1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng thí nghiệm tự tạo và sơ đồ tư duy khi dạy bài động lượng, định luật bảo toàn động lượng” nhằm tạo hứng thú và phát triển một số phẩm chất và năng lực cho học sinh lớp 10

22 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 675,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THCS&THPT BÁ THƯỚC ------SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY KHI DẠY BÀI “ĐỘNG LƯỢNG, ĐỊNH LUẬT BẢO

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THCS&THPT BÁ THƯỚC

- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:

SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY

KHI DẠY BÀI “ĐỘNG LƯỢNG, ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG” NHẰM TẠO HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN MỘT

SỐ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 10

TẠI TRƯỜNG THCS&THPT BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Trịnh Thị Vân

Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn : Vật Lý

THANH HÓA, NĂM 2021

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

2.3.1.1 Sử dụng sơ đồ tư duy xây dựng bài học mới 6

2.3.2 Ứng dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy và thí nghiệm tự

tạo vào dạy bài “Động lượng, định luật bảo toàn động lượng” thuộc

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, chất lượng giáo dục đang là vấn đề được toàn xãhội quan tâm Giáo dục Việt nam cũng đã và đang nỗ lực đổi mới theo hướnghình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh Ở bậc trung học phổthông, thí nghiệm, thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong việc hìnhthành khái niệm, quy luật, định luật Vật Lý Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các

mô hình Vật lý và Toán học, chương trình môn Vật lý chú trọng thích đáng đếnviệc hình thành năng lực tìm tòi, khám phá các thuộc tính của sự vật, hiện tượngVật lý thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau.Chương trình môn Vật lý coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vậndụng tri thức Vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một sốvấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triểnnăng lực trên nền tảng những năng lực chung và năng lực tìm hiểu thế giới tựnhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu địnhhướng vào một số ngành nghề cụ thể Các phương pháp giáo dục của môn Vật

lý góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằmhình thành năng lực tìm hiểu khoa học tự nhiên dưới góc độ Vật lý (năng lựcVật lý) cũng như góp phần hình thành các phẩm chất và năng lực chung đượcquy định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Sau 15 năm công tác tại trường THCS&THPT Bá Thước(trước là trườngTHPT Bá thước 3), học sinh của trường đa phần là học sinh sáu xã thuộc vùngđặc biệt khó khăn của huyện Bá Thước, dân trí thấp, đầu vào lớp 10 THPT rấtthấp, một bộ phận không nhỏ học sinh hỏng kiến thức cơ bản, yếu toán, ý thứchọc tập chưa cao, các em chưa có động cơ, mục đích học tập rõ ràng dẫn đến các

em lười học, ngại học và sợ học môn Vật Lý Vậy làm thế nào để nâng cao chấtlượng học tập môn Vật Lý, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh có

ý thức tự giác học tập, đồng thời góp phần phát triển một số phẩm chất và nănglực cho học sinh luôn là câu hỏi thường trực khiến tôi băn khoăn trăn trở trongnhững năm công tác qua Trong quá trình giảng dạy bộ môn Vật lý cụ thể vềphần “các định luật bảo toàn” Vật lý 10, tôi nhận thấy đại đa số học sinh còn rất

mơ hồ, điều kiện thí nghiệm không có cộng với khả năng ghi nhớ của các em rấtyếu; năng lực tư duy, phân tích, tổng hợp, giao tiếp,… còn hạn chế, và đa sốhọc sinh rất lười tư duy, chưa có phương pháp học tập phù hợp , Nhằm tháo

gỡ những khó khăn cho các em học sinh, cung cấp kiến thức , chỉ rõ phươngpháp và sự kết hợp có tính khoa học trong quá trình giảng dạy và hình thànhkiến thức cũng như giúp các em có sự hứng thú, yêu thích và sáng tạo đối với

môn học Vật lý hơn Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng thí nghiệm tự tạo và sơ đồ tư duy khi dạy bài “ Động lượng, định luật bảo toàn động lượng”

