1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở việt nam

40 621 10
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Hành Chính Ở Việt Nam
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 14,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở việt nam

Trang 2

MỤC LỤC

Chương I1: Lí luận chung về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực hành chính 3

4.2.Phân loại cán bộ công chức -. - << << << *s*+ 13

4.3 Vai trò của nguồn nhân lực hành chính - 5555 +25 552s+ 522 17

4.4 Chất lượng nguồn nhân lực hành chính và các tiêu chí phản ánh 18

5 Quản lý nguồn nhân lực hành chính +22 ++++++++++ses+2 20

TI.Kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực hành chính ở một số nước 22 Chương II: Thực trạng nguồn nhân lực hành chính ở Việt Nam 27

1 Thực trạng nguồn nhân lực ở các cơ quan hành chính: 27

2 Xu hướng: SH nh nh Hy HH nh not kh ch 28

3 Tồn tại và yếu kém: 222222212111 115 111151551115 155 551115153 x9 31

4 Nguyên nhân: -.- - Ăn nh nh khen 32

Chương III: Một số giải phấp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành

Chính - c cọ SH TS ST TT ni nh nà tà nh nhàn 34

Tài liệu tham khảo -. -c- c2 2< sxses 38

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Từ xa xưa đến nay, không ai có thể phủ nhận vai trò của con người trong việc phát triển nền kinh tế của gia đình, xã hội Song song với các phát minh của khoa học kĩ thuật thì yêu cầu vè chất lượng của con người cũng ngày càng nâng cao để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất hơn Mỗi quốc gia có phong tục tập quán, một lối sống riêng, một khả năng tiềm ẩn riêng, do đó việc xây dựng một nguồn nhân lực là không một quốc gia nào giống quốc gia nào Bao trùm lên toàn bộ vấn đề trên là cần có một trình độ quản lý nguồn nhân lực tốt Trong phạm vi bài viết này, em xin đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực trong khu vực

hành chính trong thời kì nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đó là van dé

“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở Việt Nam”

Nội dung của bài viết bao gồm:

Chương 1: Lí luận chung về nguôn nhân lực và nguồn nhân lựchành chính

Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực hành chính ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành

chính ở Việt Nam

Kết luận:

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VÈ NGUÒN NHÂN LỰC VÀ

NGUÒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH

I Khái niệm và các yếu tố của nguồn nhân lực:

1 Nguồn nhân lực:

Thực tế rất nhiều doanh nghiệp coI trọng nguồn nhân lực, tuy nhiên họ

không biết nên tiến hành các hoạt động của nguồn nhân lực này như thế nào Trong nhiều doanh nghiệp có khuynh hướng tuyển dụng con em nhân viên công

ty và từ đó lấy hình thức này như là động viên họ Do đó các doanh nghiệp nên

có cách tiếp cận khác về nguồn nhân lực cũng như cách thức tuyển dụng

Nguồn nhân lực của một tô chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia vào

các hoạt động trong tổ chức Quy mô và cơ cấu của bộ phận nguồn nhân lực của

một tổ chức phụ thuộc khối lượng của công việc quản lý cần giải quyết và cách thức mà nhân viên thực hiện nó như thế nào Do đó tuỳ thuộc vào quy mô của

tổ chức và các yếu tố thuộc điều kiện bên trong, bên ngoài cảu tổ chức như: trình độ của nguồn nhân lực và cách thức quản lý nguồn nhân lực của các cán

bộ quản lý, đặc điểm công việc và sự phức tạp của hoạt động, các quan hệ trong

tô chức, tình hình thị trường lao động và cạnh tranh, tình hình phát triển kinh tế đất nước, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, để lựa

chọn quy mô và cơ cấu cho phù hợp

2 Các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực của tổ chức được đặc trưng bởi những yếu tố cơ bản sau:

số lượng nguồn nhân lực, cơ cấu tuổi nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu cấp bậc nhân lực

Nhân lực là nguồn lực có vai trò rất quan trọng, và không thể thiếu đối với

một hoạt động của một tổ chức, hoạt động của nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

