1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giảng dạy bài nhìn về vốn văn hoá dân tộc – trần đình hượu (ngữ văn 12 tập 2,

20 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 322,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản theo quan điểm tích hợp để phát huy tính tích cực,

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học theo hướng tích hợp liên môn

đã trở thành một vấn đề “nóng” được cả xã hội quan tâm Ngành giáo dục đào tạo đã có những hành động thiết thực bổ ích như tổ chức tập huấn giáo viên, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên hàng năm để cho đội ngũ nhà giáo nói riêng và xã hội nói chung hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề Bởi vậy đến nay có thể nói, vấn đề dạy học tích hợp không còn là vấn đề xa lạ đối với đội ngũ các thầy cô giáo Tuy nhiên từ hiểu đến vận dụng và vận dụng có hiệu quả vào thực tế giảng dạy là cả một vấn đề, nhất là đối với những giáo viên dạy môn Ngữ văn [1]

Trong chương trình bậc THPT các văn bản văn học được chia làm bốn thể loại chính: Thơ, truyện, kịch, nghị luận Mỗi thể loại có những đặc trưng riêng biệt nên giáo viên bộ môn sẽ có những phương pháp dạy tối ưu nhất cho từng thể loại và cho từng bài dạy, tiết dạy để nâng cao hứng thú học tập và sự chủ động, tích cực của học sinh Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy trong bốn thể loại thì khi giảng dạy các văn bản nghị luận là khó hơn

cả bởi vì đây là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức…) Do đó trong các tiết dạy văn bản Nghị luận các em thường không hứng thú học so với các tiết học các văn bản thơ, truyện, kịch Vậy làm thế nào

để học sinh yêu thích và hứng thú với những tiết đọc văn bản nghị luận? Đó là một điều mà tôi luôn trăn trở, suy nghĩ và không ngừng tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu (Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản) theo

quan điểm tích hợp để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trường THPT Quan Hóa” để nghiên cứu với mong muốn góp phần vào việc khắc phục những

khó khăn khi dạy học các văn bản nghị luận trong nhà trường; qua đó đề xuất một hướng mới trong giảng dạy để việc giảng dạy, học tập môn Ngữ văn ngày càng hiệu quả, gắn liền với đời sống hơn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài “Giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu (Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản) theo quan điểm tích hợp để

phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trường THPT Quan Hóa” tôi nhằm hướng

đến các mục đích sau:

- Đối với giáo viên:

+ Giúp cho giáo viên khi giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Ngữ

văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản) sẽ có một thêm một cách dạy mới Đồng thời làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn dễ đi vào tâm trí và tình cảm của học sinh

Trang 2

+ Qua bài dạy, giáo viên nắm bắt được năng lực tiếp nhận và khám phá, lĩnh hội kiến thức của học sinh; hiểu biết của các em về văn hoá truyền thống dân tộc Từ đó, giáo viên có những điều chỉnh cần thiết trong việc lựa chọn nội dung tích hợp, phương pháp giảng dạy để đạt được hiệu quả cao nhất

+ Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập; tăng cường hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học

- Đối với học sinh:

+ Tạo điều kiện cho học sinh được thực hành vận dụng giải quyết vấn đề nội dung mang tính tích hợp; tạo điều kiện để các em có cơ hội liên hệ, vận dụng, phối hợp những kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực vào giải quyết những vấn đề thực tế của đời sống; tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Từ đó giúp các em có lòng say mê, kích thích sự tìm tòi, hứng thú trong học tập và yêu thích bộ môn Ngữ văn hơn Thông qua bài học giúp các em nâng cao tình cảm yêu quý, trân trọng và ý thức gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc

+ Rèn cho học sinh khả năng kết hợp việc học tập với việc vận dụng, thực hành những điều đã học vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vận dụng quan điểm tích hợp và giảng dạy bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản)

để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc

Học sinh lớp 12 được phân công giảng dạy ở trường THPT Quan Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Về lý thuyết

- Tìm hiểu về quan điểm dạy học tích hợp và dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn

- Tìm hiểu, nghiên cứu kĩ bài Nhìn về vốn văn hoá dân tộc - Trần Đình

Hượu

- Các tài liệu nghiên cứu, các thiết kế giáo án về bài: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu ( Ngữ văn 12, tập 2, Chương trình cơ bản) của