Trang 4

nhằm tạo hứng thú và phát triển một số phẩm chất và năng lực cho học sinh lớp 10 tại trường THCS&THPT Bá Thước” Hi vọng đề tài sẽ góp phần nâng

cao hơn chất lượng giảng dạy môn Vật Lý ở trường THCS&THPT Bá Thước vàtrở thành tài liệu hữu ích cho đồng nghiệp và các em học sinh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới việc đưa ra hai phương pháp cơ bản đó là “sử dụng thínghiệm tự tạo” và “sơ đồ tư duy” nhằm giúp cho học sinh phát triền năng lực:tìm tòi, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác, thiết kế, giải quyết vấn đề,…; phẩm chất: tựtin, tự chủ, yêu lao động; đồng thời nắm được phương pháp ghi nhớ kiến thứctốt hơn

Đề tài mong muốn trở thành tài liệu tham khảo hửu ích đối với bạn bèđồng nghiệp và các em học sinh

Người viết cũng mong muốn nhận được những ý kiến phản hồi, nhữngđánh giá, trao đổi của quý thầy cô đồng nghiệp để cùng hoàn thiện hơn nữa đềtài sáng kiến kinh nghiệm này

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và phương pháp giảng dạy lý thuyết sửdụng “thí nghiệm tự tạo” và “sơ đồ tư duy” khi dạy bài “ Động lượng, địnhluật bảo toàn động lượng” Vật Lý 10 cơ bản

Phạm vi nghiên cứu: Học sinh các lớp 10A1; 10A2; 10A3; 10A4; 10A5năm học 2019-2020; 2020-2021 trường THCS&THPT Bá Thước

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sửdụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắtnhững ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề Nó là một công cụ tổchức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biếnrộng khắp thế giới

Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn,công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Mapcủa Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình củaông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về lĩnh vực nghiêncứu của mình)

Trang 5

(Tony Buzan sinh năm 1942, Anh, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não)

Sơ đồ tư duy có nhiều lợi ích: Tiết kiệm thời gian, tổ chức, phân loại ýnghĩ, đưa ra những ý tưởng mới, giữ cho việc học đi đúng hướng, cải thiện trínhớ và khả năng tập trung của học trò, kích thích bộ não giúp ta có một cáinhìn tổng thể và quan trọng nhất là có cảm hứng trong hành động Một số kếtquả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậmcái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậyviệc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não Một sơ đồ tư duy đã biến một danh sách dàinhững thông tin đơn thành một sơ đồ đầy mầu sắc, sinh động, dễ nhớ Sơ đồ

tư duy sẽ cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về một vấn đề hay một lĩnhvực rộng lớn, tập hợp lớn các dữ liệu về cùng một chỗ, làm cho chúng ta thíchnhìn, đọc, suy tưởng và nhớ lại Như vậy có thể hiểu được đây là phương pháp

dễ nhất để chuyển, lấy thông tin ở não, một phương tiện ghi chép sáng tạo, hiệuquả theo đúng nghĩa của nó

2.1.2 Thí nghiệm tự tạo

Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và

sự vận động của nó trong tự nhiên Do đó, trong dạy học Vật lý để hìnhthành cho học sinh có những nhận thức ban đầu về đối tượng, sự vật nghiên cứuthì cách tốt nhất là phải thông qua thí nghiệm, để phản ánh tương đối toàn vẹn

về sự vật, hiện tượng đang tác động vào các giác quan để từ đó hình thành nênbiểu tượng và lưu lại trong bộ não của học sinh về sự vật, khi sự vật đó khôngcòn trực tiếp tác động vào các giác quan Thí nghiệm là phương tiện của hoạtđộng nhận thức trong dạy học Vật lí Thí nghiệm có tác động mạnh mẽ đếngiác quan của học sinh Thí nghiệm góp phần phát triển khả năng tư duy củahọc sinh Thí nghiệm Vật lí giúp học sinh làm quen với các phương pháp

