Trong những năm qua, việc thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi: kinh tế xã hội phát triển ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN GIÁ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN GIÁ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRỊNH THỊ XUYẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Xuân Giá
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu chương trình cao học chuyên ngành chính sách công tại Học viện Khoa học Xã hội, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình khóa học, bản thân tôi được Giám đốc Học viện quyết định giao đề tài luận văn: “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành gửi đến các thầy giáo, cô giáo, đặc biệt PGS.TS Trịnh Thị Xuyến, Trưởng Ban Chính trị học so sánh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện, các phòng, cơ quan, ban, ngành, đoàn thể; Đảng ủy, UBND các xã trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp, học viên chuyên ngành chính sách công đợt 1, năm 2016 Học viện Khoa học Xã hội đã ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và suốt thời gian làm đề tài luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2018
Người cảm ơn
Nguyễn Xuân Giá
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 8
1.1 Chính sách xây dựng nông thôn mới 8
1.2 Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 19
1.3 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 22
1.4 Kinh nghiệm của một số huyện tỉnh Bắc Ninh trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 24
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH 28
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 28
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2011 - 2017 31
2.3 Kết quả thực hiện các nội dung theo 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 36
2.4 Những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 49
Chương 3 BỐI CẢNH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH THỜI GIAN TỚI 54
3.1 Bối cảnh thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh thời gian tới 54
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông hôn mới trên địa bàn huyện 60
3.3 Kiến nghị 72
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC CÁC BẢNG BIỂU 81
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
MTQG Mục tiêu quốc gia
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện nay cơ bản là nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số
là nông dân Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định
“Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa một cách hợp lý” [11, tr 93]
Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nêu rõ mục tiêu: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng có nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo
có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài” [1, tr 2-3]
Để thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thực hiện Chương trình, MTQG về xây dựng NTM, ngày 04 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 800/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 Chương trình MTQG về xây dựng NTM gồm 11 nội dung, 19 tiêu chí, từ năm 2011, trong phạm vi toàn quốc đã được xây dựng, thực hiện Qua 05 năm thực hiện, đã đạt được kết quả bước đầu khả quan, chương trình đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; nhưng cách thực hiện có phần nôn nóng, chạy theo thành tích, chưa thiết thực,
Trang 8đầu tư còn phân tán, nợ đọng nhiều, một số tiêu chí chưa phù hợp với thực tế,
vì vậy cần có sự lãnh, chỉ đạo thay đổi cho phù hợp Qua tổng kết 05 năm Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015 đã chỉ ra phương hướng cụ thể trong thời gian tới Ngày 16 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 1600/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020; đồng thời Chính phủ ban hành quyết định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, ngoài chỉ tiêu chung, có chỉ tiêu vùng, miền Trong 19 tiêu chí, có 13 nội dung trong 06 tiêu chí giao cho UBND cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế ở địa phương cấp tỉnh, gồm: 04 nội dung trong tiêu chí Giao thông, 01 nội dung trong tiêu chí Thủy lợi, 02 nội dung trong tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa, 01 nội dung trong tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; 04 nội dung trong tiêu chí Thông tin và truyền thông và 01 nội dung trong tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm
Huyện Lương Tài là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh Bắc Ninh xa trung tâm, điều kiện về kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cố gắng của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện, đến hết năm 2017, đã có 08/13 xã được công nhận xã nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2019, huyện được công nhận huyện nông thôn mới Trong những năm qua, việc thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi: kinh tế xã hội phát triển ổn định; cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu nhập đầu người tăng; diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc; cảnh quan môi trường nông thôn được cải thiện; đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên Tuy nhiên, cũng như toàn tỉnh và cả nước, trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới còn những tồn tại và bất cập, đó là: nhận thức của cấp ủy, chính quyền và
Trang 9thực hiện xây dựng NTM chưa hiệu quả; huy động sự đóng góp của người dân và doanh nghiệp còn hạn chế; nguồn lực trong xây dựng NTM còn gặp nhiều khó khăn; nợ đọng trong xây dựng cơ bản của một số xã còn cao, đặc biệt, trình độ của cán bộ cơ sở còn hạn chế, cho nên quá trình tổ chức thực hiện xây dựng NTM cấp cơ sở còn lúng túng Việc thực hiện chính sách xây dựng NTM trong những năm tới đây có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của huyện Với những lý do nêu trên, qua thực tiễn
kinh nghiệm công tác, bản thân chọn đề tài luận văn “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc ninh”
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung, xây dựng NTM nói riêng
là đề tài được nhiều tác giả, nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu:
Cuốn sách “Phát triển nông thôn bền vững những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới” của tác giả Trần Ngọc Ngoạn đã làm nổi bật được kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong phát triển nông thôn bền vững được thể hiện ở ba trụ cột chính: trụ cột thứ nhất, phát triển bền vững kinh tế nông thôn; trụ cột thứ hai, phát triển bền vững xã hội nông thôn; trụ cột thứ ba, tăng cường bảo vệ, quản lý môi trường tự nhiên [16]
Công trình “Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay” của tác giả Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh Tác giả đã đề ra phương pháp và các điều kiện để thực hiện đạt 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM [21]
Cuốn sách “Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam” của tác giả Đặng Kim Sơn đã nêu một số lý thuyết trong phát triển nông nghiệp, đã giới thiệu thành công và thất bại trong phát triển nông nghiệp, trong bối cảnh tiến hành công nghiệp hóa của một số nước châu Á điển hình: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc [20]
Trang 10Cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - quá khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích đã phân tích, đánh giá lịch sử phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt sau đổi mới 20 năm (1986-2006), đã làm rõ khá toàn diện nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam [2]
“Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta” của tác giả Hồ Xuân Hùng, tác giả đã làm rõ nông thôn và nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Việt nam, đã đề ra một số biện pháp thực hiện 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay [12]
Đề tài cấp nhà nước: “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” năm 2010 của PGS.TS Nguyễn Danh Sơn làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã nêu bật được những vấn đề cần thiết, quan trọng, cốt lõi trong phát triển đất nước [19]
Luận án Tiến sỹ Kinh tế tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Văn Hùng, năm 2015 với đề tài “Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh” Luận án đã khẳng định mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn
so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước [13]
Trên Tạp chí Cộng sản, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam có đăng nhiều bài viết quan trọng liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu:
- Bài viết “Xây dựng nông thôn mới: một số vấn đề đặt ra” của TS Phạm Tất Thắng, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 2015 [23]
Trang 11- Bài viết “Xây dựng nông thôn mới - những bài học kinh nghiệm giai đoạn 2010 - 2015” của tác giả Lê Nguyễn, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 1 năm 2016 [17]
- Bài viết “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững” của GS.VS Đào Thế Tuấn, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 10 năm 2017 [33]
Trong những công trình nghiên cứu, cuốn sách, bài viết nói trên đã tập trung phân tích, đánh giá, đề cập đến những vấn đề lý luận, thực tiễn, thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam nói chung, của các địa phương nói riêng, từ đó đề ra được các giải pháp khả thi để thực hiện có hiệu quả hơn chính sách xây dựng nông thôn mới của các địa phương trên phạm vi
cả nước ngày một hiệu quả Đề tài về thực hiện chính sách xây dựng NTM trên phạm vi cả nước hoặc gắn với một cơ sở, địa phương cấp xã, huyện, tỉnh
cụ thể đã có nhiều tác giả nghiên cứu đến, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Bản thân sau hai năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học chuyên ngành Chính sách công tại Học viện Khoa học Xã hội đã chọn đề tài luận văn: “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua
và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện hiệu quả chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn trong thời gian tới
Trang 123.2 Nhiệm vụ
Một là, Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện
chính sách xây dựng NTM ở cấp huyện
Hai là, Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xây dựng
NTM ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, xác định kết quả đạt được, những
tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách
Ba là, Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả xây dựng NTM trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới của các xã, phòng, ban, cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài luận văn được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Cụ thể, nghiên cứu tại 13 xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Tiếp cận việc thực hiện chính sách thông qua phương pháp so sánh trước và sau khi thực hiện, qua việc thực hiện các nội dung của chính sách quy định tại các văn bản chính sách; theo kênh các cơ quan, đơn vị, các tập thể, cá nhân trực tiếp thực hiện chính sách
Tiếp cận theo chu trình chính sách công: xuất hiện các vấn đề chính
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu, logic lịch sử, định tính, định lượng, điều tra, khảo sát thực tiễn, …
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa lý luận, bổ sung lý thuyết khoa học về chính sách công trong thực hiện xây dựng NTM cấp huyện
Luận văn đánh giá đúng thực trạng, các vấn đề cần giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM, đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả xây dựng NTM của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh nói riêng, của tỉnh và cả nước nói chung
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được bố trí theo 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Bối cảnh và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh thời gian tới
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Chính sách xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Quan niệm về nông thôn, nông thôn mới và chính sách xây dựng nông thôn mới
* Quan niệm về nông thôn:
Theo cuốn sách Từ điển bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là vùng lãnh thổ của một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” [46]
Theo truyền thống và phổ biến thông dụng ở Việt Nam hiện nay thì nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề do cha ông để lại và phân công lao động xã hội chưa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nông thôn Nông thôn đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, ao hồ, khoáng sản, hệ động, thực vật
Hơn nữa, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam thắng cảnh Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời
là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn với con người
Khái niệm nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số
Trang 1541/2013/TT-“Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” [3] Ở Việt Nam nông thôn gắn liền với địa danh làng, xã, nơi cư trú chủ yếu của nông dân, lấy nông nghiệp làm nghề chính
Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình với những quy định cụ thể Những người cùng sinh sống kể cả ngoài họ tộc luôn có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau tạo nên tình làng ngõ xóm Trong một khu dân cư, gia đình, dòng họ, làng xóm, các hành vi ứng xử được quy định bởi tộc ước, hương ước, quy ước tạo nên sức mạnh của cộng đồng làng, xã Nông thôn, trong đó
có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường
Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó
có nhiều nông dân, tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác
* Quan niệm về nông thôn mới:
Một số quan niệm cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; nông thôn có quy hoạch, có kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí không ngừng được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, bảo vệ; an ninh, chính trị được ổn định, giữ vững
Cũng có quan niệm cho rằng: NTM phải lưu giữ được nét đặc trưng về truyền thống, văn hóa của từng dân tộc và mỗi vùng, miền; phát huy được giá trị bản sắc dân tộc; người dân phải có tri thức, biết áp dụng trình độ khoa học
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và đời sống; tăng cường sự đoàn kết, mức sống của người dân, quản lý dịch bệnh, bảo vệ môi trường
Nhìn chung, các quan niệm thống nhất và khẳng định, quan điểm về NTM, đó là, nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống về vật chất, văn hóa và
Trang 16tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Cư dân nông thôn được đào tạo, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến; người dân đóng vai trò làm chủ NTM Nông thôn được quy hoạch, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng
bộ gắn kết giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; bản sắc văn hóa, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh, chính trị được tăng cường và giữ vững
Như vậy, NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra NTM được xây dựng với mô hình nông thôn cũ, truyền thống,
NTM thể hiện ở 05 nội dung: Thứ nhất, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Thứ hai, sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng theo hướng hàng hóa; Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển
Thứ năm, dân chủ trong nông thôn ngày càng được thực hiện tốt
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Một là, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình phát triển, có
vị trí hết sức quan trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam XHCN Qua các giai đoạn lịch sử cách mạng, nông dân luôn là lực lượng nòng cốt hùng hậu làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc Xây dựng nông thôn để phát triển là tổ hợp các hoạt động đa dạng, có sự tham gia của cá nhân, nhóm, tổ chức, tập thể nhằm đạt mục tiêu đề ra, xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
Hai là, sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm
1986, nông thôn nước ta đạt nhiều thành tựu to lớn: Trong sản xuất nông nghiệp đã chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu gạo đã trở thành một trong những nước có nhiều sản phẩm nông sản như lúa gạo, cà phê, hoa quả, hạt điều, hồ tiêu… trong những sản phẩm đó có nhiều
Trang 17vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh quy mô lớn, bước chuyển này có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề cho xây dựng NTM Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển nhanh, góp phần vào CNH, HĐH, hội nhập và phát triển.
Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu việt chăm lo đời sống cho đối tượng người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, tàn tật, người cô đơn không nơi nương tựa, đặc biệt chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Các chính sách an sinh xã hội đúng đắn hướng vào phát triển con người, vì hạnh phúc của nhân dân
Hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên được củng cố, hiệu quả công việc ngày một nâng lên, dân chủ ở cơ sở được thực hiện, an ninh, chính trị được giữ vững và ổn định, đoàn kết trong thôn xóm được thể hiện phát huy sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Kế thừa những thành quả đó, tổ chức thực hiện xây dựng NTM để phát triển đất nước, nâng cao đời sống về vật chất, văn hóa, tinh thần cho nông thôn
Ba là, sau hơn 30 năm đổi mới còn nhiều hạn chế, yếu kém được xác
định: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm Hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn
Bốn là, Các thành tựu đạt được sau hơn 30 năm đổi mới chưa xứng với
tiềm năng và lợi thế hiện có, vì vậy, xây dựng NTM là tất yếu, được xác định
là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; đồng thời xây dựng NTM nhằm mục đích thiết thực nhất đó là nhân
Trang 18dân phải là những người được hưởng lợi, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao Chính vì vậy, Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng NTM ra đời và được thực hiện trên toàn quốc
* Chính sách xây dựng nông thôn mới:
Chính sách xây dựng NTM được Đảng, Nhà nước ta coi trọng, quan
tâm, thể hiện bằng việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, quyết định về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tại các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, năm 1960 đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đại hội Tiêu biểu tại Nghị quyết của các kỳ Đại Hội Đảng sau:
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976, chủ trương của Đảng là
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, đưa nền kinh tế nước ta từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN… kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp
cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp” [6, tr 68]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năn 1986, nghị quyết chỉ rõ
“Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt về tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo” [7, tr 20]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năn 1991, chủ trương của Đảng là: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [8, tr 67]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006: “Phải luôn luôn coi
Trang 19với xây dựng NTM, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội”.[9, tr.82]
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, Đảng xác định:
“Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với giải quyết tốt về nông dân, nông thôn” [10, tr 195]
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2016, Đảng ta xác định:
“Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa một cách hợp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn, tăng cường kết cấu nông thôn - đô thị, phối hợp các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn với phát triển công nghiệp, dịch vụ” [11, tr 92]
Đặc biệt Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X
đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Để cụ thể nghị quyết của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2010-
2020 Trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, đã xuất hiện những nội dung, những tiêu chí cần điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương trên cả nước, vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn
2016-2020 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM được ban hành, bao gồm 19 tiêu chí, được khái quát thành 05 nhóm nội dung: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa, xã hội, môi trường và Hệ thống chính trị Các xã trên phạm vi cả nước đều được hướng dẫn và tổ chức thực
Trang 20hiện tới người dân và từng địa bàn dân cư, khi xã đạt được 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM thì được công nhận xã đạt chuẩn NTM
Các nội dung trong mô hình cấu trúc NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tổ chức và điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, động viên tinh thần Nông dân tự nguyện tham gia chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện Từ đó các chính sách phát triển kinh tế, xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM
1.1.2 Mục tiêu và nội dung của chính sách xây dựng nông thôn mới
* Mục tiêu của chính sách xây dựng nông thôn mới:
Mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng, an ninh được giữ vững” [28, tr 1]
Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng
50%; khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít
nhất 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới Thứ hai, bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã; không còn xã dưới 5 tiêu chí Thứ ba, cơ bản hoàn thành các công
trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân
nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã Thứ tư,
nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015 [28, tr 1]
Trang 21* Nội dung cơ bản của chính sách xây dựng NTM: Chương trình
MTQG về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế -
xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung sau:
(1) Quy hoạch xây dựng NTM: Thứ nhất, quy hoạch xây dựng vùng
nhằm đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm
2016 của Thủ tướng Chính phủ Thứ hai, rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy
hoạch sản xuất trong đồ án quy hoạch xã NTM gắn với tái cơ cấu nông nghiệp cấp huyện, cấp vùng và cấp tỉnh; bảo đảm chất lượng, phù hợp vùng, miền
Thứ ba, rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã
hội - môi trường nông thôn trong đồ án quy hoạch xã nông thôn mới đảm bảo hài hòa giữa phát triển nông thôn với phát triển đô thị
(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống
giao thông trên địa bàn thôn, xã Đến năm 2020, có ít nhất 55% số xã đạt
chuẩn tiêu chí số 2 về giao thông Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng Đến năm 2020, có 77% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 3 về thủy lợi Thứ
ba, cải tạo, nâng cấp, mở rộng hệ thống lưới điện nông thôn Đến năm 2020,
có 100% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 4 về điện Thứ tư, Đến năm 2020, có 80%
