liên tục
Năng lực thăng bằng: Là một tiền đề cơ bản cho từng động tác trong Thểdục, năng lực này được xác định với trạng thái chức năng của cơ quan tiền đình,
cơ quan cảm thụ bản thể và biểu hiện rất sớm ở lứa tuổi 5 đến 6 tuổi
Năng lực phân biệt dùng sức: Là khả năng dùng lực và phân phối lực mộtcách chính xác khi thực hiện động tác hoặc liên kết động tác
Năng lực định hướng trong không gian: Là khả năng xác định và phânbiệt sự thay đổi vị trí, động tác của cơ thể trong không gian thời gian có liênquan tới một môi trường hoạt động nhất định
Năng lực nhịp điệu: Năng lực nhịp điệu là khả năng tái lập lại nhịp vậnđộng cần thiết theo các tham số thời gian
- Một số quan điểm về khả năng phối hợp vận động (PHVĐ)
Khả năng PHVĐ là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan rất nhiềuđến các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau Có thể xem xét khả năng PHVĐdưới quan điểm triết học coi đây là một quá trình bao gồm điều khiển chươngtrình (điều khiển hướng) điều khiển hành vi (cử động)
Như vậy khả năng PHVĐ là khả năng phối hợp các bộ phận trong cơ thểcủa VĐV để cùng một lúc thực hiện có hiệu quả cao, nhiều nhiệm vụ vận độngnhư vốn tích lũy kỹ xảo, kỹ thuật và kỹ năng thu nhận, xử lý tổng hợp nhiềuthông tin tình huống trong vận động
3 Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu
3.1 Đánh giá thực trạng chất lượng tập luyện Thể dục nội và ngoại khóa của học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn.
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên của đề tài chúng tôi tiến hành theo 2bước sau:
Bước 1: Đánh giá chất lượng tập luyện thể dục trong giờ nội khóa của họcsinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
Trang 8Bước 2: Đánh giá thực trạng việc tập luyện thể dục ngọai khóa của học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn.
3.1.1 Đánh giá chất lượng tập luyện thể dục trong giờ nội khóa của học sinh THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn.
Giải quyết vấn đề nghiên cứu: Việc trước tiên đề tài tiến hành điều tra về
cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện của trường Đó là những vấn đề cần thiết
và quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng tập luyện của một giờ Thể dục
Chúng tôi tiến hành điều tra và tổng hợp các loại trang thiết bị phục vụcho việc tập luyện Thể dục của trường hiện có đã sử dụng và chưa sử dụng
Kết quả điều tra được thống kê trên bảng 3.1
Bảng 3.1: Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho GDTC của trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn
TT Trang thiết bị Đã sử dụng Chưa sử dụng Số lượng
Các thiết bị đã được sử dụng phục vụ tập luyện là 17/22 loại thiết bị hiện
có chiếm tỷ lệ 72,27%, số thiết bị chưa được sử dụng là 5/22 chiếm tỷ lệ22,72%
Điều đáng chú ý ở đây là các trang thiết bị thuộc môn thể dục như: Ghếthể dục, gậy, bàn đạp điền kinh, bóng nhồi, bao cát chưa được sử dụng trong giờtập luyện cho học sinh
Trang 9Chúng tôi tiếp tục điều tra về số lượng và trình độ đội ngũ giáo viên trongnhà trường Kết quả cho thấy có tổng số 6 giáo viên GDTC, trong đó 6 giáo viênchiếm 100% có trình độ đại học
Từ kết qiả điều tra ở trên đề tài tiến hành tiếp việc đánh giá công tácGDTC của trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn Việc đánh giá được tiếnhành qua phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi Đối tượng phỏng vấn là các giáoviên thể dục chính với số lượng gồm 6 người
Nội dung các câu hỏi phỏng vấn gồm các vấn đề sau:
+ Chất lượng giờ tập thể dục nội khóa
+ Mức độ tiếp thu động tác của học sinh
+ Việc tổ chức tập luyện thể dục ngoại khóa
+ Sử dụng trang thiết bị tập luyện cho học sinh như thế nào?
Kết quả phỏng vấn được tổng hợp trình bày trên bảng 3.2:
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn giáo viên về công tác GDTC của trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn (n=6).
