Trên cơ sở đó Hội nghị đã xác định: “Mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát tr
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN
CHỨC NGÀNH XÂY DỰNG TẠI HỌC VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ ĐÔ THỊ
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Hữu Tri
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận băn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực
Người cam đoan
NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
7
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò và yêu cầu tầm quan trọng
của thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.5 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức ở một số nước và bài học đối với Việt Nam
22
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH XÂY DỰNG TẠI HỌC
VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ ĐÔ THỊ
31
2.2 Tình hình tổ chức, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức ở học viện qua giai đoạn 5 năm 2013-2017
41
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
NGÀNH XÂY DỰNG TẠI HỌC VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY
DỰNG VÀ ĐÔ THỊ
61
3.1 Phương hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức ngành Xây dựng trong giai đoạn 2018 – 2020 và tầm nhìn 2030
61
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
64
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả phiếu điều tra của học viên tham gia học
theo Đề án 1961 và 1956 của Thủ tướng chính phủ trong năm 2017;
48
Bảng 2.4 Kết quả tổng hợp số người được đào tạo, bồi dưỡng phân theo
đối tượng khóa học qua các năm;
48
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu khoa học trong 5 năm từ
2013 -2017 của Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
55
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ quốc gia nào cũng phải quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) để thực hiện chức năng quản lý nhà nước (QLNN), cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả, hiệu suất và chất lượng Xuất phát từ góc độ lý luận cán
bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ Có thể thấy rõ nếu đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế, yếu kém thì hiệu lực, hiệu quả QLNN sẽ có nhiều bất cập Không chỉ trong hoạt động của bộ máy nhà nước mà kéo theo nhiều hệ lụy cho phát triển kinh tế - xã hội khiến quốc gia ngày càng tụt hậu do khả năng cạnh tranh ở mọi lĩnh vực giảm sút, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới Đây là khẳng định về phương diện lý luận cực kỳ quan trọng đã được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách hành chính (CCHC) nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là thời điểm bắt đầu thời kỳ cách mạng 4.0 với trí thông minh nhân tạo, internet vạn vật…
Hội nghị lần thứ 9, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tổng kết 10 năm về việc thực hiện “Chiến lược cán bộ, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” khi đánh giá về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC thời gian qua đã chỉ rõ: việc đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) còn “….nặng về ĐTBD lý luận chính trị, nhẹ
về ĐTBD chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức QLNN, ngay cả trong đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cũng thiếu cân đối Hình thức, nội dung ĐTBD chậm đổi mới, thời gian học tập còn dài, nặng về trang bị lý luận, thiếu thực tiễn, chưa chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, khả năng thực hành, xử lý tình huống và yếu về đào tạo theo chức danh” … “nhiều người đi học nặng về bằng cấp, nhẹ kiến thức, học chỉ để thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ mà không thiết thực phục vụ công việc đang làm, dẫn đến mâu thuẫn giữa bằng cấp với trình độ, năng lực thực tiễn…”
Trang 7Trên cơ sở đó Hội nghị đã xác định: “Mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc…” cũng chỉ ra nhiệm vụ phải: “tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác ĐTBD cán bộ theo quy định, theo tiêu chuẩn chức danh CBCC, chú trọng bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới cho cán bộ làm lãnh đạo quản lý, coi đây là giải pháp hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới”
Cho đến nay nhìn lại chặng đường ĐTBD CBCC đã qua, có thể nói công tác này có những bước tiến đáng ghi nhận, góp phần nâng cao chất lượng cũng như quy
mô ĐTBD đối với đội ngũ CBCC, bước đầu tạo chuyển biến trong hoạt động QLNN theo hướng tích cực Tuy nhiên, công tác ĐTBD CBCC cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ QLNN minh bạch, hiệu lực, hiệu quả như kỳ vọng cũng như yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra, đó là điều được nêu ra khi đánh giá về đội ngũ CBCC trong chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 Tình hình thực trạng nền hành chính đã chỉ rõ:
“Đội ngũ CBCC còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc còn chậm đổi mới, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận CBCC” 20
Trong bối cảnh chung như trên của nền hành chính, của đội ngũ CBCC, việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC ngành Xây dựng cũng mang những đặc điểm, tính chất tương đồng, không khỏi có những hạn chế
Trong thực tiễn QLNN ở lĩnh vực xây dựng và quản lý đô thị, thể hiện hạn chế, yếu kém của đội ngũ CBCC càng bộc lộ rõ cả phẩm chất, bản lĩnh nghề nghiệp, đạo đức cũng như kiến thức và kỹ năng quản lý chuyên ngành
Luận văn nghiên cứu đề tài: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Xây dựng tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị” sẽ góp phần đề ra giải pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC được kịp thời, phù hợp và chất lượng nhằm đạt được kết quả cao như kỳ vọng đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ CBCC ngành Xây dựng ở nước ta
Trang 82 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu thực hiện chính sách ĐTBD CBCC đã được nhiều công trình nghiên cứu và bài viết ở nhiều góc độ khác nhau thuộc nội dung của chính sách ĐTBD CBCC Luận văn điểm qua một số công trình nghiên cứu đề tài cấp Bộ như sau:
Nguyễn Trọng Điều (2012) Tổ chức khoa học công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC Nhà nước trong thời kỳ đổi mới; Trần Quang Minh (2012) Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính Nhà nước thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước; Nguyễn Hữu Tám (2012) Cơ sở khoa học xây dựng đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng CBCC đáp ứng yêu cầu CCHC; Nguyễn Thanh Xuân (2012) Cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC và cán
bộ cơ sở ở các địa phương vùng đồng bào dân tộc; Nguyễn Thanh Xuân (2013) Cơ
sở khoa học của việc đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm đối với công chức ngành Nội vụ; Vũ Thanh Xuân (2013) Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí chức danh; Nguyễn Ngọc Vân (2014) Nghiên cứu hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu ĐTBD CBCC theo nhóm đối tượng CBCC cấp xã, CBCC cấp huyện, tỉnh…
Các góc độ nghiên cứu đa dạng từ cách thức khoa học ĐTBD; các hình thức ĐTBD CBCC theo vị trí chức danh lãnh đạo, quản lý; theo vị trí làm việc, về kiến thức kỹ năng chuyên ngành; đánh giá chương trình ĐTBD…
Những nghiên cứu này đã chỉ ra được khá sâu sắc những tích cực cũng như hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, viên chức, từ đó rút ra được một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC, viên chức
Dù các công trình nghiên cứu và bài viết có một số kết luận có giá trị (tuy chưa toàn diện và hệ thống) trong ĐTBD CBCC nhưng một số điểm yếu cốt tử trong ứng dụng của nền hành chính nước ta nói chung, của lĩnh vực ĐTBD CBCC nói riêng là việc đưa những kết luận có giá trị lý luận và thực tiễn vào để sửa đổi, bổ sung, cập nhật kịp thời trong tổ chức thực hiện rất chậm hoặc là bỏ qua và không chú ý đến (công trình cất ngăn kéo), khiến cho kết quả ĐTBD, chất lượng CBCC
Trang 9chậm tiến bộ, hạn chế năng lực trong thi hành công vụ Điều này đúng với nhận xét, đánh giá trong những nội dung về CBCC tại các Nghị quyết Trung ương cũng như các báo cáo tổng kết CCHC Nhà nước
Đề cập về hoạt động ĐTBD đội ngũ CBCC ngành Xây dựng, cho đến này chưa được tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ Đề tài nghiên cứu thực hiện chính sách ĐTBD CBCC ngành Xây dựng từ thực tiễn Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị (HVCBXD) là đề tài nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này để chúng ta có một sự nhìn nhận đầy đủ, toàn diện những mặt tích cực và hạn chế của hoạt động thực hiện chính sách ĐTBD CBCC của ngành Xây dựng, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp cho hoạt động ĐTBD CBCC ngày càng chất lượng, hiệu quả hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về vai trò, thực trạng đội ngũ CBCC, viên chức; thực trạng công tác ĐTBD CBCC, viên chức nước ta nói chung, tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị nói riêng; luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới chất lượng ĐTBD CBCC, viên chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực hiện chính sách ĐTBD của Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ tính cấp thiết việc lựa chọn chủ đề trong luận văn trên cơ sở nghiên cứu đánh giá của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí, những tồn tại hạn chế của đội ngũ CBCC, viên chức nói chung và những bất cập về hoạt động xây dựng nói riêng