số xã đạt chuẩn tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường học Thứ năm, đến năm
2020, có 75% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa; 80% số
xã có Trung tâm văn hóa, thể thao xã; 70% số thôn có Nhà văn hóa - Khu thể
thao Thứ sáu, Đến năm 2020, có 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 7 về cơ sở
hạ tầng thương mại nông thôn Thứ bẩy, đến năm 2020, có 90% trạm y tế xã
có đủ điều kiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế Thứ tám, Đến năm 2020, có
95% số xã đạt chuẩn các nội dung khác của tiêu chí số 8 về Thông tin -
Truyền thông Thứ chín, đến năm 2020, có 95% dân số được sử dụng nước
hợp vệ sinh, trong đó 60% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; 100% trường học và trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh
Trang 22(3) Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân: Thứ nhất,
triển khai có hiệu quả Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng liên kết chuỗi
giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Thứ hai, tiếp tục
thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học, công nghệ phục vụ xây dựng
NTM Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với
tiêu thụ sản phẩm, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn, trong
đó chú trọng công nghiệp chế biến nông sản thu hút nhiều lao động Thứ tư,
tiếp tục đổi mới tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, thực hiện quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 về phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển
hợp tác xã giai đoạn 2015 - 2020 Thứ năm, phát triển ngành nghề nông thôn
Thứ sáu, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội: Thứ nhất, thực hiện có hiệu quả
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020
Thứ hai, thực hiện các Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn
(5) Phát triển giáo dục ở nông thôn: Thứ nhất, phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 05 tuổi Bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp
để thực hiện giáo dục 02 buổi/ngày, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1
Thứ hai, đến năm 2020, độ tuổi 15-60: tỷ lệ biết chữ đạt 98%; độ tuổi 15-35:
tỷ lệ biết chữ đạt 99% 100% đơn vị cấp tỉnh, huyện, 95% đơn vị cấp xã đạt
chuẩn xóa mù chữ mức 2 Thứ ba, phổ cập giáo dục tiểu học Đến năm 2020,
duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học trên 63/63 đơn vị cấp tỉnh; huy động được 99,7% trẻ 6 tuổi vào học lớp 1, tỉ lệ lưu ban và bỏ học ở tiểu học dưới 0,5% 100% đơn vị cấp tỉnh, 100% đơn vị cấp huyện và 99,5%
đơn vị cấp xã phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi theo quy định Thứ tư,
đến năm 2020, duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Trang 23trên 63/63 tỉnh, thành phố trong đó ít nhất 40% số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 3
(6) Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn: Xây dựng và Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới đáp ứng yêu cầu của Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM
(7) Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn:
Thứ nhất, xây dựng, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa
và tham gia các hoạt động thể thao của các tầng lớp nhân dân Thứ hai, tập
trung nghiên cứu, nhân rộng các mô hình tốt về phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của từng vùng, miền, dân tộc
(8) Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải
thiện môi trường tại các làng nghề: Thứ nhất, đến năm 2020, cải thiện điều
kiện vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người
dân Thứ hai, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa
bàn xã, thôn theo quy hoạch; thu gom và xử lý chất thải, nước thải theo quy định; cải tạo nghĩa trang; xây dựng cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp
Thứ ba, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô
nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
(9) Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng NTM: Thứ nhất, đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội chuyên sâu cho khoảng 500.000 lượt cán bộ, công chức xã theo quy định của
Bộ Nội vụ Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã
hội tham gia xây dựng NTM theo nội dung Cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” Thứ ba, các tỉnh, thành phố
Trang 24trực thuộc Trung ương kiện toàn Ban Chỉ đạo và bộ máy giúp việc Ban Chỉ
đạo các cấp theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp Thứ tư, các Bộ, ngành, cơ
quan đoàn thể triển khai Kế hoạch thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước
chung sức xây dựng nông thôn mới” Thứ năm, cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công Thứ sáu, đánh giá, công nhận, xây dựng
xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho
người dân
(10) Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn: Thứ
nhất, đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo
đảm an toàn, an ninh, trật tự xã hội địa bàn nông thôn Thứ hai, xây dựng thế
trận quốc phòng toàn dân, đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia
(11) Nâng cao năng lực xây dựng NTM và công tác giám sát, đánh giá
thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng NTM: Thứ nhất, tập huấn
nâng cao năng lực, nhận thức cho cộng đồng và người dân, để nhân dân hiểu
đầy đủ hơn về nội dung, phương pháp, cách làm NTM Thứ hai, tăng cường
tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ xây dựng NTM các cấp
Thứ ba, xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống giám sát, đánh giá đáp
ứng yêu cầu quản lý Chương trình trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin
1.1.3 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc thực hiện xây dựng NTM được quy định tại Điều 3, Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ban hành kèm theo quyết định 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính
phủ, trong đó đã đề ra 05 nguyên tắc trong thực hiện xây dựng NTM sau:
“Một là, Phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư công, ngân sách
nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;
Trang 25Hai là, Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; trách nhiệm
của các bộ, ngành và các cấp ở địa phương; vai trò giám sát của cộng đồng trong quản lý và điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Ba là, Đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích huy động nguồn lực
xã hội để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Bốn là, Đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các bộ, ngành,
địa phương và các cơ quan có liên quan trong quản lý, điều hành thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
Năm là, Phát huy vai trò chủ thể và sự tham gia, đóng góp của cộng
đồng dân cư vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia” [29]
1.2 Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Từ khi thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02 quyết định: Quyết định số 1013/QĐ-TTg ngày 01/7/2010, Quyết định số 1584/QĐ-TTg ngày 10/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 - 2020, 2016 -
2020 Trong đó có quy định rõ việc thành lập Ban chỉ đạo - cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về xây dựng NTM cụ thể ở các cấp: Trương ương, tỉnh, huyện, xã Ngày 05/10/2016 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1920/QĐ-TTg, trong quyết định quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp
Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ là hai nhân tố quan trọng bảo đảm
Trang 26cho sự vận hành của quá trình tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM
1.2.2 Tuyên truyền, phổ biến chính sách xây dựng nông thôn mới
Tuyên truyền, vận động, phổ biến chính sách xây dựng NTM là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, thể hiện Đảng chỉ đạo, Nhà nước quản lý, điều hành, sự vào cuộc của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Nội dung tuyên truyền, phổ biến chính sách về xây dựng NTM; mục đích, yêu cầu, cách tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách, các văn bản của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM; bài học kinh nghiệm, các tấm gương điển hình của các tập thể và cá nhân trong tổ chức thực hiện xây dựng NTM Hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Đài phát thanh - truyền hình của Trung ương và địa phương, hệ thống truyền thanh cơ sở, báo, tạp chí, cổng thông tin điện tử; tuyên truyền thông qua tranh, ảnh, hệ thống pano, áp phích; trực tiếp qua các hội nghị, cuộc họp giao ban
Tuyên truyền về nhiệm vụ xây dựng NTM làm chuyển biến nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của chương trình MTQG về xây dựng NTM Trong tuyên truyền, phổ biến chính sách về xây dựng NTM, vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân là hết sức quan trọng vì các hội viên, đoàn viên là người trực tiếp thực hiện, là chủ thể trong xây dựng NTM Qua tuyên truyền, các hội viên, đoàn viên mà nhận thức đúng đắn về chính sách xây dựng NTM thì sẽ tạo ra được sự đồng thuận, ủng hộ rất lớn từ nhân dân
1.2.3 Huy động nguồn lực và sử dụng nguồn lực thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Một là, các nguồn huy động chính bao gồm: Đóng góp của người dân
Trang 27vốn tín dụng bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại; vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; vốn tài trợ khác: vận động, sự ủng hộ của các tập thể, cá nhân, đơn vị [3]
Hai là, cơ chế huy động: a) Thực hiện nồng ghép các nguồn vốn của
các chương trình MTQG; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn b) Huy động tối đa nguồn lực của địa phương c) Huy động vốn của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp d) Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho tựng
dự án cụ thể, do HĐND xã thông qua đ) Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư e) Các nguồn vốn tín dụng g) Huy động các nguồn vốn tài chính hợp pháp khác [3]
1.2.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Một là, qua giám sát, kiểm tra, để đánh giá kết quả của một địa phương,
cơ sở đạt được bao nhiêu tiêu chí trong 19 tiêu chí chương trình MTQG về xây dựng NTM, từ đó có phương hướng để tổ chức thực hiện hiệu quả Nếu một địa phương cơ sở đạt cả 19 tiêu chí đối với cấp xã, 09 tiêu chí đối với cấp huyện thì được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới
Hai là, thông qua giám sát, kiểm tra, đánh giá kịp thời phát hiện những
ưu điểm, cách làm hay, hiệu quả để nhân rộng, phát huy, đồng thời cũng phát hiện những sai sót, hạn chế để điều chỉnh, rút kinh nghiệm, khắc phục cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, cơ sở
Ba là, nội dung kiểm tra, giám sát: (i) các hoạt động thực hiện quá trình
xây dựng NTM theo quy định; (ii) thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về NTM; (iii) việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước và các nguồn lực khác; (iv) việc xây dựng cơ sở hạ tầng, quy
Trang 28hoạch, kinh tế, tổ chức sản xuất; (v) việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước theo quy định
1.3 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Chất lượng của chính sách
Chính sách xây dựng NTM là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước
ta, bao gồm nhiều nội dung, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Chính sách ra đời xuất phát từ điều kiện thực tiễn của nước ta, đó là đời sống của nhân dân khu vực nông thôn còn thấp, gặp nhiều khó khăn, vất vả; kết cấu hạ tầng, cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập Chương trình MTQG về xây dựng NTM ra đời gồm 05 nhóm nội dung, 19 tiêu chí, được thực hiện đồng bộ trên toàn quốc Qua thực hiện được nhân dân đón nhận và ủng hộ, các xã khi được công nhận xã chuẩn NTM có thay đổi rõ nét về hạ tầng kinh tế xã hội, đặc biệt là hệ thống đường giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, đời sống nhân dân
có thay đổi tích cực Tuy nhiên, chính sách còn bất cập, không phù hợp cần điều chỉnh, các nội dung của chính sách khi thực hiện cần áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị
1.3.2 Năng lực tổ chức thực hiện chính sách
Để đưa chính sách xây dựng NTM vào cuộc sống của nhân dân, mang lại hiệu quả thiết thực, đội ngũ cán bộ các cấp trong tổ chức thực hiện chính sách phải là những người có kiến thức, có năng lực, sáng tạo, tâm huyết, luôn
có tư duy đổi mới, nhận thức đúng đắn, đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM, từ đó chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn
và tổ chức thực hiện chính sách một cách hiệu quả nhất
1.3.3 Phạm vi và đặc thù của nhóm đối tượng chính sách
Trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM phải phù hợp với
Trang 29lý, tài nguyên, cảnh quan, môi trường; về kinh tế: phát triển hay lạc hậu, tiềm năng, lợi thế; về xã hội: dân số, văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng
Chính vì vậy, trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện cần cân nhắc kỹ càng, xác định bước đi phù hợp với thực tiễn của từng địa phương, cơ sở; không cứng nhắc, rập khuôn, máy móc; khắc phục việc tổ chức thực hiện không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội, phong tục, tập quán của địa phương
1.3.4 Nguồn lực thực hiện chính sách
Trong Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020, có quy định cụ thể mức vốn và cơ cấu vốn để thực hiện chương trình, cụ thể: tổng mức vốn từ ngân sách tối thiểu 193.155,6 tỷ đồng, trong đó, ngân sách trung ương 63.155,6 tỷ đồng; ngân sách địa phương 130.000 tỷ đồng Cơ cấu vốn: nguồn vốn từ ngân sách 30%, vốn tín dụng 45%, vốn từ doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác 15%, huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10% Thực tế triển khai cho thấy nguồn vốn theo quy định trên đã mang lại nhiều tích cực trong tổ chức thực hiện chính sách, tuy nhiên vẫn còn hạn chế, đó là: nguồn vốn từ ngân sách chưa đảm bảo tiến độ theo cam kết, vốn huy động từ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn ít, chưa có chính sách hiệu quả để huy động vốn của các doanh nghiệp
Vốn là điều kiện quan trọng để thực hiện tốt Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong quá trình tổ chức thực hiện cần cung cấp đầy đủ, kịp thời kinh phí, kết hợp huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau để đảm bảo tiến độ và kết quả
1.3.5 Văn hóa, tâm lý, truyền thống của đối tượng trên địa bàn thực hiện chính sách
Mỗi một vùng, miền, địa phương có những đặc điểm văn hóa, tâm lý, truyền thống khác nhau Vì vậy khi thực hiện chính sách xây dựng NTM phải
Trang 30tính đến những đặc điểm trên, có định hướng để phát triển cho phù hợp với từng địa phương Ví dụ, những vùng nông thôn định hướng phát triển du lịch kết hợp, cần chú ý đạt đến tiêu chí giữ gìn cảnh quan, môi trường, di tích lịch
sử, phát triển dịch vụ, đào tạo nghề du lịch, học ngoại ngữ Những vùng làng nghề, làm nghề thủ công, thực hiện xây dựng NTM đảm bảo cơ sở hạ tầng thuận tiện cho sản xuất kinh doanh, phát triển dịch vụ nghề thủ công, tập kết nguyên, vật liệu, cung cấp nguyên vật liệu và vận chuyển hàng hóa Thực hiện xây dựng NTM ở đồng bằng phải khác miền núi, biên giới, hải đảo Vì vậy, văn hóa, truyền thống, tâm lý của mỗi vùng, miền, địa phương tác động đến chính sách, khi triển khai thực hiện chính sách phải xác định và có bước
đi phù hợp với từng địa phương
1.4 Kinh nghiệm của một số huyện tỉnh Bắc Ninh trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Tỉnh Bắc Ninh gồm có 08 huyện, thị, thành phố Nếu xét về điều kiện kinh tế - xã hội thì có thể chia làm 02 nhóm Nhóm thứ nhất là 03 huyện phía nam của tỉnh có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn hơn các huyện, thị xã, thành phố còn lại, đó là: Lương Tài, Gia Bình và Thuận Thành Nhóm thứ hai
có 05 huyện, thị xã, thành phố phía Bắc của tỉnh có điều kiện kinh tế, văn hóa
xã hội phát triển hơn, đó là: huyện yên Phong, Tiên Du, Quế Võ, thị xã Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh Điển hình trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM của 02 nhóm trên là huyện Gia Bình, Thị xã Từ Sơn
1.4.1 Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Huyện Gia Bình là huyện nằm sát Lương Tài, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giống với Lương Tài Trước khi bước vào xây dựng nông thôn mới, Gia Bình đứng trước nhiều khó khăn; cơ sở vật chất hạ tầng cơ sở còn
Trang 31hướng dẫn của Trung ương, tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành đảng
bộ, cả hệ thống chính trị đã tập trung vật lực, trí lực, thực hiện sáng tạo, có hiệu quả Chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Trước tiên, huyện chỉ đạo thành lập hệ thống quản lý, ban hành các văn bản về xây dựng NTM
Với phương châm xây dựng NTM là của nhân dân, do nhân dân và người dân chính là những người được hưởng lợi từ chương trình này, trong xây dựng NTM, tiêu chí dễ làm trước, khó làm sau, ưu tiên cho các tiêu chí phục vụ phát triển kinh tế, phục vụ đời sống của nhân dân Đến nay 100% tuyến đường giao thông đã được nhựa hoặc bê tông hóa, 14/14 xã đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2 về y tế, 43 trường học đạt chuẩn quốc gia Huyện đã xây dựng 4 nhà máy nước sạch, 68 điểm tập kết rác thải và đã hoàn thành xây dựng khu xử lý chất thải rắn tập trung Các công trình trọng điểm như đường liên xã Giang Sơn - Song Giang, cầu Bình Than, Quốc lộ 17 và các tuyến đường tỉnh lộ, đường liên xã, liên thôn đã hoàn thành phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện năm 2017 đạt 4.293 tỷ đồng, tổng giá trị luân chuyển hàng hóa đạt 1.934 tỷ đồng, duy trì tăng trưởng khoảng 10%/năm
Năm 2014, chỉ có xã Bình Dương, thì đến hết năm 2017, huyện có 10/13 xã được công nhận đạt chuẩn NTM gồm: Bình Dương, Cao Đức, Nhân Thắng, Đại Lai, Lãng Ngâm, Đông Cứu, Đại Bái, Vạn Ninh, Thái Bảo, Xuân Lai, chiếm 76,9% số xã, nâng số tiêu chí đạt chuẩn trung bình 18,5 tiêu chí/xã Ngoài ra, có 3 xã: Quỳnh Phú, Song Giang, Giang Sơn đạt từ 16 tiêu chí trở lên, trong đó xã Quỳnh Phú đạt 17/19 tiêu chí, còn thiếu tiêu chí Giao thông, Trường học; xã Song Giang đạt 17/19 tiêu chí, còn thiếu tiêu chí Giao thông, Cơ sở vật chất văn hóa; xã Giang Sơn đạt 16/19 tiêu chí, còn thiếu tiêu chí Giao thông, Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa Cũng theo kết quả rà soát tiêu chí NTM cấp huyện, huyện Gia Bình đã đạt 8/9 tiêu chí, còn thiếu
Trang 32tiêu chí Tổ chức phát triển sản xuất Năm 2018, huyện Gia Bình phấn đấu có thêm 3 xã đạt chuẩn NTM, huyện đạt 9/9 tiêu chí NTM, được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn NTM Để hoàn thành mục tiêu trên, Gia Bình tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu, tăng mức độ hưởng thụ trực tiếp cho cư dân nông thôn Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu nghành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân
1.4.2 Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Từ Sơn hiện là một trong những đơn vị dẫn đầu của cả tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, Phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và xây dựng NTM, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và an sinh xã hội nhằm phấn đấu xây dựng thị xã Từ Sơn thành đô thị loại III vào năm 2020
Ngay sau khi tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo triển khai chương trình, UBND thị
xã Từ Sơn đã chỉ đạo thành lập các ban chỉ đạo, quản lý, điều hành và thực hiện chương trình từ cấp thị xã đến cơ sở đúng theo quy định HĐND, UBND thị xã ban hành các cơ chế, chính sách liên quan như: chính sách hỗ trợ các Chương trình NTM, huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học; hỗ trợ giảm nghèo, đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đấu giá đất để xây dựng NTM, chính sách khuyến khích xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa
Kết quả đến hết năm 2016 có 5/5 xã được công nhận đạt chuẩn NTM bao gồm: xã Tương Giang được công nhận năm 2014; xã Phù Khê, Hương Mạc và Phù Chẩn được công nhận năm 2015; xã Tam Sơn được công nhận
Trang 33công nhận huyện đạt chuẩn NTM năm 2016 Để có thể thực hiện mục tiêu đón đầu khi Từ Sơn trở thành đô thị loại 3 vào năm 2020 theo lộ trình, thị xã
Từ Sơn cần tiếp tục duy trì các kết quả đạt được và xây dựng NTM theo hướng đô thị hóa, lấy người dân làm trung tâm và huy động sự ủng hộ của nhân dân để tạo sự phát triển bền vững
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Lương Tài
Thứ nhất, trên cơ sở sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, tỉnh, trong
tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM cần linh động, sáng tạo, áp dụng
phù hợp vào điều kiện cụ thể, thực tế của huyện Thứ hai, huy động hiệu quả
cả hệ thống chính trị cùng chung tay xây dựng NTM, Thứ ba, có quyết tâm
chính trị cao của người đứng đầu các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và
các đoàn thể chính trị - xã hội; Thứ tư, sự phối hợp hiệu quả giữa các cấp, các ngành, các cơ quan đơn vị có chức năng trong xây dựng NTM; Thứ năm, xây
dựng NTM với phương châm phải đem lại lợi ích thiết thực cho người dân
Tiểu kết chương 1: trong chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa và làm
rõ được các khái niệm nông thôn, nông thôn mới, sự cần thiết phải xây dựng NTM, chính sách xây dựng NTM; mục tiêu, nội dung cơ bản; nguyên tắc, các bước tổ chức thực hiện xây dựng NTM; quá trình tổ chức, thực hiện chính sách; kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện xây dựng NTM của các huyện trong địa bàn tỉnh Bắc Ninh Đây là những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng làm tiền đề để tác giả viết chương 2, 3 của đề tài luận văn này
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Lương Tài nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh, cách thành phố Bắc Ninh khoảng 30 km; Phía Bắc giáp huyện Gia Bình, phía Tây giáp huyện Thuận Thành, phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, phía Đông giáp huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 10.116,16 ha, trong đó: đất nông nghiệp 7.352 ha, đất chuyên dùng 1.501 ha, đất ở 621,0 ha, đất chưa sử dụng 643,13 ha Dân số của huyện 103.387 người, với 32.561 hộ, huyện có 102 thôn, 13 xã, 01 Thị trấn là: An Thịnh, Trung Kênh, Mỹ Hương, Lai Hạ, Phú Hòa, Trung Chính, Trừng Xá, Tân Lãng, Quảng Phú, Bình Định, Lâm Thao, Phú Lương, Minh Tân và Thị trấn Thứa Huyện có các trục giao thông chính là tỉnh lộ 280, 281, 284 nối với Gia Bình, Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; với huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp với đường sắt và quốc lộ 5 xuôi Hải Dương - Hải Phòng, ngược Gia Lâm, Hà Nội Lương Tài là huyện thuần nông, xa trung tâm, giao thông, kinh
tế, xã hội còn nhiều khó khăn, người dân chủ yếu làm nghề nông nghiệp
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội
Trong những năm qua, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của huyện đạt được những kết quả tích cực Tấc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2011 - 2017 đạt 6,4%, trong đó nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản tăng 8,4%; dịch vụ
Trang 3524,8 triệu đồng, đến năm 2016 đạt 31,4 triệu đồng, năm 2017 đạt 34,5 triệu đồng Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,41% năm 2011 còn 3,31 % năm 2016, 2,62% năm 2017 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 37,2% năm 2011 lên 38,4% năm 2017; tỷ trọng dịch vụ tăng từ 28,9% năm 2011 lên 34,8% năm 2017; tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 34,5% năm 2011 xuống còn 27% năm 2017
Nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu giá trị sản xuất năm 2017: trồng trọt đạt 56,8%, chăn nuôi, thủy sản đạt 33,3%, dịch vụ nông nghiệp đạt 9,9% Các đề án phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, xây dựng NTM đã và đang được triển khai có hiệu quả Có 83 vùng sản xuất chất lượng cao, diện tích từ 5 ha trở lên, một số mô hình trồng trọt ứng dụng công nghệ cao mang lại hiệu quả kinh tế cao như: trồng cây tía tô xuất khẩu trong nhà kính tại xã Lâm Thao, với diện tích đã trồng 3 ha; sản xuất rau áp dụng quy trình Viet GAP, diện tích 1 ha xã Minh Tân; mô hình sản xuất lúa theo quy trình Viet GAP xã Quảng Phú, diện tích 10 ha; mô hình cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa, diện tích 26 ha, Phú Lương 15 ha, An Thịnh 11 ha
Đầu tư Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm, tổng vốn đầu tư 2011 đến 2017 đạt trên 415,744 tỷ đồng, tập trung vào chương trình xây dựng NTM, xây dựng một số tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ; kết cấu
hạ tầng nông thôn, nhất là hệ thống đường giao thông, thủy lợi, cấp điện, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa có bước phát triển rõ rệt Hiện nay, 100% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, 90% được sử dụng nước máy; có 8/13
xã đạt chuẩn nông thôn mới; các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết; đời sống văn hóa vật chất và tinh thần tiếp tục được nâng lên
Trang 36Bảng 2.1 Một số kết quả về phát triển kinh tế - xã hội huyện
lâm, TS Tr.đ 784,20 789,26 854,93 823,02 849,27 898,394 950,351 Công Ng -
xây dựng Tr.đ 911,89 914,03 932,42 1.008,0 1.081,5 1.202,8 1.350,5 Dịch vụ
Tr.đ 647,1 749,0 795,62 853,426 939,132 1.070,56 1.220,13 Giá trị SX/
Ha Tr.đ 134,7 138,7 141,4 148,0 162,0 172,8 188,5
Nguồn: Hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 2010-2015,
2015-2020 của Huyện ủy Lương Tài
Trang 37Trải qua hàng nghìn năm, người dân Lương Tài từ xưa đến nay đều cần
cù lao động, vượt mọi khó khăn cùng xây dựng quê hương, đất nước, tạo nên cuộc sống cộng đồng làng xã thương yêu keo sơn gắn bó, sớm lửa tối đèn có nhau Đó là truyền thống đạo đức cực kỳ quý báu được tạo dựng, hun đúc của biết bao thế hệ lưu truyền mãi cho hôm nay và mai sau Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng nghìn người con quê hương đã lên đường chiến đấu, hy sinh anh dũng để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Năm 1998, huyện vinh dự được đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trong sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH và hội nhập, cán bộ và nhân dân huyện Lương Tài tiếp tục phát huy được truyền thống văn hóa, khắc phục mọi khó khăn trách thức, đoàn kết xây dựng huyện nhà tiếp tục phát triển, đặc biệt trong tổ chức thực hiện xây dựng NTM nhằm mục đích nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho nhân dân