Trang 5

tố do đó rất đa dạng và phức tạp Do đó, việc sử dụng nguồn nhân lực một cách

hiệu quả đang là mục tiêu hàng đầu của các tô chức

Tiếp cận theo hướng chiến lược là phương thức quản trị hiện đại, phù hợp với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt và khi các công ty hoạt động trong một môi trường kinh doanh bất ôn Cách tiếp cận này giúp cho công ty

thích ứng một cách hiệu năng với sự biến động của môi trường và qua đó đạt được lợi thế cạnh tranh trong dài hạn

Trong các cách để tạo ra năng lực cạnh tranh của công ty, thì lợi thế thông

qua con người được xem là yếu tố căn bản Con người được xem là nguồn lực căn bản và có tính quyết định của mọi thời đại Nguồn lực từ con người là yếu

tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức

Năng lực thông qua con người ở các công ty được hiệu như là khả năng của

đội ngũ nhân viên trong công ty Khả năng này được thé hiện trên các khía cạnh

ở hình 1 Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công việc cụ thể; và năng suất của nhân viên Đây là những yếu tố then chốt mang lại

sự thành công của các tô chức, Tuy vậy, không phải tổ chức nào cũng có thể thành công trên hầu hết tất cả các khía cạnh trên về nguồn nhân lực và thường người ta chọn các trọng tâm phù hợp với viễn cảnh (vision) và chiến lược của công ty Ví dụ có công ty đề cao các yếu tố về năng suất; kỹ năng có tính

chuyên nghiệp, và cũng có công ty lại đề cao dịch vụ tốt; chất lượng cao; khả

năng đổi mới của đội ngũ nhân viên

Năng lực thông qua yếu tố con người thường mang tính bền vững vì nó không thể xác lập trong một thời gian ngắn Nó liên quan đến văn hoá của tổ chức Đây chính là các chuẩn mực bắt thành văn, trở thành nếp sống và ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức Văn hoá còn đề cập đến các giá trị mà những

Trang 6

người nhân viên trong công ty đề cao, suy tôn và cả cách thức mà họ chia sẻ thông tin cho nhau trong tô chức Muốn cải thiện nguồn nhân lực thì trước hết

phải cải thiện môi trường văn hoá công ty, và điều này không phải dễ và mất rất nhiều thời gian và khá tốn kém Rõ ràng nền tảng các khía cạnh thé hiện ở trên

thường gắn với văn hoá công ty và rất khó hình thành trong ngày một ngày hai,

như chúng ta làm điều đó với các nguồn lực khác như tài chính hoặc công

Hình 1 Các khía cạnh về năng lực nguồn nhân lực

IH Nền hành chính nhà nước và nguồn nhân lực hành chính:

1 Nhà nước:

Là cơ quan thống trị của một hoặc một nhóm giai cấp này với một hoặc

toàn bộ các giai cấp khác trong xã hội; vừa là cơ quan quyền lực công đậi diện

1 ,Đoàn Gia Dũng: Bàn về tích hợp chiến lược nguồn nhân lực với chiến lược công ty.

Trang 7

cho lợi ích của cộng đồng xã hội, thực hiện những hoạt động nhằm duy trì và

phát triển xã hội.”

Nhà nước ra đời trên cơ sở đấu tranh giai cấp, mà bản chất là vấn đề chính

quyền, và việc giành chính quyền của giai cấp thống trị

Nhà nước có 2 thuộc tính cơ bản:

- Thuộc tính giai cấp

- Thuộc tính xã hội

Các thuộc tính trên của nhà nước thể hiện rất rõ trong các chức năng quản

lý của Nhà nước đối với xã hội

Quản lý nhà nước với xã hội là tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích

và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đối cới quá trình xã hội, các cá nhân

và các tô chức trong xã hội nhằm duy trì và củng cố trật tự xã hội, bảo toàn,

củng cố và phát triển quyền lực nhà nước, đảm bảo cự tồn tại và phát triển của

xã hội."