Trang 6

nghiên cứu Vật lí, góp phần hình thành các tư duy Vật lí, góp phần hình thành

và phát triển năng lực tư duy, sự thông minh, tính sáng tạo cho học sinh Thínghiệm góp phần hình thành các năng lực (quan sát, thu thập thông tin, phântích dữ liệu, tính trung thực, tính chính xác, cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì, nhẫn nại,

…), tôn trọng các diễn biến và quy luật phát triển của các hiện tượng Vật lítrong quá trình thí nghiệm Thí nghiệm giúp củng cố, hệ thống kiến thức mộtcách vững chắc, thấy được mối liên hệ giữa những kiến thức trước đây và hiệnnay, thấy được mối liên hệ giữa Vật lí và những ngành khoa học khác Thínghiệm giúp cho học sinh gắn liền Vật lý với cuộc sống thực tiễn, rèn luyệntính thích ứng cho học sinh

* Tác dụng nổi bật của các thí nghiệm học sinh tự làm: Rèn cho học sinh

tính tự lực, ham học hỏi, tính thích ứng với hoàn cảnh, tính sáng tạo, khát vọngcải tạo thiên nhiên Tăng cường mối liên hệ giữa lí thuyết và thực hành, làm chokiến thức sách vở gắn với kiến thức thực tế Thí nghiệm tự làm tạo tình huống

có vấn đề, kích thích hứng thú của học sinh, khiến học sinh chủ động nêu lêncác thắc mắc, các câu hỏi, cũng như những suy nghĩ của mình Thí nghiệm tựtạo giúp học sinh bớt rụt rè và mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập và kích thíchhoạt động sáng tạo của các em, giúp giáo viên tổ chức các hoạt động học tậptập thể, rèn luyện cho học sinh cách làm việc nhóm có hiệu quả, rèn luyện họcsinh vượt khó, vượt qua thử thách để thí nghiệm thành công nhằm đạt được mụcđích đề ra

2.2 Cơ sở thực tiễn

Trong những năm qua việc đổi mới phương pháp dạy học được đặc biệtđược chú trọng, lấy người học là trung tâm việc giáo dục, giáo viên trở thànhngười dẫn dắt vấn đề, học sinh tích cực chủ động nắm bắt kiến thức Vật lý làmột ngành khoa học rất quan trọng có tính thực tiễn gắn bó mật thiết với cuộcsống, tuy nhiên việc học bộ môn đối với nhiều học sinh cũng không phải là dễ,

vì các bài tập Vật lý yêu cầu học sinh cần phải hiểu bản chất hiện tượng,phải nhớ nhiều công thức và thành thạo các công cụ Toán học Phươngpháp ghi nhớ truyền thống theo dòng bằng các từ ngữ, đường thẳng, con số, lậpluận và thứ tự mang tới sự đơn điệu, buồn tẻ kém sáng tạo, chúng ta ghi càngnhiều thì những điều tưởng như giản đơn lại càng trở nên phức tạp Việc chuyểngiao nhiệm vụ về nhà theo phiếu học tập, theo hệ thống các câu hỏi dài, khiếnhọc sinh ngại làm, và rất ít các em thực hiện nhiệm vụ về nhà hoặc chỉ thực hiệnqua loa đối phó với giáo viên Vì thế với đại đa số học sinh miền núi, đặc biệt

là học sinh thuộc vùng núi cao, khó khăn thuộc trường THCS&THPT Bá Thướcthì việc ghi nhớ và hệ thống kiến thức của các em còn yếu, kể cả học sinh cókhả năng tiếp thu kiến thức trên lớp rất nhanh, nhưng sau một thời gian kiểm tralại kiến thức cũ thì các em trả bài rất kém hoặc không trả bài được Nguyên nhânchủ yếu là do học sinh năng lực có hạn, phương pháp dạy học chưa lôi cuốn vàtác động mạnh đến các em, các em còn lười học bài cũ, ngại đọc và nghiên cứutrước bài mới ở nhà, các em học tập nhiều môn học tiếp thu nhiều kiến thức