Phân tích số liệu phỏng vấn trên bảng 3.2 cho thấy:
- Với câu hỏi 1: Chất lượng giờ tập nội khóa theo đánh giá của giáo viên
là thấp không có phiếu nào cho rằng giờ học đạt được kết quả tốt Có 2/6 sốphiếu chiếm tỷ lệ 33,3% cho rằng giờ học đạt mức khá, trong khi đó có tới 4/6
số phiếu tương đương 66,67% xếp giờ học vào mức trung bình
- Với câu hỏi 2: Có 1/6 phiếu chiếm tỷ lệ 16,7% trả lời cho rằng học sinh
có trình độ tiếp thu động tác tốt, còn 3/6 tương đương 50% cho là sự tiếp thu củahọc sinh đạt mức khá, số còn lại là 2/6 phiếu chiếm tỷ lệ 33,3% trả lời cho sựnhận thức của học sinh đạt mức trung bình
- Với câu hỏi 3: Đa số các giáo viên Thể dục đã nhận thức đúng về việc tổchức tập luyện ngoại khóa với số phiếu trả lời ở mức cần thiết là 5/6 chiếm tỷ lệ83,3% Tuy nhiên vẫn còn 1 phiếu cho rằng không cần thiết tập luyện ngoạikhóa chỉ có 1/6 phiếu trả lời chiếm tỷ lệ 16,7% trong tổng số phiếu phỏng vấn
- Với câu hỏi 4: Cho thấy việc sử dụng các trang thiết bị đã được các giáoviên đánh giá cao Có 3/6 phiếu chiếm tỷ lệ 50% trả lời tốt, 2/6 cho rằng ở mứckhá chiếm tỷ lệ 33%, số còn lại cho ở mức trung bình chỉ có 1/6 số phiếu trả lờitương đương 16,7%
Trang 10Nhận xét chung: Kết quả thu được qua phương pháp phỏng vấn nhómnghiên cứu chúng tôi rút ra nhận xét sau:
- Chưa sử dụng hết các trang thiết bị phục vụ tập luyện Số lượng đã được
sử dụng mới chỉ có 72,27% tổng số thiết bị hiện có Đặc biệt là một số thiết bịchuyên môn của thể dục là chưa được tận dụng
- Trình độ nhận thức và chuyên môn của giáo viên Thể dục trường THPTChu Văn An - TP.Sầm Sơn là đáp ứng được yêu cầu của GDTC trường học hiệnnay
Chất lượng giờ tập thể dục nội khóa của học sinh THPT Chu Văn An TP.Sầm Sơn ở mức trung bình
Việc tập luyện thể dục ngoại khóa của học sinh đã được chú trọng, có88,8% số ý kiến giáo viên tán thành tập luyện ngoại khóa cho học sinh
Để có căn cứ khoa học trong nghiên cứu và kiểm tra lại kết quả phỏng vấnchúng tôi tiến hành đánh giá chất lượng của học sinh trong tập luyện Thể dục
Việc đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục
và đào tạo đó là các chỉ tiêu:
- Đẩy tạ 3kg (nữ) và 5kg (nam), chạy 80m, nhảy xa thể hiện sức mạnh vàsức mạnh tốc độ
- Sức bền được thể hiện qua chạy cự ly 1500m (nữ) và 2000m (nam) Ngoài ra trong nghiên cứu đề tài còn sử dụng các Test đánh giá khả năngPHVĐ để phục vụ cho các cấn đề nghiên cứu mà đề tài đang đề cập tới như sau:
- Bài thử PHVĐ 8 động tác
- Bật nhảy trúng đích
- Thăng bằng tĩnh Rômbergơ
- Lặp lại góc độ vận động
Đối tượng kiểm tra là các em nam và nữ học sinh trường THPT Chu Văn
An - TP.Sầm Sơn Trong đó có 96 em nam và 105 em nữ được thể hiện cụ thể ởcác khối như sau:
Nam khối 10: 30 em Nữ khối 10: 35 em
Nam khối 11: 32 em Nữ khối 11: 37 em
Nam khối 12: 34 em Nữ khối 12: 33 em
Kết quả kiểm tra được xử lý bằng phương pháp toán học thống kê trìnhbày tại bảng 3.3 (nam) và bảng 3.4 (nữ) học sinh trường THPT Chu Văn An -TP.Sầm Sơn
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra thể lực và khả năng PHVĐ của nam học sinh trường THPT Chu Văn An - TP.Sầm Sơn (n=96)
Trang 11Phân tích kết quả trên bảng 3.3 của nam học sinh cho thấy:
Về sức mạnh và sức mạnh tốc độ tương đối đồng đều giữa các khối, các emđều đạt ở mức khá về các nội dung.Nhảy xa, chạy 80m và đẩy tạ
Ở nội dung đẩy tạ: Thành tích trung bình của nam học sinh khối 10 đạtđược qua kiểm tra là 5,70m, nam khối 11 đạt được là 6,30m Giữa khối lớp 10
và khối lớp 11 là tăng được 0,6m mức tăng triển vẫn được tiếp tục đến khối 12 ởnội dung đẩy tạ với thành tích là 7,14m tăng triển so với khối 11 là 0,84m
Với sức bền thành tích tốt nhất thuộc khối 11 và thấp nhất là khối lớp 10