Nhà nước có vai trò là chủ thể quản lý xã hội lớn nhất là do Nhà nước nắm

được quyền lực xã hội, và quyền lực xã hội là quyền lực được mọi người công nhận và có sức mạnh lớn nhất trong xã hội Quyền lực xã hội do Nhà nước nắm

giữ được gọi là quyền lực chính trị hoặc quyền lực Nhà nước

Quyền lực nhà nước bao gồm 3 nhánh lớn, tương ứng với 3 chức năng cơ bản của Nhà nước:

- Quyền lập pháp là Nhà nước có quyền ban hành, sửa đôi hiến pháp, các văn

bản luật và giám sát việc chấp hành hiến pháp, luật pháp

Trang 8

- Quyền hành pháp là quyền mà Nhà nước thực hiện pháp luật và tổ chức đời

sống xã hội theo pháp luật

- Quyền tư pháp là Nhà nước có quyền xét xử những hành vi vi phạm pháp luật

và những tranh chấp, xung đột trong xã hội

Ở Việt nam, theo Hiến pháp 1992 đã sửa đổi ghi rõ: nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội của dân do dân và vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhằnớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp và tư pháp Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân , nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo

chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà

nước và xã hội Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện ý chí và nguyện vọng của nhân

dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân."

2 Nền hành chính nhà nước:

Hành chính nhà nước là bộ phận chủ yếu của quản lý Nhà nước bao gồm các hoạt động tô chức và điều hành của cơ quan hành pháp nhằm thực hiện quản lý công việc hàng ngày của đất nước

Nền hành chính nhà nước là hệ thống tô chức và thể chế nhà nước có chức năng thực thi quyền hành pháp bằng hoạt động hành chính nhà nước.”

Trang 9

- Công chức hành chính chức

Ngoài các yếu tố cấu thành trên còn có thêm hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và

phương tiện được sử dụng trong nên hành chính

Bốn nhân tố trên gắn bó nhau trong một thê thống nhất tạo thành nền hành

chính nhà nước, trong đó nhân tố năng động nhất là nhân tố hệ thống CBCC

hành chính- cái tạo nên nguồn nhân lực hành chính

3 Quản lý hành chính nhà nước:

Là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước Nhà nước có nhiệm

vụ là duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự xã hội, tạo điều kiện

cho con người thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp Nhà nước sử dụng hệ thống từ trung ương đến địa phương đề thực thi quyền lực của mình Như vậy Chính phủ

là cơ quan hành pháp cao nhất thực hiện quyền hành pháp cao nhất đối với toàn dân và toàn xã hội Chính phủ còn cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao

nhất của Nhà nước

4 Nguồn nhân lực hành chính:

Nguồn nhân lực hành chính nhà nước là hệ thống cán bộ công chức hành

chính Có thê hiểu: nguồn nhân lực hành chính là tông thê các tiềm năng lao động của những con người làm việc trong bộ máy hành chính

Tiềm năng lao động của con người bao gồm toàn bộ sức lao động (vốn

kiến thức, kĩ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối

quan hệ ) của con người sử dụng trong quá trình làm việc Tiềm năng lao động trở thành khả năng hiện thực nếu nó được sử dụng và quản lý đúng đắn

Trang 10

CBCC) được Chính phủ sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của Nhà nước

4.1 Các thuật ngữ sử dụng trong nguồn nhân lực ở Việt Nam:

Trong tiến trình phát triển đất nước, ở Việt Nam đã sử dụng 5 loại thuật ngữ

Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người làm

việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội; dưới góc độ hành

chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với những người có mức lương thấp hơn cán sự

Hiện nay, ở nước ta, khái nệm được dùng với nhiều nghĩa khác nhau:

Trong tổ chức đảng và đoàn thể thường được dùng với 2 nghĩa: một là, chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo; hai là, những người làm công tác chuyên trách hưởng lương trong các tô chức Đảng, đoàn thê