đồng nghiệp, qua mạng internet

1.4.2 Về thực tiễn

- Dự giờ các tiết dạy: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu (Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản) của đồng nghiệp để có thêm kinh

nghiệm, tư liệu khi giảng dạy

- Thực nghiệm triển khai đề tài trong giờ bài: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc

theo quan điểm tích hợp với học sinh lớp 12 trường THPT Quan Hóa

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Vận dụng quan điểm tích hợp để giảng dạy văn bản cụ thể, đó là bài:

Nhìn về vốn văn hoá dân tộc – Trần Đình Hượu ((Ngữ văn 12- tập 2, Chương

trình cơ bản)

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

Trang 3

2.1 Cơ sở lí luận

Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm

2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức

để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn [1]

Trên tinh thần đó thì dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các tình huống của cuộc sống sau này mà học sinh

có thể phải đối mặt và chính vì thế trở nên có ý nghĩa đối với học sinh Như vậy, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động trong tương lai [1]

Tùy thuộc phạm vi tri thức được vận dụng, để giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau mà có các dạng dạy học tích hợp sau:

- Tích hợp nội dung trong một môn học, khi đó, vừa gắn kết đảm bảo tính

đồng bộ giữa các nội dung có liên quan trong môn học, vừa đặt ra những tình huống đòi hỏi học sinh vận dụng các kiến thức kỹ năng môn học để giải quyết

- Lồng ghép các nội dung giáo dục cần thiết nhưng không thành một môn

học như tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biển đảo, biên giới; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; an toàn gia thông…) nội dung tích hợp tùy theo đặc trưng của từng môn

- Tích hợp liên môn là tích hợp theo các chủ đề, ở đó chứa đựng các nội

dung gần nhau của các môn học

- Tích hợp xuyên môn là tích hợp bằng cách thiết kế các môn học tích hợp

nhiều lĩnh vực khoa học

Trên cơ sở các kiểu tích hợp trên, giáo viên trong quá trình giảng dạy phải biết tìm tòi, phân tích nội dung bài học, môn học để thiết kế các hoạt động sao cho khi thực hiện học sinh biết vận dụng kiến thức, kỹ năng ở các phạm vi khác nhau để giải quyết vấn đề phù hợp với bối cảnh của quá trình dạy học Qua đó phát triển năng lực và rèn kĩ năng tự học, tìm tòi, khám phá ở học sinh [1]

2.2 Thực trạng vấn đề

Quan Hoá là huyện vùng cao của tỉnh Thanh Hoá Trường THPT Quan Hoá là một trong hai ngôi trường cấp 3 của huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá Học sinh của trường là con em đồng bào dân tộc sinh sống trên địa bàn gồm 5 dân tộc: Kinh, Thái, Mường, H’Mông, Hoa Trong đó, học sinh dân tộc Thái, Mường, H’Mông chiếm hơn 90% Nhận thức rõ những lợi ích, tiềm năng của văn hoá dân tộc trong phát triển kinh tế, văn hoá, Đảng bộ, chính quyền huyện Quan Hoá đã có nhiều giải pháp để khơi dậy, bảo tồn và phát huy văn hoá đặc sắc của các dân tộc Trong đó, huyện đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/HU về “Đẩy mạnh thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang” và kế hoạch thực hiện “Đề án bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm

2020 trên địa bàn huyện Quan Hoá” Từ năm 2000 đến nay, huyện đã triển khai

Trang 4

thực hiện phục dựng, bảo tồn nhiều lễ hội, các làn điệu dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đáng kể nhất, năm 2013 huyện đã phục dựng lại lế hội Mường Ca Da và được tổ chức 5 năm/1 lần, với quy mô cấp huyện Ngoài

ra, hàng năm vào dịp lễ, tết, hội làng, các trò chơi, trò diễn mang sắc thái đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong huyện được khơi dậy Đồng bào dân tộc Thái có các điệu dân ca, dân vũ, các trò chơi dân gian truyền thống như: Khặp, khua luống, trống chiêng, nhảy sạp, hát ru, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy, đu quay, đi

cà kheo; đồng bào Mông với các giá trị văn hoá đặc sắc như: thổi kèn, thổi sáo…; đồng bào Mường với các lễ hội dân gian truyền thống hát xường, cồng chiêng; các đồng bào trên đại bàn huyện đến nay vẫn giữ nếp nhà sàn truyền thống