- Nghiên cứu hệ thống hóa những tài liệu nghiên cứu những quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Nhà nước về ĐTBD CBCC để làm
rõ một số khía cạnh nhận thức lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC trong điều kiện cải cách nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập
- Nghiên cứu hệ thống hoá một số kinh nghiệm của nước ngoài cũng như trong nước về ĐTBD CBCC, viên chức
Trang 10- Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, viên chức ở Việt Nam và ngành Xây dựng qua thực tiễn tại HVCBXD, đánh giá những kết quả, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
- Trên cơ sở đánh giá chung về kết quả đạt thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, viên chức; luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu trong thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, viên chức nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC, viên chức ngành Xây dựng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quan điểm của Đảng về vai trò, chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức; chính sách của Nhà nước về ĐTBD CBCC, viên chức
- Kinh nghiệm ĐTBD ở nước ngoài
- Công tác tổ chức và thực hiện ĐTBD CBCC, viên chức ở nước ta và tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chủ yếu tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
- Tại một số địa phương tổ chức khoá học (điều tra, khảo sát học viên sau mỗi khoá học)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, điều tra khoảng 200 phiếu, phân tích, so sánh, tổng hợp, lấy ý kiến chuyên gia và những nhà quản lý, sử dụng CBCC
Trên cơ sở các thông tin dữ liệu để phân tích so sánh thực trạng công tác ĐTBD CBCC, viên chức tại Học viện với chính sách ĐTBD CBCC, viên chức cũng như yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức để rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề xuất phương hướng và giải pháp đối với Học viện
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu thực hiện chính sách ĐTBD CBCC tại Học viện, để làm rõ hơn chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng đội
Trang 11ngũ CBCC, nghiên cứu tổng thể đổi mới nền hành chính Nhà nước và chính sách tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập với bối cảnh nước ta đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để từ đó thấy được sự hạn chế hoạt động thực thi chính sách ĐTBD CBCC, viên chức tại Học viện
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đề ra một số giải pháp cụ thể về tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ; về nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức của Học viện cùng những đề xuất đổi mới thực hiện chính sách ĐTBD CBCC của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục tài liệu tham khảo, nội dung chính của
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
“Đào tạo” và “bồi dưỡng” là thuật ngữ sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các tài liệu nghiên cứu của nước ta hiện nay Hai khái niệm này hiện có nhiều cách hiểu khác nhau Cách thứ nhất hiểu theo nghĩa đào tạo
và bồi dưỡng là hai nội dung khác nhau; cách thứ hai hiểu theo nghĩa ĐTBD là hai nghĩa không tách rời là hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị quản lý và sử dụng CBCC nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho CBCC Theo từ điển Tiếng Việt thì “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm” 6, tr 593, 191
Trong luận văn này, khái niệm ĐTBD theo nội dung tại văn bản quy phạm pháp luật trong chính sách ĐTBD CBCC trong Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 Điều 5 của Nghị định này xác định đối tượng chịu tác động thực hiện chính sách ĐTBD là CBCC nhà nước Đồng thời nêu rõ khái niệm đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; còn bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc
Tuy nhiên, trong thực tế khái niệm đào tạo và bồi dưỡng CBCC không có ranh giới một cách rạch ròi, hai khía cạnh này mang tính tương đối trong lĩnh vực ĐTBD CBCC Một CBCC khi tốt nghiệp một chuyên ngành trong bậc học, khi được tuyển dụng vào một cơ quan nhà nước, phải tham gia khóa học về ngạch chuyên viên thì những kiến thức, kỹ năng quy định cho vị trí công chức là hoàn toàn mới mà công chức đó phải tiếp thu để thực hiện tốt công việc đảm nhiệm
Trang 13Đào tạo trong trường hợp này cũng có thể hiểu là bồi dưỡng Trường hợp khác là khi được tuyển dụng là CBCC Nhà nước, do lịch sử để lại, một số đối tượng CBCC chưa đáp ứng được tiêu chuẩn ngạch QLNN theo qui định là chuyên viên trở lên phải có trình độ đại học Khi đó muốn được xếp ngạch chuyên viên, công chức
đó phải được cơ quan cử đi học đại học và tiến tới phải được chứng nhận đạt kết quả qua khóa nghiên cứu QLNN ngạch chuyên viên
Từ phân tích trên, đề tài sẽ sử dụng thống nhất khái niệm ĐTBD để chỉ một công chức tham gia một khóa học nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực thi công vụ, không kể thời gian dài hay ngắn
1.1.2 Khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Để hiểu về chính sách ĐTBD CBCC, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm chính sách, chính sách công là gì
Theo từ điển Tiếng Việt thì “chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đính nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” 6, tr.493 Một chính sách của Nhà nước được gọi là chính sách công Trong chính sách công, chủ thể là Nhà nước, đại diện cho quyền lực của nhân dân, tác động mạnh tới mọi đối tượng trong phạm vi cả nước nhằm mang lại lợi ích cho nhân dân
Nói cách khác “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng, mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề trong xã hội”
Để tránh hiểu lệch lạc, ta cần phân biệt với chính sách tư Cơ sở để phân biệt
là căn cứ vào đặc trưng của khái niệm chính sách công đã nêu Theo các đặc trưng chính sách công, thì nếu chính sách của chủ thể ban hành không phải là chính phủ, (đại diện quyền lực cho nhân dân và toàn xã hội), có phạm vi tác động chỉ vào những đối tượng ở phạm vi hẹp để thực hiện mục tiêu đặt ra, không mang lại lợi ích trực tiếp hay gián tiếp, mang tính bao trùm cho toàn dân trong phạm vi cả nước ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng… thì không phải chính sách công Như vậy những quyết định của doanh nhân, của các tổ chức xã hội, của các nhóm lợi ích hay cá nhân để thực hiện mục tiêu của mình là những chính sách tư
Trang 14Chính sách công được hình thành trên cơ sở thực tiễn các hoạt động đời sống
xã hội một quốc gia trên mọi lĩnh vực được nghiên cứu, phân tích diễn biến trong quá trình vận hành Khi những diễn biến đó không còn phù hợp, do chính sách công
đó đã lạc hậu cản trở thì Nhà nước sẽ thiết kế, ban hành chính sách công mới hoặc điều chỉnh chính sách công hiện hành cho phù hợp với chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn mới (điều này thể hiện thái độ quản lý của Chính phủ, trong hoạt động QLNN của mình) Trong các chính sách công mới này, Chính phủ đưa ra các giải pháp cơ bản; huy động các nguồn lực, thiết lập các nguyên tắc, cơ chế vận hành cho chính sách của mình và bằng những quy định phân công các cơ quan nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định phối hợp tổ chức thực hiện để đạt mục tiêu mà chính sách mong muốn Từ những lý luận nêu trên, khái niệm chính sách ĐTBD CBCC là một chính sách công nhằm thực hiện chủ trương, mục tiêu định hướng do Chính phủ đặt ra trong lĩnh vực ĐTBD CBCC được thực thi bởi các quyết định hành động trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách đáp ứng yêu cầu năng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò và yêu cầu tầm quan trọng của thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh “vừa hồng vừa chuyên” là nhiệm vụ trọng tâm trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, mọi việc thành bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” 4, tr 273
Tại kết luận Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 (kết luận ngày 02/2/2009) nêu rõ quan điểm và mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ cũng khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” 7 Quan điểm của Đảng và tư tưởng của Bác Hồ xác định rõ và nhất quán vai trò của đội ngũ CBCC có tầm quan trọng hàng đầu, mang tính quyết định trong xây dựng và phát triển đất nước Hoạt động thực thi công vụ của họ có vai trò đặc biệt quan trọng,
Trang 15quyết định tới hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước Họ là những người hoạch định, thực thi những chính sách, quyết định của Nhà nước, là yếu tố quyết định thành bại của các chủ trương, chính sách
Đảng ta nhận thức rất rõ vấn đề này, nên thời gian qua đã ban hành các nghị quyết liên quan trực tiếp tới chiến lược cán bộ Đó là Nghị quyết lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về: “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” 8 Tiếp nối qua tổng kết đánh giá
về công tác cán bộ; đến Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X lại ban hành kết luận Hội nghị này về “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán
bộ từ nay đến năm 2020” 7
Trong Nghị quyết và kết luận trên, Đảng xác định phần quan trọng đặc biệt
về vai trò của công tác ĐTBD CBCC để đề ra chủ trương định hướng làm chuyển biến chất lượng đội ngũ CBCC thông qua những mục tiêu và nhiệm vụ trong công tác ĐTBD CBCC cho thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kết luận của Hội nghị thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X nêu rõ mục tiêu: “mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất
và năng lực tốt…đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đổi mới”
Tại Nghị quyết 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 về đẩy mạnh CCHC, xây dựng hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước (Nghị quyết 17-NQ/TW được ban hành tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X) cũng chỉ rõ chi tiết
về mục tiêu của CCHC ở nội dung về CBCC: “CCHC phải đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tuỵ phục vụ nhân dân”
Từ quan điểm về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ CBCC nêu trên, Đảng xác định và đề ra chủ trương, định hướng trong việc tổ chức, thực hiện chính sách ĐTBD CBCC hướng tới mục tiêu làm chuyển biến thực sự chất lượng ĐTBD CBCC, đó là phải: “tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác ĐTBD cán bộ theo qui hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng cập nhật mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ
Trang 16trong giai đoạn mới” (kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X) Từ đó “xây dựng chương trình quốc gia về ĐTBD cán bộ” 7
Quan điểm, chủ trương định hướng của Đảng cũng được Chính phủ quán triệt, thống nhất nhận thức, biểu hiện rõ về quan điểm trong chương trình CCHC Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010: “Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình và phương thức ĐTBD, chú trọng nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính cho đội ngũ CBCC theo chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm Mỗi loại CBCC có chương trình, nội dung đào tạo và bồi dưỡng cho phù hợp”20 Với bối cảnh quản lý nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong điều kiện của cuộc cách mạng 4.0
Kinh tế thị trường là một thành tựu của nhân loại, các qui luật của kinh tế thị trường như qui luật cung - cầu, quy luật giá trị, qui luật cạnh tranh… và sự phát triển của các loại thị trường trong một quốc gia như thị trường tài chính, chứng khoán, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ, các thị trường dịch vụ hàng hóa… Cùng với các hình thức sở hữu đa dạng kèm theo các loại hình kinh doanh được thiết lập là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Chúng
ta còn đang trong quá trình hoàn thiện thể chế cho các loại thị trường trên với yêu cầu minh bạch, kiến tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng để phát huy hết mọi nguồn lực cho phát triển
Sự chuyển dịch này nằm trong tiến trình toàn cầu hóa mà Việt Nam đang tham gia chủ động tích cực bởi các hiệp định kinh tế khu vực và thế giới Chúng ta
đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO); các hiệp định trong khối ASEN, hiệp định kinh tế liên minh thuế quan với Nga, Kazastan, Belarus… và mới đây là hiệp định kinh tế toàn diện, tiến bộ với 10 nước, trong đó có những nước có nền kinh tế thị trường rất phát triển như Canada, Singapore, Nhật Bản… Đặc điểm này khiến Việt Nam phải nghiên cứu, thay đổi hàng loạt chính sách kinh tế, xã hội, môi trường để đáp ứng tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường đầy đủ
Song song sự đổi mới kinh tế một cách toàn diện và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng với độ mở lớn đòi hỏi chúng ta cần phải nghiên cứu đổi mới về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhằm phát huy cao nhất, ưu việt nhất quyền dân chủ của người dân, trong điều kiện của cuộc cách mạng về công nghệ thông tin và
Trang 17giờ đây đang chuyển đổi sang mức độ cạnh tranh cao chưa từng có, là trí tuệ thông minh nhân tạo, internet vạn vật có ảnh hưởng to lớn, quyết định sự thành công hay thất bại của sự phát triển quốc gia, làm biến đổi sâu sắc và nhanh chóng nền kinh tế cũng như cuộc sống của người dân…
Đây là thách thức vô cùng to lớn đối với đội ngũ CBCC – những người hoạch định, trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước để kiến tạo sự phát triển quốc gia cùng những lực lượng khác trong xã hội (doanh nghiệp, các tổ chức
xã hội nghề nghiệp, mọi người dân cùng tham gia) Xác định là thách thức to lớn đối với đội ngũ CBCC, bởi thực tiễn Tuy đã nhận thức nền kinh tế thị trường khá tốt về tổng quát nhưng lối mòn tư duy trong thời kỳ bao cấp vẫn còn nặng nề, năng lực và kiến thức xây dựng thể chế kinh tế thị trường và điều hành nó còn rất nhiều hạn chế Chưa kể nhiều vấn đề về phẩm chất chính trị, đạo đức trong thực thi công
vụ còn bất cập và tạo ra sự cản trở cho quá trình đổi mới toàn diện đất nước đang diễn ra như tính cẩu thả, ban ơn, nhũng nhiễm, tham nhũng, tính kỷ luật kém…
Để khắc phục thực trạng đó, với quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, Đảng
đã thấy rõ thực tiễn chất lượng đội ngũ CBCC cũng như đặc điểm, vai trò đặc biệt của chính sách ĐTBD có ý nghĩa vô cùng quan trọng và bức thiết, quyết định tới sự phát triển của đất nước Điều này đã được thể hiện rõ những chủ trương trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về “đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý của bộ máy Nhà nước”; trong đó về đổi mới công tác ĐTBD CBCC, hiện đại hóa nền hành chính, Nghị quyết nêu rõ: “Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình ĐTBD CBCC sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính Thống nhất qua ĐTBD chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của
cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp” “đẩy mạnh ĐTBD nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính, của CBCC đặc biệt là kỹ năng hành chính và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính”
Những yêu cầu nêu trên sẽ chi phối cách làm cụ thể trong từng khâu của quá trình thực hiện chính sách ĐTBD CBCC phải được thay đổi Chính sách ĐTBD
Trang 18CBCC từ Chính phủ cho đến hệ thống các cơ sở ĐTBD, các nội dung chương trình ĐTBD, đội ngũ giảng viên, cũng như phương pháp ĐTBD và đánh giá hiệu quả của việc ĐTBD, tính cạnh tranh trong ĐTBD và quyền lựa chọn về hình thức, nội dung đào tạo của người CBCC cần được đảm bảo tính tự chủ Tất cả những mắt xích trong chu trình đó phải được nghiên cứu, thiết kế trên nền tảng mục tiêu của công cuộc CCHC Nhà nước và nằm trong sự vận hành của cơ chế thị trường với các qui luật của
nó (qui luật cạnh tranh, qui luật giá trị…) đòi hỏi phải rất khoa học và hiệu quả
1.3 Nội dung tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Việt tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, được thực hiện qua những nội dung sau:
1.3.1 Xây dựng kế hoạch, phổ biến quán triệt chính sách, triển khai thực hiện
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về ĐTBD công chức, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức; và Thủ tướng Chính phủ đã ra các Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC 2006-2010; Quyết định số 1374/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch ĐTBD CBCC giai đoạn 2011 – 2015
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo ra hành lang pháp lý và định hướng cho hoạt động ĐTBD Qui định rõ mục tiêu; nguyên tắc ĐTBD; chế độ ĐTBD lý luận chính trị đối với CBCC qui hoạch lãnh đạo, quản lý; nội dung, chương trình, chứng chỉ ĐTBD công chức; phân cấp tổ chức và quản lý; thực hiện ĐTBD CBCC; đánh giá chất lượng ĐTBD; tiêu chuẩn, nhiệm vụ và chính sách, chế
độ đối với giảng viên; quyền lợi và trách nhiệm của công chức, viên chức được cử
Trang 19Việc lập quy hoạch và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBCC đảm bảo tính khoa học chúng ta biết rằng, lập qui hoạch và kế hoạch ĐTBD CBCC là một khâu của hoạt động thực thi chính sách ĐTBD; nhằm xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, hình thức và tiến độ cụ thể của hoạt động ĐTBD trên cơ sở phân tích thực trạng và nhu cầu ĐTBD nhằm nâng cao năng lực đội ngũ CBCC
Có quy hoạch, kế hoạch ĐTBD mới tránh được tình trạng phân tán, tự phát, tùy tiện, tránh được lãng phí sức người, kinh phí, thời gian của CBCC và mới tạo được hiệu quả, chất lượng
Việc lập quy hoạch ĐTBD CBCC phải căn cứ vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà cụ thể là trong giai đoạn hiện nay căn cứ vào Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”12, tr.66, Nghị quyết Trung ương 9 khóa X về tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020; Các văn bản pháp luật của Nhà nước hiện hành về chính sách ĐTBD CBCC, viên chức Như chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2016-2020; Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008; Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010; Nghị định số 101/2017/NĐ-CP; các thông tư hướng dẫn liên quan… Trong đó xác định mục tiêu, nguyên tắc đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp để thực hiện chính sách ĐTBD CBCC một cách cụ thể
Ngoài ra, mỗi cơ quan của mỗi vùng khác nhau cũng phải căn cứ vào chiến lược phát triển của ngành, địa phương mình và của đơn vị mình để xây dựng, quy hoạch, kế hoạch ĐTBD CBCC Sự phát triển CBCC cả về qui mô, chất lượng, cơ cấu, trình độ trong tương lai Đặt ra yêu cầu cho những cơ quan và CBCC làm công tác ĐTBD CBCC phải nắm được những yêu cầu này để thực hiện nó trong xây dựng quy hoạch và kế hoạch ĐTBD
Trong lập quy hoạch, kế hoạch ĐTBD CBCC phải đựa vào thực trạng đội ngũ CBCC thuộc ngành mình, địa phương hoặc cơ quan mình, cụ thể là: Số lượng CBCC cần được phân tích theo các tiêu chí, cơ cấu về giới, tuổi, thâm niên công tác, ngạch bậc, chức vụ, vị trí công tác; trình độ CBCC qua bằng cấp, chứng chỉ về lĩnh vực nào, đã đáp ứng tiêu chuẩn chưa Đặc biệt trình độ CBCC phải gắn với
Trang 20năng lực qua thực tế công tác để biết được điểm mạnh, yếu mặt nào của CBCC để đưa vào kế hoạch ĐTBD mới đạt hiệu quả tốt nhất
Với những yêu cầu nêu trên, chúng ta sẽ xác định được nhu cầu một cách khoa học, phù hợp nhất là tiền đề quan trong bậc nhất để đảm bảo thực hiện chính sách ĐTBD CBCC đạt kết quả như mong muốn
1.3.2 Phân công phối hợp các cơ quan thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
Từ nội dung chính sách ĐTBD CBCC (hệ thống văn bản pháp luật), các Bộ, ngành, địa phương căn cứ vào kế hoạch nhiệm vụ của mình chỉ đạo các đơn vị quản
lý, sử dụng CBCC, các cơ sở ĐTBD trực thuộc phối hợp xây dựng kế hoạch ĐTBD CBCC hàng năm Trong kế hoạch ĐTBD, các cơ quan xác định nhu cầu ĐTBD CBCC gắn với qui hoạch bổ nhiệm CBCC, đảm bảo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành chính Đối với các nhóm đối tượng CBCC khác nhau theo định hướng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của mình Kế hoạch ĐTBD CBCC được giao cho hệ thống các cơ quan có trách nhiệm quản lý CBCC làm đầu mối tổng hợp chung để xác lập một kế hoạch thống nhất theo dõi quá trình triển khai tổ chức thực hiện
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, sử dụng công chức với các cơ sở ĐTBD CBCC ở Trung ương và địa phương hướng theo cách thức tổ chức linh hoạt
và hiệu quả nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho học viên tham gia các khoá học (tổ chức tập trung ở tại các cơ sở ĐTBD hoặc tại địa phương để học viên có thể vừa học vừa công tác)
Sự phân công, phân cấp trong chính sách ĐTBD CBCC từ xây dựng quản lý chương trình, tài liệu; tổ chức ĐTBD phân theo đối tượng rõ ràng, cụ thể giúp công tác thực hiện chính sách ĐTBD CBCC của các cơ quan đơn vị trong hệ thống ĐTBD CBCC diễn ra thuận lợi, đúng kế hoạch
Trong quá trình tổ chức ĐTBD; cơ quan quản lý, sử dụng CBCC phối hợp chặt chẽ với cơ sở ĐTBD, với giảng viên trực tiếp giảng dạy để quản lý, giám sát học viên đảm bảo khoá học diễn ra nghiêm túc Quy chế tổ chức lớp học được thực hiện nhằm buộc học viên có mặt đầy đủ; việc điểm danh, kiểm tra cuối khoá giúp đánh giá kết quả học tập khách quan, hiệu quả Kết thúc khoá học phải tiến hành
Trang 21tổng kết, đánh giá chất lượng giảng dạy, học tập và cấp chứng chỉ cho những học viên đạt kết quả Tất cả theo một qui trình chặt chẽ trong thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Trong thực hiện chính sách ĐTBD CBCC không thể tách rời sự phối hợp giữa hai loại cơ quan đơn vị là cơ quan quản lý, sử dụng CBCC với cơ sở ĐTBD CBCC bởi mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau theo quy định của pháp luật nhưng lại có mối quan hệ hữu cơ giữa hai bộ phận cơ bản, giữa đảm bảo đào tạo và bồi dưỡng CBCC với nhu cầu chất lượng sử dụng CBCC Cơ quan quản lý,
sử dụng CBCC là bên “cầu” về nâng cao năng lực đội ngũ CBCC, là nơi nắm được nhu cầu cần thiết trong việc ĐTBD CBCC của mình, là nơi lập qui hoạch kế hoạch ĐTBD để phát triển nhân lực theo chiến lược phát triển của mình, cũng như đảm bảo kinh phí và các điều kiện cần thiết liên quan tới việc hoàn thiện đội ngũ CBCC
do mình quản lý, sử dụng, phục vụ cho nhiệm vụ của cơ quan ở mức kỳ vọng Với
cơ sở ĐTBD CBCC, nơi cung cấp các dịch vụ ĐTBD nhằm đáp ứng yêu cầu đặt hàng của cơ quan quản lý, sử dụng CBCC Người học được trang bị về kiến thức,
kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm thực thi công vụ của mọi đối tượng CBCC theo nhu cầu Muốn hoàn thành sứ mệnh của mình cơ sở ĐTBD CBCC phải có tổ chức
bộ máy với hệ thống nhân sự có đủ tầm nhìn, năng lực đáp ứng cao nhất các nhu cầu mà khách hàng (CBCC) yêu cầu Cụ thể là cơ sở ĐTBD phải có năng lực thực hiện ĐTBD, có đội ngũ giảng viên giỏi, kinh nghiệm cũng như các chương trình ĐTBD đa dạng phù hợp yêu cầu của mọi đối tượng CBCC theo các vị trí, chức danh đảm nhiệm, theo các ngạch bậc về trình độ… Cùng với năng lực của mình, các cơ sở ĐTBD CBCC phải được cơ quan quản lý, sử dụng CBCC và bản thân CBCC biết đến, hiểu và có niềm tin về chất lượng ĐTBD Điều này đòi hỏi các cơ
sở ĐTBD CBCC phải làm tốt công tác tuyên truyền về hình ảnh tích cực của cơ sở đào tạo với năng lực cạnh tranh hiệu quả thực sự trong hệ thống các cơ sở ĐTBD CBCC; làm rõ được tính hiệu quả (chi phí thấp nhưng chất lượng cao trong khả năng); tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện ĐTBD
Trang 22Về phương thức ĐTBD áp dụng đa dạng các hình thức tập trung, bán tập trung, ĐTBD trong nước kết hợp với ĐTBD ở nước ngoài, trong giảng dạy áp dụng phương pháp giảng dạy mới để phát huy tính chủ động và tư duy sáng tạo của CBCC
Trên phạm vi toàn quốc, cho đến nay hệ thống các cơ sở ĐTBD CBCC tương đối hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Ở trung ương có hai học viện quốc gia là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, và Học viện Hành chính Quốc gia; 35 học viện, trường, trung tâm ĐTBD CBCC các Bộ, ngành; 63 trường chính trị cấp tỉnh và 702 trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện Tại hệ thống các
cơ sở ĐTBD nêu trên, các cơ sở ĐTBD là hai Học viện Quốc gia và các trường, trung tâm cấp huyện có cơ cấu tổ chức bộ máy thống nhất và đầy đủ theo quy định; đối với các cơ sở ĐTBD bộ, ngành, một mặt cơ cấu bộ máy bên trong tổ chức còn
có sự chênh lệch, chưa đồng đều về qui mô và chất lượng nhân lực Mặt khác các trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức dạy và học cũng chưa được đảm bảo đồng đều, còn chênh lệch khá nhiều giữa các cơ sở ĐTBD
1.3.3 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá thực hiện chính sách ở cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Theo Báo cáo số 88/BC-HVCTQGHCM ngày 22/6/2013 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03/9/2008 của Ban bí thư trung ương Đảng khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì: 100% giảng viên của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính Quốc gia có trình độ đại học và trên đại học Thạc sĩ chiếm 50%, Học viện trung tâm có 40% tiến sĩ, Học viện khu vực chiếm 10% tiến sĩ Tại 63 trường chính trị tỉnh có 2163 giảng viên, trong đó 57 giảng viên có học vị tiến sĩ (chiếm 2,64%)
1053 thạc sĩ (chiếm 48,70%) Các Trung tâm chính trị huyện các giảng viên đều có trình độ đại học
Tại các trường ĐTBD CBCC của Bộ, ngành, lực lượng giảng viên cơ hữu chiếm từ 20% - gần 30% Các giảng viên cơ hữu giảng các bộ môn, chuyên ngành
và giảng viên thỉnh giảng giảng dạy các chuyên đề thực tiễn là chủ yếu
Trang 23Nhìn tổng quan, chúng ta thấy một hệ thống quan điểm, chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC đã được Chính phủ thiết kế, xây dựng và ban hành tổ chức thực hiện một cách toàn diện, thống nhất với những nhiệm vụ cụ thể từ tạo lập một hệ thống văn bản pháp luật ĐTBD CBCC đến đầu tư phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất cũng như phân công phân cấp cho hệ thống các cơ sở ĐTBD trải rộng suốt từ Trung ương đến cơ sở trong đó đặc biệt chú trọng tới phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng, đồng thời có chính sách thu hút những CBCC có kinh nghiệm quản lý thực tiễn tham gia giảng dạy Các chương trình, tài liệu đã bước đầu bao quát và phục vụ cho việc ĐTBD theo chức danh lãnh đạo, quản lý, vị trí công việc cho đội ngũ CBCC ngoài các chương trình, tài liệu ĐTBD theo ngạch truyền thống Các chương trình, tài liệu được biên soạn với nội dung nghiên cứu theo quan điểm mới là tăng cường kỹ năng thực hành, các kỹ năng thiết yếu gắn với vị trí công việc nên cho đến nay có thể nói, chúng ta bước đầu đã tạo ra sự nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC trong việc phục vụ công dân và doanh nghiệp
Theo Báo cáo số 2880/BC-BNV ngày 31/7/2014 của Bộ Nội vụ sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch ĐTBD CBCC giai đoạn 2011 – 2015, tính đến 2014 có gần 98% CBCC lãnh đạo cấp phòng của Bộ, ngành và gần 84% của địa phương được ĐTBD theo chương trình qui định, 72% công chức các bộ ngành và 63% CBCC địa phương được bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm Tại cấp xã gần 78% cán bộ cấp xã đạt trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn và gần 65% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức kỹ năng lãnh đạo, quản lý theo yêu cầu công việc
Đối với chính sách ĐTBD CBCC ở nước ngoài, cũng tại báo cáo sơ kết trên của Bộ Nội vụ, tính đến hết 2014 có tổng số lượt CBCC được cử đi ĐTBD ở nước ngoài là 53.300 người; trong đó có gần 25.000 lượt người là CBCC lãnh đạo quản
lý và 14.000 lượt người là cán bộ tham mưu hoạch định chính sách, nguồn quy hoạch lãnh đạo quản lý
Nội dung ĐTBD cho CBCC ở nước ngoài là những nội dung, yêu cầu tại Quyết định số 1374/QĐ-TTg gồm những nội dung kiến thức, kỹ năng phù hợp với
Trang 24đối tượng được cử đi ĐTBD để đáp ứng chức năng, nhiệm vụ, vị trí mà họ đảm nhiệm như quản lý hành chính công, QLNN đa ngành, đa lĩnh vực, quản lý và phát triển nguồn nhân lực, tài chính công, dịch vụ công, hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ điện tử…
Các khoá ĐTBD CBCC ở nước ngoài góp phần trang bị kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, giúp cho đội ngũ CBCC có tầm nhìn, có cách thức tổ chức, quản lý xã hội của các nước phát triển
Tóm lại, cho đến nay việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC của nước ta về
cơ bản đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của CCHC để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.3.4 Đánh giá, tổng kết – rút kinh nghiệm và kiến nghị
Bất cứ một hoạt động thực thi chính sách công nào cũng đều không tách rời việc đánh giá quá trình thực hiện cũng như kết quả cuối cùng của hoạt động thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách ĐTBD CBCC cũng như vậy Trong chuỗi hoạt động đánh giá cần có đánh giá một cách khách quan, công minh và được thực hiện một là từ phía cơ quan quản lý, sử dụng CBCC; hai là ý kiến của CBCC được ĐTBD đối với cơ sở ĐTBD CBCC và ba là đánh giá từ chính cơ sở đào tạo Nội dung đánh giá về các mặt cách thức tổ chức giảng dạy; nội dung, hình thức, phương pháp giảng học tập và kết quả cuối cùng là năng lực người CBCC sau khi được ĐTBD thông qua chất lượng thực thi công vụ Có như vậy thì việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC mới đảm bảo có kết quả thành công như mục tiêu, yêu cầu đề ra
1.4 Những điều kiện đảm bảo thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, để đảm bảo chính sách thành công, có nghĩa là quá trình thực hiện chính sách làm cho sứ mệnh, mục đích của cơ quan đơn vị đạt được theo yêu cầu đề ra, ngày càng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ hiện tại cũng như tạo ra được cơ sở vững chắc cho dự kiến phát triển trong tương lai
Trang 25Đối với đội ngũ CBCC thì ngày càng nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, trách nhiệm, công tâm, hết lòng phục vụ (yếu tố về văn hóa, phẩm chất đạo đức người CBCC) Nhu cầu được ĐTBD để phát triển bản thân trở thành thực chất để nâng cao năng lực chứ không mang tính bằng cấp
Để đạt được mục tiêu kỳ vọng trên, những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện chính sách ĐTBD đi tới thành công, đó là:
1.4.1 Chất lượng đội ngũ giảng viên
Hạt nhân quan trọng nhất trong việc ĐTBD CBCC là đội ngũ giảng viên, đây
là yếu tố có tính quyết định tới việc nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, năng lực cho đội ngũ CBCC
Đội ngũ giảng viên gồm viên chức cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng, giảng viên kiêm chức Đặc điểm tạo nên tính hiệu quả cho việc giảng dạy và học tập, bởi đây là sự kết hợp giữa nhóm giảng viên chuyên nghiệp có phương pháp sư phạm và kiến thức sâu rộng với nhóm giảng viên có kinh nghiệm quản lý – đáp ứng tính thực tiễn cao trong quá trình truyền thụ kiến thức
1.4.2 Chương trình, tài liệu cập nhật phù hợp yêu cầu của người học
Để thực hiện chính sách ĐTBD có chất lượng cao thì chương trình, tài liệu ĐTBD là hết sức quan trọng, cho tới nay các chương trình, tài liệu lý luận chính trị
đã đưa vào tổ chức giảng dạy cho CBCC từ Trung ương đến địa phương; các chương trình, tài liệu biên soạn theo ngạch hành chính, theo chức danh lãnh đạo quản lý, chức danh CBCC cấp xã đã được xây dựng và biên soạn hoàn chỉnh đưa vào giảng dạy Ngoài ra các chương trình chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu nhiệm vụ công việc cũng được ban hành nhưng chưa đáp ứng hết các vị trí công việc và vẫn tiếp tục nghiên cứu để xây dựng
Đây là những chương trình rất quan trọng nhưng gặp khó khăn, thách thức bởi lý do chính là trong hệ thống cơ quan hành chính hiện nay, việc nghiên cứu chi tiết với bản mô tả công việc cho từng vị trí công việc chưa được làm một cách khoa học, bài bản, chưa coi là một nguyên tắc nên từ nhận thức cho đến chỉ đạo thực hiện còn hạn chế và buông lỏng Điều này ảnh hưởng lớn đến việc cơ quan quản lý, sử dụng CBCC, chưa nắm được nhu cầu của CBCC, đồng thời CBCC cũng không xác
Trang 26định chính xác nhu cầu bản thân, cần kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ gì giúp cho mình hoàn thiện năng lực làm việc
Đặc điểm của các chương trình đã được nghiên cứu hướng theo mục tiêu, thiết thực, hiệu quả, giảm thời lượng lý thuyết tăng thực hành, tập trung bồi dưỡng các kỹ năng thực thi công vụ, chương trình đảm bảo tính liên thông, cập nhật sát thực tế, tránh trùng lặp
1.4.3 Cơ sở đào tạo được trang bị phương tiện hiện đại
Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại là một trong những nhân tố quan trọng tác động tích cực tới việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học trong cơ sở ĐTBD Chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất gắn chặt với chất lượng đào tạo, vì thế việc đầu tư, hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất là đòi hỏi cấp thiết nhằm giúp cho người học đáp ứng được yêu cầu thực tế công tác Cơ sở ĐTBD có đầy đủ cơ
sở vật chất, phương tiện dạy học, hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo…phục vụ cho hoạt động đào tạo thì chất lượng đào tạo của cơ sở ĐTBD đó sẽ được đảm bảo
và nâng cao
Các thành tố đảm bảo tới hoạt động ĐTBD CBCC như hệ thống cơ sở ĐTBD CBCC xuyên suốt từ trung ương đến địa phương (không những như vậy, văn bản pháp luật mới nhất của chính sách này là Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về ĐTBD CBCC, viên chức còn đưa cả các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục đại học vào tham gia ĐTBD CBCC) đảm bảo giải quyết được nhu cầu qui mô về ĐTBD CBCC
1.4.4 Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng
Đặc biệt nguồn kinh phí được kết hợp từ nhiều nguồn: từ ngân sách chi thường xuyên đến tài trợ từ các dự án nước ngoài, kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia với mức chi phí cơ bản đáp ứng đầy đủ cho công tác ĐTBD CBCC
Ngoài nguồn lực vật chất cụ thể, nguồn lực con người, kinh phí đảm bảo, đầy
đủ cho phép chúng ta mở rộng được qui mô ĐTBD, lựa chọn dễ dàng các chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu, mở rộng khả năng lựa chọn các cơ sở ĐTBD có uy tín chất lượng, khả năng hợp tác trong nước, ngoài nước cũng như lựa chọn được đội ngũ giảng viên có trình độ, chất lượng… Tất cả sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá
Trang 27trình ĐTBD CBCC đạt các mục tiêu, yêu cầu của chính sách ĐTBD CBCC của Nhà nước đặt ra, thực hiện được nhanh chóng công cuộc CCHC Nhà nước và đáp ứng được các chủ trương của Đảng và nhà nước đối với đội ngũ CBCC nước ta
1.5 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
ở một số nước và bài học đối với việt nam
1.5.1 Tại Singapore
Chính phủ Singapore đặt chất lượng của nền hành chính ở vị trí quan trọng, phải có hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động QLNN mà trong đó, yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt là yếu tố con người – là đội ngũ CBCC Nhận thức này đã định hướng cho hoạt động của Chính phủ Singapore trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng CBCC rất rõ ràng, cụ thể đó là việc đầu tư lớn cho lĩnh vực ĐTBD CBCC