Trong quân đội là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở

lên (cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn )

hoặc là sĩ quan từ cấp uý trở lên

Trang 11

Trong hệ thống bộ máy nhà nước, khái niệm cán bộ về cơ bản được hiểu

với nghĩa trùng với khái niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngạch hành chính, tư pháp, lập pháp, kinh tế, văn hoá xã

hội Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ

trách lãnh đạo

4.1.2 Công chức:

Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia

trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương

Rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia;

thậm chí, ngay trong một quốc gia, ở từng thời kì phát triển khác nhau, thuật

ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau Một số nước chỉ giới hạn công

chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động quản lý nhà nước Một

số nước khác có quan niệm rộng hơn, cho rằng công chức không chỉ bao gồm những người trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan dịch vụ công

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được gắn vơi sự phát triển của nền hành

chính nhà nước Và phạm vi công chức là rất hẹp, chỉ những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, tức là đội ngũ công chức hành chính nhà nước, theo cách nói hiện nay

Suốt một thời gian khá dài (từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm

1980), khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ,

công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt công nhân viên chức với công

chức Khi thực hiện công cuộc đổi mới và tiến trình cải cách hành chính đòi hỏi

phải chân hoá đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, thuật ngữ công chức nhà

Trang 12

nước được sử dụng trở lại theo đúng nghĩa của nó Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 quy định như sau: “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”

Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 đã nêu các đối

tượng cán bộ công chức, gồm: cán bộ công chức hành chính; cán bộ viên chức

sự nghiệp; cán bộ công chức xã phường thị trấn và công chức dự bị trên cơ sở

đó, nghị định 117/2003/NĐ-CP quy định: công chức là những người được nhà

nước tuyển dụng, bé nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung

ương, cấp tỉnh, cấp huyện, hoặc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân mà không pahi là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,

được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một

ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

4.1.3 Viên chức

Viên chức được hiểu là những người làm việc thông thường và những người

có chức vụ trong các cơ quan, tổ chức công hoặc tư, được hưởng lương theo ngạch, bậc, trình độ và chức vụ Theo cách hiểu như vậy, khái niệm “viên chức”

có nội hàm rộng hơn khái niệm “công chức”, công chức là những viên chức làm

việc trong bộ máy công quyền, trong các cơ quan tổ chức nhà nước

Cũng giống như thuật ngữ công chức, khái niệm công chức trong một quãng thời gian ít đợc sử dụng mà được dùng chung trong cụm từ cán bộ, công nhân viên chức Thuật ngữ này được chính thức sử dụng trong hiến pháp nước

cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Trong luật tổ chức chính phủ năm 2001, tại khoản 1 điều 8, thuật ngữ này được sử dụng khi quy định chính

1I

Trang 13

phủ có nhiệm vụ “đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức viên chức nhà nước”

Theo Nghị định 116/2003/NĐ- CP ngày 10/10/2003, viên chức là công

dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bố nhiệm vào một nghạch viên

chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp của

Nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, hưởng lương từ ngân sách

Nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật Như vậy, viên chức là những nhân viên làm việc trong cơ quan ytế, giáo dục, khao học-

công nghệ, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các hội nghề nghiệp, mà lâu nay thường được

gọ1 là công chức sự nghiệp

4.1.4 Cán bộ công chức xã, phường, thị tran

Theo Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 và theo nghị định số 114/2003/NĐ- CP của Chính phủ về cán bộ công chức nước ta có thêm

bộ phận cán bộc công chức cấp xã, bao gồm:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì gồm các

chức vụ: Bí thư, Phó bi thư Đảng uỷ, thường trực đảng, Bí thư, Phó bí thu chi bộ; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch uỷ ban mặt trận tổ quốc, Bí thư đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh, Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch hội nông dân và Chủ tịch

hội cựu chiến binh

- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã: trưởng công an; chỉ huy quân sự: văn

phòng- thống kê; địa chính- xây dựng; tài chính- kế toán; tư pháp- hộ tịch; văn hoá- xã hội

Trang 14

4.1.5 Công chức dự bị

Theo pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bố sung năm 2003 và nghị định

số 115/2003/NĐ- CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về chế độ công chức dự

bị, “công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyên dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ công chức

quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bỗ sung một

số điều của Pháp lệnh cán bộ công chức ngày 29/4/2003” Công chức dự bị

được phân công làm việc có thời hạn tại các cơ quan tổ chức sau:

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Toà án Nhân dân các cấp;

- Viện kiểm soát nhân dân các cấp;

- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương; Uỷ ban nhân dân quận huyện, thành phố trực htuộc tỉnh;

- Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tô chức chính trị- xã hội;

- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;

4.2 Phân loại cán bộ công chức

Phân loại CBCC là sự phân chia cán bộ công chức ra thành các loại, các hạn

ngạch khác nhau theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn nhất định

4.2.1 Theo đặc thù và tính chất công việc:

13

Trang 15

- Công chức lãnh đạo là những công chức giữ cương vị vhi huy trong điều hành công việc Tuỳ theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau mà phân ra công chức lãnh đạo ở cá cấp độ cao thấp khác nhau

Công chức lãnh đạo được giao những thâm quyên, trách nhiệm nhất định gắn

với chức vụ; được quyền ra các quyết định quan lý, tô chức và điều hành những

người dưới quyền thực hiện công việc

- Công chức chuyên gia là những người có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao có khả năng nghiên cứu đề xuất những phương hướng, quan điểm và thực thi công việc chuyên môn phức tạp Họ là những người tư vấn cho lãnh đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn tác nghiệp những công việc đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nhất định Loại công chức này phải được đào tạo theo những ngạch, bậc chuyên môn nhất định

- Công chức thi hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước: là những nười thừa hành công việc, thực thi công vụ chứ không có thảm quyền ra quyết định như các công chức lãnh đạo Họ được trao những thẩm quyền nhất định trong

phạm vi công tác của mình khi làm phận sự, ví dụ: các công chức làm nhiệm vụ cảnh sát thuế vụ, hải quan, thanh tra khi thực hiên công vụ, học có quyền bắt buộc người khác phải thực hiện pháp luật

- Các nhân viên hành chính là những người thừa hành nhiệm vụ do công chức lãnh đạo giao phó Họ là những người làm công tác phục vụ trong bộ máy nhà nước Bản thân họ có những trình độ chuyên môn kí thuật ở mức thấp nên phải tuân thủ sự hướng dẫn của cấp trên

4.2.2 Theo trình độ đào tạo:

Trang 16

CBCC được chia theo hạng Hạng công chức là một tiêu thức chỉ trình độ

tổng quát của công chức, nó chỉ rõ công chức có khả năng đảm đương những nhiệm vụ công tác gì trọng bộ máy hành chính nhà nước

Cơ sở để phân hạng công chức là trình độ năng lực chuyên môn thể hiện qua văn bằng chứng chỉ mà người công chức được cấp sau một quá trình đào

tạo

Việc phân hạng cán bộ công chức phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa

học- kĩ thuật và trình độ dân trí nói chung Chang han, vài ba thập kỉ trước đây, người có văn bằng tốt nghiệp đại học được xếp vào công hcức hạng cao Nhưng ngày nay, nền giáo dục chung đã phát triển cao hơn, thêm vào đó những thành

tựu khoa học- kĩ thuật đã vượt xa trước đây, thì đòi hỏi với người công chức

hạng cao lại là những người có văn bằng trên đại học, đồng thời đòi hỏi bề đày kinh nghiệm trong hoạt động quản lý nhà nước

Ở nước ta, theo Điều 4 của Nghị định số 117/2003/NĐ- CP ngày

10/10/2003 của Chính phủ, công chức loại A là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học; công

chức loại B là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo

chuyên môn giáo dục nghề nghiệp; công chức loại C là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn đưới giáo dục nghề nghiệp

Việc phận hạng công chức không chỉ căn cứ vào bằng cấp, mà phải xem xét khả năng thực tế, vị trí công tác hiện tại của công chức để sắp xếp quy

hoạch đội ngũ Vì vậy, việc phân loại công chức theo trình độ đào tạo cũng chỉ

mang ý nghĩa định tính mà chưa xác định rõ thứ bậc của người công chức 4.2.3 Theo ngạch, bậc:

15

Trang 17

Ngạch công chức là khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn

và ngành nghề của công chức Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn riêng Bắt cứ một người công chức nào,

sau khi được chính thức tuyển dụng, đều được xếp vào một ngạch nhất định

Căn cứ vào quá trình đào tạo và khả năng chuyên mônnghiệp vụ để phân loại công chức theo các ngạch hoặc nâng lên ngạch cao hơn thì phải được đánh giá

về chuyên môn theo tiêu chuẩn của ngạch đó và phải trải qua kì thi nâng ngạch Căn cứ để xếp ngạch với công chức chủ yếu là đo năng lực chuyên môn thể hiện qua các văn bằng phản ánh quá trình đào tạo Ví dụ, những người không

được đào toạ chính quy, được tuyển vào để làm các công việc giản đơn thì xếp vàp ngạch nhân viên hành chính; những người được đào tao ở bậc trung học thì

xếp vào ngạch cán sự; ngạch chuyên môn đòi hỏi công chức phải qua đào tạo ở

trình độ đại học Thật ra, tên gọi các ngạch chỉ là một qui ước Vấn đề quan

trọng là định rõ tiêu chuẩn cho từng ngạch để có căn cứ thoả đáng xếp công chức vào các ngạch nhất định

Mỗi ngạch được quy định rõ chức trách cụ thể, những đòi hỏi về hiểu biết

nhiệm vụ và yêu cầu về trình độ kiến thức chung, kiến thức chuyên ngành và ngoại ngữ

Mỗi ngạch được chia thành nhiều cấp bậc Bậc là các thứ hạng trong ngạch,

chỉ thang giá trị trong mỗi ngạch công chức, ứng với mỗi bậc có một hệ số lương Nếu việc chuyên ngạch đòi hỏi phải được đào tạo bồi dưỡng và phải qua thi nâng ngạch, thì việc nâng bậc trong phạm vi ngạch chỉ phụ thuộc vào thâm niên công tác, chất lượng công tác và kỉ luật của công chức

Nếu công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao, không vi phạm quy chế

công chức thì cứ đến thời gian ấn định họ sẽ được nâng lên bậc kế tiếp Tuy

nhiên, nếu có cống hiến xuất sắc thì cũng có thể được xét nâng bậc trước thời

Trang 18

hạn hoặc vượt bậc Công chức có thể không được chuyển ngạch, nhưng theo

thâm niên họ lien tục được nâng bậc Bởi vậy, số bậc của một ngạch phải tính đến yếu tố bảo đảm cho một công chức nếu suốt đời chỉ thuộc một ngạch nào

đó vẫn luôn được nâng bậc khi đến niên hạn, cho đến khi về hưu

Thông thường, người ta sắp xếp công chức ngạch thấp có nhiều bậc, vì người gia nhập ngạch thấp thường ít tuổi, nếu họ không có điều kiện dễ chuyển ngạch mà suốt đời công tác trong ngạch đó thì thời gian sẽ rất đài, nên cần có

nhiều bậc để học có thê lên lương, không dẫn đến tình trạng đội khung, vượt

khung của ngạch và không kích thích công chức phấn đấu Nhưng ngược lại, công chức khi gia nhập ngạch cao thì tuổi đã già, thời gian công tác còn lại ngắn nên chỉ cần số bậc ít hơn

Các tiêu chuẩn ngạch, bậc công chức hành chính đã được ban hành từ năm

1993 đến nay có nhiều điểm khong còn phù hợp, do đó đang được chính phủ

khẩn trương nghiên cứu, sủa đổi hệ thống ngạch bậc cho phù hợp với chiến

lược cán bộ thời kì đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4.3 Vai trò của nguồn nhân lực hành chính:

Vai trò của nguồn nhân lực hành chính được thể hiện thông qua vai trò của

các cá nhân và đội ngũ các con người hoạt động trong bộ máy hành chính Ở

nước ta đó chính là đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhà nước

CBCC là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng

Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bai

của sự nghiệp cách mạng, “là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà nước ta luônluôn chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức gắn với giải quyết nhiệm

vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng

17

Trang 19

định “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Nếu có

đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đường lối, chủ trương mục đích quản lý của Chính phủ mới trở thành hiện

thực và việc xây dựng đường lối chính trị đúng đắn- tạo cơ sở và điều kiện tiên

quyết dé đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi

Quan hệ giữa đường lối nhiệm vụ chính trị với cán bộ công chức là mối

quan hệ nhân quả Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực tốt mới

có thê đề ra đường lối đúng, mới có thê cụ thể hoá, bỗ sung hoàn chỉnh đường lối và thực hiện tốt đường lối Không có đội ngũ cán bộ công chức quyết định

sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Nhà nước

CBCC là người đem chính sách pháp luật của nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời triển khai và bổ sung cho đúng đắn và phù

hợp với thực tiễn Ở đây, vi trí, vai trò của đội ngũ cán bộ công chức như là cầu

nối giữa Nhà nước, Chính phủ và quần chúng nhân dân

CBCC là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố “động” nhất của tô chức CBCC là người lập ra tổ chức và điều hành bộ máy tổ chức Song đến lượt

mình, CBCC lại chịu sự chi phối, ràng buộc của tổ chức Tổ chức buộc người

cán bộ, công chức phải hành động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định Tổ chức bộ máy khoa học và hợp lý sẽ nhân sức mạnh của cán bộ công

chức lên gấp bội CBCC chỉ có sức mạnh khi gắn với tô chức và nhân dân Tách

rời khỏi tổ chức thì CBCC mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực do tập thể tạo

nen

4.4 Chất lượng nguồn nhân lực hành chính:

® Đỗ Hoàng Toàn:Bài giảng về nguồn nhân lực hành chính và chính sách đào tạo nguồn nhân lực hành

Trang 20

Khi đề cập vấn đề chất lượng CBCC, người ta nói đến trình độ đào tạo và

năng lực làm việc của họ

Trình độ đào tạo của CBCC thể hiện ở bằng cấp, chứng chỉ, chứng nhận trình độ đã được đào tạo Trình độ đào tạo thể hiện cấp độ kiến thức, kĩ năng

chuyên môn cá nhân thu nhận được từ khoá đào tạo Như vậy, trình độ đào tạo

cho biết người công chức đó được đào tạo như thế nào, với chuyên môn gì, thời

gian bao lâu và bằng cấp như thế nào Thông tin từ “trình độ đào tạo” cho ta

biết khả năng có thé thực hiện được công việc mang tính nghề nghiệp mà cá nhân được đào tạo, là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên dé làm một loại công việc chuyên môn được đào tạo hay đảm trách một vị trí công việc, một chức

danh lãnh đạo quản lý nào đó

Tuy nhiên, trình độ đào tạo cho biết không nhiều về năng lực thực hiện công

việc thực tế của cá nhân, đó chỉ là yêu cầu đầu tiên để công chức đảm nhiệm

công việc chuyên môn tương ứng Năng lực mà công chức có được đề làm được

một việc, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thê trong

một môi trường xác đinh Nói cách khác, năng lực là khả năng sử dụng các “tài

sản”, tiềm lực của một con người như kiến thức, kĩ năng và các phẩm chất khác

để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể Các nhà nghiên cứu cho rằng, năng lực làm việc gồm có các thành tố như kiến thức, kĩ

năng thái độ

Năng lực làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc và là một

trong 3 yếu tố chính tác động đến chất lượng công việc: năng lực thực hiện

công việc động cơ và môi trường tô chức công việc

Hiện nay, ở nước ta, có thể nói, cả ba yếu tố nêu trên đều ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng thực hiện công việc của công chức Họ làm việc không có cơ

chế khuyến khích thích hợp, chưa có động lực thúc đây vì nhân dân phục vụ

19

Ngày đăng: 07/12/2013, 14:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

thường gắn với văn hoá công ty và rất khó hình thành trong ngày một ngày hai, -  nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở việt nam
th ường gắn với văn hoá công ty và rất khó hình thành trong ngày một ngày hai, (Trang 6)
- Chức năng hình thành bộ máy QLNNLHC : công việc 2 -  nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở việt nam
h ức năng hình thành bộ máy QLNNLHC : công việc 2 (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w