Trường THPT Quan Hoá (Thanh Hoá) có hơn 90% là học sinh dân tộc, trong đó tập trung vào ba dân tộc: Thái,Mường, H’Mông Các dân tộc trên địa bàn đến nay còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc Trong những năm qua, ngoài việc dạy học chương trình chính khoá, nhà trường còn hướng cho học sinh giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình qua các hoạt động ngoại khoá và lồng ghép tổ chức các trò chơi, trò diễn dân gian để các em được hoà mình vào không gian văn hoá các dân tộc Ngoài ra, vào các ngày lễ lớn của đất nước, Ban giám hiệu còn chỉ đạo Đoàn trường tổ chức các hội thi, các hoạt động gắn với bản sắc văn hoá truyền thống như thi ném còn, đẩy gậy, đi cà kheo, thi sắc phục dân tộc, ẩm thực, nhạc cụ…Thông qua các nội dung hoạt động tại trường, các em hiểu hơn về bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc mình, về những giá trị văn hoá kết tinh trong trang phục, tiếng nói, tập quán …để từ đó các em thêm tự hào về dân tộc mình, về mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên

Nắm rõ chủ trương gắn giáo dục, đào tạo với gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THPT Quan Hoá, bản thân tôi ý thức rất rõ trong quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh ngoài việc chú trọng truyền đạt kiến thức cho các em, tôi còn tích cực tìm hiểu, sưu tầm tài liệu, nắm bắt các nét văn hoá truyền thống của các dân tộc Thái, Mường, H’Mông trên địa bàn, từ đó có thêm kiến thức để lồng ghép, tích hợp truyền dạy cho học sinh trong các bài học, tiết dạy đảm bảo tính phong phú, chính xác, sinh động góp phần bồi dưỡng các em tình yêu quê hương đất nước, giúp các em có hiểu biết đầy đủ về những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc mình, từ đó các em tích cực tham gia bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống

Đặt trong bối cảnh giao thoa và tiếp biến văn hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, trước những tác động ngày càng lớn từ các luồng văn hoá “xấu, độc”, việc gắn công tác giáo dục, đào tạo với gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh là một việc làm thiết thực, hiệu quả Do đó, giáo viên trong quá trình giảng dạy ngoài việc truyền đạt kiến thức có thể lồng ghép giáo dục cho học sinh biết gìn giữ, bảo tồn, phát huy và trân trọng các giá trị văn hoá dân tộc để góp phần xây dựng nền văn hoá “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đúng theo quan điểm chỉ đạo của Đảng

Trang 5

2.3 Các giải pháp đã thực hiện

Trên cơ sở tìm tòi, thể nghiệm, tôi đã vận dụng kiến thức tích hợp liên

môn Lịch sử, Địa lí, hiểu biết về văn hoá dân tộc…vào dạy bài: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Ngữ văn 12- tập 2, Chương trình cơ bản) theo quan điểm tích hợp

để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh trường THPT Quan Hóa Cụ thể như sau:

Tên bài: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc

(Trích Đến hiện đại từ truyền thống- Trần Đình Hượu)

A Mục tiêu cần đạt

1 Kiến thức

- Nắm được những luận điểm chủ yếu của bài viết và liên hệ với thực tế để hiểu

rõ những đặc điểm của vốn văn hóa truyền thống Việt Nam

2 Kĩ năng

- Nâng cao kĩ năng đọc, nắm bắt và xử lí thông tin trong những văn bản khoa học, chính luận

3 Giáo dục kĩ năng sống cơ bản

- Qua bài học giáo dục học sinh những kĩ năng sống cơ bản sau:

+ Tự nhận thức về những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hóa truyền thống dân tộc được phân tích trong văn bản; từ đó có ý thức phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để hội nhập với thế giới trong thời đại ngày nay + Tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về quan điểm của tác giả về những ưu điểm, nhược điểm của văn hóa truyền thống VIệt Nam

B Phương pháp dạy học

1 Thảo luận nhóm: Trao đổi về một số truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

được thể hiện trong văn bản

2 Động não: Học sinh suy nghĩ và nêu ý kiến về hệ thống luận điểm chủ yếu để

triển khai quan điểm, tư tưởng của nhà văn qua văn bản

3 Thực hành: Trình bày (miệng hoặc viết) hiểu biết và quan điểm của cá nhân

về một số nét đẹp của văn hóa dân tộc (truyền thống “tôn sư trọng đạo”, nét đẹp trong những ngày tết Nguyên đán của Việt Nam, một số truyền thống của dân tộc Thái, Mường, H’Mông trên địa bàn huyện Quan Hoá ), hiểu biết và quan điểm của cá nhân về hủ tục cần bài trừ nhất trong các ngày lễ, tết ở Việt Nam, ở dân tộc, địa phương Quan Hoá

C Phương tiện dạy học

Các thiết bị, đồ dùng dạy học, học liệu được sử dụng trong dạy học:

1 Các tư liệu (bài viết, tranh ảnh,….) về nền văn hóa Việt Nam, Hi Lạp, La Mã, Trung Hoa, Ấn Độ; tư liệu về văn hoá của dân tộc Thái, Mường

2 Các tranh ảnh, video… về nền văn hóa Việt Nam, Hi Lạp, La Mã, Trung Hoa,

Ấn Độ; video về một số hoạt động văn hoá của đồng bào các đan tộc trên địa bàn huyện Quan Hoá

3 Máy chiếu, giấy A0, bút lông

D Thiết kế bài dạy:

Hoạt động 1

Tổ chức kiểm tra bài cũ

Trang 6

(hình thức: vấn đáp)

Hoạt động 2 Dẫn vào bài mới

Trần Đình Hượu là một chuyên gia về các vấn đề văn hóa, tư tưởng Việt Nam.Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, tư tưởng có giá trị.

“Đến hiện đại từ truyền thống” là một công trình nghiên cứu văn hóa có ý nghĩa lớn Văn bản “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” được trích ở phần II, bài

“Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” in trong cuốn “Đến hiện dại từ truyền thống”.

Trong bài viết tác giả Trần Đình Hượu đã cho thấy: Nền văn hóa Việt Nam tuy không đồ sộ nhưng vẫn có những nét riêng mà tinh thần cơ bản là

“thiết thực, linh hoạt, dung hòa” Tiếp cận vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam phải có một con đường riêng Để hiểu rõ hơn về những mặt tích cực và hạn chế của văn hóa truyền thống từ đó giúp chúng ta phát huy điểm mạnh, khắc phục hạn chế để hội nhập với thế giới trong thời đại ngày nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nội dung bài học.

Hoạt động 3 Tìm hiểu nội dung bài học

(giáo viên hướng dẫn HS lần lượt tìm hiểu nội dung bài học)

I Hướng dẫn tìm hiểu khái quát về tác giả, tác phẩm

Mục tiêu:

Học sinh nắm được những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm

Cách tổ chức: HS đọc Tiểu dẫn trong SGK và trả lời câu hỏi:

+ Trình bày những hiểu biết về tác giả Trần Đình Hượu

+ Giới thiệu ngắn gọn văn bản Nhìn vè vốn văn hóa dân tộc.

Nội dung cần đạt:

1 Tác giả:

- (1926- 1995), quê ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Từ năm 1963 đến năm 1993, ông giảng dạy tại khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

- Chuyên nghiên cứu các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại

- Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

+ Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (1988),

+ Đến hiện đại từ truyền thống (1994),

+ Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995)

- Ông được phong chức danh Phó Giáo sư năm 1981 và được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000

2 Tác phẩm:

- “Đến hiện đại từ truyền thống” là một công trình nghiên cứu văn hóa có

ý nghĩa lớn Văn bản “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” được trích ở phần II, bài

“Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” in trong cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống”

3 Đọc văn bản

- HS đọc văn bản

Trang 7

- Giải thích từ khó (hs xem chú thích chân trang)

II Hướng dẫn đọc – hiểu chi tiết văn bản

1 Khái quát chung về đoạn trích

Mục tiêu:

HS nắm được tinh thần chung của bài viết là tiến hành phân tích, đánh giá khoa học đối với những đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam

Cách tổ chức:

- HS đọc văn bản và nêu cảm nhận chung về đoạn trích

- GV nhận xét, chốt ý

Nội dung cần đạt:

- Tác giả Trần Đình Hượu đã đề cập đến những đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam trên cơ sở các phương diện chủ yếu của đời sống tinh thần và vật chất: tôn giáo, nghệ thuật (kiến trúc, hội họa, văn học), ứng xử (giao tiếp cộng đồng, tập quán), sinh hoạt (ăn, ở, mặc)

