1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số BIỆN PHÁP góp PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG bồi DƯỠNG học SINH GIỎI THPT KHI GIẢNG dạy CHUYÊN đề “CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG mười NGA năm 1917

34 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 94,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do chưa nhận thức thấu đáo về bài tập lịch sử, chưa thường xuyên sử dụng bài tập hoặc còn gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống bài tập và sử dụng bài tập nên khidạy

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NINH BÌNH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG VĂN TUỴ

BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM 2020

TÊN SÁNG KIẾN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI THPT KHI GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ: “CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917”

Tác giả sáng kiến: 1 Thạc sỹ Vũ Thu Hương

2 Thạc sỹ Bùi Thị Thanh Vân

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

Chúng tôi ghi tên dưới đây:

năm sinh

Nơi công tác

Chức vụ Trình độ

chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

1 Vũ Thu Hương 07/07/1987 Trường

THPT chuyên Lương Văn Tụy

Giáo viên Thạc sỹ 30%

2 Bùi Thị Thanh

Vân 10/10/1982 Trường THPT

chuyên Lương Văn Tụy

Giáo viên Thạc sỹ 30%

3 Trần Thị Hòe 05/11/1987 Trường

THPT chuyên Lương Văn Tụy

Giáo viên Cử nhân 20%

4 Đinh Thị Thanh

Dung

21/10/1981 Trường

THPT chuyên Lương Văn Tụy

Giáo viên Thạc sỹ 20%

1 Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng

- Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến : “Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi THPT khi dạy học chuyên đề: Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917”

- Lĩnh vực áp dụng:

+ Giảng dạy chuyên đề “Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917” – phần Lịch sử thế giớihiện đại

Trang 3

+ Ôn thi học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi khu vực, học sinh giỏi Quốc gia và thi THPT quốc gia.

2 Nội dung

a Giải pháp cũ thường làm:

- Chi tiết giải pháp cũ:

Với bộ môn Lịch sử, nội dung ôn luyện phục vụ thi HSGQG hầu như bao quát toàn bộ chươngtrình cấp học bao gồm cả lịch sử Thế giới và lịch sử Việt Nam Trong chương trình lịch sử thếgiới cận đại, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa quan trọng Cuộc Cáchmạng này không chỉ có ý nghĩa sâu sắc với nước Nga mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc Cáchmạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở đầu thời kì lịch sử thế giới hiện đại; làm thayđổi cục diện chính trị thế giới; cổ vũ và để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cách mạng thế giới,trong đó có Việt Nam Dưới ảnh hưởng to lớn của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đãtìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam- độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, đưa đến sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 giúp cách mạng Việt Nam đi

từ thắng lợi này đến thắng lợi khác (Cách mạng tháng Tám 1945, kháng chiến chống Pháp

1945-1954, kháng chiến chống Mĩ 1954-1975…) Đây là một trong những vấn đề trọng tâm trong các

kì thi học sinh giỏi và ôn thi THPTQG

Tuy nhiên, do chưa nhận thức thấu đáo về bài tập lịch sử, chưa thường xuyên sử dụng bài tập

hoặc còn gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống bài tập và sử dụng bài tập nên khidạy “Chuyên đề: Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917” các Thầy cô giáo thường thựchiện một số phương pháp như sau:

+ Trong quá trình giảng bài mới, có thể đã áp dụng công nghệ thông tin để cung cấp những hìnhảnh sinh động… nhưng giáo viên chủ yếu dành thời gian cho thông báo, miêu tả, giải thích, ghibảng hoặc đọc cho học sinh chép bài Nếu có phát huy trí lực học sinh, gây sự chú ý các em, giáoviên cũng chỉ nêu câu hỏi đơn giản: “Tại sao trước cách mạng Tháng Mười, nước Nga được coi

là khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền chủ nghĩa đế quốc?”,“Trình bày hoàn cảnh, diễn biến, ýnghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917”, “Phân tích ý nghĩa của cách mạngTháng Mười Nga năm 1917 và cho biết công lao của Lê Nin đối với cuộc cách mạng này?”V…v…

+ Cuối giờ học, giáo viên căn dặn học sinh về nhà học bài và trả lời những câu hỏi trongsách giáo khoa

Trang 4

- Ưu điểm, nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục:

+ Ưu điểm: đảm bảo đựợc tiến độ thời gian, chương trình, giáo viên không mất nhiều thời

gian, công sức cho việc soạn bài và giảng dạy

+ Nhược điểm: không gây được hứng thú, không kích thích được khả năng tư duy, sáng

tạo của học sinh Hơn nữa, bên cạnh việc lĩnh hội kiến thức thì học sinh còn rất cần được rènluyện về khả năng độc lập làm việc, tinh thần và ý chí quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập

b Giải pháp mới cải tiến:

* Mô tả bản chất của giải pháp mới:

Với mong muốn nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông, sau khi tiếp cận với nhiều tài liệu và bằng thực tiễn dạy học chúng tôi đã đưa ra một giải pháp mới với

mong muốn cải thiện được tình hình Chúng tôi đã viết chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi THPT khi giảng dạy cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm

1917” với hy vọng có thể chia sẻ những kinh nghiệm về linh hội nội dung và tiến hành phương

pháp bồi dưỡng học sinh giỏi với các đồng nghiệp cùng các em học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập chuyên đề này