Trang 7

nhưng chưa biết sắp xếp khoa học để ghi nhớ có hiệu quả, chính vì vậy mà họctập chưa đạt kết quả cao, chưa tạo được hứng thú trong quá trình học, coi việchọc là khó khăn và nhàm chán Từ thực trạng trên khiến tôi suy nghĩ làm sao

để giúp các em có thể ghi nhớ tốt không chỉ áp dụng cho bộ môn của mình màcòn áp dụng cho các bộ môn khác, tạo niềm vui, sự sáng tạo trong học tập chohọc sinh Như vậy việc sử dụng “Sơ đồ tư duy” trong dạy học đã là ý tưởng từlâu, không phải là một ý tưởng mới nhưng việc áp dụng nó cho từng môn họcnhất là môn Vật lý, một môn học có tính logic, tính thực tiễn thì tôi nhận thấy

chưa nhiều, và việc hình thành thói quen xây dựng “sơ đồ tư duy” thì ít khi

được giáo viên và học sinh thực hiện

Môn Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, nhưng hiện nay hầu hếtcác thí nghiệm phục vụ cho công tác giảng dạy tại trường đều đã hư hỏng hoặckhông đảm bảo yêu cầu nên chủ yếu là dạy chay, học chay hoặc chỉ xem các thínghiệm ảo trên mạng, dẫn đến hiệu quả các tiết học là chưa cao, chưa lôi kéo

được học sinh tập trung, hứng thú tham gia vào các tiết học

Kết quả môn Vật Lý lớp 10 h c k I – n m h c 2020-2021 t i tr ng: ọc kỳ I – năm học 2020-2021 tại trường: ỳ I – năm học 2020-2021 tại trường: ăm học 2020-2021 tại trường: ọc kỳ I – năm học 2020-2021 tại trường: ại trường: ường:

Kết quả học kỳ I, tỷ lệ học sinh trung bình và yếu kém còn rất cao Qua

thăm dò, thống kê sơ bộ học sinh lớp 10 đầu năm học hai năm 2019-2020

và 2020-2021 thì có tới trên 80% học sinh rất sợ học môn Vật lý, và không có

hứng thú với môn học này Qua ý kiến thăm dò các em đều cho rằng: học môn

Vật lý rất khó học, khó ghi nhớ, quá nhiều công thức, cộng với việc khả năngghi nhớ và tính toán của các em rất yếu nên các em sợ môn học này Vì vậy

việc học sinh tự thiết kế “ Sơ đồ tư duy” và “tự tạo ra các thí nghiệm” phục vụ

cho bài học sẽ khiến các em có tâm thế nghiên cứu bài học, các quy luật tựnhiên, giúp ghi nhớ kiến thức dễ dàng hơn và tạo được hứng thú cho các em, các

em sẽ yêu thích môn học hơn và chủ động nghiên cứu, lĩnh hội kiến thức

2.3 Các giải pháp thực hiện.

2.3.1 Cách thức tổ chức thực hiện.

2.3.1.1 Sử dụng Sơ đồ tư duy xây dựng bài học mới

Giáo viên cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về Sơ đồ tư duy,hướng dẫn cách vẽ trên giấy Nhận thức được việc học tập có kết quả khi họcsinh chuẩn bị bài mới ở nhà thật tốt và chu đáo, cho nên giáo viên lựa chọn đềcương câu hỏi chi tiết dựa chuẩn kiến thức kỹ năng để cho học sinh trả lời, đềcương câu hỏi càng chi tiết càng tốt, định hình và dẫn dắt vấn đề cho học sinh