- Cách trình bày vấn đề của văn bản: các mặt tích cực và hạn chế của nền văn hóa không được trình bày tách thành hai luận điểm riêng mà trình bày đan xen nhau, trong cái tích cực có cái hạn chế

- Thái độ của tác giả là khách quan khi trình bày các luận điểm của mình

2 Những đặc điểm của văn hóa Việt Nam về vật chất và tinh thần Mục tiêu:

- HS nắm được những đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam về vật chất

và tinh thần được tác giả trình bày trong văn bản

- GV kiểm tra vốn hiểu biết của học sinh về văn hóa Việt Nam Cung cấp thêm cho các em những hiểu biết về nền văn hóa dân tộc (các tôn giáo, một số công trình kiến trúc…)

Cách tổ chức:

- HS đọc văn bản và chỉ ra những đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam được trình bày trong văn bản theo gợi ý của giáo viên, liên hệ với thực tế

- GV khái quát, bổ sung, nhấn mạnh, lấy ví dụ từ thực tế

Nội dung cần đạt:

- Về tôn giáo:

+ Không cuồng tín, không cực đoan

+ Dung hoà các tôn giáo khác nhau để tạo nên sự hài hoà nhưng không tìm sự siêu thoát, siêu việt về tinh thần bằng tôn giáo

- Về nghệ thuật (kiến trúc, hội hoạ, văn học)

+ Người Việt sáng tạo được những tác phẩm tinh tế

+ Nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường

- Về ứng xử (giao tiếp cộng đồng, tập quán)

+ Người Việt trọng nghĩa tình

+ Khôn khéo gỡ các khó khăn,

+ Không kì thị, cực đoan, thích yên ổn

+ Không chú ý nhiều đến trí, dũng

- Về sinh hoạt (ăn, ở, mặc)

Người Việt ưa sự chừng mực, vừa phải

Trang 8

Để giảng nội dung phần này Gv có thể tích hợp hiểu biết của học sinh về văn hóa truyền thống dân tộc trên các phương diện: tôn giáo, kiến trúc, văn học, lịch sử

+ Về tôn giáo:

Việt Nam có nhiều tôn giáo nhưng người Việt không cuồng tín, không cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau để tạo nên sự hài hòa nhưng không tìm sự siêu thoát, siêu việt về tinh thần bằng tôn giáo

* Để làm sáng tỏ ý này, GV có thể kiểm tra hiểu biết của HS về các tôn giáo ở Việt Nam Sau đó GV khái quát và giới thiệu, cung cấp thông tin để HS hiểu biết hơn về các tôn giáo ở Việt Nam.

Định hướng: Ở Việt Nam hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo,

Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo

Tôn giáo theo đi u tra chính th c ều tra chính thức ức c a ủa

Chính phủa

Ph t giáo: ật giáo: Đ o Ph tạo Phật ật giáo

được truyền vào Việt Namc truy n vào Vi t Namền vào Việt Nam ệt Nam

t nh ng năm đ u Côngừ những năm đầu Công ững năm đầu Công ầu Công

nguyên T th k X đ n thừ những năm đầu Công ế kỉ X đến thế ỉ X đến thế ế kỉ X đến thế ế kỉ X đến thế

k VX, Ph t giáo Vi t Namỉ X đến thế ật giáo ệt Nam

có bước phát triển mớic phát tri n m iển mới ớc phát triển mới

cùng v i n n đ c l p dânớc phát triển mới ền vào Việt Nam ộc lập dân ật giáo

t c Th i Lý – Tr n (t đ uộc lập dân ời Lý – Trần (từ đầu ầu Công ừ những năm đầu Công ầu Công

th k XI đ n cu i th kế kỉ X đến thế ỉ X đến thế ế kỉ X đến thế ối thế kỉ ế kỉ X đến thế ỉ X đến thế

XIV) là th i kì c c th nh c aời Lý – Trần (từ đầu ực thịnh của ịnh của ủa

Ph t giáo Vi t Nam Vuaật giáo ở Việt Nam Vua ệt Nam

Tr n Nhân Tông là ngầu Công ười Lý – Trần (từ đầui

sang l p ra Thi n phái Trúcật giáo ền vào Việt Nam

lâm Yên t mang b n s cử mang bản sắc ảo ắc

Vi t Nam v i tinh th nệt Nam ớc phát triển mới ầu Công

sáng t o, dung h p và nh p ạo, dung hợp và nhập ợp và nhập ập

thế.

