Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra một hiện thực mới, một “thiên nhiên thứ hai”, thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và p
Trang 1Câu 1: Trong tác phẩm: "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", V.I.Lênin viết: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức" Đồng chí hãy giải thích luận điểm trên
và nói ý nghĩa của vấn đề này trong việc khắc phục bệnh giáo điều ở nước ta hiện nay ?
Trả lời: Quan điểm trên của Lê nin xuất phát từ vai trò của thực tiễn đối với hoạt
động nhận thức của con người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn
là những hoạt động vật chất cảm tính có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Như vậy, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con
người mà chỉ là những hoạt động vật chất cảm tính nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội không phải là hoạt động tinh thần
Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể (tức là con người) và khách thể (tức là giới tự nhiên), là dạng hoạt động vật chất trong đó chủ thể làm biến đổi khách thể Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất cũng như sức mạnh vật chất của mình để tác động vào tự nhiên, XH nhằm cải tạo, làm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của mình Vì vậy
có thể nói thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản nhất của con người và XH, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới
Hoạt động thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội vì nội dung, phương pháp, phương tiện cũng như phạm vi ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử nhất định Tuy trình độ và các hình thức của hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau của XH, nhưng htực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của XH loài người Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó, trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên, trình độ làm chủ XH của con người
Là những hoạt động có mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ cho con người, nó thể hiện tính tự giác cao, khác với hoạt động bản năng của con vật (hoạt động của động vật là hoạt động thích nghi) Hoạt động thực tiễn được thể hiện qua ba hình thức cơ bản sau đây:
Hình thức cơ bản đầu tiên của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là hình thức nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
XH loài người, quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn
Trang 2Hình thức cơ bản thứ hai của thực tiễn là hoạt động CT-XH nhằm cải tạo, biến đổi XH, phát triển các quan hệ XH, chế độ XH (mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ) Đây là hình thức hoạt động thực tiễn cao nhất, thiếu hình thức này con người không thể phát triển bình thường
Với sự ra đời và phát triển của khoa học làm xuất hiện hình thức cơ bản thứ ba của thực tiễn hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức hoạt động thực tiễn đặc biệt nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học Hình thức hoạt động này ngày càng trở nên quan trọng do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại
Trong ba hình thức ấy thì hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất,
vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người trong mọi thời kỳ lịch sử Hơn nữa, các hình thức hoạt động khác suy cho cùng là từ hoạt động đó mà ra và nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động đó
Hoạt động thực tiễn có hai đặc trưng sau:
Thứ nhất, hoạt động thực tiễn là những hoạt động vật chất của con người nhằm
cải tạo tự nhiên và xã hội Nói đến hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất, điều đó có nghĩa là, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng những đối tượng vật chất, những phương tiện vật chất … để tác động, trực tiếp làm thay đổi bản thân sự vật, trực tiếp cải tạo thế giới trong hiện thực Nói đến hoạt động vật chất, tức là nói đến sức mạnh vật chất, sức mạnh trực tiếp cải tạo thế giới của con người Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra một hiện thực mới, một “thiên nhiên thứ hai”, thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người
Thứ hai, hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xã hội Tính xã hội của hoạt động
thực tiễn có nghĩa là thực tiễn không chỉ là những hoạt động của từng con người riêng
lẻ, mà là dạng hoạt động cơ bản của xã hội loài người Xét từ nội dung cũng như từ phương thức thực hiện, hoạt động thực tiễn mang tính xã hội Hoạt động thực tiễn là một quá trình lịch sử, trải qua quá trình vận động và phát triển và các giai đoạn lịch sử của nó Có thể nói, thực tiễn là sản phẩm lịch sử, những mối quan hệ muôn vẻ và vô tận giữa con người với giới tự nhiên và con người với con người
Thực tiễn là cơ sở và động lực chủ yếu của nhận thức Bằng hoạt động thực tiễn, con người trực tiếp tác động vào sự vật, bắt các sự vật hiện tượng của thế giới phải bộc
lộ những thuộc tính và tính quy luật của chúng Điều đó có nghĩa là thực tiễn đã cung cấp những tài liệu làm cơ sở cho nhận thức Tri thức của con người có thể thu nhận được dưới dạng trực tiếp từ thực tiễn hoặc dưới dạng gián tiếp Nhưng xét đến cùng thì
Trang 3mọi tri thức của con người đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Không có thực tiễn thì con người sẽ không có nhận thức, không có hiểu biết Không có những kinh nghiệm thực tiễn thì không có tri thức lý luận Hơn nữa, chính trong quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở phát huy tính tích cực sáng tạo của con người, là cơ sở của sự phát triển trí tuệ con người Thực tiễn không ngừng biến đổi và phát triển, luôn đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi nhận thức phải trả lời, đặt ra những nhiệm vụ và phương hướng phát triển cho nhận thức, đòi hỏi những tri thức mới, những khái quát mới để lý giải những vấn đề nảy sinh … Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển Trong lịch sử, các môn khoa học nối tiếp nhau ra đời và phát triển trên cơ sở quá trình hoạt động thực tiễn của loài người, nhằm đáp ứng những nhu cầu do sự phát triển của thực tiễn đề ra
Thực tiễn có vai trò to lớn đối với nhận thức, vai trò đó được thể hiện ở chố: Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức Hoạt động thực tiễn của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi những nhu cầu thực tiễn Muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất, cải tạo tự nhiên và xã hội Chính nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo
xã hội buộc con người phải tìm hiểu, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Rõ ràng con người quan hệ với thế giới xung quanh không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng và thông qua thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính, những tính chất, những quy luật để con người nhận thức Chính thực tiễn đã cung cấp cho nhận thức của con người những hiểu biết về thế giới Như vậy, mọi tri thức của con người, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn
Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học mới Thực tiễn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó giúp nhận thức của con người đạt hiệu quả hơn Bởi lẽ, chính trong hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến luôn chính bản thân mình, phát triển năng lực, trí tuệ của mình Ph Ăngghen đã khẳng định: “… chính việc người ta biến
đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là
cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên” Hoạt động thực tiễn còn là
cơ sở để chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức Chính nhu cầu chế tạo và cải tiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhận thức mà không nhằm mục đích phục vụ thực tiễn thì sẽ mất phương hướng, bế tắc Mọi tri thức khoa học, mọi lý luận
Trang 4chỉ có ý nghĩa đích thực khi chúng được áp dụng vào thực tiễn, nghĩa là được vận dụng vào sản xuất vật chất, vào cải tạo xã hội và vào thực nghiệm khoa học nhằm phục vụ con người
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Chân lý không phải là cái gì đó hiển nhiên, không phải cái có ích, có lợi Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông Chân
lý là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Bởi lẽ chỉ có bằng và thông qua thực tiễn con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua đó khẳng định được chân lý, bác bỏ được sai lầm
Thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn là khách quan chân lý bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển Do đó, với
tư cách là tính chất chân lý nó cũng không đứng im mà luôn thay đổi
Nghiên cứu vấn đề này cho thấy, phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và trong hoạt động Quan điểm này yêu cầu: nhận thức sự vật phải gắn với nghiên cứu thực tiễn; lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận của chủ trương, đường lối, chính sách; phải tăng cường tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển lý luận cũng như chủ trương đường lối, chính sách
Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo vấn đề này trong thực tiễn còn góp phần khắc phục bệnh giáo điều trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay Bệnh giáo điều là khuynh hướng cường điệu lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn
Ở nước ta có hai loại giáo điều: Giáo điều lý luận, tầm chương trích cú Chỉ căn cứ trên câu chữ trong sách vở, xa rời cuộc sống, xa rời thực tiễn Giáo điều kinh nghiệm: bắt chước, dập khuôn máy móc Áp dụng lý luận một cách cứng nhắc không tính đến điều kiện lịch sử cụ thể Áp dụng kinh nghiệm người khác một cách rập khuôn máy móc
Bệnh giáo điều biến chủ nghĩa xã hội khoa học thành những công thức sơ cứng, phiến diện, cản trở quá trình đổi mới thường xuyên CNXH hiện thực
Nguyên nhân của bệnh giáo điều là do tác động tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tư tưởng gia trưởng; ảnh hưởng của chủ nghĩa thành tích, hình thức… Nhưng nguyên nhân chủ yếu là vi phạm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không nắm được thực chất mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận
Do đó, cùng với từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khắc phục tư tưởng tiểu tư sản, chủ nghĩa hình thức, thành tích thì phải quán triệt tốt trên thực tế nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Do đó,
Phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn Do vậy, cán bộ phải thường xuyên được bồi dưỡng lý luận, và cán bộ lý luận phải thường xuyên thâm nhập và đi thực tế Phải
Trang 5có cơ chế chính sách trên thực tế để đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn, gắn giáo dục đào tạo với cơ sở kinh tế xã hội Tăng cường tổng kết thực tiễn nhưng phải khách quan trung thực không được tô hồng, bôi đen, có mục đích đúng đắn Các kết luận rút ra phải có tính khái quát cao, nghĩa là có giá trị chỉ đạo thực tiễn tiếp theo
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là góp phần ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm suông và bệnh giáo điều Để làm tốt điều này: một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, sách vở Người chỉ rõ, "lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế" Điều quan trọng nữa theo Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập Chủ nghĩa Mác - Lê nin Theo Hồ Chí Minh, "học tập Chủ nghĩa Mác -Lê nin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác- Lê nin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta Học để mà làm" Như vậy, học tập Chủ nghĩa Mác - Lê nin trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta
Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa khắc phục bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận Khi có lý luận phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bởi
lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng Và như vậy thì bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đứng
Trang 6Câu 2 : Phân tích những biểu hiện đặc trưng của phong cách lãnh đạo của
cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở; đề xuất những giải pháp để rèn luyện phong cách lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở hiện nay?
Những biểu hiện đặc trưng của phong cách lãnh đạo của cán bộ lãnh đọa, quản lý ở cơ sở:
- Tác phong làm việc dân chủ: là đặc trưng cơ bản, nó khơi dậy được mọi
sự tham gia nhiệt tình và những đóng góp sáng tạo của quần chúng trong việc tạo
ra các quyết định, chỉ thị, trong việc tổ chức thực hiện những đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở có hiệu quả
- Tác phong làm việc khoa học: Thể hiện đặc điểm nghiệp vụ tổ chức của
PC LĐ cấp cơ sở Người lãnh đạo hiện nay cần thiết phải có trình độ chuyên môn, trí tuệ, là cấp tổ chức thực hiện nên đòi hỏi người LĐQL phải có năng lực tổ chức, kỹ năng giao tiếp, am hiểu con người và sử dụng con người đúng việc, đúng chỗ.,
- Tác phong là việc hiệu quả, thiết thực: Đây là tiêu chí đánh giá tài – đức của cán bộ LĐ, đánh giá sự phù hợp hay không của phong cách lãnh đạo Cấp cơ
sở là nơi hiện thực hóa, đưa đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước vào cuộc sống, vì vậy đòi hỏi tác phong làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực khi đưa ra các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện
- Tác phong đi sâu đi sát quần chúng: Là đặc trưng riêng biệt của phong cách lãnh đạo cơ sở Có đi sâu đi sát quần chúng mới có được tác phong khoa học, dân chủ, hiệu quả và thiết thực
- Tác phong tôn trọng tôn trọng và lắng nghe ý kiến quần chúng: là phogn cách không chỉ là đặc trưng cơ bản của phong cách lãnh đạo cấp cơ sở mà còn là nguyên tắc làm việc, nguyên tắc ứng xử của người lãnh đạo
- Tác phong khiêm tốn học hỏi và thực sự cấu thị: Giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tiến bộ, có thêm kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng để hoàn
Trang 7thành tốt nhiệm vụ được giao Tác phong nàu giúp dễ gần được quần chúng, chiếm được sự cảm tình, tôn trọng của quần chúng
- Tác phong làm việc năng động và sáng tạo: Nhạy bén trong việc phát hiện cái mới, ủng hộ những cái mới tích cực nhân nó lên thành diện rộng, thành phong trào để đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở cơ sở ngày càng được cải thiện, đổi mới, văn minh hơn
- Tác phong làm việc gương mẫu và tiên phong: Là yếu tố đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, tạo được sự tín nhiệm, niềm tin của nhân dân
Để tạo ra bước chuyển mới trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa…rất cần đến tác phong gương mẫu, tiên phong của những người cán bộ lãnh đạo, quản lý để qua đó người dân mến phục, noi theo và tin tưởng
*XÂY DỰNG MỘT TÌNH HUỐNG CỤ THỂ
*CHỌN PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO NÀO?
Phong cách lãnh đạo không tự nhiên mà có, không phải cố định mà cần xem xét nó một cách biện chứng như một quy trình luôn luôn biến đổi, phát triển dưới tác động của những điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan Sự hình thành và phát triển một phong cách lãnh đạo là một quá trình có chủ đích định hứng đòi hỏi mỗi người lãnh đạo quản lý cấp cơ sở phải tự rèn luyện, bồi dưỡng mới có được đặc biệt là kỹ năng biết áp dụng linh hoạt, hợp lý các phong cách lãnh đạo với mọi đối tượng cụ thể trong mọi tình huống Chính vì thế để hình thành phong cách lãnh đạo là do tổng thể những phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo quyết định phần lớn những phẩm chất chính trị cao là cơ sở của phong cách có tính nguyên tắc của Đảng, những phẩm chất công tác cao quyết định nếp nghĩ và
sự thông thạo công việc, năng lực tổ chức tạo ra mối liên hệ thường xuyên với quần chúng, chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ chức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở để rèn luyện, đổi mới phong cách lãnh đạo theo hướng dân chủ, khoa học, tính tổng hợp, tầm nhìn xa, kỹ năng tổ chức kiểm tra và giám sát Để có quan điểm đúng về công tác lãnh đạo đòi hỏi phải dựa trên
cơ sở phân tích sâu sắc những luận điểm chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh được học tập nghiêm túc về khoa học lãnh đạo, khoa học quản lý Mặt khác, Lenin còn chỉ rõ đặc trưng cơ bản của phong cách lãnh đạo Leninnit không chỉ sử dụng sáng tạo những thành tựu khoa học mà còn thường xuyên tổng kết nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm thực tiễn Trong bối cảnh
Trang 8hiện nay đòi hỏi người lãnh đạo cơ sở không chỉ có kiến thức, kỹ năng quản lý giỏi mà còn biết phân quyền đúng, hợp lý, xây dựng cơ chế phù hợp trong việc ra quyết đinh và thông qua quyết định quản lý, chú trọng rèn luyện kỹ năng đánh giá
và sử dụng cán bộ, đổi mới kỹ thuật và đổi mới tổ chức Người lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành phải kiên trì với định hướng XHCN, chủ động hội nhập, đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, sử dụng đúng đắn các biện pháp quản lý trong điều kiện dân chủ hóa gia tăng, khả năng thu nhập, xử lý thông tin và có năng lực
tổ chức thực hiện
Phương hướng xây dựng, rèn luyện phong cách lãnh đạo cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở.
- Yếu tố hình thành: Khí chất; Tri thức; Phẩm chất đạo chính trị, đạo đức;
Cơ chế, chính sách
- Phương hướng xây dựng, rèn luyện:
+ Rèn luyện phong cách lãnh đạo lênin nít: Là phong cách lãnh đạo của
Đảng Cộng sản cầm quyền, là thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tính tư tưởng cao, tính nguyên tắc Đảng; mối quan hệ thường xuyên với quần chúng; chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tính thiết thực, hiệu quả, thông thạo công việc
+ Khắc phục phong cách lãnh đạo quan liêu: Trong công tác lãnh đạo
phải xuất phát từ quan điểm: Dân là gốc nếu xa dân, tách rời dân chúng sẽ dẫn đến phong cách quan liêu, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải tự rèn luyện bồi dưỡng mới có được, đặc biện là kỹ năng áp dụng linh hoạt, hợp lý các phong tác, thủ thuật lãnh đạo với một đối tượng cụ thể trong một tình huống cụ thể
+ Tăng cường rèn luyện, nâng cao lập trường tư tưởng – chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở: Những phẩm chất tư tưởng – chính
trị là linh hồn sống của người lãnh đạo, có vai trò định hướng cho hoạt động của người lãnh đạo, là cơ sở của phong cách lãnh đạo có tính nguyên tắc Đảng, định hướng xã hội chủ nghĩa, thống nhất giữa lời nói với việc làm, lý luận với thực tiễn, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân
Thực hiện yêu cầu chính trị và tư tưởng quan trọng để đảm bảo cho quần chúng nhân dân thật sự tham gia công tác lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở biết kết hợp linh hoạt giữa chế độ dân chủ với chế độ thủ trưởng trong công tác của mình
Trang 9+ Rèn luyện những phầm chất tâm lý – đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở: Là cơ sở tạo nên cái riêng trong phong tác lãnh
đạo, quản lý Phong cách của người lãnh đạo bao gồm tình trung thực, độc lập, kiên quyết, cương nghị và linh hoạt, đòi hỏi cao, thái độ ân cần, lịch thiệp, sự nhạy bén, sáng tạo Nó biểu hiện hàng ngày trong hoạt động, trong phong cách làm việc của người lãnh đọa và gắn liền với hiệu quả làm việc Người lãnh đạo cần chú ý rèn luyện tính dân chủ trong công tác, quan hệ của người lãnh đạo, tính đòi hỏi cao và giữ nguyên tắc; sự tế nhị, lịch thiệp và tự chủ trong giao tiếp; sự khiêm tốn và chân thành, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng- cần, kiệm, liêm, chính, luôn lấy sự nghiệp chung, lợi ích chung làm trọng
+ Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ chức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở để rèn luyện, đổi mới phong cách lãnh đạo: Phải rèn luyện để có được quan điểm điểm khoa học, tính tổng hợp, tầm
nhìn xe, kỹ năng tổ chức, kiểm tra và giám sát Chú trọng rèn luyện kỹ năng đánh giá và sử dụng cán bộ, kỹ năng đổi mới kỹ thuật và đổi mới tổ chức, cần biết tiếp thu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo những thành tựu của khoa học lãnh đạo hiện đại, hình thành những kỹ năng lãnh đạo hiện đại; đảm bảo tính hiệu quả trong công tác; phải tháo vát, nhạy bén, có kỹ năng cập nhật những thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
+ Rèn luyện, đồi mới phong cách lãnh đạo thông qua thực tiễn sự nghiệp đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế: Phải học tập và rèn luyện từ thực
tiễn vì thực tiễn là tiêu chí của chân lý Thực tiễn đổi mới giúp cho cán bộ cơ sở ý thức được hạn chế, thiếu hụt của bản thân để có kế hoạch học tập và rèn luyện, đồng thời giúp cho cán bộ cơ sở bổ sung, hoàn thiện thêm những kiến thức, năng lực, kinh nghiệm và kỹ năng công tác, vận động quần chúng đáp ứng yêu cầu sự
sự nghiệp cách mạnh trong giai đoạn mới Thực tiễn là môi trường rèn luyện tài – đức của án bộ lãnh đạo, là nơi hiện thực hóa, đưa đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, vì vậy mà phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quán lý ở cơ sở phải được rèn luyện trong thực tiễn sự nghiệp đổi mới và hội nhập, đảm bảo các quyết định quản lý khi đưa ra phải phù hợp với đòi hỏi thực tiễn Do đó cần phải học ngay từ thực tiễn công việc hành ngày; học từ đồng chí, đồng nghiệp, học từ tổng kết thực tiễn, tổng kết những mô hình mới, những cách làm hay Thực tiễn chính là trường học lớn giúp người cán
Trang 10bộ cơ sở phải vừa lăn lộn chỉ đạo thực tiễn vừa đúc rút những kinh nghiệm quý cho chính mình
Câu 2 : Phân tích vai trò và ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn của công tác
đánh giá cán bộ hiện nay?
Đánh giá và sử dụng cán bộ trong tình hình hiện nay
1 Đánh giá cán bộ là vấn đề rất hệ trọng
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1) - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy như vậy.Trong công tác cán bộ, đánh giá đúng cán bộ là khâu tiền đề đầu tiên để quyết định bố trí, sử dụng cán bộ Đánh giá đúng cán bộ làm cơ sở cho việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bố trí để phát huy được tiềm năng đội ngũ cán bộ, để bản thân cán bộ có phương hướng đúng trong phấn đấu, rèn luyện; là cơ sở để thực hiện đúng chính sách cán bộ, biểu dương, tôn vinh những cán bộ hoàn thành xuất sắc trách nhiệm được giao, có đóng góp, có cống hiến cho đất nước, cho địa phương, đơn vị; đồng thời phê bình những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, không nêu gương, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với tổ chức Đảng Đánh giá đúng cán bộ là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng tình đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, địa phương, đơn vị, góp phần ổn định chính trị, động viên, phát huy được tính tích cực của nhân dân, cán bộ vào sự nghiệp chung Ngược lại nếu đánh giá sai cán bộ, nhất là người đứng đầu dễ gây ra những phân tâm trong cán
bộ, ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, làm giảm lòng tin, có khi mất cả phong trào ở mỗi địa phương, ngành, đơn vị
Trong những năm qua đã có nhiều cấp ủy, nhiều chính quyền, người đứng đầu các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị đã làm tốt công tác đánh giá cán bộ; nhưng trong thực tế vẫn còn một bộ phận chưa làm tốt công tác này
2 Đánh giá cán bộ, vì sao khó?
Thứ nhất, con người nói chung, cán bộ nói riêng đều chịu sự chi phối, tác động qua lại, biện chứng giữa ba yếu tố: di truyền, môi trường công tác và sự rèn luyện, tự phấn đấu của bản thân Nếu một cán bộ sinh ra, lớn lên từ một gia đình
có truyền thống cách mạng, hiếu học, thông minh, được thừa hưởng nguồn “gen” quý từ cha mẹ, ông bà, lại được làm việc trong một tập thể đoàn kết, gắn bó, có người đứng đầu khách quan, công tâm, trọng người tài đức, bản thân lại cần cù,