Thực hiện chuyên đề này, chúng tôi đã:

2.1 Xác định động cơ, hứng thú học tập cho học sinh

Xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động cơ đúng đắn trong học tập lịch sử.Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếp con người ta hoạt động Tuyệt đại bộ phận động

cơ của con người đều là biểu hiện cụ thể của nhu cầu Nhu cầu có thể biểu hiện dưới các hìnhthức như hứng thú, ý định, mong muốn Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức củacon người Ý định là một nhu cầu chưa phân hoá, chưa có ý thức rõ rệt, nó khiến con người mơ

hồ cảm thấy muốn làm một cái gì, nhưng chưa rõ vì sao mình định làm như thế và chưa rõ làmnhư thế nào Như vậy, bước thứ nhất của công việc dạy học lịch sử là làm thế nào khơi gợi đượchứng thú của học sinh đối với việc học tập, làm rõ mục đích học tập từ đó khơi gợi hứng thú học

Trang 5

tập của học sinh, khiến họ khát khao muốn được biết, kích thích tính tích cực học tập của học

sinh

Động cơ học tập môn lịch sử của học sinh phải được tạo ra bởi quyền lợi được hưởng của các

em (được khen thưởng, cộng điểm, vào đại học…) hoặc bằng sức mạnh của nội dung bài học

Không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham gia tích cực vào bài học Vì vậy

chỉ có thể nâng cao được chất lượng dạy học lịch sử ở trường chuyên nói chung, bồi dưỡng học

sinh giỏi sử nói riêng khi hình thành ở học sinh động cơ, thái độ học tập đúng đắn

2.2 Hình thành sớm ở học sinh những năng lực học và làm bài thi môn lịch sử

- Năng lực học là khả năng tự mình chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một cách có hiệu quả dưới sự

điều khiển, hướng dẫn của thầy Muốn vậy học sinh phải được trang bị những cơ sở mang tính

phương pháp luận nhận thức lịch sử Kiến thức lịch sử mà học sinh lĩnh hội là những kiến thức

đã được khoa học xác nhận và được ghi chép trong sách giáo khoa bộ môn Xuất phát từ đặc

trưng của kiến thức lịch sử, chúng ta cần hình thành ở học sinh những kỹ năng cơ bản sau:

+ Kỹ năng học, ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách hệ thống

+ Kĩ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

+ Kĩ năng làm bài thi môn lịch sử

- Để giúp học sinh hình thành các năng lực học và làm bài tốt môn Lịch sử nói chung, về Cách

mạng tháng Mười năm 1917 nói riêng, giáo viên có thể hướng dẫn các em sử dụng một số

phương pháp như sau:

+ Vận dụng phương pháp học theo “sơ đồ tư duy”, kết hợp với “từ khoá”

+ Xác định, liên hệ những sự kiện lớn của thế giới có tác động trực tiếp tác động Việt Nam

trong cùng thời kì.

+ Làm quen và ôn luyện thành thạo các dạng câu hỏi thường gặp trong đề thi khi hỏi về Cách

mạng tháng Mười Nga năm 1917.

- Khi bước vào kì thi hay kiểm tra, giáo viên cần nhắc nhở các em chú ý:

Thứ nhất, phải đọc và phân tích đề bài để hiểu yêu cầu và nội dung mà câu hỏi, bài tập đặt ra

Đây là công việc đầu tiên, không thể thiếu được để tránh việc xa đề, lạc đề, không phân phối đủ

thời gian cho bài viết

Thứ hai, phải xây dựng dàn ý để đáp ứng yêu cầu cơ bản của bài, giữ được sự cân đối giữa các

phần, chủ động được thời gian Dàn bài gồm các phần chủ yếu: Phần mở bài, phần thân bài và

phần kết luận

5

(7) + Các bên công nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền,

(6) + Hai bên trao trả tù binh và dân thường bị bắt

+ Hoa Kì cam kết

Trang 6

Thứ ba: Khi làm bài học sinh phải chú ý làm câu dễ trước, khó sau và cố gắng hoàn thành hếtmọi câu mà đề ra Trong khi viết phải chú trọng nhiều đến cách hành văn- dùng từ ngữ giản dị,trong sáng, đúng ngữ pháp, không viết sai chính tả, diễn đạt gọn, thể hiện rõ cảm xúc…

Để hình thành những kĩ năng học lịch sử nói trên, trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, giáoviên nên tập trung cho các em làm bài tập lịch sử dưới nhiều dạng khác nhau, kể cả kĩ năng trắcnghiêm, tự luận và thực hành

2.3 Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm các chủ đề hoặc bài tập lịch sử.