T ượng ng Kim Thân Ph t T ật giáo: ổ t i ại Nha Trang

Phật giáo hiện nay có khoảng 10 triệu tín đồ, gần 17.000 cơ sở thờ tự, khoảng 40.000 tăng ni và 36 trường đào tạo các chức sắc tôn giáo

Trang 9

Công giáo: Được các

giáo sĩ phương Tây truyền vào

Việt Nam từ thế kỉ XV Thiên

chúa giáo đầu tiên được phổ

biến trong các cư dân ven biển

Thái Bình, Nam Định, Ninh

Bình, Thanh Hoá, Nghệ An…

sau đó đi vào các vùng châu

thổ sông Hồng và các thành

phố Đến nay, giáo hội Công

giáo ở Việt Nam có 26 giáo

phận, khoảng 6 triệu tín đồ,

6270 cơ sở thờ tự, 19.000 chức

sắc, 06 đại chủng viện và 02 cơ

sở đào tạo các chức sắc tôn

giáo (Nhà th Đ c Bà – Sài Gòn) ờ Đức Bà – Sài Gòn) ức

Tin lành: Du nhậpvào

Việt Nam cuối thế kỉ XIX

đầu thế kỉ XX, do tổ chức

Liên hiệp Phức âm truyền

giáo truyền vào Tuy nhiên

tới năm 1920 đạo Tin Lành

mới bắt đầu được truyền giáo

tại khắp các vùng của Việt

Nam Hiện đạo Tin Lành có

trên 1 triệu tín đồ, 500 chức

sắc, 300 cơ sở thờ tự, 01 viện

Đạo Hồi: Truyền vào

Việt Nam qua cộng đồng người

Chăm vào thế kỉ X-XI Có hai

khối người Chăm theo đạo Hồi:

một là, khối người Chăm theo

Đạo Hồi ở Ninh Thuận, Bình

Thuận là khối Hồi giáo cũ hay

còn gọi là Chăm Bà-ni; hai là,

khối người Chăm theo đạo Hồi

ở Châu Đố (An Giang), thành

phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh,

Đồng Nai là khối đạo Hồi mới

hay còn gọi là Chăm Islam

Hiện nay đạo Hồi ở Việt Nam

có khoảng 72.000 tín đồ, 79 cơ (Thánh đường Hồi giáo ở Châu Đốc)

Trang 10

sở thờ tự, 700 vị chức sắc.

Đạo Cao Đài: Là một

tôn giáo bản địa, sáng lập năm

1926 tại Tây Ninh Đạo Cao

Đài tôn thờ ba đấng tối cao

Đức Phật, Chúa Giê-su và

Đức Cao Đài Hiện nay, đạo

Cao Đài có khoảng 2,4 triệu

tín đồ, 31.700 chức sắc, hơn

100 cơ sở thờ tự

(Tòa Thánh Tây Ninh)

Đạo Hòa Hảo: còn gọi

là Phật giáo Hòa Hảo, là một

tôn giáo bản địa, được sáng

lập năm 1939 tại làng Hòa

Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh

An Giang Đạo Hòa Hảo tập

hợp nhiều tín đồ ở miền Tây

Nam Bộ Hiện nay Phật giáo

Hòa Hảo có khoảng 1,3 triệu

tín đồ, 1200 cơ sở thờ tự,

1700 chức sắc (Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo ở tỉnh An Giang)

+ Về nghệ thuật:

Người Việt sáng tạo được nhiều tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thuòng

* GV giới thiệu cho HS một số công trình kiến trúc như chùa chiền, nhà thờ, tháp, đài (chùa Tây Phương, chùa Một Cột, Tháp Rùa…) Đó là những công trình kiến trúc có kích thước và quy mô nhỏ, vừa nhưng vẫn có những điểm nhấn tinh tế, hài hòa với thiên nhiên.

Tháp Rùa: Tháp

xây trên đảo Rùa từ thời

vua Lê Thánh Tông đã

dựng Điếu Đài ở đó để nhà

vua ra câu cá Sang thời Lê

Trung Hưng (khoảng thế

kỉ XVII-XVIII) thí chúa

Trịnh Giang cho xây Tả

vọng dinh trên đảo rùa làm

nơi vui chơi hóng mát, sau

bị phá hỏng khi Lê Chiêu

Ngày đăng: 18/05/2021, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w