1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đánh giá khả năng chịu lạnh của các giống lúa xuân châu hương, Q5, C27, khang dân, U17 và nhị ưu 63 bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro

6 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 143,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả đánh giá khả năng chịu lạnh ở mức độ mô sẹo của 6 giống lúa: Xuân châu hương, Q5, C27, Khang dân, U17 và Nhị ưu 63 bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro nhằm chọn tạo vật liệu khởi đầu phục vụ chọn dòng chịu lạnh của lúa. Kết quả cho thấy, xử lý mô sẹo ở nhiệt độ 50C ± 0,50C với các ngưỡng thời gian (1, 5, 9, 11, 13 và 15 ngày), mô sẹo các giống nghiên cứu có tỷ lệ sống sót, tốc độ sinh trưởng và khả năng tái sinh chồi khác nhau, giống Xuân châu hương có tỷ lệ sống sót, tốc độ sinh trưởng và khả năng tái sinh chồi là cao nhất.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU LẠNH CỦA CÁC GIỐNG LÚA XUÂN CHÂU HƯƠNG,

Q5, C27, KHANG DÂN, U17 VÀ NHỊ ƯU 63 BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY IN VITRO

Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Trong những năm gần đây, khí hậu thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những biến

đổi bất thường Vùng miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ là những khu

vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của lạnh Những năm gần đây nhiệt độ xuống rất thấp và thời gian kéo dài hơn, đây chính là nguyên nhân làm giảm năng suất và sản lượng lúa gạo của vùng Lúa vụ đông xuân chịu tác động mạnh nhất của nhiệt độ thấp, đặc biệt ở giai đoạn mạ, vì vậy, nghiên cứu khả năng chịu lạnh và tăng cường khả năng chống chịu với nhiệt độ thấp nhằm nâng cao năng suất và ổn định sản lượng của các giống lúa là yêu cầu cấp thiết đối với các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vục Bắc Trung Bộ hiện nay Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả đánh giá khả năng chịu lạnh ở mức độ mô sẹo của 6 giống lúa: Xuân châu hương, Q5, C27, Khang dân,

U17 và Nhị ưu 63 bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro nhằm chọn tạo vật liệu khởi đầu phục vụ chọn

dòng chịu lạnh của lúa Kết quả cho thấy, xử lý mô sẹo ở nhiệt độ 50C ± 0,50C với các ngưỡng thời gian (1, 5, 9, 11, 13 và 15 ngày), mô sẹo các giống nghiên cứu có tỷ lệ sống sót, tốc độ sinh trưởng

và khả năng tái sinh chồi khác nhau, giống Xuân châu hương có tỷ lệ sống sót, tốc độ sinh trưởng

và khả năng tái sinh chồi là cao nhất Kết quả đã tạo được 86 dòng mô và 210 dòng cây xanh đang trồng ngoài đồng ruộng phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo

Từ khoá: In vitro, mô sẹo, Oryza sativa, tái sinh cây, chịu lạnh

∗ MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, lúa (Oryza sativa L.) là cây nông

nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế

quốc dân Vùng miền núi phía Bắc, đồng bằng

sông Hồng và Bắc Trung Bộ là những khu

vực sản xuất lúa quan trọng nhưng lại thường

xuyên chịu ảnh hưởng của điều kiện lạnh

Trong những năm gần đây, vào mùa đông,

nhiệt độ khu vực này thường hạ xuống rất

thấp (dưới 10oC) và kéo dài làm ảnh hưởng

rất lớn đến năng suất và chất lượng lúa nhất là

lúa vụ đông xuân Vì vậy, nghiên cứu khả năng

chịu lạnh và tăng cường khả năng chịu lạnh của

các giống lúa nhằm nâng cao và ổn định sản

lượng lúa trong điều kiện nhiệt độ thấp là một

đòi hỏi thực tiễn trong sản suất nông nghiệp

và đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên

cứu [1], [2], [3], [5] Để góp phần cùng các

nhà chọn giống tìm ra những giống có khả

năng chịu lạnh tốt, chúng tôi đã tiến hành

Tel: 0913 383 289; Email: mauchdhtn@gmail.com

đánh giá khả năng chịu lạnh ở mức độ mô sẹo của 6 giống lúa: Xuân châu hương, Q5, C27, Khang dân, U17 và Nhị ưu 63, bằng

kỹ thuật nuôi cấy in vitro

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Vật liệu

Vật liệu nghiên cứu là hạt của các giống lúa: Khang Dân (KD), U17 do sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên cung cấp, Xuân Châu Hương (XCH), Nhị Ưu 63 (NƯ63), C27 do sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn cung cấp, Q5 do sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc

Giang cung cấp

Phương pháp nuôi cấy in vitro

- Khử trùng hạt: hạt lúa chín được bóc bỏ vỏ trấu và khử trùng bằng cồn 70% trong 1 phút, lắc nhẹ trong nước javen 60% trong 20 - 25 phút Sau đó tráng nước cất 3 - 5 lần

- Tạo mô sẹo: hạt sau khi được khử trùng được nuôi cấy trên môi trường MS cơ bản

Trang 2

(Murashige và Skoog, 1962), bổ sung sucrose

3%, aga 0,8%, 2,4D 2mg/l, pH = 5,8 Mỗi

bình cấy 10 - 15 hạt Nuôi 1 tuần trong tối, 2

tuần dưới ánh sáng đèn trong phòng nuôi cấy

với cường độ 2000 lux Sau 3 tuần tiến hành

đánh giá khả năng tạo mô sẹo - Xử lý mô sẹo

: Mô sẹo tạo thành được chia nhỏ với kích

thước 3mm và chuyển sang môi trường duy

trì mô sẹo gồm: MS, sucrose 3%, aga 0,8%,

2,4D 1mg/l, pH = 5,8 và được đặt trong tủ

lạnh có nhiệt độ 50C ± 0,50C xử lý theo các

ngưỡng thời gian khác nhau (1, 5, 9, 11, 13,

15 ngày

- Tái sinh cây: Mô sẹo sau khi xử lý lạnh

được chuyển lên môi trường tái sinh (MS,

BAP 2mg/l, sucrose 3%, aga 0,8%, pH = 5,8)

Sau 3 tuần đánh giá tỷ lệ sống sót và tốc độ

sinh trưởng của mô sẹo Sau 8 tuần đánh giá

khả năng tái sinh cây

- Tạo cây hoàn chỉnh: Các chồi lúa tái sinh

được tách ra thành từng dòng cây và cấy

chuyển lên môi trường tạo cây hoàn chỉnh

(MS, sucrose 3%, aga 0,8%, NAA 0,2 mg/l,

pH = 5,8) Mật độ cấy 10 chồi/bình Nuôi

dưới ánh sáng đèn neon trong phòng nuôi cấy

với cường độ 2000 lux

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thăm dò khả năng tạo mô sẹo và tốc độ

sinh trưởng của mô sẹo lúa

Để đánh giá khả năng thích ứng của các giống

trong hệ thống nuôi cấy mô nhằm sử dụng

chúng trong việc đánh giá khả năng chịu lạnh

cũng như với mục đích chọn dòng tế bào sau

này, chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm khảo sát khả năng tạo mô sẹo, tốc độ sinh trưởng và khả năng tái sinh cây của các giống nghiên cứu Khả năng tạo mô sẹo được đánh giá sau 3 tuần nuôi cấy Sau 3 tuần nuôi cấy

mô sẹo được cắt nhỏ với kích thước 3mm2, sau đó cấy trên môi trường tái sinh Tốc độ sinh trưởng tương đối của mô sẹo được tính bằng số đơn vị mô sẹo (ĐVMS), 1ĐVMS = khối mô sẹo kích thước 3mm2 Khả năng tái sinh được đánh giá sau 8 tuần nuôi cấy Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 1 Kết quả nhận được ở bảng 1 cho thấy, tất cả các giống thí nghiệm đều có khả năng tạo mô sẹo và khả năng tái sinh cây Tuy nhiên, tỷ lệ tạo mô sẹo, tốc độ sinh trưởng của các giống lúa là khác nhau Khả năng tạo mô sẹo và tốc

độ sinh trưởng mô sẹo của giống C27 là cao nhất (98,59%), thấp nhất là giống Nhị ưu 63 (82,29%) Song khả năng tái sinh cây cây của giống Xuân Châu Hương là cao nhất (15,39%), thấp nhất là giống C27 (8,54%) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khả năng tái sinh cây trong nuôi cấy mô sẹo phụ thuộc vào kiểu gen của từng giống [4], [6], [7], [8] Qua thực nghiệm, chúng tôi thấy những mô

có màu vàng trắng, mô sẹo cứng và khô có khả năng tái sinh cao hơn so với những mô

có màu nâu đen, mô sẹo mọng nước Như vậy, tất cả các giống nghiên cứu đều có khả năng tạo mô sẹo và tái sinh cây đáp ứng cho các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến nuôi

cấy in vitro

Bảng 1 Thăm dò khả năng tạo mô sẹo, tốc độ sinh trưởng và khả năng tái sinh cây của các giống lúa

sau 3 tuần

Tốc độ sinh trưởng (đvms/hạt/3tuần)