Từ việc trả lời những câu hỏi đề cương, yêu cầu học sinh tự phác họa xây dựng

Sơ đồ tư duy cho phần bài học được giao Việc giao bài về nhà có thể chia

nhóm để thực hiện, các nhóm sẽ thực hiện một nhánh của kiến thức

Trang 8

Giáo viên cùng học sinh xây dựng kiến thức của bài: Học sinh thay mặtnhóm dựa trên Sơ đồ tư duy đã chuẩn bị để thuyết trình trước tập thể lớp, nănglực thuyết trình cũng là một trong những năng lực rất quan trọng trong cuộcsống, dựa vào việc thuyết trình của học trò, giáo viên có thể đánh giá việc chuẩn

bị bài học ở nhà của học sinh tốt hay chưa tốt

Học sinh khác trong lớp tham gia thảo luận và giáo viên củng cố, giảithích các kiến thức, khái niệm mà học sinh còn chưa hiểu, giáo viên đưa các bàitập cơ bản để vận dụng kiến thức vừa được học

Sau khi được giáo viên giảng dạy xong học sinh hoàn thiện lại Sơ đồ tưduy của nhóm hoặc cá nhân

2.3.1.2 Sử dụng, thiết kế thí nghiệm tự tạo

Bước 1: Thiết kế dụng cụ thí nghiệm: Giáo viên nghiên cứu bài dạy,

hướng dẫn học sinh nghiên cứu bài học và đưa ra ý tưởng thiết kế dụng cụ thínghiệm

Bước 2: Tiến hành làm dụng cụ thí nghiệm: Tìm và lựa chọn các vật liệu

phù hợp, an toàn, dễ kiếm trong đời sống hàng ngày, hướng dẫn học sinh thiết

kế bố trí lắp đặt dụng cụ, thiết bị thí nghiệm theo nội dung bài học, cần làm thửtrước ở nhà, cần thiết thay đổi phương án thí nghiệm nếu kết quả không phù hợpvới vấn đề đặt ra

Bước 3: Tiến hành làm thí nghiệm: Trong giờ học các nhóm sử dung thiết

bị của nhóm mình làm hoặc của cá nhân để trực tiếp làm thí nghiệm

Bước 4: Kết luận rút ra nội dung, biểu thức định luật: Cho đại diện nhóm

mô tả lại những thí nghiệm đã làm, trình bày, giải thích, kiểm chứng các địnhluật, hiện tượng, bằng lời, bằng lập luận, hình vẽ hoặc bằng đồ thị, nêu kếtluận đã tìm thấy được Từ báo cáo của từng nhóm giáo viên cho lớp thảo luận

để đi đến kết luận chung, tổng quát cho vấn đề đang nghiên cứu

2.3.2 Ứng dụng phương pháp sử dụng “Sơ đồ tư duy” và “thí nghiệm tự tạo” vào dạy bài “ Động lượng, định luật bảo toàn động lượng” thuộc chương trình Vật Lý 10 cơ bản.

2.3.2.1 Mục tiêu bài học

a Kiến thức

Định nghĩa được xung lượng của lực; nêu được bản chất (tính chất vectơ)

và đơn vị xung lượng của lực Phát biểu được định nghĩa, viết được công thức

tính, biểu diễn được vectơ động lượng, nêu được đơn vị của động lượng

Phát biểu được định luật II Niu-tơn dạng Ft  p

Nêu được khái niệm hệ cô lập và lấy ví dụ về hệ cô lập Phát biểu và viếtđược biểu thức định luật bảo toàn động lượng đối với hệ cô lập

b Năng lực định hướng hình thành và phát triển cho học sinh

* Năng lực chung:

Năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác: Tự lực, tư định hướng khi

thực hiện nhiệm vụ độc lập; tự phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong

Trang 9

nhóm khi hợp tác, tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ khi hợp tác, tựđánh giá về quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ hợp tác

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Phát hiện làm rõ vấn đề; đề xuất,

lựa chọn giải pháp; thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết nhiệm vụ học tập;

tư duy độc lập giải quyết nhiệm vụ học tập

* Năng lực chuyên biệt môn Vật Lý:

Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thực nghiệm, năng lực dự đoán, suyluận lí thuyết, thiết kế và thực hiện theo phương án thí nghiệm kiểm chứng giảthuyết, phân tích và khái quát rút ra kết luận khoa học

Năng lực vận dụng kiến thức giải thích được nguyên tắc chuyển động bằngphản lực Vận dụng được định luật bảo toàn động lượng để giải bài toán vachạm mềm

c Về phẩm chất:

Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ; Có trách nhiệm bản thân và cộng đồng

2.3.2.2 Thiết bị dạy học và học liệu

a Giáo viên

Thiết bị dạy học: Máy chiếu đa năng, máy tính, thước thẳng, nam châm,

bút dạ, bảng nhóm, phiếu học tập, Video, thí nghiệm Phân công nhiệm vụchuẩn bị cho các nhóm học sinh

b Học sinh

Ôn lại các kiến thức Vật lý về các định luật Niu-Tơn Bút dạ, giấy A4 Các nhóm chuẩn bị sản phẩm ở nhà, chuyển cho giáo viên kiểm tra trướctiết học

+ Các nhóm chuẩn bị sơ đồ tư duy:

Nhóm 1: Nghiên cứu xây dựng sơ đồ tư duy phần “Xung lượng của lực”

thuộc phần I Động lượng theo chuỗi câu hỏi

Hình 1

Nhóm 2: Nghiên cứu xây dựng sơ đồ tư duy phần “Động lượng” thuộc

phần I Động lượng theo chuỗi câu hỏi

Trang 10

Hình 2

Nhóm 3 : Nghiên cứu xây dựng sơ đồ tư duy phần II Định luật bảo toàn

Động lượng theo chuỗi câu hỏi?

Hình 3

Nhóm 4: Nghiên cứu xây dựng sơ đồ tư duy phần: Ứng dụng định luật

bảo toàn Động lượng, và tổng kết toàn bài học theo chuỗi câu hỏi gợi mở?

Trang 11

Hình 4 + Các nhóm chuẩn bị thí nghiệm tự tạo:

Nhóm 1: Chuẩn bị, xây dựng, thiết kế thí nghiệm chuyển động bằng phản

lực từ các dụng cụ đơn giản bút, khung từ gỗ(tre); dây buộc

Nhóm 2,3: Chuẩn bị, xây dựng, thiết kế thí nghiệm chuyển động bằng

phản lực từ các dụng cụ đơn giản bóng bay, xe ô tô đồ chơi

Nhóm 4: Chuẩn bị, xây dựng, thiết kế thí nghiệm tên lửa nước từ các

dụng cụ đơn giản: chai nước, van xe, bơm

2.3.2.3 Tiến trình bài học

Hoạt động 1: Khởi động( 5 phút)

Mục tiêu: Làm nảy sinh vấn đề để học sinh tìm hiểu bài Động lượng

-Định luật bảo toàn động lượng

Nội dung hoạt động: Cho học sinh xem video chuyển động tên lửa, bắn

súng Yêu cầu học sinh quan sát và cho nhận xét về chuyển động của các vật.Giáo viên chốt lại và nêu vấn đề vào bài mới

Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh.

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức (75 phút)

Hoạt động 2.1: Tìm hiểu khái niệm xung lượng của lực (10 phút)

Mục tiêu hoạt động: Nắm được khái niệm xung lượng của lực.

Nội dung hoạt động: Cho học sinh xem video đá bóng, bóng bàn, búng

bi Yêu cầu học sinh quan sát, đọc và nghiên cứu SGK, xử lí câu hỏi theo định

hướng sơ đồ tư duy của giáo viên đã giao(nhóm 1)

Sản phẩm: Đáp án của câu hỏi theo yêu cầu nhiệm vụ của giáo viên,

trình bày được nhiệm vụ học tập theo sơ đồ tư duy đã giao.

Ngày đăng: 18/05/2021, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w