Trước hết là việc xây dựng các cơ sơ ĐTBD CBCC với chức năng, nhiệm vụ rất cụ thể Tại Singapore cơ sơ đào tạo bồi dưỡng CBCC hiện nay gồm Học viện công vụ (CSC) thành lập năm 1996 và Viện Quản lý Singapore Học viện công vụ
có thành lập tổ chức tư vấn công vụ với chức năng tư vấn chính sách quản lý và thực hiện xây dựng các chương trình đào tạo các nhà quản lý cao cấp, các chương trình đào tạo chuyên môn quản lý trung cấp đồng thời thực hiện công tác bồi dưỡng,
tư vấn các chương trình giảng dạy, là đầu mối hợp tác với các nước trong việc trao đổi kinh nghiệm cải cách khu vực công giúp Singapore tiếp thu kinh nghiệm tốt cũng như tư vấn cho việc học tập, lựa chọn chương trình học tập chính xác theo yêu cầu thực thi công vụ của học viên
Viện quản lý Singapore là cơ quan tổ chức nhiều chương trình bồi dưỡng ngắn hạn để học viên tự chọn phù hợp với yêu cầu cá nhân sau khi xác định nhu cầu cần thiết kiến thức, kỹ năng còn khiếm khuyết
Singapore xây dựng chiến lược CBCC có tính hệ thống, liên hoàn và được thực hiện với chính sách đào tạo dài hạn, ngắn hạn bài bản với các khoá học khác nhau theo một trình tự liên quan chặt chẽ với nhau, công đoạn sau bổ sung cho công đoạn trước, nâng cao dần và liên quan trực tiếp đến sự phát triển trong cuộc đời chức nghiệp của CBCC (kể cả việc chỉ định, bổ trí công chức vào vị trí công việc Trình tự này gồm các bước (công đoạn) sau:
Trang 28Bước đầu tiên là giới thiệu giúp công chức mới nhận việc hoặc mới chuyển đến được làm quen với những môi trường và công việc để dần chủ động với công việc; bước tiếp theo là ĐTBD công chức thích ứng với công việc được giao; tiếp đến công chức được đào tạo nâng cao bổ sung kiến thức giúp công chức đạt hiệu quả cao hơn ở vị trí công việc được giao Các bước trên được thực hiện trong ba năm đầu Các bước sau Singapore ĐTBD CBCC với mục đích giúp CBCC có khả năng vượt lên đảm trách được những công việc ở vị trí khác có liên quan và tiến tới đưa khả năng làm việc của công chức đạt được yêu cầu trong tương lai
Như vậy có thể thấy rõ, CBCC Singapore được ĐTBD liên tục theo một lộ trình từ công chức mới tham gia công vụ, thay đổi vị trí việc làm; kế nhiệm vị trí mới, công chức dự kiến qui hoạch đảm nhiệm công việc trong tương lai đều được ĐTBD có hệ thống, có tính cấp bậc và liên thông theo thời gian làm việc và vị trí công việc giúp tạo nên đội ngũ CBCC có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để thực thi hiệu quả công việc trong toàn đội ngũ
Một điểm khác mà hiện nay ở nước ta, hoạt động ĐTBD còn rất hạn chế đó
là Singapore trao quyền tự chủ để công chức chọn chương trình học tập theo nhu cầu bản thân Nguyên tắc này rất quan trọng, nó bảo đảm cho người học hoàn thiện năng lực công tác ở hiệu suất cao nhất bởi chỉ người học mới tự biết mình thiếu gì trong quá trình thực thi công vụ
1.5.2 Tại Nhật Bản
Với mục đích ĐTBD công chức ở Nhật Bản là đề cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân, nâng cao phẩm chất và năng lực thực hiện công vụ, chú trọng hợp tác, chia sẻ và niềm tin giữa công chức với nhau, bởi vậy Nhật Bản tiến hành các khoá ĐTBD cho tất cả các vị trí chức danh công chức
Ở Nhật Bản có hai loại: Công chức Quốc gia và công chức địa phương Quản
lý đội ngũ công chức Nhật Bản theo Luật Công vụ Quốc gia là cơ quan Nhân sự quốc gia (NPA) được thành lập từ năm 1948, hoạt động mang tính trung lập và công bằng không lệ thuộc vào sự kiểm soát bên ngoài và có quyền trực tiếp đề xuất kiến nghị lên Quốc hội
Trang 29Ngay từ khi tuyển dụng công chức, NPA tổ chức 03 kỳ thi tuyển cho ba loại công chức loại I, loại II, loại III Loại I sẽ dần được ĐTBD để trở thành lãnh đạo trong tương lai (điều kiện để thi vào loại I là những người phải từ các trường đại học lớn danh tiếng, có truyền thống đào tạo nhân tài) Loại II và loại III là những công chức chuyên môn Từ đây, các Bộ, ngành muốn tuyển công chức đều phải tuyển từ nguồn đã qua thi tuyển 03 loại công chức trên do NPA tổ chức thực hiện
Như vậy ngay từ lúc tuyển dụng, đã có sự lựa chọn phân loại nguồn công chức cho hoạt động QLNN ở các vị trí trong tương lai là công chức lãnh đạo hay công chức chuyên môn, phần nào định hướng cho việc ĐTBD sau này được phù hợp với mục tiêu yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC
Về ĐTBD công chức sau khi tuyển dụng, NPA chịu trách nhiệm quản lý ĐTBD công chức với cơ sở đào tạo trực thuộc là Học viện Hành chính Quốc gia Học viện chịu trách nhiệm ĐTBD cho các vị trí chức nghiệp của công chức làm việc trong Nội các và các Bộ Đối với công chức có triển vọng (gọi theo ở Việt Nam là công chức được quy hoạch trở thành lãnh đạo) còn được Học viện Hành chính Quốc gia đào tạo chương trình liên Bộ để xây dựng một đội ngũ công chức đóng vai trò chủ chốt trong nền hành chính quốc gia sau này (chương trình này có tầm kiến thức rộng liên ngành, hệ thống nhằm đạt đến trình độ tư duy hoạch định chính sách phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế - xã hội trong tương lai) Ngoài
ra các Bộ, ngành cũng tổ chức ĐTBD công chức ngành mình với sự hỗ trợ của Học viện Hành chính Quốc gia
Ở cấp độ địa phương, chương trình ĐTBD bao gồm chương trình theo cấp bậc vị trí, các chương trình ĐTBD theo nhu cầu công việc tại các cơ sở ĐTBD ngoài hệ thống hành chính Nhà nước và các chương trình theo chuyên đề Điều này cũng cho thấy các chương trình ĐTBD gần tương đồng với chương trình ĐTBD công chức ở Việt Nam, tuy nhiên có sự khác biệt như chương trình theo cấp bậc vị trí thì ở Việt Nam chỉ là chương trình ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp mà nội hàm gắn với “vị trí việc làm” còn được nghiên cứu hạn chế, không rõ
Trang 30Về hình thức ĐTBD của Nhật Bản là tại chỗ và tại các trường ĐTBD công chức Do Việt Nam chưa qui định về ĐTBD tại chỗ nên hình thức này cần được nghiên cứu thêm và mong rằng có thể có ích trong vận dụng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
ĐTBD công chức tại chỗ là khi công chức trúng tuyển và bắt đầu được bố trí vào một vị trí công việc trong cơ quan Nhà nước thi tổ chức thực hiện việc ĐTBD đối với công chức đó ngay tại cơ quan nơi làm việc Công chức đó được hướng dẫn
kỹ năng sử dụng thành thạo thiết bị văn phòng, kỹ năng xử lý công việc cụ thể hàng ngày ở vị trí làm việc Người đứng đầu bộ phận có công chức mới cần ĐTBD là người hướng dẫn, phân tích, đánh giá xác định nội dung công việc cần nhớ và thực hiện, xác định quy trình giải quyết công việc, lập kế hoạch chi tiết thực hiện; có theo dõi và đánh giá kết quả công việc mà công chức ĐTBD thực thi đảm nhiệm
Đối với việc ĐTBD công chức tại các Trường Đào tạo bồi dưỡng do một số
cơ sở như Trường Cao đẳng tự trị địa phương; Viện đào tạo công chức quản lý đô thị, Viện Đào tạo kỹ năng và trao đổi Văn hoá Nhật Bản đảm nhận Tại các cơ sở này, có các chương trình ĐTBD cho công chức mới được tuyển dụng từ 02 tuần tới
6 tháng tuỳ thuộc đối tượng công chức và yêu cầu (nhu cầu bản thân công chức) Đây là các chương trình ĐTBD chuyên môn, nghiệp vụ (nghề công chức) Trường Cao đẳng tự trị địa phương còn có chương trình ĐTBD cho quan chức địa phương
Ngoài các hình thức và chương trình ĐTBD với nội dung đi sâu vào kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, theo vị trí việc làm, các chương trình ĐTBD lãnh đạo quản lý thì bất kỳ công chức nào cũng phải tham gia 08 khoá học với nội dung về
hệ thống pháp luật, nguyên lý hành chính địa phương, lý thuyết về chính sách công Nhật Bản về quản lý hành chính, kỹ năng phân tích chính sách, văn hoá Nhật Bản, văn hoá Châu Á, tiếng Anh và những kỹ năng hành chính khác (nghe điện thoại, tiếp xúc với dân)…
1.5.3 Tại Cộng hoà Liên bang Đức
Đội ngũ công chức ở Cộng hoà Liên bang Đức có hai loại: công chức giữ chức vụ lãnh đạo và công chức thừa hành
Trang 31Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là nhóm công chức tinh hoa thuộc
hệ thống chức nghiệp (biên chế suốt đời), công chức thừa hành được tuyển dụng thông qua hợp đồng sau khi thi tuyển, tuy vậy, trên thực tế họ cũng được ổn định việc làm tương tự như nhóm công chức lãnh đạo, quản lý
Tại Đức, việc phân cấp quản lý, sử dụng công chức được phân cấp rất rõ ràng, các Bộ được giao thẩm quyền về quản lý, sử dụng, ĐTBD đội ngũ công chức của mình hoàn toàn độc lập (khác với Nhật Bản có đầu mối quản lý chung là cơ quan nhân sự Quốc gia, việc phân cấp cho các Bộ được bảo đảm ở một mức độ nhất định, không hoàn toàn) Đội ngũ công chức của Đức được phân chia làm 03 cấp bậc là:
Công chức phổ thông và công chức sơ cấp; công chức trung cấp và công chức cao cấp Tương ứng với ba cấp bậc là các yêu cầu về trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông cho (hai bậc đầu) và tốt nghiệp đại học với công chức cao cấp Cả ba bậc này, công chức đều phải qua thực tập công việc đảm nhiện từ 1- 3 năm tuỳ bậc
và qua thi kiểm tra chuyên môn mới được bổ nhiệm
Điều đặc biệt là ở Đức, Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng một hệ thống các yêu cầu khung đối với các vị trí công việc, trong đó đưa ra các tiêu chuẩn về năng lực, những phương pháp bao gồm: Khả năng tổ chức công việc, tư duy phân tích, khả năng diễn đạt bằng văn bản và phát biểu, khả năng hoà nhập tập thể, cộng tác, khả năng giải quyết mâu thuẫn, khả năng chịu áp lực công việc, tính kiên trì, trách nhiệm và sáng tạo…
Các tiêu chuẩn này là một phần để xây dựng các chương trình ĐTBD công chức có phẩm chất và năng lực toàn diện, có trách nhiệm cao khi thực thi công vụ
Sau khi tuyển dụng, công chức sơ cấp phải được bồi dưỡng sáu tháng, còn công chức trung cấp được đào tạo hai năm, công chức cao cấp được đào tạo ba năm Nội dung các chương trình ĐTBD rất đa dạng từ kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn theo vị trí công việc các kỹ năng nâng cao phẩm chất và phương pháp, năng lực xã hội (như các tiêu chuẩn Bộ Tư pháp Đức thiết kế) cho tới những kiến thức mới về chuyên môn, sự hợp tác quốc tế chuyên ngành, kỹ thuật mới về kế hoạch và ra quyết định, phương pháp lãnh đạo hiện đại Đặc điểm chung nhất là nội dung các khoá ĐTBD rất thực tiễn gắn liền với điều hành nền hành chính, vào các kỹ năng
Trang 32thực hành Đặc điểm này khiến cho việc sử dụng đội ngũ giảng viên là những nhà hoạt động thực tiễn có kinh nghiệm quản lý chứ không phải là những giảng viên chuyên nghiệp của các trường hành chính
Về hình thức và phương pháp ĐTBD cũng rất đa dạng, ngoài những quy định bắt buộc nêu trên, công chức được khuyến khích tự đăng ký những khóa ĐTBD ở bất kỳ cơ sở ĐTBD nào dù cơ sở công lập hay cơ sở tư nhân theo nhu cầu bản thân thấy cần Điều này cho phép công chức tự xác định nội dung, chương trình mình cần để phục vụ cho hoạt động thực thi công việc, tạo tính chủ động và độc lập cho công chức và nhanh chóng bù đắp những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ còn thiếu để hoàn thiện bản thân
1.5.4 Tại Cộng hoà Pháp
Ở Cộng hoà Pháp, việc ĐTBD đội ngũ công chức rất được chú trọng và tổ chức thiệc hiện khoa học Hệ thống các chương trình ĐTBD được xây dựng dựa trên cơ sở bảng mô tả công việc, do vậy những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ của các chương trình đảm bảo tính khoa học, phù hợp với những yêu cầu công việc và năng lực của công chức
Người công chức mô tả công việc cụ thể ở vị trí mình đang đảm nhiệm cùng với yêu cầu kỹ năng cần thiết, các cơ sở ĐTBD cùng với yêu cầu quản lý, sử dụng công chức tiến hành nghiên cứu, khảo sát trình độ kiến thức, năng lực của công chức đó, từ đó thiết kế cụ thể chương trình để đưa vào ĐTBD
Tại các cơ quan hành chính nhà nước, khi xây dựng kế hoạch ĐTBD, người đứng đầu trực tiếp của công chức cần ĐTBD gặp gỡ thảo luận với công chức về công việc và hướng công việc sắp tới để xác định những vấn đề liên quan tới nhu cầu cần ĐTBD của công chức Tất cả nhằm xác định nhu cầu của cá nhân công chức và nhu cầu của đơn vị để tổng hợp kế hoạch ĐTBD hàng năm của cơ quan
Để đảm bảo quyền của công chức, Pháp qui định nếu công chức ba năm không được ĐTBD thì có quyền đề nghị được cử đi ĐTBD và quyền khiếu nại, yêu cầu được giải thích
Ở Pháp có ba hình thức ĐTBD công chức, đó là: Đào tạo ban đầu đối với công chức mới được tuyển dụng (tương tự ĐTBD tiền công vụ ở Việt Nam); ĐTBD
Trang 33thi nâng ngạch và ĐTBD thường xuyên Loại hình thường xuyên là loại hình ĐTBD được quan tâm nhiều vì đáp ứng được yêu cầu thay đổi thường xuyên của môi trường làm việc trong quá trình phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật cũng như tiến trình CCHC mạnh mẽ ở các nước trên thế giới và với cá nhân công chức được đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng cho sự phát triển trong hoạt động công vụ
Hệ thống các cơ sở ĐTBD ở Pháp khá đa dạng gồm Trường Hành chính Quốc gia (ENA), các Trường Hành chính khu vực, các Trung tâm đào tạo công chức thuộc các bộ và của tư nhân đều tham gia ĐTBD công chức Đặc điểm này (cả khu vực công và tư tham gia ĐTBD) đưa tới tính cạnh tranh cao trong nghiên cứu thiết kế chương trình ĐTBD và xây dựng đội ngũ giảng viên Điều đó tạo ra sự chuyển biến tích cực trong hoạt động ĐTBD công chức với nhiều chương trình phong phú, thực tiễn đáp ứng tốt cho nhu cầu người học, với giảng viên thường là những người có năng lực giảng dạy kinh nghiệm thực tiễn phong phú, có kỹ năng
sư phạm Đây là yếu tố rất quyết định trong quá trình ĐTBD cho đội ngũ công chức giúp họ hoàn thành tốt chức trách của mình trong hoạt động công vụ sau khi kết thúc khoá học
1.5.5 Bài học đối với Việt Nam
Điểm qua kinh nghiệm thực hiện chính sách ĐTBD CBCC ở bốn quốc gia nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cần nghiên cứu và học tập, đó là:
Ngay từ khi định hướng tiếp nhận nhân sự vào hệ thống bộ máy nhà nước, có quốc gia đã căn cứ vào trình độ tốt nghiệp theo bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc dân, chú trọng tới thực trạng của trường đại học mà phân loại công chức ngay
từ đầu để định hướng ĐTBD công chức là lãnh đạo trong tương lai hay công chức thừa hành (Cộng hòa Liên bang Đức) Ở Việt nam chỉ khi đã là công chức, công tác được một số năm và được đánh giá có tiềm năng mới đưa vào qui hoạch để ĐTBD dần thành lãnh đạo quản lý
Đối với công chức mới được tuyển dụng bổ nhiệm thì Singapore có cách thức ĐTBD rất thực tiễn và hiệu quả bằng việc áp dụng hình thức hướng dẫn tại vị trí làm việc Người phụ trách nhân sự có chức năng và nhiệm vụ chỉ dẫn kiến thức
và trình tự thực hiện công việc cho người công chức mới vào làm, đây là cách
Trang 34nhanh chóng nhất và hiệu quả để công chức thích ứng ngay và đảm nhiệm nhanh và thuần thục công việc được giao từ thực tiễn rồi mới ĐTBD tại cơ sở ĐTBD sau này
Tại Việt Nam hiện nay chúng ta chưa có chú trọng hình thức ĐTBD CBCC này, thể hiện ngay cả trong văn bản pháp luật mới nhất về ĐTBD CBCC cũng chưa quy định (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP) và trên thực tế cũng vậy nên người công chức mới rất bỡ ngỡ, vấp váp cả về kiến thức lẫn thực hành công việc hàng ngày, nếu có được ĐTBD thì vẫn là đến cơ sở ĐTBD CBCC học chương trình bồi dưỡng cán sự hay chuyên viên mang nặng tính lý thuyết Đây là điều chúng ta cần vận dụng áp dụng vào Việt Nam
Tại Pháp, việc ĐTBD theo vị trí việc làm được thực hiện rất bài bản và khoa học Người quản lý công chức trực tiếp trao đổi với công chức để nắm bắt kiến thức, năng lực hiện có nhằm xác định nhu cầu ĐTBD trên cơ sở đối chiếu bảng mô
tả công việc chi tiết công việc mà công chức đảm nhiệm Từ đó cơ quan sử dụng công chức phối hợp cơ sở ĐTBD thiết kế chương trình biên soạn nội dung ĐTBD, đảm bảo sự phù hợp và đáp ứng tốt nhất cho việc ĐTBD CBCC Đây là việc ở Việt Nam chung ta hoàn toàn chưa làm được và rất cần vận dụng để áp dụng vào trong ĐTBD CBCC ở nước ta
Một điểm rất quan trọng là tại các nước nêu trên đã huy động cả các cơ sở ĐTBD của tư nhân, các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân tham gia vào ĐTBD công chức, tạo ra sự cạnh tranh hiệu quả trong ĐTBD công chức, là động lực cho các cơ sở ĐTBD công chức cũng phải ngày càng tự hoàn thiện mình
Ở nước ta hiện nay, qui định của pháp luật cũng bước đầu xác lập tính cạnh tranh trong các cơ sở ĐTBD CBCC (đã qui định các trường Đại học, Học viện tham gia ĐTBD CBCC khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ) nhưng chưa qui định những tổ chức ĐTBD tư được tham gia Đặc điểm này cần nghiên cứu vận dụng để tăng khả năng lựa chọn của CBCC khi tham gia học tập cũng như đảm bảo thực hiện chủ trương thu gọn đầu mối các đơn vị sự nghiệp công hiện nay
Kết luận chương 1
Qua trình bày nội dung một số lý luận và thực tiễn về chính sách ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay, chúng ta hiểu được giá trị và tầm quan trọng đặc biệt của chính sách ĐTBD CBCC, nó chính là nhân tố quyết định thành bại của sự
Trang 35nghiệp đổi mới đất nước, vì đây là vấn đề nhân tố con người, nguồn lực QLNN của quốc gia
Thấy rõ vai trò quan trọng này, Đảng đã ban hành các nghị quyết, chủ trương
về mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; về cải cách nền hành chính nhà nước
Quán triệt chủ trương của Đảng, Chính phủ đã tiến hành tổ chức thực hiện Ban hành chương trình cải cách nền hành chính nhà nước và đặc biệt là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chính sách ĐTBD CBCC cho đến nay khá đầy đủ để các cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ của mình triển khai thực hiện
Kết quả cho đến nay, đội ngũ CBCC đã được trưởng thành mọi mặt, phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần trách nhiệm với công việc và kiến thức, kỹ năng thực thi công vụ nâng cao hơn một bước, mặc dù chưa hoàn toàn đáp ứng tốt nhất cho hoạt động QLNN theo mục tiêu, yêu cầu của Đảng và Nhà nước đề ra
Để phát huy đa dạng những vấn đề liên quan tới chính sách ĐTBD CBCC, chúng ta còn cần học tập những kinh nghiệm hay của các nước, bám sát diễn biến của quá trình đổi mới của đất nước trong tiến trình hội nhập để hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC phù hợp và thiết thực, hiệu quả cao nhất
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH XÂY DỰNG TẠI HỌC
VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ ĐÔ THỊ
2.1 Giới thiệu chung về học viện
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Học viện
Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị là một đơn vị sự nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng Tại Quyết định số 468/QĐ-BXD ngày 02/4/2008 của
Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã thành lập trên cơ sở nâng cấp từ Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ ngành Xây dựng
Học viện có chức năng tổ chức ĐTBD CBCC, viên chức ngành Xây dựng, cán bộ chính quyền đô thị các cấp, CBCC, viên chức tham gia quản lý, hoạt động xây dựng và các chức danh khác theo quy định của pháp luật; tập huấn phổ biến kiến thức pháp luật ngành Xây dựng; tổ chức nghiên cứu, ứng dựng các cơ chế chính sách, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học quản lý trong các lĩnh vực thuộc chức năng QLNN của Bộ Xây dựng
Để đảm bảo chức năng của mình Học viện có 17 nhiệm vụ phải thực hiện từ nghiên cứu, tham mưu đề xuất chiến lược, các chương trình, dự án về nguồn nhân lực của ngành, về ĐTBD CBCC, viên chức ngành Xây dựng và cán bộ chính quyền
sự nghiệp công lập mà định hướng thời gian tới của nhà nước ta sẽ thu gọn đầu mối các đơn vị tinh giản biên chế, tự chủ tài chính, các sản phẩm được nhà nước đặt hàng phải có giá trị ứng dụng, sử dụng trên thực tiễn hoạt động xã hội
Trang 37Các hoạt động cải cách, đổi mới bộ máy nhà nước đặt trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới, sự cạnh tranh quyết liệt ở mọi lĩnh vực giữa các đơn vị, tổ chức khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt hiện nay tình hình khoa học quản lý, khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển nhanh chóng Tất cả là những thách thức vô cùng lớn đối với HVCBXD đòi hỏi Học viện phải không ngừng nâng cao năng lực
để thích ứng với môi trường đầy biến động
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Học viện
Bảng 2.1 Mô hình tổ chức của Học viện
+ Bộ máy lãnh đạo Học viện: Gồm giám đốc Học viện và 4 phó giám đốc Ban lãnh đạo Học viện xác định sứ mệnh và tầm nhìn đới với HVCBXD, là một cơ
Trang 38sở ĐTBD CBCC, viên chức hoạt động trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực ĐTBD CBCC, viên chức ngành Xây dựng, cán bộ chính quyền đô thị các cấp và các chức danh về xây dựng ở các tổ chức, đơn vị kinh tế, cho ta thấy vị trí, vai trò của bộ máy lãnh đạo quản lý Học viện hết sức nặng nề, đòi hỏi năng lực của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý có kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, có sự nhạy bén, phân tích, đánh giá diễn biến tình hình hoạt động xây dựng và năng lực đáp ứng yêu cầu đa dạng của CBCC, viên chức ngành Xây dựng cũng như của hoạt động kinh tế - xã hội
Tất cả các đơn vị trực thuộc Học viện đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể vừa có tính độc lập thực hiện nhiệm vụ theo chức năng vừa có tính phối hợp với các đơn vị liên quan trong quá trình tổ chức hoạt động Các hoạt động được lãnh đạo Học viện chỉ đạo sát sao theo kế hoạch nhiệm vụ đặt ra từ đầu năm, đôn đốc thực hiện theo tiến độ của từng tháng, từng quý
Để hiểu rõ hơn phạm vi hoạt động của HVCBXD, chúng ta cần biết rõ về chức năng của từng đơn vị trực thuộc Học viện:
+ Văn phòng HVCBXD: Tham mưu giúp Giám đốc Học viện tổ chức, quản
lý, điều hành các việc chung, đầu mối tổng hợp thông tin, phục vụ quản lý của lãnh đạo Học viện, quản lý hành chính, cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, phương tiện của Học viện
+ Phòng Tổ chức cán bộ: Tham mưu giúp Giám đốc Học viện, Đảng uỷ về công tác tổ chức cán bộ, công tác dân vận, an ninh, quốc phòng, tổ chức công tác ĐTBD CBCC, viên chức của Học viện
+ Phòng công tác học viên: Tổ chức, quản lý điều hành các lớp học, quản lý học viên tham gia ĐTBD trong và ngoài Học viện
+ Phòng Quản lý khoa học: Tham mưu giúp Giám đốc Học viện quản lý và hoạt động khoa học công nghệ của Học viện; tổ chức thực hiện và quản lý các lớp tập huấn các nhiệm vụ khoa học công nghệ và môi trường
+ Phòng Kế hoạch – tài chính: Có chức năng kế hoạch hoá và công tác kế hoạch chung; quản lý tài chính – kế toán; kiểm tra, giám sát, tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư, kế toán, thống kê, tài chính theo qui định của pháp luật và qui chế của Học viện
Trang 39+ Phòng Quản lý đào tạo: Tham mưu giúp Giám đốc Học viện tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD CBCC, viên chức ngành Xây dựng; cán bộ chính quyền đô thị các cấp; CBCC, viên chức tham gia quản lý và hoạt động xây dựng và các chức danh khác theo quy định của pháp luật; quản lý chất lượng đào tạo
+ Phòng Xúc tiến đào tạo: Tổ chức thực hiện việc xúc tiến ĐTBD; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch ĐTBD; nghiên cứu mở rộng thị trường ĐTBD
+ Khoa Hành chính và Pháp luật: Nghiên cứu, đề xuất xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và thực hiện ĐTBD về quản lý hành chính và pháp luật ngành Xây dựng; phổ biến pháp luật; thực hiện nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực ĐTBD về quản lý hành chính và pháp luật ngành Xây dựng
+ Khoa Quản lý đô thị: Nghiên cứu, đề xuất, xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và thực hiện các khoá ĐTBD về quản lý đô thị; nghiên cứu khoa học
và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐTBD theo phân công của Giám đốc Học viện
+ Khoa Quản lý xây dựng: Nghiên cứu, đề xuất, xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và thực hiện ĐTBD về quản lý xây dựng; nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ĐTBD về quản lý xây dựng
+ Trung tâm ngoại ngữ: Tham mưu đề xuất và tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD ngoại ngữ cho CBCC, viên chức trong và ngoài ngành Xây dựng; tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học; xây dựng chương trình, tài liệu; biên dịch, phiên dịch theo yêu cầu của Học viện
+ Trung tâm Tư vấn đầu tư xây dựng và phát triển đô thị: Có chức năng tư vấn đầu tư xây dựng và phát triển đô thị; nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ trong đầu tư xây dựng và phát triển đô thị; tư vấn và tham gia ĐTBD chuyên môn nghiệp vụ về quản lý xây dựng và đô thị
+ Trung tâm thông tin và thư viện: Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin toàn Học viện phục vụ các mặt công tác theo chức năng, nhiệm vụ của Học viện
+ Tạp chí Xây dựng và đô thị: Có chức năng tuyên truyền về khoa học quản
lý trong lĩnh vực xây dựng và đô thị; đầu tư xây dựng, tuyên truyền quảng bá
Trang 40thương hiệu của Học viện; giới thiệu công tác ĐTBD CBCC ngành Xây dựng; phản ánh những vấn đề về xây dựng đô thị hiện nay
+ Viện Hợp tác quốc tế: Tham mưu và trực tiếp thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế
+ Viện Kinh tế xây dựng và đô thị: Nghiên cứu khoa học, ĐTBD về kinh tế
và chiến lược phát triển trong lĩnh vực QLNN của Bộ Xây dựng; quản trị doanh nghiệp xây dựng
+ Trung tâm dịch vụ: Tổ chức cung ứng dịch vụ in sao tài liệu; phục vụ ăn trưa và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của cán bộ viên chức, học viên trong Học viện và ngoài xã hội Trung tâm có con dấu, có tài khoản tại kho bạc Nhà nước
và ngân hàng và uỷ quyền, phân cấp về tài chính kế toán của Giám đốc Học viện
+ Hai phân viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị miền Trung và miền Nam: Có chức năng nghiên cứu khoa học, dự án sự nghiệp và các hoạt động khác theo chức năng, nhiệm vụ của Học viện trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung và miền Nam
Với các chức năng nêu trên và được quy định bởi các nhiệm vụ cụ thể, các đơn vị thuộc HVCBXD từ nghiên cứu, xây dựng các chương trình, biên soạn tài liệu, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả ĐTBD, các kế hoạch xúc tiến mở rộng thị trường ĐTBD lĩnh vực xây dựng và đô thị, cung ứng các dịch vụ gián tiếp phục vụ nhiệm vụ ĐTBD, hợp tác quốc tế, thông tin quảng bá thương hiệu của Học viện Học viện đáp ứng nhu cầu ĐTBD cho mọi đối tượng CBCC quản lý về xây dựng và
đô thị; ĐTBD các chức danh trong ngành do pháp luật quy định Đặc biệt Học viện còn phối hợp với các cơ quan nhà nước và Học viện khác để không chỉ ĐTBD chuyên môn, nghiệp vụ mà còn bồi dưỡng lý luận chính trị, ĐTBD các ngạch công chức QLNN, ĐTBD cán bộ lãnh đạo quản lý của Bộ và cán bộ lãnh đạo quản lý đô thị ở địa phương cho các cấp chính quyền
2.1.3 Các yếu tố đảm bảo thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị
2.1.3.1 Nguồn nhân lực của Học viện