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2011 - 2017
2.2.1 Xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy và cán bộ thực hiện xây dựng nông thôn mới
Ngay sau khi Chương trình MTQG xây dựng NTM được tổ chức triển khai thực hiện, các văn bản của Trung ương, tỉnh về NTM được ban hành, huyện Lương Tài, 13 xã trên địa bàn huyện đã ban hành các quyết định, đề án,
kế hoạch, công văn để tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình MTQG về xây dựng NTM trên địa bàn huyện
Đối với cấp huyện: Huyện Lương Tài đã ban hành các văn bản, tổ chức
bộ máy và cán bộ thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện theo đúng quy định, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo việc lãnh đạo, điều hành, hướng dẫn chính sách xây dựng NTM được thuận lợi và hiệu quả nhất: Quyết định 358/QĐ-UBND ngày 14/3/2011 của UBND huyện
Trang 38về việc thành lập BCĐ xây dựng NTM do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban và 22 thành viên gồm cá đồng chí lãnh đạo UBND huyện, các phòng, ban, Công an, Ban chỉ huy Quân sự, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện; Quyết định 359/QĐ-UBND ngày 14/3/2011 của UBND huyện về việc thành lập Tổ giúp việc BCĐ gồm 19 ông, bà lãnh đạo và cán bộ các phòng, ban thuộc UBND huyện, các ông bà lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị
- xã hội huyện Từ đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên BCĐ, Tổ giúp việc Năm 2014, huyện chọn xã Trung Kênh làm xã điểm xây dựng NTM của huyện, UBND huyện ban hành quyết định số 360/QĐ-UBND ngày 14/3/2014 về việc thành lập Tổ chỉ đạo xã điểm xây dựng NTM huyện Lương tài do Phó Chủ tịch làm Tổ trưởng và 12 ông, bà thành viên Quyết định 680/QĐ-UBND ngày 12/5/2016 của UBND huyện về việc thành lập Văn phòng Điều phối Chương trình NTM huyện Lương Tài do Phó Chủ tịch UBND huyện làm Chánh Văn phòng và 11 ông, bà thành viên Ngoài ra, Huyện ủy, HĐND, UBND, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, BCĐ,
Tổ giúp việc ban chỉ đạo, Văn phòng Điều phối Chương trình NTM huyện đã ban hành hơn 270 văn bản để lãnh, chỉ đạo tổ chức thực hiện
Đối với cấp xã: UBND 13 xã đã quyết định thành lập 13 BCĐ xây
dựng NTM cấp xã với 325 ông, bà thành viên; 13 Tổ giúp việc BCĐ với 295 ông, bà thành viên
Đối với khu dân cư: mỗi khu dân cư thành lập Ban điều hành xây dựng
NTM do Trưởng thôn làm trưởng ban
Sau khi thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc cấp xã và huyện, văn phòng điều phối xây dựng NTM cấp huyện, ban điều hành ở khu dân cư, các thành viên của các tổ chức trên được họp và phân công nhiệm vụ cụ thể trên tĩnh lĩnh vực công tác Đối với huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành quyết
Trang 39Chấp hành đảng bộ huyện phụ trách việc chỉ đạo, theo dõi, hướng dẫn các xã trong tổ chức thực hiện xây dựng NTM Đồng thời, tham mưu với Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, ban hành nghị quyết và chỉ đạo kịp thời
Các phòng, ban, cơ quan, MTTQ và các đoàn thể nhân dân; các thành viên của ban chỉ đạo, văn phòng điều phối, ban điều hành, tổ giúp việc với chức năng, nhiệm vụ trên từng cương vị công tác của mình, có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, tham mưu và tổ chức thực hiện chính sách
2.2.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách xây dựng nông thôn mới
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách xây dựng NTM được quan tâm chỉ đạo Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã chỉ đạo chính quyền, Ban Tuyên giáo, Phòng Văn hóa &Thông tin, MTTQ, các đoàn thể nhân dân, Đài Phát thanh huyện; cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, Đài truyền thanh các xã, thị trấn tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong toàn huyện chung sức xây dựng NTM Công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức: ký cam kết; thông qua các hội nghị, cuộc họp, giao ban; thông qua pa
nô, áp phích; bản tin, bài viết; Đài Phát thanh huyện, Đài truyền thanh cơ sở… Kết quả, từ năm 2011 đến 2017 có 55 đợt tuyên truyền; cấp phát 3.500 văn bản, 257 cuốn sổ tay xây dựng NTM cho các thành viên BCĐ, Tổ giúp việc, Văn phòng Điều phối xây dựng NTM huyện, các xã; treo 59 pa nô, áp phích; xây dựng chuyên trang, chuyên mục xây dựng NTM trên Đài Phát thanh huyện, loa truyền thanh cơ sở; đưa tin 650 bản tin, bài viết về NTM
MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp tuyên truyền hội viên, đoàn viên tích cực tham gia xây dựng NTM, thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”
Trang 40Qua tuyên truyền đã tạo phong trào rộng khắp trong toàn huyện, người dân đồng tình hưởng ứng hiến đất, góp ngày công lao động, giúp nhau giống, vốn, cây con, vật tư phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, cảnh quan, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm đổi mới bộ mặt nông thôn, cùng chung sức xây dựng NTM,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
2.2.3 Đào tạo, tập huấn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Năm 2011, BCĐ xây dựng NTM huyện phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh tổ chức 02 buổi tập huấn hướng dẫn các bước rà soát, lập quy hoạch đề án xây dựng NTM cho các thành viên BCĐ, tổ giúp việc cấp huyện, xã; Bí thư, Trưởng thôn 102 khu dân cư trên địa bàn huyện
Trong năm 2012, phối hợp với UBND các xã tổ chức 26 buổi tập huấn cho các hội viên, đoàn viên, với 1.300 người tham dự Nội dung tập huấn là phổ biến 19 tiêu chí quốc gia; công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 342/2013/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia Năm 2013, BCĐ phối hợp tổ chức 03 lớp tập huấn Nội dung tập huấn hướng dẫn phương pháp xác định các tiêu chí đạt chuẩn NTM
Đến 2015, tổ chức 04 lớp tập huấn về Bộ tiêu chí về xây dựng NTM Khi có quyết định 1600, 1980 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình, MTQG xây dựng NTM; ban hành Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 BCĐ phối hợp tổ chức 05 lớp tập huấn cho các thành viên BCĐ, Tổ giúp việc, Văn phòng Điều phối huyện, các xã; bí thư, Trưởng thôn về nội dung Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020,