Tỷ lệ tái sinh cây(%) sau 8 tuần

Trang 3

Bảng 2 Tỷ lệ mô sẹo sống sót sau 3 tuần nuôi phục hồi

Ảnh hưởng của lạnh đến tỷ lệ sống sót của

mô sẹo

Để xây dựng quy trình chọn dòng chịu lạnh,

cần xác định ngưỡng chịu lạnh của mô sẹo

Chúng tôi tiến hành xác định khả năng chịu

lạnh của các giống ở mức độ mô sẹo thông

qua chỉ tiêu về khả năng chịu lạnh và tái sinh

cây của mô sẹo sau khi xử lý ở nhiệt độ 50C ±

0,50C với các ngưỡng thời gian khác nhau (1,

5, 9, 11, 13 và 15 ngày) Khả năng chịu lạnh

của mô sẹo được đánh giá thông qua tỷ lệ

sống sót của mô sẹo sau khi nuôi phục hồi 3

tuần Kết quả thu được cho thấy, những mô

sống sót có màu trắng ngà, sau 3 tuần kích

thước mô sẹo đã lớn hơn khối mô trước khi

xử lý Những mô bị chết có màu đen, màu

vàng hoặc trắng, kích thước không thay đổi

Tỷ lệ sống sót của mô sẹo sau xử lý ở nhiệt

độ thấp là một trong các chỉ tiêu để đánh giá

khả năng chịu lạnh của các giống lúa Tỷ lệ

sống sót của mô sẹo các giống sau khi xử lý ở

nhiệt độ thấp được thể hiện ở bảng 2

Kết quả ở bảng 2 cho thấy, số ngày xử lý bởi

lạnh càng tăng thì tỷ lệ sống sót của mô sẹo

càng giảm Khả năng chịu lạnh của các giống

ở mức độ mô sẹo rất khác nhau Tỷ lệ mô sẹo

sống sót của U17 là cao nhất ở hầu hết các

ngưỡng xử lý (94,96%, 43,35%, 22,57%,

12,35%, 8,27% và 8,13% tương ứng với thời

gian xử lí là 1, 5, 9, 11, 13, 15 ngày) Tỷ lệ mô

sẹo sống sót của C27 là thấp nhất ở hầu hết các

ngưỡng xử lý (79,67%, 24,84%, 10,26%,

5,11% tương ứng với ngưỡng thời gian là 1, 5,

9, 11 ngày) Sau 10 ngày, tỷ lệ sống sót của mô

sẹo đều giảm nhanh ở cả 6 giống nghiên cứu Giống C27 xử lý lạnh ở ngưỡng 13, 15 ngày

mô sẹo chết hoàn toàn Mô sẹo của giống Q5 chết hoàn toàn khi xử lý lạnh ở ngưỡng 15 ngày Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đây Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, ở cùng một ngưỡng xử lý, thời gian xử lý càng tăng thì tỷ lệ sống sót của

mô sẹo càng giảm [4], [8]

Ảnh hưởng của lạnh đến tốc độ sinh

trưởng của mô sẹo

Đồng thời với đánh giá khả năng sống sót của

mô sẹo, chúng tôi còn theo dõi khả năng sinh trưởng của mô sẹo sau xử lý lạnh ở các ngưỡng khác nhau và nuôi phục hồi 3 tuần Kết quả được trình bày ở bảng 3

Kết quả bảng 3 cho thấy, tốc độ sinh trưởng tương đối của mô sẹo các giống không đều nhau Trong đó, khi xử lý lạnh, giống Xuân

châu hương có tốc độ sinh trưởng tương đối

cao (2,94 đvms/mô, 3,12 đvms/mô, 3,21 đvms/mô, 2,20 đvms/mô, 2,08 đvms/mô, 1,88 đvms/mô và 1,52 đvms/mô), tiếp đến là giống U17 và giống C27 là thấp nhất Tỷ lệ mô sẹo sống sót càng cao thì tốc độ sinh trưởng của

mô càng cao và ngược lại Kết quả ở bảng 3 cũng cho thấy, ở ngưỡng xử lý 1 và 5 ngày không làm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của

mô sẹo, ngược lại còn kích thích sự sinh trưởng của mô sẹo so với đối chứng, tăng cao nhất là giống U17 (3,27 đvms/mô ở ngưỡng 5 ngày) Khi tăng thời gian xử lý thì tốc độ sinh trưởng của mô sẹo giảm dần rồi dẫn tới ngừng sinh trưởng và chết hoàn toàn [8]