Trong thực tiễn giảng dạy, phương pháp này rất phù hợp và đem lại hiệu quả cao khi giảiquyết các vấn đề lịch sử mang tính chất tổng hợp, nâng cao cũng như phù hợp với trình độnhận thức của học sinh giỏi để các em có thể phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo cũngnhư các kĩ năng phân tích, lập luận bảo vệ ý kiến của mình, phát triển khả năng tự đánh giá vàđánh giá lẫn nhau

Khi tham gia thảo luận, các nhóm cùng trao đổi, hợp tác và học hỏi lẫn nhau, bổ sung kiếnthức cho nhau

2.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập ôn luyện cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực

Câu hỏi, bài tập cần luyện cho học sinh giỏi môn lịch sử cũng phải tuân thủ qui luật nhận thức

và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh:

Nhận biết, thể hiện khả năng nhớ, thuộc kiến thức, thường được hỏi bằng các từ: Nêu , Trình bày , Hãy kể

Thông hiểu, thể hiện khả năng phân biệt, so sánh, giải thích, chứng minh, thường được hỏi bằng các từ: Hãy chứng minh rằng , Vì sao ? Tại sao ? (có khi thay bằng: Hãy trình bày/giải thích nguyên nhân/ lý do ), Hãy so sánh (có khi thay bằng: Hãy nêu những điểm giống nhau, khác nhau )

Vận dụng, thể hiện khả năng tư duy cao hơn, khả năng đánh giá, phán xét, phân tích tổng hợp

có thể vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề Loại câu hỏi này thường dùng các từ Phân tích Nhận xét , Đánh giá

Các mức độ nhận thức lịch sử nói trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau.Không biết lịch sử diễn ra như thế nào thì cũng không thể hiểu, giải thích, đánh giá được lịch sử.Ngược lại, muốn giải thích, đánh giá, vận dụng được cũng phải trên cơ sở của biết lịch sử

Tóm lại, thông qua việc thực hiện 4 bước trên, chúng tôi đã:

Trang 7

- Khai thác rộng và sâu những kiến thức liên quan đến Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

qua đó giúp bản thân giáo viên nâng cao hiểu biết về nội dung kiến thức về Cách mạng Tháng Mười

- Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ học sinh ôn tập, củng cố vững chắc mảng kiếnthức về Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 trong chương trình lịch sử thế giới Từ đó, thônghiểu và vận dụng để nắm một số nội dung chuyên sâu mang tính bổ dọc, khái quát vấn đề; đồngthời có được cách đánh giá, nhìn nhận tác động trở lại đối với một số vấn đề lịch sử liên quantrong cùng giai đoạn hay các giai đoạn trước đó và kế tiếp Do vậy, học sinh sẽ nắm vững, hiểusâu, nhớ lâu cũng như có thể vận dụng linh hoạt hệ thống kiến thức đã học để thực hành các dạngbài tập nâng cao

- Rèn luyện một số kĩ năng học và làm bài thi học sinh giỏi để đạt kết quả cao như kĩ năng hệ thống hóa kiến thức theo sơ đồ, bảng biểu; kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp các sự kiện, hiện tượng lịch sử…

- Đặc biệt, sau khi đã cung cấp kiến thức, hướng dẫn phương pháp, trong quá trình dạy học, bồidưỡng học sinh giỏi, giáo viên phải tập trung cho học sinh làm bài tập lịch sử dưới nhiều dạngkhác nhau, kể cả kỹ năng trắc nghiệm, tự luận và thực hành, từ đó:

+ Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan

* Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:

- Dưới sự hướng dẫn có giám sát chặt chẽ, học sinh được cung cấp một cách có hệ thống và đầy đủ toàn bộ phần kiếnthức nền cơ bản cần có theo yêu cầu

- Giáo viên không độc thoại trên lớp trong quá trình giảng bài mới mà phải giành thời gian nhất định cho việc đưa ra và tổ chức học sinh tham gia giải quyết các loại bài tập, câu hỏi:

+ Bài tập, câu hỏi nêu vấn đề

+ Bài tập, câu hỏi gợi mở

+ Bài tập, câu hỏi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 8

- Dành khoảng thời gian phù hợp tại lớp để rèn tư duy, phản xạ nhanh nhạy trước những dạng bài tập,câu hỏi…; rèn kĩ năng giải nhiều dạng bài tập khác nhau, có thời gian để rèn luyện phát triển tư duy củahọc sinh để đáp ứng yêu cầu giải quyết những tình huống mới lạ trong các bài tập Đồng thời, phải nắm bắtchính xác khả năng của từng đối tượng học sinh từ đó có định hướng rõ ràng cho các em trong quá trìnhlĩnh hội tri thức cũng như rèn kỹ năng giải bài tập, có giải pháp điều chỉnh, bổ sung kịp thời những thiếu hụtcủa học sinh để có hiệu quả học tập cao nhất.

- Giúp học sinh tích cực chủ động tiếp cận nhanh chóng với công nghệ hiện đại cũng như mở rộng tầm nhìn,

sự giao lưu học hỏi đối với các đơn vị bạn Bên cạnh hiệu quả học tập còn rèn cho các em ý thức độc lập tựchủ và bản lĩnh học tập

3 Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được

* Hiệu quả kinh tế

- Giảng dạy kiến thức, tập huấn học sinh giỏi Quốc gia, bồi dưỡng học sinh giỏi mũi nhọn… lànhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ chính trị của trường THPT Chuyên, vì vậy rất khó để có thể quy đổi ra tiền,rất khó đánh giá một cách định lượng về hiệu quả kinh tế của việc hình thành kĩ năng giải bài tập chohọc sinh chuyên Sử nói riêng và học sinh THPT nói chung Tất nhiên nếu không được hướng dẫn để

có kĩ năng làm bài tốt, để mất ít thời gian mà hiệu quả lại cao, thì một em học sinh mỗi năm sẽ phải muakhoảng 10 cuốn tài liệu, trung bình mỗi cuốn khoảng 30.000đ, như vậy mỗi em một năm sẽ mấtkhoảng: 10 x 30000đ = 300.000đ, mỗi lớp khoảng 35 học sinh - một năm sẽ mất khoảng: 35 x300.000 = 10.500.000đ v.v

- Bên cạnh đó, đề tài còn mang lại một số hiệu quả khác, đó là:

+ Học sinh tiết kiệm được thời gian ở trên lớp để luyện nhiều dạng bài tập

+ Giáo viên tiết kiệm được thời gian soạn giảng về lý thuyết (đây là việc gây tốn nhiều thời gian nhất).+ Giảm kinh phí mời giáo sư để dạy những kiến thức nền cơ bản, ôn luyện thi…

2 Hiệu quả xã hội

- Sáng kiến này đã được nhóm tác giả triển khai thực nghiệm cho học sinh chuyên Sử khóa

2015 – 2018 (khóa 57), khóa 2016-2019 ( khóa 58), học sinh ôn thi đại học những năm gần

đây của trường THPT chuyên Lương Văn Tụy Hiệu quả mà sáng kiến này cùng với các

chuyên đề kiến thức khác nữa mang lại về mặt giáo dục, xã hội trước hết là kết quả thi đại học,thi học sinh giỏi các cấp của học sinh Trước khi thực hiện sáng kiến, các kết quả thi cũngtương đối cao, nhưng từ khi thực hiện sáng kiến các kết quả thi là vượt trội hơn rất nhiều

Trang 9

- Với cùng thời gian như khi tiến hành phương pháp cũ, hiệu quả học tập được nâng cao rõ rệt (Học sinhkhông chỉ nắm vững kiến thức nền cần có mà còn hiểu sâu sắc các vấn đề, biết vận dụng các kiến thức linhhoạt, sáng tạo từ đó phát triển năng lực tư duy).

- Học sinh được rèn luyện khả năng độc lập nghiên cứu để chiếm lĩnh kiến thức, đây chính là yếu tố quantrọng, là tiền đề phát triển năng lực của các em trong công việc sau này

- Nhờ việc tiếp cận và khai thác công nghệ thông tin, các em có thể bắt nhịp với thời đại và mở ra một tư

duy mới trong việc phát huy tiềm năng của mình trong quá trình học tập nghiên cứu tiếp theo

4 Điều kiện và khả năng áp dụng

Phương pháp đổi mới được đề cập đến trong đề tài không chỉ dùng cho tập huấn học sinh giỏiQuốc gia mà còn dùng để bồi dưỡng học sinh giỏi Khu vực, học sinh giỏi Tỉnh, luyện thi THPT Quốc gia…

Vì vậy, không chỉ áp dụng cho việc dạy học ở Trường Chuyên mà có thể áp dụng ngay với mọi trườngTHPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay trong giáo dục

Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàntoàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ

Ninh Bình, ngày tháng 5 năm 2020

Trang 10

PHỤ LỤC PHẦN NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

Phần I: Lựa chọn nội dung ôn tập khi dạy học phần Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.

1 Mục tiêu

- Hiểu được vì sao năm 1917 nước Nga tiến hành hai cuộc cách mạng.

- Quá trình chuyển biến từ Cách mạng tháng Hai sang Cách mạng tháng Mười Từ đó, rút rađược đặc điểm, tính chất của hai cuộc cách mạng này

- Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, những bài học kinh nghiệm củacuộc cách mạng này đến phong trào cách mạng thế giới, ảnh hưởng to lớn của nó đến phong tràogiải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam

2 Các vấn đề giảng dạy phần Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.

1 Hai cuộc cách mạng ở nước Nga năm 1917

a, Tình hình nước Nga trước cách mạng

Năm 1917 đã nổ ra hai cuộc cách mạng ở nước Nga ở nước Nga đó là cách mạng dân chủ tưsản tháng 2 và Cách mạng tháng Mười Nga Sở dĩ cách mạng nổ ra và giành thắng lợi của nướcNga năm 1917 là do nó có đầy đủ những khách quan và chủ quan thuận lợi

* Điều kiện chủ quan:

+ Mặt khác ở Nga vẫn tồn tại quan hệ sản xuất phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu

Trang 11

- Chính trị:

Nước Nga vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế lạc hậu- đứng đầu là Nga hoàng…

- Xã hội: Năm 1914, Nga hoàng đã đẩy nhân dân Nga vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.Khi chiến tranh nổ ra, nước Nga đã bộc lộ đầy đủ những mâu thuẫn của thời đại: nhân dân Nga

>< Nga hoàng, nông dân >< địa chủ, vô sản >< tư sản, tư sản >< phong kiến, đế quốc Nga >< đếquốc khác

→ Làm cho tình hình xã hội Nga trở nên sôi sục

* Điều kiện khách quan:

Nga ngày càng sa lầy, thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Trong bối cảnh đó, Nga ởtrong tình trạng bị khủng hoảng trầm trọng:

- Chính trị: thối nát

- Kinh tế: kiệt quệ

- Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt trong lòng nước Nga, đặc biệt mâu thuẫn giữanhân dân Nga với Nga hoàng

→ Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tạo khiến cho nước Nga trở thành khâu yếu nhất trong hệthống dây chuyền chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng nổ ra vàgiành thắng lợi

- Cuộc cách mạng Nga được sự chuẩn bị đầy đủ về mặt tư tưởng:

+ Đảng Bônsêvích là Đảng đi theo chủ nghĩa Mác, được cổ vũ bởi hệ tư tưởng cho một cuộccách mạng xã hội

+ Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, giai cấp tư sản Nga đã thỏa hiệp với phong kiến,đẩy nước Nga vào chiến tranh Trong bối cảnh đó, Đảng Bônsêvích đã xác định nước Nga phảitiến hành một cuộc cách mạng dân chủ tư sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích nhằm lật đổNga hoàng, giải quyết những mâu thuẫn trong lòng xã hội Nga, đưa nước Nga đi theo conđường xã hội chủ nghĩa

Trang 12

+ Trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ nhất, Lênin đã đề cao khẩu hiệu cách mạng: Biếnchiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng → Sự chuẩn bị về mặt tư tưởng thể hiện nghệthuật chớp thời cơ của Lênin.

→ Xuất phát từ những điều kiện khách quan và chủ quan nêu trên mà cuộc Cách mạng thángHai đã nổ ra và giành thắng lợi Cách mạng đã nổ ra và lật đổ chế độ Nga hoàng, tiến tới thànhlập chính quyền Xô viết

b, Cách mạng tháng Hai năm 1917

- Đến đầu năm 1917, tình hinh kinh tế- chính trị của nước Nga đã lâm vào tình trạng khủnghoảng trầm trọng, nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn sâu sắc Tình thế cách mạng đã hình thành.Quần chúng nhân dân do bị áp bức và phải chịu hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất, được

sự giáo dục và lãnh đạo kịp thời của Đảng Bônsêvich đã xuống đường tham gia cuộc Cách mạngtháng Hai năm 1917

- Ngày 23/2/1917 cách mạng bùng nổ bằng cuộc biểu tình của 9 vạn nữ công rát và lan rộng khắp thành phố, đến ngày 27/2/1917 phong trào nhanh chóng chuyển từ tổng bãicông chính trị sang khởi nghĩa vũ trang Chiếm các công sở, bắt giam các tướng tá, Bộ trưởngcủa Nga hoàng

nhânPê-tơ-rô-gơ Lãnh đạo: Đảng BônnhânPê-tơ-rô-gơ sêvíchnhânPê-tơ-rô-gơ đội tiên phong của giai cấp công nhân

- Hình thức đấu tranh: chuyển từ tổng bãi công chính trị sang khởi nghĩa vũ trang

- Lực lượng tham gia: công nhân, binh lính, nông dân (66.000 binh lính giác ngộ, đứng về phecách mạng)

- Kết quả: Nga hoàng Nicôlai II thoái vị, chế độ quân chủ chuyên chế sụp đổ Chỉ trong vòng 8ngày, quần chúng nhân dân đã vùng dậy lật đổ chế độ cũ, bầu ra các Xô viết đại biểu công nhân,nông dân và binh lính Giai cấp tư sản thành lập Chính phủ lâm thời Nga trở thành nước Cộnghòa

- Tính chất: là một cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, lãnh đạo cuộc cách mạng là giaicấp vô sản và động lực chủ yếu là công nhân, nông dân và binh lính Cách mạng tháng Hai đã lật

đổ chế độ phong kiến, tạo điều kiện để tiến hành cách mạng XHCN ở nước Nga

c) Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

- Sau Cách mạng tháng Hai, Nga tồn tại 2 chính quyền song song:

+ Chính phủ lâm thời (tư sản)

+ Xô viết đại biểu (vô sản)

Trang 13

- Đây là tình hình độc đáo của nước Nga sau Cách mạng tháng 2/1917, 2 chính quyền này đạidiện cho lợi ích của các giai cấp đối kháng tư sản - công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động.Ngày 27/2/1917 đại biểu các Xô viết đã họp và thành lập Xô viết Pêtơrôgrát, đảm nhận chứcnăng một chính quyền Tuy nhiên, lúc này chiếm đa số trong Xô viết là những người Men-sê-vích và xã hội cách mạng Những người này đã ủng hộ giai cấp tư sản thành lập Chính phủ lâmthời do Huân tước Lơvốp làm Thủ tướng Trước tình hình đó Lê-nin đã thông qua Đảng Bôn-sê-vích đề ra bản Luận cương tháng 4

- Đánh giá tình hình nước Nga sau Cách mạng tháng Hai, Lênin cho rằng: “Đặc điểm của tìnhhình hiện nay ở Nga là bước quá độ từ giai đoạn thứ nhất của cách mạng, là giai đoạn đã đem lạichính quyền cho giai cấp tư sản do trình độ giác ngộ và tổ chức của giai cấp vô sản còn thấp, tiếnlên giai đoạn thứ hai của cách mạng, là giai đoạn phải đem lại chính quyền cho giai cấp vô sản

và những tầng lớp nghèo trong nông dân”

→ Từ đánh giá tình hình trên, Lênin đã đề ra đường lối chuyển biến từ cách mạng dân chủ tưsản sang cách mạng XHCN

- Trước hết Đảng Bôn-sê-vích chủ trương đấu tranh hòa bình để tập hợp lực lượng Tháng7/1917 cuộc biểu tình hòa bình của công nhân, binh lính, thủy thủ Pêtơrôgrát bị đàn áp đẫm máu(400 người bị chết và bị thương) Phong trào cách mạng bị khủng bố mạnh mẽ, khả năng đấutranh hòa bình không còn, Đại hội lần thứ VI của Đảng Bôn-sê-vích Nga từ ngày 26/7  3/8 đã

xác định khẩu hiệu chính trị mới là” “Lật đổ nền chuyên chính của giai cấp tư sản bằng con đường khởi nghĩa vũ trang”.

- Đến đầu tháng 10/1917, không khí cách mạng đã bao trùm hết nước Nga Trước tình hình đó,Lê-nin bí mật từ Phân Lan trở về nước trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

- Diễn biến khởi nghĩa

+ Đêm 24/10/1917 khởi nghĩa bắt đầu, các đơn vị cận vệ đỏ đã chiếm được những vị trí thenchốt của thủ đô và bao vây cung điện Mùa Đông, nơi ẩn náu cuối cùng của Chính phủ tư sản + Đêm 25/10 (7/11) quân khởi nghĩa đã tấn công cung điện Mùa Đông: Vào lúc 09h40’ đêm25/10 đại bác của các đơn vị cận vệ đã bắt đầu nã đạn vào cung điện Mùa Đông Đến 1h50’ sáng26/10, cánh cửa gian phòng, nơi các Bộ trưởng ẩn nấp đã bị lật tung Người chỉ huy đội cận vệ

đỏ An-tô-nốp Ốp-sen-kô dõng dạc tuyên bố “Nhân danh ủy ban quân sự cách mạng Xô viết Pêtơrôgrát, tôi tuyên bố Chính phủ tư sản lâm thời đã bị lật đổ”.

Trang 14

+ Sau Pêtơrôgrát là thắng lợi ở Mátxcơva, đầu 1918 cách mạng giành được thắng lợi hoàn toàntrên đất nước Nga rộng lớn Cách mạng tháng Mười giành thắng lợi, chính quyền đã thuộc về taynhân dân.

- Tính chất Cách mạng tháng Mười Nga:

+ Đối tượng và mục đích của cách mạng: Lật đổ ách thống trị của phong kiến và tư sản Nga,giải phóng nhân dân và các dân tộc bị đế quốc Nga thống trị để xây dựng một xã hội mới tốt đẹphơn- Nhà nước xã hội chủ nghĩa

+ Giai cấp lãnh đạo: Giai cấp công nhân Nga- đội tiên phong là Đảng Cộng sản Nga

+ Lực lượng tham gia: Giai cấp công nhân, nông dân, trí thức tiểu tư sản và các dân tộc bị đếquốc Nga thống trị

+ Về phương hướng phát triển của cách mạng: Đưa nước Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội Saukhi cách mạng thành công, chính quyền cách mạng đã ra tuyên bố về quyền bình đẳng của cácdân tộc, tuyên bố giải phóng cho tất cả các dân tộc đã bị đế quốc Nga thống trị, trên cơ sở đó đưađến sự ra đời của Liên bang CHXHCN Xô viết

→ Cách mạng tháng Mười mang tính chất của một cuộc cách mạng vô sản Bên cạnh đó, cuộccách mạng còn thực hiện nhiệm vụ giải phóng cho các dân tộc bị đế quốc Nga thống trị nên nómang tính chất giải phóng dân tộc Như vậy, Cách mạng tháng Mười Nga vừa mang tính chấtmột cuộc cách mạng vô sản và còn mang tính chất giải phóng dân tộc

d) Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Mười

Cách mạng tháng Mười có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ với nước Nga mà còn đối với thếgiới:

- Cách mạng tháng Mười đã lật đổ ách áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và CNTB tồn tại

từ lâu ở nước Nga Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân dân lao động và các dân tộc bị ápbức đứng lên làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới không có người bóc lột người

- Cách mạng tháng Mười đã đập tan CNTB ở khâu yếu nhất của nó, làm cho CNTB không còn

là một hệ thống duy nhất bao trùm thế giới Thế giới đã phân chia thành hai hệ thống xã hội đốilập là xã hội TBCN và xã hội XHCN

- Cách mạng tháng Mười cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp côngnhân trong các nước tư bản, chỉ ra cho họ con đường chống CNTB

Trang 15

- Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười cũng đã thức tỉnh và cổ vũ phong trào giải phóng dântộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, Phi và Mĩ Latinh, chỉ ra con đường đấu tranhđúng đắn của họ là giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.

- Cách mạng tháng Mười đánh dấu thắng lợi của chủ nghĩa Mac- Lênin đối với các trào lưu tưtưởng cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cung cấp nhiều bài họckinh nghiệm quí báu cho phong trào cách mạng thế giới

Phần II: Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi khi dạy học phần Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.

1 Thực tiễn dạy học lịch sử ở các trường THPT chuyên hiện nay

Về thuận lợi: nhiều học sinh có thái độ tốt, hứng thú với học tập bộ môn, say mê sưu tầm cácloại tài liệu tham khảo bổ sung cho học tập, một số học sinh có năng khiếu bộ môn có điều kiện

để nghiên cứu chuyên sâu Số tiết học dành cho chuyên cũng nhiều hơn so với lớp không chuyên

đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh mở rộng kiến thức

Về khó khăn: Đa số học sinh chuyên năng lực học tập bộ môn không cao, học yếu các mônkhác nên chọn vào chuyên Sử- Địa, trình độ nhận thức trong một lớp không đồng đều Vì vậy, sovới các chuyên khác thì chất lượng học tập chuyên Sử- Địa thấp hơn Chưa có chương trình, sáchgiáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo, sách bài tập dành riêng cho chuyên, chưa có phònghọc bộ môn, phương tiện dạy học hiện đại…Giáo viên không được đào tạo, tập huấn để dạychuyên, chủ yếu dạy bằng kinh nghiệm thực tiễn đúc rút từ năm này qua năm khác

Giáo viên dạy trường THPT chuyên thường chịu áp lực lớn từ nhiều cuộc thi - thi học sinh giỏiQuốc gia, học sinh giỏi cấp tỉnh, học sinh giỏi khu vực hay học sinh thi đỗ vào Đại học, Caođẳng Đồng thời lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cấp quản lý, phụ huynh họcsinh về bộ môn

Muốn nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường phổ thông, cần có sựđổi mới tư duy dạy và học lịch sử, nhằm khắc phục quan niệm sai lầm cho rằng môn Lịch sử chỉ

là một “môn phụ”, “môn học thuộc lòng”, “không cần tư duy” Yêu cầu đổi mới về nội dung vàphương pháp xuất phát từ nguyên tắc tối cao cao phải đảm bảo chất lượng dạy học và quyền lợi

có nhiều tri thức của học sinh

Đổi mới nội dung dạy học lịch sử không phải là thay đổi nội dung các sự kiện lịch sử, điềuquan trọng là phải luôn luôn làm mới kiến thức cho học sinh, tạo ra tư duy lịch sử mềm dẻo, sựthấu hiểu và khả năng vận dụng các tri thức lịch sử, tạo ra phong cách học lịch sử là hiểu biết,

Trang 16

khám phá và sáng tạo Đổi mới về phương pháp không có nghĩa là từ bỏ những phương pháptruyền thống, mà là vận dụng những phương pháp đó, kết hợp với những phương pháp mới mộtcách nhuần nhuyễn hơn.

Điều quan trọng nhất là phải xác định mục tiêu cụ thể cho từng chương, từng bài, từng mục.Đây là cơ sở quan trọng nhất để lựa chọn hình thức tổ chức, phương pháp dạy học và phươngthức kiểm tra, đánh giá Tuỳ theo việc xác định mục tiêu và những hoàn cảnh cụ thể khác nhau

mà có sự vận dụng phương pháp tương thích: giảng bài, thảo luận nhóm, xeemina, nêu vấn đề,ngoại khoá…

2 Phương pháp và kĩ năng ôn luyện cho học sinh

2.1 Phải xác định động cơ, hứng thú học tập cho học sinh

Xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động cơ đúng đắn trong học tập lịch sử.Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếp con người ta hoạt động Tuyệt đại bộ phận động

cơ của con người đều là biểu hiện cụ thể của nhu cầu Nhu cầu có thể biểu hiện dưới các hìnhthức như hứng thú, ý định, mong muốn Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức củacon người Ý định là một nhu cầu chưa phân hoá, chưa có ý thức rõ rệt, nó khiến con người mơ

hồ cảm thấy muốn làm một cái gì, nhưng chưa rõ vì sao mình định làm như thế và chưa rõ làmnhư thế nào Như vậy, bước thứ nhất của công việc dạy học lịch sử là làm thế nào khơi gợi đượchứng thú của học sinh đối với việc học tập, làm rõ mục đích học tập Công việc này tập trungtiến hành trong bài mở đầu cũng như phần đầu của bài giảng trong suốt quá trình giảng dạy.Những người thầy có kinh nghiệm thường kết hợp hai yêu cầu đó Trong bài mở đầu, thầy phảigiúp học sinh thấy được mục đích và yêu cầu của toàn học kỳ, đồng thời biết nêu ra một số vấn

đề trong nội dung học tập có khả năng khêu gợi hứng thú học tập của học sinh, khiến họ khátkhao muốn được biết, kích thích tính tích cực học tập của học sinh

Động cơ học tập môn lịch sử của học sinh phải được tạo ra bởi quyền lợi được hưởng của các

em (được khen thưởng, cộng điểm, vào đại học…) hoặc bằng sức mạnh của nội dung bài học.Không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham gia tích cực vào bài học Vì vậychỉ có thể nâng cao được chất lượng dạy học lịch sử ở trường chuyên nói chung, bồi dưỡng họcsinh giỏi sử nói riêng khi hình thành ở học sinh động cơ, thái độ học tập đúng đắn

2.2 Hình thành sớm ở học sinh những năng lực học và làm bài thi môn lịch sử

- Năng lực học là khả năng tự mình chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một cách có hiệu quả dưới sựđiều khiển, hướng dẫn của thầy Muốn vậy học sinh phải được trang bị những cơ sở mang tính

Trang 17

phương pháp luận nhận thức lịch sử Kiến thức lịch sử mà học sinh lĩnh hội là những kiến thức

đã được khoa học xác nhận và được ghi chép trong sách giáo khoa bộ môn Xuất phát từ đặctrưng của kiến thức lịch sử, chúng ta cần hình thành ở học sinh những kỹ năng cơ bản sau:

Kỹ năng học, ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách hệ thống Lịch sử là cụ thể, các

sự kiện, hiện tượng lịch sử luôn luôn gắn liền với một không gian, thời gian, nhân vật nhất định,

mà tách các yếu tố đó ra khỏi sự kiện thì chúng ta không thể hiểu được lịch sử nữa Vì vậy mộttrong những yêu cầu quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh là giáo viên phải yêu cầu họcsinh thuộc các sự kiện lịch sử cơ bản

Ví dụ: Thông qua việc nắm chắc kiến thức cơ bản về tình hình nước Nga đầu thế kỉ XX, họcsinh sẽ nắm được những tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến sự bùng nổ cuộc Cách mạngtháng Hai năm 1917 ở Nga

Kĩ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Học sinh giỏi môn lịch sử là những học sinh

ham thích, say mê nghiên cứu và học tập môn lịch sử Các em phải tự mình phát hiện ra vấn đề

và tìm cách giải quyết vấn đề trong quá trình học tập Các em phải luôn luôn có ý thức tìm hiểu

để làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử và giải thích vì sao như vậy

Ví dụ: Khi học về những tiền đề dẫn đến sự bùng nổ hai cuộc cách mạng năm 1917 ở Nga, họcsinh sẽ lí giải được vì sao có nhận định nước Nga được coi là khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền

đế quốc chủ nghĩa

Kĩ năng làm bài thi môn lịch sử Thi học sinh giỏi hiện nay theo hình thức thi tự luận Xu

hướng đề thi học sinh giỏi là có nhiều câu (khoảng 7-8 câu) Trong thời gian có hạn (180 phút)đòi hỏi học sinh phải có những kĩ năng cơ bản trong việc nhận thức đề, phân phối thời gian, giảiquyết đề và trình bày bài

Để giúp học sinh hình thành các năng lực học và làm bài tốt môn Lịch sử nói chung, về Cáchmạng tháng Mười năm 1917 nói riêng, giáo viên có thể hướng dẫn các em sử dụng một sốphương pháp như sau:

Vận dụng phương pháp học theo “sơ đồ tư duy”, kết hợp với “từ khoá”

Trong quá trình làm bài, độ dài của bài thi không tỉ lệ thuận với điểm số của bài thi Khôngphải cứ viết thật dài là điểm cao, vấn đề cốt lõi là đủ ý và đúng ý Vì vậy, các em cần sử dụng sơ

đồ tư duy cả trong quá trình học và trước khi làm bài, phải phác thảo ra ý chính cần giải quyết,tránh bị thiếu sót ý

Ngày đăng: 18/05/2021, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môn giáo viên trường trung học phổ thông chuyên môn Lịch sử. Đà Nẵng, tháng 7 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môn giáoviên trường trung học phổ thông chuyên môn Lịch sử
2. Nguyễn Thị Côi: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy họclịch sử ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
3. Trần Bá Đệ (Chủ biên)- Lê Cung: Giáo trình lịch sử thế giới cận đại, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử thế giới cận đại
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
4. Trần Huy Đoàn, Trần Thuỳ Chi, Hướng dẫn ôn thi bồi dưỡng học sinh giỏi THPT, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn thi bồi dưỡng học sinhgiỏi THPT
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Vũ Quang Hiển (chủ biên)- Trần Huy Đoàn- Nguyễn Thị Hương- Hoàng Văn Khánh: Bộ đề môn Lịch sử chuẩn bị cho kì thi THPTQG, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đề môn Lịch sử chuẩn bị cho kì thi THPTQG
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
6. Vũ Quang Hiển (chủ biên)- Hoàng Văn Khánh: Ôn tập môn Lịch sử chuẩn bị cho kì thi THPTQG, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập môn Lịch sửchuẩn bị cho kì thi THPTQG
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
7. Nguyễn Mạnh Hưởng- Nguyễn Văn Ninh: Bồi dưỡng năng lực thi THPTQG qua đề tham khảo môn lịch sử, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực thiTHPTQG qua đề tham khảo môn lịch sử
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
8. Phan Ngọc Liên (chủ biên) - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi:Phương pháp dạy học Lịch sử - Tập 1,2, NXB Đại học Sư phạm, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Phan Ngọc Liên (chủ biên): Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Lịch sử, NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình, sáchgiáo khoa lớp 12 môn Lịch sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi - Trần Vĩnh Trường (Đồng chủ biên). Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử
Nhà XB: NXB Đại học Quốcgia Hà Nội
11. Trương Ngọc Thơi: Luyện thi THPTQG, đại học, cao đẳng và bồi dưỡng học sinh giỏi, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện thi THPTQG, đại học, cao đẳng và bồidưỡng học sinh giỏi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w