Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể sẽ gi p các tổ chức, cá nhân làm công tác uản lý di sản và các chủ thể văn hóa có thể nâng cao nhận thức về di sản và tầm uan trọng của nó đối
Trang 1
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
CÔNG TÁC KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2015
Trang 3MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do kiểm kê 2
2 Đối tượng và phạm vi kiểm kê 2
a) Đối tượng kiểm kê: 2
b) Phạm vi kiểm kê 3
3 Phương pháp kiểm kê 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 4
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT TỪNG LOẠI HÌNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 6
1 Nhận diện từng loại hình di sản văn hóa phi vật thể 6
a) Ngữ văn dân gian 6
b) Nghệ thuật trình diễn dân gian 8
c) Tập quán xã hội 10
d) Lễ hội truyền thống 27
e) Nghề thủ công truyền thống 30
f) Tri thức dân gian 32
2 Một số di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu………34
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG VÀ GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 39
1 Đánh giá thực trạng di sản văn hóa phi vật thể 39
2 Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể 43
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 46
1 Định hướng trong công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 46
2 Các giải pháp cụ thể trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê 47
Trang 4Những năm gần đây, do hiểu được tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước ta đã có chủ trương đầu tư kinh phí và chất xám cho hoạt động sưu tầm và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể Điều này được cụ thể hóa ở mục tiêu IV của Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa
Trong công tác quản lý văn hóa – xã hội, việc nắm bắt được thực trạng cũng như tiềm năng văn hóa nói chung, văn hóa phi vật thể nói riêng một cách
cụ thể và hệ thống sẽ đem lại căn cứ khoa học để các nhà quản lý có thể điều chỉnh, tác động tích cực đến quá trình xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân một cách hiệu quả hơn Riêng đối với thành phố Đà Nẵng, vấn đề văn hóa phi vật thể được đặt ra một cách cấp bách hơn Là một thành phố có tốc độ phát triển kinh tế, cũng như đô thị hóa nhanh nhất cả nước, Đà Nẵng đang phải đối mặt với nhiều mặt trái không mong muốn của sự phát triển là những biến đổi, tác động lớn đến diện mạo và cấu trúc của các giá trị văn hóa truyền thống
Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể sẽ gi p các tổ chức, cá nhân làm công tác uản lý di sản và các chủ thể văn hóa có thể nâng cao nhận thức về
di sản và tầm uan trọng của nó đối với các cá nhân và cộng đồng sở hữu, uản
lý ên cạnh đó, có kế hoạch bảo vệ khẩn cấp đối với các di sản văn hoá phi vật thể đang bị mất dần và lựa chọn các di sản tiêu biểu có giá trị để lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
2 Đối tượng và phạm vi kiểm kê
a) Đối tượng kiểm kê:
Đối tượng kiểm kê là những di sản văn hóa phi vật thể đang tồn tại trên địa bàn quận Sơn Trà, bao gồm các loại hình di sản được uy định tại Thông tư
số 2 1 TT- V TTDL ngày 3 tháng năm 2 1 của ộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Cụ thể như sau:
- Ngữ văn dân gian;
- Nghệ thuật trình diễn dân gian;
Trang 53
- Tập quán xã hội;
- Lễ hội truyền thống;
- Nghề thủ công truyền thống;
- Tri thức dân gian
Ưu tiên kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể đang bị mai một cần bảo vệ khẩn cấp
b) Phạm vi kiểm kê
Về phạm vi kiểm kê, chú trọng khảo sát điểm, lựa chọn các địa bàn được đánh giá giàu trữ lượng di sản văn hóa ở quận Sơn Trà để triển khai kiểm kê
3 Phương pháp kiểm kê
Phương pháp tiến hành kiểm kê: Thu thập, nghiên cứu và phân tích các tài liệu hiện có (sách, báo, tạp chí, chuyên luận ) liên uan đến từng loại hình văn hoá phi vật thể trên địa bàn; khảo sát điền dã; phỏng vấn, ghi chép, tư liệu hóa các thông tin thu thập được trong uá trình điền dã; thống kê, phân loại và phân tích tài liệu thu được tại thực địa từng địa phương (bảng, biểu phỏng vấn, băng ghi âm, ghi hình ); đồng thời tổng hợp, so sánh, đối chiếu, tư liệu hóa, hệ thống hóa, thư mục hóa các thông tin, các phiếu kiểm kê và các tài liệu, tư liệu có liên uan đã thu thập được
Trang 64
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM KÊ DI SẢN
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Với sự nỗ lực, cố gắng của toàn đội ngũ cán bộ kiểm kê và sự phối hợp chặt chẽ, nhiệt tình tham gia của cán bộ Ph ng Văn hóa – Thông tin các uận, cán bộ văn hóa các phường trên địa bàn quận Sơn Trà và đại diện chủ thể di sản văn hoá, công tác kiểm kê đã đạt được một số kết quả khả quan Tổng số phiếu
kiểm kê thu được là 28 phiếu Trong các đối tượng kiểm kê, có nhiều di sản văn
hóa tồn tại như là một phức thể văn hóa với nhiều yếu tố, nhiều loại hình di sản văn hóa cùng xuất hiện, dẫn đến việc phân chia về mặt loại hình có tính phức tạp Với những trường hợp đó, tùy vào tính chất trội của một mặt, một yếu tố nào đó, để chúng tôi xếp chọn vào loại hình di sản văn hóa phù hợp nhất
- Về loại hình ngữ văn dân gian
Ngữ văn dân gian là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân gian, nó vừa có tính bản địa sâu sắc, vừa có sự tiếp thu ảnh hưởng từ bên ngoài Loại hình này vốn hình thành, tồn tại thông qua hình thức truyền miệng và trí nhớ của nhân dân, nay chỉ còn rải rác trong dân gian Cùng với uá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, các câu ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện dân gian… đã bị mai một Ngoài ra, dân cư trên từng địa bàn quận không ổn định, có
sự di cư của các bộ phận người lao động từ nơi khác đến, gây ra sự xáo trộn và
mất dần di sản văn hóa phi vật thể Số phiếu thu được ở loại hình này chỉ có 03
phiếu
- Về loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
Nghệ thuật trình diễn dân gian là một trong những thành tố của di sản văn hóa phi vật thể Đó là hình thức hoạt động của con người thông qua âm thanh, ngôn ngữ, diễn xướng… để chuyển tải một thông điệp nào đó đến khán giả
Trong phạm vi kiểm kê, loại hình này thu được 02 phiếu, đó là: Hát bả trạo của
ngư dân ven biển và hát Bài chòi
- Về loại hình tập quán xã hội
Đây là loại hình mang tính phổ biến nhất của di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn quận Sơn Trà nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung, bao gồm các luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác Những phong tục tập quán xã hội này vừa mang những điểm chung vừa có nét đặc trưng riêng của vùng đất, con người nơi đây
Trong tập quán xã hội, tập trung chủ yếu vào nghi lễ cúng tế và các phong tục trong lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt của người dân lao động Số phiếu
thu được ở loại hình này là 17 phiếu
- Về loại hình lễ hội truyền thống
Trang 75
Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ hội truyền thống chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt làng xã, nó biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng Lễ hội được tổ chức định kỳ hàng
năm và diễn ra một cách khá trang nghiêm, sùng kính
Trên địa bàn quận Sơn Trà, chủ yếu là loại hình: Lễ hội tín ngưỡng ngư
nghiệp, số phiếu thu được về loại hình này là 03 phiếu
- Về loại hình nghề thủ công truyền thống
Số phiếu kiểm kê thu được về nghề thủ công truyền thống là 01 phiếu
- Về loại hình tri thức dân gian
Tri thức dân gian (c n được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương), đó là toàn bộ những hiểu biết của cộng đồng về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác được tích lũy trong một thời gian dài qua kinh nghiệm của bản thân cộng đồng đó Số phiếu kiểm kê thu được là
02 phiếu, trong đó tập trung vào tri thức y học cổ truyền và tri thức về nghề
biển
Trang 86
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT TỪNG LOẠI HÌNH DI SẢN
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1 Nhận diện từng loại hình di sản văn hóa phi vật thể
a) Ngữ văn dân gian
- Ch ện tình i t (Phường ân Thái, uận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng)
Chuyện kể rằng: Ngày xưa, vùng đất nơi đây c n rất hoang vu, dân chài sống ven biển Sơn Trà gặp rất nhiều khó khăn trong việc đánh bắt cá trên biển Nhiều chuyến ra khơi của bà con ngư dân trở về tay trắng Những con sóng dữ luôn lật úp từng chiếc thuyền khi ra khơi Chưa kể, mỗi năm bà con hứng chịu hàng chục cơn bão biển càn quét vùng quê nghèo Cuộc sống luôn diễn ra trong
sự nghèo khó, túng thiếu Trong làng có một gia đình trẻ, chồng làm nghề chài lưới, vợ ngày ngày lên n i đốn củi, chăm lo vườn tược Họ sống với nhau rất hạnh phúc, êm ấm Thế rồi, vào một ngày cũng như thường lệ, người vợ ra bến tiễn chồng cùng một số đàn ông trong làng lên tàu đi đánh cá Chồng đi được vài hôm, ở nhà, trời bỗng nhiên đổ mưa to, sấm chớp đùng đùng, những cơn gió làm ngọn sóng tung lên cao trắng xóa Đoán chuyện chẳng lành xảy ra với chồng, người vợ đội mưa gió ra bến đợi chồng về Nhưng nàng đợi ngày này qua ngày khác mà chồng vẫn không trở lại Trong nỗi đau khổ tột cùng khi người chồng không bao giờ trở về, nàng đã tìm đến cái chết Hiểu được nỗi đau khổ của nàng, bụt đã hiện lên nói rằng sấm chớp là lẽ vô thường của cõi nhân sinh và khuyên nàng nên bình tâm trở lại Sau đêm gặp bụt tại bãi biển, nàng trở về nhà, thu xếp quần áo rồi tìm đến ngôi chùa gần đó để đi tu Có một điều lạ là, từ ngày bụt xuất hiện trên bãi biển và nghe lại câu chuyện của người đàn bà trẻ, dân làng liên tục được mùa cá, cuộc sống yên ấm, mưa thuận gió hòa Biết ơn đôi vợ chồng trẻ, người dân đặt tên bãi biển nơi nàng đứng chờ chồng là Bãi Bụt và truyền tai nhau câu chuyện tình đẹp và thiêng liêng này
Xung quanh khu du lịch Bãi Bụt còn có một tích khác kể lại rằng, vào thời vua Minh Mạng, dân chài nơi đây đã phát hiện một tượng Phật trên bãi cát bèn lập am thờ tự Và rồi, Ngài Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn xuất hiện cứu con người vượt kiếp trầm luân, sóng yên biển lặng, dân chài yên ổn làm ăn Từ đó, nơi đây có tên gọi là Bãi Bụt, hay còn gọi là Cõi Phật giữa chốn trần gian Theo quan niệm của người dân, “bãi” tức là bãi biển, “ ụt” tức là Phật
Câu chuyện ẩn chứa giá trị nhân văn cao cả, đó là ngợi ca tình yêu, sự chung thủy và ước nguyện của nhân dân về cuộc sống yên ấm, mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, dân chài yên ổn làm ăn
- Ch ện tình Tiên Sa (Phường Thọ uang, uận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng)
ưa Sơn Trà là nơi có thắng cảnh tuyệt đẹp và ngày nào các nàng tiên cũng xuống trần gian để tha hồ ngắm nhìn n i đồi hùng vĩ, biển xanh bao la, say
Trang 97
sưa nghe tiếng chim kêu, dừng chân sát bãi biển để nghe sóng vỗ, dõi theo cánh bay của những con chim yến đi làm tổ, hướng về các bờ đá chênh vênh, thăm những con suối thơ mộng bên chân n i, nước triều lên xuống đều đặn hàng triệu năm bào m n và lau sạch những tảng đá chồng chất ven bờ, ngắm nhìn những bãi cát v ng uanh bán đảo sạch sẽ và mịn màng… Khi đã thưởng thức mê say
vẻ đẹp của Sơn Trà các nàng tiên cởi những đôi cánh của mình ra để trên bờ, trên những ghềnh đá và đắm mình xuống dòng xanh, mát lạnh của biển, các nàng nô đùa với cảnh thiên nhiên sông nước Khi chiều về các nàng tiên đắm say, mê mẩn cảnh trần gian lưu luyến không muốn về
Có một chàng trai chài lưới mình trần, ngực đỏ, khi nhìn thấy các nàng tiên tắm, trong lòng cảm thấy xôn xao, rạo rực Chưa bao giờ trong đời, người thanh niên này lại thấy những người phụ nữ đẹp đến như vậy và cứ thế khi chiều
về, chàng lại ra nấp sau các ghềnh đá để lén ngắm nhìn các nàng tiên tắm và anh
đã nghĩ cách chờ l c các nàng tiên đang say sưa nô đùa, anh vội lấy một đôi cánh dấu vào hang đá Đến lúc mặt trời sắp lặn, các nàng lắp đôi cánh vào để bay về trời, chỉ còn một nàng tiên không bay về được vì không tìm ra đôi cánh của mình, đành phải ở lại với trần gian, với chàng trai chài lưới và hai người sống với nhau rất hạnh phúc
Sau một thời gian sống hạnh phúc bên nhau, một hôm, nàng được Ngọc oàng cho người đến báo rằng nàng phải trở về với Thiên đình, nếu không, Ngọc Hoàng sẽ không để cho trần gian yên ổn Tin đã được truyền đi nhưng chờ mãi vẫn chưa thấy con trở về, Ngọc oàng đã thật sự nổi giận Ngài cho sấm chớp, bão giông, làm cho hạ giới đổ nát, điêu tàn Lo sợ trước cơn thịnh nộ của
vua cha, nàng tâm sự với chồng “Em là tiên, chàng là người trần tục, chúng ta
không thể ở mãi bên nhau được Em phải trở về tiên giới theo lệnh vua cha, nếu không chàng và tất cả trần gian sẽ phải chịu nhiều tai ương” Dù không muốn
chia xa nhưng rồi nàng cũng phải trở về với trời Chàng đau khổ, nhớ thương vợ không nguôi, ngày ngày ra ngồi bên tảng đá chờ đợi người vợ của mình trở lại Chờ mãi, chờ mãi đến khi sức tàn lực kiệt, chàng hóa thành tảng đá rất đẹp, vẫn đứng đợi chờ mãi không thôi Từ đó, trần gian trời yên biển lặng Để tưởng nhớ đến mối tình chung thủy của hai người và tạ ơn nàng tiên đã hy sinh hạnh phúc của mình để mang lại cuộc sống thanh bình, sung t c, người ta đã lập làng, đặt tên là Vĩnh Yên (sau này đổi thành Mân Quang), xây một am thờ bên tảng đá gọi là Am Bà
Chuyện tình Tiên Sa là câu chuyện tình rất đẹp và lãng mạn thể hiện tình yêu chân thành, mộc mạc của chàng trai chài lưới với tiên nữ trên trời Tuy rằng, câu chuyện được sáng tạo theo tâm thức dân gian mang nhiều đường nét hư cấu huyền ảo, phần nào thỏa mãn trí t m của người dân đối với thiên nhiên xung uanh mình, song đó cũng chính là khát vọng về hạnh phúc lứa đôi, ước nguyện
về cuộc sống ấm no, bình yên, hạnh phúc của người dân nơi đây
Trang 10Cô con gái của ông, ngày càng lớn khôn xinh đẹp và hiếu hạnh Cuộc đời của cha con ông Chài tuy sống đạm bạc đơn côi, nhưng rất tôn trọng đạo lý can thường Tình phụ tử, lễ giáo và hiếu hạnh luôn được đề cao, gắn bó Một hôm, đang ngồi trong lều chờ cha đánh lưới trở về, trời bỗng nổi giông tố sấm sét, mưa tr t xuống xối xả Bị mưa ướt gió lạnh, ông Chài vội vàng về lều Ngồi trong lều thấy cha ướt lạnh run rẩy, động l ng thương cha, bất chấp mưa to gió lớn, cô liền vụt chạy ra dìu cha Trước hai chuyển động ngược chiều, cô con gái ông Chài từ trên đồi chạy xuống, ông Chài bị trượt ngã chồm đến trước, bất ngờ tay ông chạm mạnh vào “nhũ hoa” con gái mình và làm s t n t cài, để phô bộ ngực nõn nà của đứa con gái yêu quý của ông Khi về nhà ngồi nhìn con mình, ông Chài vô cùng xấu hổ và day dứt Ông bèn nói dối với con gái rằng ông lên đồi có công chuyện Cô con gái chờ mãi không thấy ông trở lại lều, bèn đi tìm cha, thì ôi thôi, thấy cha cô đã đập đầu vào gốc cây chết thê thảm Đau đớn tột cùng, cô ôm cha vào lòng khóc than khôn xiết
Sau đó không lâu, người ta không còn thấy cô có mái tóc dài mượt mà,
mà thay vào đó đầu cô trùm kín bởi chiếc mũ vải Và cũng kể từ đấy, biền biệt không thấy cô trở lại viếng mộ cha Cảm động và thương xót cha con ông Chài, người dân quanh vùng đã lập miếu thờ tại nơi ông mất Miếu này hiện nay vẫn
c n trên n i Sơn Trà
Sự tích miếu ông Chài, đề cao những truyền thống tốt đẹp vốn có từ bao đời của ông cha ta, đó là: tình phụ tử, lễ giáo, hiếu hạnh và sự gắn bó
b) Nghệ th ật trình diễn dân gian
- Hát bả trạo của ngư dân ven biển (Phường Mân Thái, quận Sơn Trà,
Thành phố Đà Nẵng)
Hát bả trạo là hình thức diễn xướng dân gian xuất phát từ tín ngưỡng thờ
cá ông (Đại Đức Ngư ông) của ngư dân ven biển “ ả” là nắm chắc, “trạo” là mái chèo át “bả trạo” là hát vững tay chèo theo động tác chèo thuyền Hát bả trạo c n được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: hát chèo bả trạo, chèo cầu ngư, chèo cạn, h rước Ông
Hình thức diễn xướng này được tổ chức theo tục lệ hàng năm trong lễ hội Cầu ngư, hoặc trình diễn nhân dịp đưa tang cá Ông Đây là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian mang tính nghi lễ của ngư dân ven biển
Trang 119
- Đội hát bả trạo, gồm có:
+ Tổng mũi (tổng thuyền): Đứng trước mũi thuyền, người chỉ đường, hai
tay cầm cặp sanh để gõ chỉ huy đội hát bả trạo từ đầu đến cuối buổi diễn
+ Tổng khoang (tổng thương): Đứng ở khoang thuyền, khi thuyền neo lại thì canh gác, tay cầm cần câu và gàu tát nước
+ Tổng lái (tổng hậu): Đứng cuối đuôi thuyền, hai tay nắm chèo lái để
điều khiển con thuyền đi đ ng hướng
Trước năm 1975, trang phục của ba ông Tổng rất đơn giản, chỉ là áo dài đen, uần trắng, chân đi tất Hiện nay, để buổi biểu diễn trở nên sống động, trang phục cũng mang nhiều màu sắc hơn Ông Tổng mũi: trang phục áo dài màu xanh, cổ tay bóp màu tím, lưng thắt dây màu tím, quần tím, đầu đội mão, chân quấn xà cạp, đi giày vải Ông Tổng khoang: mặc áo ngắn màu xanh nước biển viền cổ trắng xanh, lưng thắt dây màu xanh, quần màu xanh nước biển, chân quấn xà cạp, đi giày vải, đầu đội nón lá Ông Tổng lái: đầu đội mão, áo dài màu tím nhạt, viền áo màu xanh nước biển, lưng thắt dây màu xanh nước biển, quần dài màu tím, chân quấn xà cạp, mang giày vải Khuôn mặt của ba ông Tổng được vẽ như trong hát Tuồng
+ Con trạo: gồm 12 đến 1 người, tùy theo biên chế của từng địa phương Trước năm 1975, con trạo thường là thanh niên còn trẻ, từ 17 đến 20 tuổi, có sức khỏe, chưa vợ Hiện nay, con trạo là các em nữ, độ tuổi từ 13 đến 15 tuổi Con trạo mặc áo xanh lá cây, đầu đội nón lá, lưng thắt đai xanh, chân mang xà cạp,
tay cầm mái chèo dài 1,2m sơn đỏ, vàng
Trong buổi biểu diễn, ông Tổng mũi sử dụng cặp sanh điều khiển cả đội Theo hiệu lệnh, các con trạo có sự phối hợp nhịp nhàng, các con trạo nghiên mình tư thế giống như đang chèo thuyền, vừa hát vừa múa mái chèo Ba ông Tổng thì xướng theo các làn: thán, lụy, ngâm, bình thơ, nam ai C n các tay chèo thì xô theo hiệu lệnh của ông Tổng
- Dàn nhạc cụ biểu diễn gồm có: trống, chiêng, kèn, đàn c , sênh
* Hát bả trạo trong lễ hội Cầu ngư, diễn ra theo trình tự sau:
- Trong lễ Nghinh thần, còn gọi là lễ rước thần Nam Hải về tham dự lễ hội Cầu ngư, sau khi ba vị chủ tế thực hiện xong nghi lễ, đội hát bả trạo theo hiệu lệnh tiếng sênh của Tổng mũi tiến vào biểu diễn Nội dung của buổi diễn là
ca ngợi công đức của Ngư ông và nghinh Ông về tham dự lễ hội cùng ngư dân Sau đó, đội hát tham gia vào đội hình rước Ông về tham dự lễ Cầu ngư
- Khi lễ tế chính vừa kết thúc, là chương trình nghi lễ của đội hát bả trạo Ông chánh tế đứng lên niệm hương xin phép cho đội hát bả trạo vào trình diện Sau khi 3 ông Tổng thắp hương làm lễ, đội hát theo hiệu lệnh bằng tiếng sênh của Tổng mũi, chạy xoắn ốc ra giữa sân, mái chèo dựng đứng sắp thành 3 hàng dọc, 3 ông Tổng đứng hàng giữa theo vị trí: Tổng mũi đứng đầu, Tổng khoang
Trang 1210
đứng giữa, Tổng lái cuối cùng, con trạo đứng hai bên, tạo thành hình chiếc thuyền giữa biển khơi Tiếng sanh của Tổng mũi gõ 2 tiếng vang lên, toàn đội quỳ lạy Ông 3 lạy Nội dung của buổi biểu diễn có kịch bản rõ ràng, gồm 3 đoạn: Ra khơi, bủa lưới đánh cá; Thuyền gặp bão tố bị tai nạn được Ông cứu giúp; Kể về công đức của Ông và cầu mong Ông luôn cứu gi p ngư dân bình an
Nội dung hát bả trạo trong lễ Cầu ngư nhằm ca ngợi công đức của cá Ông đối với ngư dân hoặc mô tả quá trình lao động vất vả của ngư dân giữa biển
khơi, đồng thời ca ngợi sự giàu có của biển, sự đoàn kết của bạn chèo vươn tới
cuộc sống ấm no đầy đủ
át bả trạo gắn liền với lễ Cầu ngư cũng như tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông của ngư dân ven biển Đây cũng là một hình thức thể hiện tín ngưỡng của cư dân vạn chài đối với đức Ngư Ông, có tác động sâu sắc đến yếu tố an dân trong hành nghề đi biển và niềm tin trong sự an cư lạc nghiệp của cộng đồng vạn chài
) Tập q án x hội
ột lễ tang ma có đầy đủ các nghi lễ chính như: Khâm liệm, thần phục, di uan, hạ huyệt….Các vùng Thọ uang, Nại iên Đông và n ải Tây chỉ khác nhau về một số hình thức và uan niệm:
Khi gia đình có người mất thì phải cử người đi xem thầy để chọn giờ tốt, ngày tốt khâm liệm, động uan, thần phục, di quan và hạ huyệt em được ngày giờ rồi báo với chính quyền địa phương Chính uyền sẽ họp toàn dân làng để phân công trách nhiệm phục vụ việc tang lễ
Gia đình nhờ (hoặc thuê) một người chuyên liệm xác để liệm cho người
đã mất Lúc liệm để 7 hạt gạo 7 hạt muối vào miệng (nếu người mất là đàn ông) hoặc 9 hạt gạo 9 hạt muối (nếu người mất là đàn bà) Có l c người ta bỏ gần người chết 50 hoặc 100 ngàn tiền thật coi như là lộ phí đi đường cho người đó
Từ l c người đó mất đến lúc khâm liệm phải che bàn thờ tổ tiên trong nhà lại Sau khi triệu tổ xong mới mở và thắp hương trên bàn thờ Sau đó, những người đại diện làng đứng ra tổ chức lễ cúng cáo Thành hoàng làng ở đình
Từ lúc liệm cho đến khi động uan, người ta thắp dĩa dầu dưới 4 chân giường (dưới uan) Người chết đầu uay vào trong, chân uay ra ngoài (người chết bất đắc kì tử thì ngược lại) lúc di quan mới uay đầu đi ra trước với quan niệm là để người chết nhìn lại nhà và người thân Người chết khi liệm mặc áo trắng vải thô, cột hai cẳng chân, bụng (có cả 2 tay) lại với nhau Bên trong quan tài để trà, bông gòn hoặc đất ở bên trong Bên ngoài quan, hai phần đầu đuôi dùng ba vòng lạt dẻo cột lại và có đóng néo
L c di uan, đập vỡ một hủ sành hoặc một tràng pháo nổ (xưa) hoặc tạt một ca nước vôi từ trong nhà (nơi để uan) ra Người dân quan niệm làm như vậy để hồn người chết đi theo xác Di quan có ba lần nghỉ giữa đường (nếu nghỉ
ở địa phận làng khác thì phải cúng tế độ trung, còn nếu nghỉ ở địa phận làng
Trang 1311
mình thì không cúng) Đến huyệt, đặt quan xuống nghỉ, đ ng giờ thì hạ huyệt
Ba ngày sau thì mở cửa mã
Nhạc cổ dùng trong tang lễ có thể là của làng hoặc thuê từ làng khác Âm công: do làng sắp đặt
Người mới chết không được thờ chung với bàn thờ tổ tiên mà thường được lập một bàn thờ riêng Đến hết 49 ngày, mới làm lễ rước bát hương lên bàn thờ tổ tiên Có nơi tập tục lại uy định sau 100 ngày, thậm chí có những gia đình lại để sau giỗ đầu mới rước bát hương người mới mất lên bàn thờ tổ tiên
Hằng ngày, tính từ ngày đã an táng xong, người nhà đều đặn thắp hương, cơm, canh vào các bữa chính, trước khi gia đình ăn cơm, hoặc những món ăn mà lúc còn sống người chết thích ăn, mời người chết về cùng hưởng thụ
Lễ tang ma là sự thể hiện tình cảm của cộng đồng làng xã, của người thân trong gia đình đối với người mất Đối với người sống, lễ tang ma có sự gi p đỡ, giúp sức của cộng đồng người dân sống trong khu vực đó Đó là tình đoàn kết, gắn bó, mang tính qua lại
- Tập t ư i h i ở Sơn Trà (Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Dựng vợ gã chồng là một vấn đề trọng đại của cuộc đời mỗi con người Chính vì vậy, mọi người ai cũng coi trọng và tuân thủ theo những kinh nghiệm
từ trước đến nay của ông bà đi trước, nhằm cầu mong điều may mắn, niềm vui, hạnh phúc
Sau khi bàn bạc kĩ lưỡng, gia đình nhà trai đến chơi nhà gái và xin phép ngày nào đó gia đình nhà trai sang nói chuyện cưới xin Đ ng ngày, nhà trai mang sang 1 chai rượu, 1 dĩa trầu cau bàn bạc chọn ngày, lễ vật như thế nào…
ột số nhà muốn đơn giản hoặc do điều kiện gia đình khó khăn thì có thể gộp
cả đám cưới và đám hỏi vào cùng 1 ngày Gia đình nhà trai đưa cho cô dâu tương lai một số tiền nhất định để mua sắm áo uần và nữ trang
Đến ngày cưới ngoài các công việc phụ như rạp, âm nhạc, mời họ hàng, bạn bè… thì uan trọng nhất vẫn là lễ xin dâu và rước dâu về nhà chồng Nhà trai cử 1 số người đến rước dâu ở nhà gái, số người đi phải chẵn và không uan niệm 1 cặp phải là 1 nam 1 nữ, mà có thể là 2 nam hoặc 2 nữ Những người đi xin dâu là họ hàng thân thiết của ch rể, nhất thiết phải có cha Nếu cha mất hoặc bị bệnh tật không đại diện được thì ch hoặc bác hoặc ông nội, ông ngoại của ch rể thay mặt Người này dẫn đầu đoàn xin dâu và có trách nhiệm mở lời xin, đồng thời giới thiệu vị trí những người đi cùng nhà gái rõ Những người khác không yêu cầu phải song toàn nhưng nhất thiết không bị tàn tật
Lễ vật xin dâu gồm 5 khay, trên có phủ vải đỏ, bao gồm: trầu, rượu, bánh, chả nem, trà Tất cả phải đủ đôi chứ không được lẻ
Sau khi giới thiệu 2 bên gia đình, đ ng giờ thì rước dâu Người dân ở đây uan niệm cô dâu mang bầu trước khi cưới thì không được đi vào nhà bằng cửa
Trang 1412
chính mà bằng cửa phụ và không được thắp hương trên bàn thờ tổ tiên a mẹ
cô dâu sẽ đến nhà trai sau khi đoàn dẫn đã rước dâu về nhà trai
Sau khi làm lễ c ng bái gia tiên, ch c rượu mọi người, hôn lễ coi như kết
th c a ngày sau, cô dâu cùng chồng mới cưới về lại mặt ba mẹ, lễ vật mang theo là trầu, rượu, bánh trái Trường hợp ở xa thì cô dâu, ch rể được miễn “lại mặt”
Đám cưới ngày nay thường diễn ra ở nhà hàng ọi thứ có sẵn và thủ tục hết sức đơn giản Vì vậy, lớp trẻ ngày nay, ít biết đến các nghi thức cưới hỏi truyền thống Đó là do sự phát triển kinh tế kéo theo sự giao lưu văn hóa làm thay đổi uan niệm của người dân
- Nghi thức truyền thống ình làng Tân Thái (Làng Tân Thái, phường
ân Thái, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Đình Tân Thái thuộc khối Tân n, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, là
ngôi đình cổ ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử và là nơi sinh hoạt văn hóa của nhân dân địa phương Đình là nơi thờ phụng Thành hoàng cùng các vị tiền hiền và cũng nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương
Hằng năm, vào ngày mồng 1 tháng Chạp là ngày Tảo mộ Tiền nhân, ngày
20 tháng 6 âm lịch dân làng tổ chức lễ cầu an tại đình
Trước khi tổ chức lễ cầu an, mọi công tác về người, địa điểm, lễ vật, thời gian… đều được chuẩn bị kĩ lưỡng Kinh phí do dân làng đóng góp Lễ cầu an lớn hay nhỏ tùy vào kinh phí đóng góp hằng năm
Trước một ngày, tập trung cúng và thắp hương ở đình để mời thành hoàng bổn xứ về dự Sau khi mọi công tác chuẩn bị về rạp, người, âm thanh, ban nội trợ … xong xuôi thì sáng ngày 20, khoảng giờ, lễ tế và cầu an sẽ bắt đầu
Ông chủ tế (do dân bầu) đứng ra chịu trách nhiệm c ng bái và đọc văn
tế ài văn tế này do một người cao niên trong làng chuyên việc soạn văn tế soạn ra Nội dung của nó là cầu mong sự chứng giám của thần linh, báo cáo tình hình làng xã và mong một vụ mùa bội thu, sức khỏe dồi dào, xóm làng yên ổn Nếu năm nào tổ chức lễ lớn thì sẽ có sự góp mặt của đội ngũ học trò gia lễ Nhạc
cổ như trống cái, chiêng (chinh), lệnh (thanh la) của làng đã có sẵn và sẽ do người trong làng đánh C n các loại nhạc cụ như kèn, trống nhỏ… phải thuê ở nơi khác đến
Lễ vật dâng cúng thần bao gồm heo, gà, vịt, hương hoa… Lễ vật do làng mua sống về và tự làm để không bị ô uế
Nghi lễ truyền thống đình làng Tân Thái đã trở thành tín ngưỡng văn hoá
ở làng uê, yếu tố tâm linh từ ngàn xưa không thể tách khỏi cộng đồng sinh hoạt làng xã Đây là một cách để ông cha ta kể lại cho con cháu nguồn gốc, lịch sử, cũng như các giá trị văn hóa, xã hội của làng ơn nữa đây c n là dịp để nhân
Trang 1513
dân trong làng thể hiện sự đoàn kết, gắn bó, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông ta để lại
- Nghi thức truyền thống lăng Âm linh Mân Thái (Làng Tân n,
phường ân Thái, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Lăng Âm linh phường ân Thái được xây dựng năm 19 3 là nơi thờ những chiến sĩ vô danh đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, và những người chết biển vô danh Tại đây, hằng năm người dân làng Tân Thái, Cổ Mân (xưa) và Tân n, Tân Thái, phường ân Thái (ngày nay) đều tổ chức các hoạt động lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng biển Sơn Trà như: Lễ cầu an nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; đồng thời cũng là dịp để tưởng nhớ đến những công lao của các anh hùng liệt sĩ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng lăng Âm linh
Hằng năm, vào ngày 15 tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cúng tại lăng
âm linh Kinh phí do nhân dân đóng góp Lễ cúng lớn hay nhỏ tùy vào kinh phí đóng góp hằng năm
Phần nghi lễ gồm:
- Lễ Nghinh thần: Sáng sớm ngày 15/3, những người trong ban tế lễ, đi nghinh rước các vị thần hoàng bổn xứ về tại lăng Gồm lễ nghinh tại bãi Bắc và Nghê, nghinh các sở tại địa phương, nghinh à bá
- Lễ Vọng và lễ tế chiến sỹ
- Lễ Chánh tế: Có học trò diễn lễ, có chánh tế và bồi tế, đọc văn tế có hô, xướng đi nhịp nhàng theo đội hình Nhạc cổ như trống cái, chiêng (chinh), lệnh (thanh la) của làng đã có sẵn và sẽ do người trong làng đánh C n các loại nhạc
cụ như kèn, trống nhỏ… phải thuê ở nơi khác đến Thời gian cúng tế khoảng 1 tiếng rưỡi Lễ vật dâng cúng tại lăng bao gồm heo, gà, vịt, hương hoa… Lễ vật
do làng mua sống về và tự làm để không bị ô uế Ông chủ tế (do dân bầu) đứng
ra chịu trách nhiệm làm lễ và đọc văn tế ài văn tế này do một người cao niên trong làng chuyên việc soạn văn tế soạn ra Nội dung của nó là cầu mong sự chứng giám của thần linh, báo cáo tình hình làng xã và mong một vụ mùa bội thu, sức khỏe dồi dào, xóm làng yên ổn và tưởng nhớ đến những công lao của các anh hùng liệt sĩ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng lăng Âm linh
- Lễ xây chầu – hát lễ (hát Tuồng cổ): Diễn ra trang nghiêm, người được chọn xây chầu phải là người song toàn, giờ xây chầu cũng phải chọn giờ tốt Sau
lễ xây chầu là biểu diễn tuồng cổ, hát phúc, lộc, thọ
- Lễ tạ: Đốt văn tế, sau đó chủ lễ và các lễ sinh cùng ban tế lễ, dân làng thắp hương và bái
Nghi lễ truyền thống tổ chức tại lăng âm linh đã trở thành tín ngưỡng văn hóa, yếu tố tâm linh của cộng đồng làng ngư nghiệp nơi đây
Trang 1614
- Nghi thức truyền thống ình làng Cổ Mân (Làng Cổ ân, phường
ân Thái, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Vào thế kỷ 17, khu vực Cổ ân là vùng đất cát bằng phẳng, các bậc tiền nhân đã dừng chân tại đây định cư và lập nghiệp Đình làng Cổ ân được xây dựng bằng phên tre mái lá để có nơi thờ tự những vị thần linh, cầu mong trời đất cho mưa thuận gió hòa, sản xuất phát triển Ngôi đình là nơi các họ tộc, nhân dân trong làng tham gia sinh hoạt Qua thời gian, ngôi đình làng được xây dựng, trùng tu lại bằng vật liệu kiên cố: gạch, đá, ngói, vôi, cát, sạn, mật đường Đây
c n là địa điểm thuận lợi để cán bộ cách mạng hội họp, triển khai xây dựng cơ
sở cách mạng trong những năm chống Pháp và chống Mỹ Đình làng Cổ Mân là một trong tám ngôi đình ở khu vực phía đông sông àn thường gọi khu Đông Với ước nguyện cầu mong trời đất cho mưa thuận gió hòa, sản xuất phát triển, hằng năm, vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, tại đình Cổ Mân, dân làng tập trung tu bổ phần mộ, thắp hương tưởng niệm, tổ chức nghi lễ đón Tết Nguyên đán, treo cờ, cắm phướn, dựng nêu, chọn người hiền xông đất đầu năm, chuẩn bị
lễ vật, hoa, cây trái, bánh chưng, bánh tét bày cúng trong 3 ngày Tết, tổ chức văn hóa, vui chơi giải trí, dân làng mến mộ nhất là loại nghệ thuật tuồng, hát bội Ngoài ra, đến ngày 16/3 âm lịch làm lễ cầu an, 16/8 làm lễ tế thu, trùng với
lễ c ng cơm mới, đây là những kỳ lệ được tổ chức trang nghiêm tại đình làng, thể hiện nét đẹp văn hoá truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Những năm có kinh phí, làng còn tổ chức thêm phần hội
- Nghi thức truyền thống ình làng Mân Q ang (Làng ân uang,
phường Thọ uang, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Đình làng ân uang hiện thuộc tổ 33, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Tương truyền làng ân uang được khai phá vào nửa cuối thế kỷ 15, do các cư dân người Việt ở vùng oan, Ái di cư vào, trong đó những người được coi là có công đầu là các cụ Lê Phước Thọ, Trần Văn ỹ, Võ Văn Linh, Thái Công ạ, Nguyễn Văn Thành và Đinh Vạn Khang Cùng với việc khai phá lập làng thì ngôi đình làng được dựng lên để thờ thần thành hoàng
và nhiều vị thần khác trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Sau này, nhiều
vị tiền hiền, hậu hiền, những người có công với làng cũng được nhân dân địa
Trang 1715
Đặc biệt vào hai ngày 15, 16 tháng 3 (Âm lịch), nhân dân Mân Quang lại
tề tựu về đình để tổ chức lễ hội đình làng Trong suốt hai ngày này, các nghi thức tế lễ và các hoạt động diễn xướng, tr chơi dân gian của người dân địa phương diễn ra liên tục trong đại điện và trước sân đình Trước khi tổ chức lễ hội, dân làng họp trước một tháng để bàn bạc xem xét tổ chức lễ như thế nào, kinh phí đóng góp bao nhiêu, lễ vật ra sao, ai làm việc gì
Chiều 15/3, tại sân đình, dân làng đặt bàn án với các lễ vật như cơm, xôi, gà, vịt, heo, bánh trái, hương đèn, cháo trắng, hạt nổ, vàng bạc… để làm lễ vọng cúng âm linh
Ngày 1 3, giờ sáng, dân làng tổ chức lễ chánh tế trong đình với đầy
đủ các nghi thức dâng trà, rượu, hương, bái lạy với sự tham gia của chánh tế, bồi
tế, và đội ngũ học trò gia lễ
Đây là dịp con dân của làng bày tỏ sự ngưỡng vọng, l ng tri ân đến thánh thần và các bậc tiền nhân đã phù trợ, gi p đỡ dân làng xây dựng uê hương Đồng thời, thông ua đó lễ hội đình làng c n có tác dụng thắt chặt mối quan hệ tình làng nghĩa xóm, cũng như việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương
- Nghi lễ truyền thống ình An Hải (Phường An Hải Tây, quận Sơn Trà,
Thành phố Đà Nẵng)
Theo như lời kể của cụ Lê Đức Ngọ, người có công đầu trong việc khai phá lập làng n ải là một phụ nữ có tên gọi là à Thân (tên của bà trở thành địa danh cho một vùng đất sát ven sông àn, về sau gọi chệch thành à Thân Ngày nay, tại phường n ải Tây, có một ngôi chợ người dân thường gọi là chợ
à Thân hoặc à Thân) à là một lưu dân từ phía ắc vào lập làng từ thời vua
Lê Thánh Tông lập đạo Thừa tuyên uảng Nam (năm 1 71) Năm 1 30, nhân dân làng An Hải góp của và trích quỹ ruộng hương hỏa cho xây dựng ngôi đình mái lợp tại địa điểm như hiện nay Thời vua Tự Đức thứ 3 (1 77), đình được trùng tu lần thứ nhất và cách đây hơn năm (vào năm Giáp Thìn) sửa chữa lần
thứ hai Đình làng được vua Tự Đức ban tặng 4 chữ lớn tại bức hoành “Thiện
Tục Khả Phong” nghĩa là nếp sống an lành đáng khen
Tự ngàn xưa, yếu tố tâm linh của người dân Việt Nam không thể tách khỏi cuộc sống hàng ngày trong mỗi con người Ngôi đình làng trở thành thiết chế tín ngưỡng văn hóa ở làng uê ỗi làng đều dựng một ngôi đình làng để có nơi thờ
c ng, sinh hoạt văn hóa, hội họp Từ khi xây dựng đình làng, nghi thức lễ cúng truyền thống đình n ải đã được nhân dân duy trì và gìn giữ đến ngày hôm
Trang 1816
Trước lễ chính 1 ngày, các chư phái tộc trong làng họp lại để thảo luận, phân công nhiệm vụ Vào ngày 9/8 âm lịch, nhân dân đã tụ tập tại đình để dọn dẹp, trang trí chuẩn bị cho lễ chính Tối ngày 9/8, tổ chức lễ Vọng ngoài sân đình
Khoảng 8h ngày 10/8 âm lịch, lễ tế chính thức được diễn ra với các nghi
lễ đ ng theo các nghi thức cổ truyền của dân tộc Trong lễ chính có nhạc bát âm, đọc văn tế với nội dung cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân ấm no, hạnh phúc Ban nghi lễ gồm có 1 vị chủ bái, 2 vị bồi bái, 1 vị tư lễ, 1 vị xướng lễ và
12 học trò gia lễ Trang phục của ban nghi lễ đình làng gồm:
- Chủ tế: mũ đỏ, áo đỏ sau lưng có hình con rồng, quần trắng
- 02 vị bồi bái: áo lam, quần trắng, mũ hia màu xanh
- 01 vị tư lễ, 01 vị xướng lễ: áo đen, uần trắng, mũ hia màu đen
- 12 học trò lễ: áo lam, quần trắng, mũ hia màu xanh
Đồ c ng thường là gà, thịt, trái cây, rượu, trà
Ngoài ra, đình làng n ải còn có các ngày lễ:
- Ngày mùng 2/3 âm lịch, ngày giỗ tiền hiền
- Ngày mùng 6/ âm lịch, giỗ hậu hiền, đồng thời kỷ niệm ngày mất danh nhân Khâm sai thống chế Thoại Ngọc ầu
Lễ nghi đình làng n ải nhắc nhở mọi người luôn tự hào về uê hương, đất nước Đây cũng là dịp để nhân dân trong làng có thể gặp gỡ, giao lưu, giáo dục con cháu biết gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống
- Nghi lễ Cầ ngư tr ền thống (Phường An Hải Tây, quận Sơn Trà,
Thành phố Đà Nẵng)
“Lăng Ông vạn tứ chánh Nam Hải” của An Hải Tây được xây dựng hơn
1 năm Lăng thờ vị thần Nam Hải cùng với những vị chư thần biển, các vị tiền bối hậu bối đã sáng lập ra nghề biển tại vùng đất này Cùng với sự hình thành lăng Ông, nghi thức lễ cầu ngư đã được nhân dân duy trì và gìn giữ cho đến ngày nay
Hàng năm, nghi thức cầu ngư truyền thống được tổ chức vào ngày 20 tháng 02 âm lịch Lễ được tổ chức dưới dạng “tiểu lễ”, với sự tham gia của các ngư dân phường An Hải Tây Điều hành lễ cúng gồm có: 01 vị chủ bái và 02 vị văn hiến Trang phục của chủ tế: quần áo gấm đỏ, mũ hia đỏ; 02 vị văn hiến: quần áo gấm xanh, mũ xanh Thức c ng thường là hoa uả, heo, gà và trà rượu
Ngoài ngày lễ chính, trong năm c n có 2 ngày lễ:
- Ngày 25 tháng chạp: lễ thượng cờ
- Ngày 7 tháng giêng: lễ hạ cờ
Trang 1917
Lễ cầu ngư là một tập uán có ý nghĩa Từ bao đời nay, ngư dân vùng n Hải Tây vẫn giữ và lưu truyền nó với mục đích truyền tải ước vọng tâm linh Nhưng hiện nay, với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, lực lượng ngư dân làm biển đã giảm đi rất nhiều Theo thống kê của phường, số lượng tàu cá kể cả lớn nhỏ chỉ còn lại khoảng 40 thuyền Đây chính là nguyên nhân chính làm cho
lễ cầu ngư truyền thống không còn sức sống trong cộng đồng
- Lễ tang cá Ông của ngư dân i biển (Phường Mân Thái, Thọ Quang,
Nại iên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề biển Ngoài ra, số còn lại làm các dịch vụ liên uan đến nghề biển như: cung cấp lưới, làm các công cụ đánh bắt, buôn bán tôm cá…Ngư dân đánh bắt trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và tấp nập nhất là từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch
Cộng đồng ngư dân uan niệm cá voi như là thần biển rất linh thiêng và gọi một cách tôn kính là cá Ông, cá Ông Voi hay Ngài Ngư, Đức Ngư Ông Theo quan niệm của họ thì Đức Ngư Ông luôn theo sát người dân đi biển, trong
l c bão gió ngoài khơi để cứu vớt người dân Và họ tin rằng cá Ông (cá voi) chính là sự hiển linh của thần biển có mặt ở biển khơi và xuất hiện khi có bão tố
để cứu độ dân chài Vì thế, dân chài quận Sơn Trà rất tôn sùng cá Ông, coi cá Ông như là ph c thần của dân chài Khi đi biển gặp cá voi, họ coi đó là điềm lành báo hiệu ngày đó đi biển đánh bắt sẽ được nhiều Đang giăng lưới đánh bắt
ở ngoài khơi, nếu gặp cá voi họ thu lưới tránh đường cho ngài đi, với niềm tin và nghiệm thấy làm vậy hôm đó đánh bắt được nhiều rõ rệt
Gặp cá Ông lụy (cá voi chết) ngư dân ở đây coi đó là điềm lành, chẳng những đối với người nhìn thấy đầu tiên, mà c n đối với cả vạn chài, cả làng, cả
xã, không những năm ấy mà còn nhiều năm sau nữa dân chài trong vùng vẫn được mùa đánh cá Người dân tìm cách đưa cá Ông lên bờ và tiến hành mai táng, hay còn gọi là lễ tang cá Ông
Khi gặp cá Ông bị chết trên biển hay trôi dạt, ngư dân tìm cách dìu thi hài
cá Ông vào bờ Nếu trường hợp cá Ông uá to, không đưa lên bờ được thì dùng đăng uây lại, cử người canh giữ cho đến khi thịt rữa hết dưới nước, rửa sạch hài cốt để mai táng Người đầu tiên phát hiện được xem như là người được
“Ông” tín nhiệm và vinh dự làm “trưởng nam”, tức là thân chủ thay mặt dân
làng bịt khăn tang bằng vải điều đỏ, chịu tang trong vòng 100 ngày Theo phong tục, nếu phụ nữ mà phát hiện cá Ông lụy thì phải nhanh chóng đi thông báo cho một người đàn ông khác trong làng để người đó đứng ra chịu tang
Sau khi đưa cá Ông vào bờ, dân chài cắm một lá cờ thần trên bãi biển báo hiệu cho mọi người biết Không khí tang lễ không phải ai oán, bi thương như đám ma của người bình thường mà rất hồ hởi, vui vẻ Việc tổ chức chôn vào ngày, giờ nào, ở đâu phải được bàn bạc trước đó khi người “ được Ông” trình
Trang 20- Ngày thứ hai: ngư dân tổ chức cúng tế, đốt nhan trên bàn thờ, người
“trưởng nam” túc trực trong suốt uá trình mai táng… ọi ngư dân ai cũng đến
thắp hương vái lạy cầu an, cầu phúc Ngay cả các ngư dân, vạn chài ở làng khác nghe tin nơi nào có cá Ông “lụy” vào, dù xa xôi đến đâu cũng mang hương hoa đến để cúng tế Ngài
- Ngày thứ ba: Tổ chức đám tang, hát m a bả trạo bản “Đưa Ngư Ông” Nếu Ông lớn thì chôn tại bãi biển, còn Ông nhỏ thì đan rọ bằng tre, dưới rải vàng bạc, áo giấy, đặt cá Ông vào, phía trên phủ vải điều đỏ đem về chôn tại lăng Ông (thường là phía sau lăng) Trên đường đi, có đầy đủ cờ xí và chiêng trống linh đình, bát hương đặt trên bàn thờ cũng được thỉnh về an vị tại lăng Ông Huyệt mộ cá Ông được đào rộng hẹp tùy theo kích thức của Ông, có thể dài tới 20 – 30 mét và rộng chừng 5 mét Trên mộ đặt một bàn thờ nhỏ bằng gỗ trên có bày đồ thờ như bát hương, bình hoa, chén…
Sau ba ngày tổ chức đám tang, tiến hành lễ mở cửa mã Sau đó, ngư dân tiến hành cúng tuần 7 ngày, 21 ngày, 9 ngày, 1 ngày Đ ng 1 ngày thì làm
lễ dỡ bỏ tang phục cho vị trưởng nam thân chủ Đủ ba năm tiến hành lễ cải táng, ngư dân đào mộ cá Ông lên, rốc thịt lấy xương, dùng nước lạnh, sau đó là rượu trắng rửa sạch, xếp thứ tự vào và đưa vào để trong khám của lăng Đến lúc này, người “được Ông” coi như mãn tang (trong thời gian phục tang, người này không phải kiêng kị gì cả)
àng năm, vào ngày phát hiện cá Ông lụy, ngư dân đều tổ chức ngày kỵ Ông
Nghi thức tang cá Ông vừa bày tỏ lòng biết ơn đối với đức Ngư Ông linh thiêng, vừa hàm chứa niềm ước vọng của những người làm nghề sông nước, mong một mùa bội thu tôm, cá Đây cũng là dịp thể hiện tính gắn kết cộng đồng, cùng nhau hợp sức chống chọi với thiên nhiên, xây dựng tình làng nghĩa xóm,
gi p đỡ nhau l c khó khăn, hoạn nạn
- Lễ tống ôn của ngư dân i biển (Phường Mân Thái, Thọ Quang, Nại
iên Đông, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Trang 2119
Đây là một nghi lễ nằm trong diễn trình lễ tế Âm linh của hầu hết các làng biển Đà Nẵng, c n gọi là lễ “tống cói hạ kỳ” hay “tống ôn đưa khách” Tùy theo phong tục của từng địa phương mà lại tổ chức lễ tế Âm linh vào những ngày khác nhau, cụ thể như: lăng Âm linh ân Thái ngày 15 3 ÂL, lăng Ông Nại iên Đông ngày 12 7 ÂL
Lễ tống ôn thường diễn ra ở lăng Ông hoặc lăng Âm linh của địa phương
Lễ bắt đầu vào lúc sáng sớm, gồm 2 nghi lễ liên hoàn là lễ nhương ôn và lễ tống
ôn
- Lễ nhương ôn nhằm khao mời ôn hoàng dịch lệ, vong hồn Cô bác và các
“khách” ên cạnh đó, c n mang ý nghĩa giải hạn cho làng vạn Các bàn án của
lễ nhương ôn được bài trí từ trong lăng ra đến ngoài hiên, sân Thường có ba bàn đặt theo hàng dọc ở gian tả của lăng Âm linh (nhìn từ trong ra ngoài) Trước bàn nhương ôn đặt bè Long Chu Vật phẩm dâng c ng ở 3 bàn án khá giống nhau, gồm: trầu, rượu, hoa uả, kim ngân, thanh y, xôi chè, tôm, cua thịt (cá gọi là gỏi,
gà gọi là chim) Ngoài những thứ đó ra, bàn c ng Cô bác và nhương ôn c n thêm bông nổ, bánh trái, khoai sắn, cơm canh, rau sống, mắm cái, bánh tráng cùng rất nhiều giấy vẽ hình nhân thế mạng
Lễ nhương ôn bắt đầu sau 3 hồi chiêng trống Vị chủ tế của làng, sau khi thắp hương c ng các bàn hương án của gian chánh điện, lần lượt đến các bàn án
c ng Thành oàng, Tiền hiền và Hậu hiền, Cô bác Âm linh và bàn nhương ôn Lời khấn tại bàn c ng Thành oàng và Cô bác giống nhau, đại thể là cầu xin sự
hộ trì cho làng vạn cả năm làm ăn tấn tài tấn lợi, ghe thuyền ra khơi vào lộng an toàn C n đến bàn nhương ôn, vị chủ tế khấn ôn hoàng dịch lệ, những ma ọi,
ma Rợ mời về hưởng lễ, xin đừng uấy làng phá xóm
Nghi thức c ng nhương ôn hoàn tất, toàn bộ thức c ng của bàn nhương ôn
và các đồ mã của bàn Cô bác được để hết vào các khoang của Long chu tống tiễn Long Chu là chiếc bè được làm bằng tre, dán giấy, đặt trên một chiếc bè tre hoặc bè chuối Vì là phương tiện chuyên chở ôn hoàng dịch lệ tống ra biển, cũng
là phương tiện tiễn đưa Cô bác và Người khuất mặt về cõi địa phủ nên Long Chu phải đẹp, phải vững để trôi nhanh ra biển Kích thước Long Chu dài từ 1,6m – 1,8m, cao và rộng khoảng đến 80cm Tiếng chiêng lại vang lên, lễ tống ôn bắt đầu Trước khi tống tiễn, Long chu được khai khoang điểm nhãn và tẩy uế ưa kia, người làm việc này là thầy pháp, c n ngày nay phổ biến ở các làng là ông chủ tế của làng thực hiện
Sau đó, bè Long Chu được 04 thanh niên khỏe mạnh khiêng ra biển Trong đoàn c n có đuốc lửa, trống chiêng, cờ xí, và đông đảo bà con trong làng tham dự Vào thời điểm tống Long Chu, mọi nhà không mở cửa, không chạy ra đường Nếu làm trái, ma uỷ sẽ uay trở lại tìm nơi tr ngụ, uậy phá làng vạn Đến biển, đám người khiêng Long Chu chạy ào xuống, trên bờ, chiêng đánh liên hồi kỳ trận ọ thực sự an tâm, phấn chấn khi thấy Long Chu trôi nhanh ra biển
ởi sự kiện này đồng nghĩa với những điềm lành trong năm Năm nào mà Long
Trang 2220
Chu không trôi nhanh, bị nghiêng ngả, nhất là bị lật úp xuống biển thì báo hiệu điều xấu, không may sẽ đến với làng Lễ tống ôn đến đây coi như là hoàn tất
ục đích lễ tống ôn là để tống tiễn xua đuổi ôn hoàng dịch lệ, đồng thời
để đặt nguyện vọng của cộng đồng dân biển được các thần linh và các vị đã khuất phù hộ để có cuộc sống bình an
- Một số nghi lễ liên q an ến công c và phương tiện i biển (Quận
Sơn Trà, Đà Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, nhân dân chủ yếu mưu sinh bằng nghề đánh bắt hải sản Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề biển Ngoài ra, số còn lại làm các dịch vụ như: cung cấp chài lưới, làm các công cụ đánh bắt, buôn bán tôm cá Ngư dân đánh bắt trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và tấp nập nhất là từ tháng đến tháng 6 âm lịch
Do cuộc sống phụ thuộc vào biển cả, vì vậy người dân ven biển Đà Nẵng luôn có ước nguyện làm cho biển cả trở nên hiền hòa hơn, con thuyền và những vật dụng đánh bắt khác trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu trong uá trình tiến ra biển
ột số nghi lễ liên uan đến phương tiện, công cụ của nghề biển:
- Lễ phạt mộc: Giống như lễ động thổ khi làm nhà cửa, lễ phạt mộc tiến hành sau khi chủ thuyền đã coi tuổi, coi ngày, giờ tốt để bắt bắt đầu đóng một con thuyền mới Lễ vật cũng như nhiều nghi lễ thờ c ng khác, gồm: Trầu rượu, hoa uả, vàng mã đặc biệt trên giấy hàng mã có vẽ các bà Kim, ộc, Thuỷ Việc c ng các bà có liên uan đến chất liệu sử dụng để đóng thuyền và môi trường hoạt động của thuyền Sau khi thắp hương c ng cáo ba bà, mời cô bác, chủ thuyền dùng rùi phạt vào gỗ ba lần Dăm gỗ được giữ lại một ít gói vào vải điều nhỏ để tống đi khi hạ thuyền
- Lễ tống mộc đưa dăm: Lễ tẩy uế thuyền trước khi hạ thủy Lễ c ng gồm
2 mâm lễ vật, một để trên mũi thuyền để c ng bà ộc, một đặt trên bờ để c ng bồi bãi và cô bác âm lễ c ng bà ộc nhất thiết phải có một chiếc thuyền nhỏ làm bằng giấy, đặt trên chiếc bè chuối nhỏ ốn góc bè cắm bốn cây cờ xéo nhỏ bằng giấy giữa l ng đặt một gói dăm bào (được chủ thuyền cất ở lễ phạt mộc), bên cạnh là một đĩa trầu cau (một lá trầu và một uả cau), một con cá nướng đặt trên đĩa, xung uanh là áo mũ c ng cô hồn Lễ được tiến hành với nghi thức “khoán bùa” của thầy c ng, sau đó thắp hương rồi vái tứ phương xin hành lễ Tiếp theo chủ thuyền buông bè xuống biển
- Sau cùng là lễ “hành thuyền phóng thủy” tức “đẩy thuyền xuống biển” Chủ thuyền cho thuyền chạy ra cửa hoặc chạy cách bờ một uảng đường vài cây
số Lễ hành thuyền được coi là chuyến đi đầu tiên, mở màn nên gọi là “đi mở hàng”
- Lễ nh ng lưới, được tiến hành vào đầu xuân thường là ngày chẵn tháng Giêng âm lịch Địa điểm nh ng lưới có thể ngay tại bến hoặc cửa biển Tại
Trang 2321
những nơi này, người ta thắp hương khấn vái bà Thủy, ông Ngư, cô bác rồi sau
đó vãi hết vật c ng xuống biển
- Sau một mùa đánh bắt trên ngư trường, các công cụ và phương tiện đi biển đem về thường được cất ở trên cao, những nơi khô ráo Trước khi tiến hành lấy các công cụ để chuẩn bị cho một mùa đánh bắt mới, ngư dân phải làm lễ cúng tại nhà để cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, sau đó mới được mang các công cụ, phương tiện đi biển xuống thuyền
Các nghi lễ liên uan đến công cụ và phương tiện đi biển có ý nghĩa rất lớn trong đời sống tâm linh của cộng đồng ngư dân, có tác động sâu sắc đến yếu
tố an dân trong hành nghề trên biển và niềm tin sự an cư lạc nghiệp trong cộng đồng vạn chài
- Nghi lễ truyền thống ình Nại Hiên (Phường Nại iên Đông, uận
Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Đình Nại iên được xây dựng bằng mái lá đơn sơ vào năm 1 57 Năm
1945 - 195 , đình là nơi hội tụ của lực lượng vũ trang Khu Đông Đà Nẵng, nơi giữ hòm thư mật để chuyển tài liệu cách mạng ra các tàu đậu ở vịnh Đà Nẵng Năm 19 7, giặc Pháp đốt cháy, phá nát toàn bộ ngôi đình Năm 195 ngôi đình được xây dựng lại tranh tre, năm 1957 đình được xây dựng kiên cố bằng gạch ngói, xi măng Đến năm 199 , nhân dân đóng góp tiền của, công sức trùng tu lại đình
Nghi lễ đình Nại Hiên bắt đầu từ khi có đình làng và vẫn tiếp tục được nhân dân duy trì và gìn giữ đến ngày hôm nay Một năm, đình Nại Hiên có 02 ngày cúng chính, gồm có: Lễ cầu an ngày 12/2 ÂL, lễ tế Âm linh ngày 12/7 ÂL
- Lễ cầu an diễn ra tại đình Nại iên, do điều kiện kinh phí nên chỉ tổ chức dưới dạng “tiểu lễ” an tổ chức nghi lễ họp nhân dân trước 2 ngày để phân công nhiệm vụ, vận động kinh phí Lễ vật cúng gồm có: gà, trái cây, đặc
biệt có con heo sống chưa ua chế biến (chưa nấu chín), c n được gọi là “uế
mao huyết” (hiện nay chỉ duy nhất nghi lễ truyền thống đình Nại Hiên là còn lễ
vật c ng đặc biệt này) Lễ có đầy đủ các nghi thức truyền thống: dâng rượu, dâng trà, đọc văn tế Nội dung bài văn tế ca ngợi công đức của các vị tiền hiền, hậu hiền đã có công khai khẩn lập nên vùng đất Nại Hiên ngày nay, báo cáo tình hình làng xã và mong một vụ mùa bội thu, sức khỏe dồi dào, xóm làng yên ổn
- Lễ tế Âm linh diễn ra tại sở Âm linh, nhằm cầu siêu cho các vong linh những người chết đường, chết trận, chết không có con cháu thờ tự Nghi thức lễ cũng tương tự như lễ cầu an đình làng
Ban nghi thức lễ nhiệm kỳ 3 năm bầu 01 lần, vị chủ bái phải là người thuộc 07 họ lớn trong làng (Trương, uỳnh, Lê, Trần, Nguyễn Công, Nguyễn Văn, ai), gia đình không mắc tang, không tật nguyền, vợ chồng song toàn, được nhân dân tin tưởng Trang phục của ban nghi lễ gồm có:
+ Vị chủ bái: áo màu xanh, đội mão, chân đi tất trắng
Trang 24Nghi thức lễ đình Nại Hiên nhằm cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió
h a, làm ăn được mùa Đây là một trong những nghi lễ truyền thống, biểu hiện đời sống tâm linh tín ngưỡng của cộng đồng cư dân
- Nghi lễ cầ an ình Mỹ Khê (Phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng)
Đình ỹ Khê được xây dựng khoảng từ 300 – năm, ban đầu đình chỉ được xây dựng đơn giản bằng tranh tre để làm nơi hội họp, thờ cúng Trải qua một thời gian dài bị tàn phá, nhân dân đóng góp tiền của, công sức để trùng tu đình vào những năm 1913, 2 13 Đình thờ tiền hiền, hậu hiền và 12 tôn tộc cùng xây dựng nên làng Mỹ Khê Các tộc họ có công khai phá đất đai lập làng ỹ Khê gồm có: tộc Đàm (ông Đàm Văn Độn có công khai phá nên vùng đất Mỹ Khê), và trở thành tiền hiền của làng, về sau c n các tộc Nguyễn, ồ, uỳnh, Đinh, Trần Lê, Dương, Ngô là hậu hiền của làng
Lễ cầu an, cầu ngư đình ỹ Khê được tổ chức vào ngày 24/01 ÂL, tùy thuộc vào kinh phí đóng góp của người dân mà tổ chức dưới dạng “tiểu lễ”,
“trung lễ”, “đại lễ” Nghi thức lễ được diễn ra theo trình tự sau:
- Lễ vọng: Khoảng 5h tại sân đình, ban nghi lễ tổ chức lễ Vọng để mời các vị tiền hiền, hậu hiền về tham dự lễ cùng với người dân
- Lễ rước văn: h tổ chức rước văn từ lăng à về đình làng để chuẩn bị cho lễ chính Tham gia đoàn rước có ban nghi lễ, kiệu rước làm bằng tre được
04 thanh niên trong làng khiêng, ban nhạc cổ
- Lễ chánh: Sau khi đón tiếp đại biểu và nhân dân về tham dự, lễ tế chính được bắt đầu khoảng 8h Ban thực hiện nghi lễ gồm có: 01 vị chủ bái, 02 vị tả hữu văn hiến, vị xướng lễ Nếu tổ chức lễ lớn thì có thêm đội học trò gia lễ Lễ vật cúng chủ yếu là gà, thịt heo, cá, trái cây… đều do người dân tự chế biến Lễ
có đầy đủ các nghi thức truyền thống: dâng trà, dâng rượu, đọc văn tế Nội dung văn tế là ca ngợi công đức của các vị tiền, hậu hiền, cầu mong một năm mưa thuận gió h a, nhân dân làm ăn phát đạt
Đối với làng Mỹ Khê, ban nghi lễ được bầu 5 năm 1 lần, 01 vị chủ bái được bầu phải là người có chữ tín trong làng, gia đình song toàn, không có tang
Ngoài ra, đình c n có các ngày lễ truyền thống khác: lễ kỵ yên ngày 16/6
ÂL, tất niên ngày 25/12 ÂL
Trang 2523
Đình là nơi nhân dân tổ chức các hoạt động tín ngưỡng của nhân dân Mỹ Khê Trong suốt những năm chiến tranh, do điều kiện kinh tế khó khăn, người dân chỉ thắp hương vào ngày lễ Sau chiến tranh, nhân dân đã khôi phục lại lễ cầu an và duy trì, phát triển đến ngày hôm nay
- Nghi lễ cầ ngư tr ền thống (Phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà,
Thành phố Đà Nẵng)
Trước đây, làng ỹ Khê vốn là làng chài, người dân chủ yếu sống bằng nghề đi biển Lăng Ông được xây dựng hoang sơ bằng đá n i, san hô vào những năm đầu khai hoang, lập nghiệp Trong những năm chiến tranh, lăng bị đập phá,
hư hại nặng nề Vào những năm 9 , trước sự xuống cấp của lăng, được sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhân dân làng Mỹ Khê đã huy động
sự đóng góp tiền bạc, sức lực xây dựng lăng Ông hoàn toàn mới dựa trên nền kiến trúc của lăng cũ
Lăng Ông vừa có chức năng tín ngưỡng lại vừa là nơi tổ chức lễ cầu ngư hàng năm Phần lễ được tiến hành một cách đơn giản nhưng đầy không khí trang nghiêm thành kính Nghi lễ nhằm bày tỏ lòng thành kính của ngư dân vùng biển với cá Ông, cầu mong sự che chở, tốt lành bội thu và cũng như để xua đi mọi điều xấu
Trước đây, lễ cầu ngư được tổ chức hàng năm vào ngày 1 5 ÂL Sau năm 2 , vùng đất Mỹ Khê được giải tỏa, ngư dân có sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nhân dân làm nghề đánh bắt thủy, hải sản chỉ còn lại khoảng 2 đến
30 hộ Việc duy trì nghi lễ cầu ngư truyền thống trở nên khó khăn về cả kinh phí lẫn nhân sự Trước tình hình đó, ngư dân đã thống nhất thực hiện nghi lễ chung với lễ cầu an đình ỹ Khê, vào ngày 24/01 ÂL
Vào sáng sớm ngày 24/01, ban nghi lễ tổ chức lễ tại lăng Ông Mỹ Khê để mời thần Nam Hải và các vị tiền bối, hậu bối nghề biển về tham dự lễ Sau nghi
lễ tại lăng Ông, ban nghi lễ về đình làng ỹ Khê để cúng tế, nhằm bày tỏ lòng thành kính của ngư dân vùng biển với cá Ông, cầu mong sự che chở, tốt lành bội thu và cũng như để xua đi mọi điều xấu Lễ vật cúng gồm: trái cây, gà, xôi, thịt
và áo giấy Sau khi ban nghi lễ cầu ngư thực hiện lễ tế xong, ban nghi lễ đình làng Mỹ Khê mới tiến vào đình để thực hiện nghi lễ cầu an tại đình
Ban nghi lễ cầu ngư là những ngư dân c n hành nghề biển, đều là những người lớn tuổi, có đạo đức, được nhân dân tin tưởng và trọng dụng Những vị trong ban nghi lễ sẽ giữ chức vụ đến khi tuổi cao không đảm nhiệm được nữa thì mới bầu một vị mới lên thay
- Kiêng kị khi i biển của ngư dân q ận Sơn Trà (Quận Sơn Trà, Đà
Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề
Trang 26họ vừa sợ hãi, vừa mong sợ che chở
Với những thách thức từ biển cả nên họ đã trang bị cho mình những ứng
xử riêng trong mối uan hệ xã hội và với biển, hay nói cách khác, họ đã hình thành riêng một sinh hoạt, phong tục đặc trưng của cư dân ven biển trước nhu cầu của cuộc sống Và trước hết là những kiêng kỵ trong cuộc sống và sinh hoạt trên biển
Những kiêng kỵ trong ngôn ngữ:
- Người đi biển nói chung thường tránh nói đến một số từ ngữ liên uan đến nghề nghiệp Người Việt miền Trung kiêng nhắc đến từ “sóng” Sóng to gió lớn là nỗi kinh hoàng của những con tàu đánh cá nhỏ nhoi lênh đênh ngoài khơi
Do vậy, thay vì gọi là “sóng”, người ta dùng “nhóc” (khi ở trong lộng) và “tố” (khi ở ngoài khơi) Người ta cũng kiêng gọi tên các loại ngư cụ, chỉ dùng những
từ ngữ chung chung như “bộ nghề”, “mang nghề” hay “dọn nghề” trong những ngữ cảnh cần thiết Sợ x c phạm đến thần Nam ải và sợ những chuyến đi biển sau không có cá, ngư dân tránh dùng những từ như “đánh”, “bắt” mà thay thế bằng “m c”, không dám gọi thẳng tên những loài cá lớn, họ dùng những từ như
“rau”, “mồi” để thay thế Dùng những cách nói như “no rồi” hoặc “chững d ng” thay cho “thôi”, “đầy” khi cá đã đầy khoang, không đánh bắt nữa bởi họ cho rằng, từ “thôi” có thể sẽ làm cho chuyến đi biển sau không đánh bắt được gì và thậm chí “thôi” được hiểu là không bao giờ ra biển nữa Trong cuộc sống hàng ngày, người ta rất kỵ nói đến những tiếng liên uan đến tai họa của nghề biển:
“lật”, “chìm”, “bể”
- Cư dân ven biển rất coi trọng việc thờ c ng cá voi, người ta không gọi là
cá voi, sợ x c phạm đến thần mà gọi là Ngư Ông, Đức Ngư Ông…bộc lộ sự kính cẩn, linh thiêng
Những kiêng kỵ trong việc đánh bắt thủy, hải sản:
- Trong những kiêng kỵ của người Việt đi biển thì kiêng kỵ liên uan đến con thuyền được đặc biệt coi trọng Nhiều nơi có phong tục vẽ mắt thuyền Người ta tin rằng con mắt sẽ gi p thuyền tránh uái vật làm hại, gi p cho ngư dân tìm được luồng cá và gi p cho bạn hàng tìm được bến bờ nhiều tài lộc
- Những người có tang (2 tháng) thì không được ngồi trước mũi thuyền