Trang 4

Bảng 3 Tốc độ sinh trưởng tương đối của mô sẹo sau xử lý bởi lạnh và nuôi phục hồi 3 tuần

Bảng 4 Khả năng tái sinh chồi của mô sẹo sau khi xử lý lạnh

Khả năng tái sinh chồi từ mô sẹo sau khi

xử lý lạnh

Khả năng tái sinh chồi sau 8 tuần nuôi cấy

của mô sẹo sống sót sau xử lý lạnh được trình

bày ở bảng 4 Kết quả cho thấy mô sẹo của

hầu hết các giống sau xử lý lạnh ở các

ngưỡng thời gian khác nhau đều còn giữ được

khả năng tái sinh chồi Mô sẹo bị xử lý ở các

ngưỡng 1, 5, 9 ngày có khả năng tái sinh cao

hơn so với đối chứng ở tất cả các giống

Kết quả bảng 4 cho thấy, giống XCH có tỷ lệ

tái sinh chồi cao nhất ở tất cả các ngưỡng xử

lý (23,24%, 14,39%, 23,24%, 17,12%,

14,32%, 16,00% tương ứng với các ngưỡng

thời gian 1, 5, 9, 11, 13, 15) Giống có tỷ lệ

tái sinh chồi thấp nhất là giống C27 (8,32%,

6,42%, 8,32%, 1,35% tương ứng với ngưỡng

thời gian 1, 5, 9, 11 ngày) Ở ngưỡng 13, 15

ngày mô sẹo của giống C27 bị chết hoàn toàn

Mô sẹo của giống Q5 cũng bị chết hoàn toàn

ở ngưỡng 15 ngày Như vậy, thời gian xử lý

càng tăng thì tỷ lệ tái sinh chồi càng giảm

Kết quả cho thấy, hầu hết mô của các giống sau xử lý lạnh khi sống sót thường có khả năng tái sinh cao hơn so với đối chứng Theo

Lê Trần Bình và cs (1998), khi xử lý cực đoan những tế bào mẫn cảm đã bị giết chết, chọn ra những tế bào có sức sống và khả năng tái sinh cao hơn [5] Như vậy, khả năng tái sinh không chỉ phụ thuộc vào kiểu gen mà còn phụ thuộc vào thời gian xử lý lạnh mô sẹo Qua thực nghiệm chúng tôi đã thu được 86 dòng

mô có khả năng chịu lạnh và 210 dòng cây xanh của 6 giống lúa, hiện đang trồng ngoài đồng ruộng để phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo

Từ những khảo sát về khả năng chịu lạnh và tái sinh cây của các giống, chúng tôi xác định được ngưỡng chọn dòng chịu lạnh của các giống U17, Nhị ưu 63, Khang dân, Xuân châu hương là 15 ngày, ngưỡng chọn dòng chịu lạnh của giống C27 là 11 ngày và ngưỡng chọn dòng chịu lạnh của giống Q5 là 13 ngày Tuy nhiên, để khẳng định được chắc chắn đó

Trang 5

là các ngưỡng xử lý có hiệu quả đối với các

giống cần phải tiếp tục theo dõi ngoài đồng

ruộng, phân tích về di truyền, hoá sinh cũng

như kiểm tra khả năng chống chịu lạnh của

các thế hệ tái sinh từ các dòng mô chịu lạnh

thu được

KẾT LUẬN

- Cả 6 giống lúa đều có khả năng tạo mô sẹo

và khả năng tái sinh cây từ mô sẹo Khả năng

tạo mô sẹo của giống C27 là cao nhất, thấp

nhất là giống Nhị ưu 63 Song khả năng tái

sinh cây của giống Xuân châu hương là cao

nhất, thấp nhất là giống C27

- Xử lý mô sẹo ở 50C ± 0,50C với thời gian 1

và 5 ngày không làm ảnh hưởng tới sự sinh

trưởng của mô sẹo, ngược lại còn kích thích

sự sinh trưởng của mô sẹo Tăng thời gian xử

lý lạnh lên 9, 11, 13 và 15 ngày làm ức chế sự

sinh trưởng của mô sẹo so với đối chứng

- Khả năng tái sinh cây từ mô sẹo sống sót

sau xử lý lạnh ở ngưỡng thời gian 9 ngày cao

hơn hẳn so với đối chứng

-Ngưỡng chọn dòng chịu lạnh của các giống

U17, Nhị ưu 63, Khang dân, Xuân châu

hương là 15 ngày, ngưỡng chọn dòng chịu

lạnh của giống Q5 là 13 ngày và ngưỡng chọn

dòng chịu lạnh của giống C27 là 11 ngày ở

50C ± 0,50C

- Khả năng chịu lạnh của các giống lúa ở mức

độ mô sẹo có sự khác nhau Khả năng chịu

lạnh ở mức độ mô sẹo các giống được sắp xếp

thep thứ tự từ cao đến thấp như sau:

XCH > U17 > KD > NƯ > Q5 > C27

- Đã tạo được 86 dòng mô và 210 dòng cây xanh phục vụ cho nghiên cứu chọn dòng tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bertin P., Bouharmont J., Kinet J M (1997),

“Somaclonal variation and improvement of chilling tolerance in rice:

Chance in chilling-induce chlorophyll

fluorescence”, Crop Sci, 37, pp 1727-1735

[2] Bertin P., Kinet J M., Bouharmont J (1995),

“Heritable chilling tolerance improvement in rice through somaclonal variation and cell line

selection”, Aust J Bot, 44, pp 91-105

[3] Bouharmont J., Dekeyser A (1989), “In vitro selection for cold and salt tolerance in rice”,

Review of Advance in Plant Biotechnology, 1985 –

88 IMWIC & IRRI, pp 308 – 313

[4] Lê Trần Bình, Võ Thị Ngọc Điệp, Lê Thị

Muội (1995), "Nghiên cứu khả năng chịu lạnh và

chịu khô ở mức độ mô sẹo lúa của các giống có

nguồn gốc sinh thái khác nhau", Tạp chí Sinh học,

17 (1), tr25 – 29

[5]. Lê Trần Bình, Lê Thị Muội (1998), Phân lập

gen và chọn dòng chống chịu ngoại cảnh bất lợi ở cây lúa, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội

[6] Gamborg O L., Phillip G C (1995), Basal

media for plant cell and tissue culture in: Plant

Cell, Tissue and Organ Culture, Fundamental

methods, Springer Heidelberg, pp 301-306 [7] M Al – Forkan, M A Rahim, T Chowdhury,

P Akter and L Khaleda (2005), “Deverlopment of

highly in vitro callogeenesis and regeneration

system for some salt tolerance rice cultivars of

bangladesh”, Biotechnology 4 (3), pp 230 – 234

[8]. Nguyễn Thị Tâm (2004), Nghiên cứu khả

năng chịu nóng và chọn dòng chịu nóng ở lúa bằng công nghệ tế bào thực vật, Luận án Tiến sĩ

Sinh học, Viện Công nghệ sinh học, Hà Nội

Hình 1 Một số hình ảnh trong đánh giá khả năng chịu lạnh ở lúa

(A) Mô sẹo hình thành từ hạt; (B) Mô sẹo sống sót tái sinh sau 4 tuần nuôi phục hồi; (C) Tái sinh chồi

từ mô sẹo sống sót sau 8 tuần

Trang 6

SUMMARY

EVALUATION OF COLD TOLERANCE ABILITY OF XUAN CHAU HUONG,

Q5, C27, KHANG DAN, U17, NHI UU 63 RICE CULTIVARS BY IN VITRO

CULTIVATION TECHNIQUE

College of Education - TNU

In recent years, global climate in general and VietNam in particular have witnessed abnormal changes The Northern mountainous provice, Red River Delta and Northen central regions are often affected by cold weather, with temperature getting low and cold period prolonged in recent years This is the major cause of the decreasing rice yield in these regions, in which winter-spring rice is most seriously affected by low temperature, especially at seeding stage As such, studying on enhanced cold tolerance ability and resistance to low temperature to improve productivity and stabilize yield of rice breeds is practically required for these regions In this paper, we announce the results of evaluating cold tolerance at callus level of six rice cultivars: Khang Dan, Xuan Chau Huong, Nhi Uu 63, C27, U17 and Q5 by in vitro cultivation technique to create the initial material to serve selection of cold-tolerant rice lines Results showed that after cold treatment at different time thresholds (1, 3, 5, 7, 9, 11, 13 and 15 days), callus tissue of all six rice cultivars have different rate of survival, growth rate and regeneration capacity, of which the highest are of Xuan Chau Huong Finally, 86 callus and 210 rice lines have been created and serving for further research

Key words: Callus, cold tolerance, in vitro, Oryza sativa, plant regeneration.

Tel: 0913 383 289; Email: mauchdhtn@gmail.com

Ngày đăng: 18/05/2021, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm