LÃ HỒNG QUÂN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÊU REN TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 1LÃ HỒNG QUÂN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÊU REN
TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN HOA LƯ,
TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2LÃ HỒNG QUÂN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÊU REN
TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN HOA LƯ,
TỈNH NINH BÌNH
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI ĐÌNH HÒA
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Mọi sự trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực
và nguyên bản của luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2019
Tác giả
Lã Hồng Quân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Bùi Đình Hòa người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học là cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư, Phòng Nông nghiệp
và PTNT huyện Hoa Lư, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ tôi nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cán bộ, công chức nơi công tác luôn động viên, ủng hộ, giúp đỡ tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn thạc sỹ của mình
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2019
Tác giả
Lã Hồng Quân
Trang 5TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ
Họ và tên: Lã Hồng Quân
Tên luận văn: Phát triển kinh tế trang trại tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đình Hòa
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phát triển KTTT
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển KTTT của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển KTTT của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình đến năm 2025 và tầm nhìn 2030
1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài đề là các vấn liên quan đến phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
1.3 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
-Phương pháp thu thập thông tin
-Phương pháp quan sát
-Phương pháp phỏng vấn
-Phương pháp điều tra bảng hỏi
-Phương pháp tổng hợp, phân tích, viết báo cáo
2 Kết luận
Phát triển KTTT là yêu cầu cấp thiết trong phát triển KT-XH huyện Nho Quan nói chung và quá trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
Trang 6tăng nói riêng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân Quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn đã rút ra một số kết luận sau:
1) Nghiên cứu lý luận về phát triển KTTT cho thấy, bên cạnh việc đảm bảo
kế thừa các khái niệm và nội dung về phát triển KTTT, luận văn đã khẳng định cần phải bổ xung và hoàn thiện thêm về quan điểm, nội hàm, tiêu chí đánh giá sự phát triển KTTT là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với bối cảnh nghiên cứu về KTTT trong giai đoạn hiện nay
2) KTTT của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình trong thời gian gần đây đã bước đầu chuyển dịch theo chiều hướng phát triển bền vững thông qua các chỉ tiêu
về số lượng và chất lượng của các TT Như năm 2016 toàn huyện có 65 TT, đến năm 2018 đã tăng lên 92 TT KTTT huyện Nho Quan đã phát huy được các nguồn lực của địa phương như khai thác và sử dụng tốt hơn quỹ đất đai, đưa được đất trống đồi núi trọc vào sản xuất, thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp, giải quyết được một số việc làm tạo thêm thu nhập cho người lao động trong huyện Thực tế cho thấy các TT của huyện đã tạo ra được một khối lượng giá trị nông sản hàng hoá cao hơn hẳn kinh tế hộ nông dân, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo tiền đề thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay
3) Bảy yếu tố ảnh hưởng đến tổng giá trị sản xuất bình quân của KTTT như: Tuổi, trình độ chuyên môn, lao động, đất, giới tính của chủ TT là các yếu tố ảnh hưởng đến các tiêu chí hiệu quả của KTTT Luận văn đã chỉ ra rằng: lao động tăng thêm 1 người sẽ làm tổng GTSX tăng thêm 31,89 triệu đồng/TT/năm; kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi lượng vốn vay ngân hàng tăng thêm 1 triệu đồng sẽ làm GTSX của TT tăng lên 1,04 triệu đồng Lượng vốn vay từ bạn bè, người thân tăng thêm 1 triệu đồng sẽ làm tổng GTSX tăng thêm 1,65 triệu đồng Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả của TT, các chủ TT cần quan tâm đến các yếu tố trên
4) Các giải pháp được đề xuất theo hướng: 1) Đổi mới nhận thức về vai trò của KTTT trong phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện; 2) Hoàn thiện công tác quy hoạch để lựa chọn loại hình KTTT phù hợp với từng vùng sinh thái, tự nhiên của tỉnh theo hướng phát triển bền vững; 3) Hoàn thiện công tác giao đất, cấp
Trang 7giấy chúng nhận quyền sử dụng đất tạo điều kiện tích tụ đất đai để phát triển KTTT; 4) Giải pháp về thị trường, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển KTTT; 5) Giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển KTTT; 6) Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển KTTT; 7) Giải pháp tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với KTTT để phát triển KTTT; 8) Giải pháp tăng
cường mối liên kết để phát triển KTTT;
Người hướng dẫn khoa học
TS Bùi Đình Hòa
Tác giả
Lã Hồng Quân
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HỘP x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn 3
4.1 Đóng góp về lý luận 3
4.2 Đóng góp về thực tiễn 3
4.3 Ý nghĩa của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề thêu ren 5
1.1.1 Các khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội hiện nay 7
1.1.3 Nội dung về phát triển làng nghề thêu ren 10
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề thêu ren 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề thủ công ở một số nước 15
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số tỉnh ở ViệtNam 17
1.2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển làng nghề thêu ren truyền thống tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình 21
Trang 91.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 29
2.3.2 Tổng hợp thông tin 31
2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 32
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Khái quát tình hình làng nghề thêu ren truyền thống tại Hoa Lư 37
3.1.1 Tình hình làng nghề thêu ren trên địa bàn huyện Hoa Lư 37
3.1.2 Vấn đề chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề thêu ren của huyện 38
3.2 Thực trạng phát triển làng nghề thêu ren trên địa bàn huyện Hoa Lư 42
3.2.1 Thực trạng phát triển về quy mô và số lượng 42
3.2.2 Tình hình sử dụng lao động 46
3.2.3 Tăng thu nhập của người lao động 47
3.2.4 Trang thiết bị sử dụng trong sản xuất 48
3.2.5 Sự phát triển về thị trường nguyên vật liệu đầu vào 49
3.3 Thực trạng phát triển về thị trường tiêu thụ 51
3.3.1 Hoạt động tiêu thụ sản phẩm 51
3.3.2 Các kênh tiêu thụ 53
3.3.3 Tình hình cạnh tranh và giá bán 56
3.3.4 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh 58
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề thêu ren truyền thống tại Hoa Lư 61
Trang 103.4.1 Chủ trương chính sách phát triển làng nghề thêu ren 61
3.4.2 Chất lượng lao động 62
3.4.3 Học nghề và truyền nghề 65
3.4.4 Xây dựng thương hiệu 66
3.4.5 Cơ sở hạ tầng 67
3.5 Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển nghề thêu ren truyền thống 70
3.5.1 Phương hướng phát triển làng nghề thêu 70
3.5.2 Giải pháp phát triển làng nghề thêu ren 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố mẫu điều tra 30
Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu làng nghề thêu huyện Hoa Lư năm 2016-2018 43
Bảng 3.2 Số lượng các loại sản phẩm thêu ren Văn Lâm qua các năm 2016 -2018 45
Bảng 3.3 Lao động ở làng nghề thêu ren truyền thống huyện Hoa Lư năm 2016 -2018 47
Bảng 3.4 Thu nhập bình quân từ nghề thêu ren của lao động từ 48
năm 2016-2018 48
Bảng 3.5 Trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật cơ sở sản xuất 49
Bảng 3.6 Chi phí sản xuất một số mặt hàng thêu ren chính của làng nghề 50
Bảng 3.7 Số lượng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thêu ren năm 2018 51
Bảng 3.8 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở làng nghề thêu ren Huyện Hoa Lư năm 2016 -2018 52
Bảng 3.9 Biến động giá sản phẩm thêu từ 2016-2018 57
Bảng 3.10 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ, DN thêu ren tại Hoa Lư 58
Bảng 3.11 Đánh giá của người dân về vai trò của Làng nghề trong đời sống 60
Bảng 3.12 Đánh giá về các chính sách khuyến khích hỗ trợ của Nhà nước 62
Bảng 3.13 Đánh giá về chất lượng lao động tại địa bàn 64
Bảng 3.14 Đánh giá về cơ sở hạ tầng tại làng nghề 68
Bảng 3.15 Đánh giá về mức độ ô nhiễm của môi trường làng nghề 69
Trang 12DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Đánh giá của cán bộ về chất lượng lao động tại địa bàn 65 Hộp 3.2 Tình trạng thiếu lao động tại làng nghề 66 Hộp 3.3 Sự cạnh tranh trong tạo dựng thương hiệu tại làng nghề 67
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển kinh tế xã hội cũng như lịch sử phát triển của nền văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của làng nghề Mỗi một làng nghề là một địa chỉ văn hóa nó phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Từ xa xưa, hệ thống các làng nghề đã có mặt trên hầu hết mọi địa phương trên cả nước, nó luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, lao động của người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dântộc
Hoa Lư là huyện có nhiều làng nghề truyền thống khác nhau Một trong những làng nghề nổi bật nhất là nghề thêu, tập trung nhiều ở các xã trong huyện Hoa Lư như làng nghề Văn Lâm Mặc dù có giá trị cao về kinh tế, văn hóa nhưng
có giai đoạn các làng nghề thêu đang đứng trước nguy cơ bị mai một, sản phẩm mất dần sự cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, trong thời gian tới phát triển các làng nghề thêu ren nhằm phát huy những lợi thế, tiềm năng của địa phương về một ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, từ đó thúc đẩy các làng nghề thêu ren phát triển bền vững, lâu dài, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn địa phương là một yêu cầu tất yếu, là mối quan tâm của các cấp, ngành huyện Hoa Lư [28]
Làng thêu ren nổi tiếng trong huyện Hoa Lư là làng thêu Văn Lâm nằm cạnh Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, xã Ninh Hải Làng Văn Lâm có khoảng gần 3.000 lao động làm nghề thêu và du lịch tại địa phương trong đó có 16 nghệ nhân tiêu biểu đã được UBND tỉnh phong tặng nghệ nhân cấp tỉnh Trên địa bàn thôn có
6 doanh nghiệp và nhiều cơ sở sản xuất hàng thêu ren truyền thống, giải quyết việc làm cho nhiều lao động của xã và các địa phương lân cận Các doanh nghiệp không chỉ mở xưởng sản xuất tại địa phương mà còn thông qua các hình thức hợp tác như gia công, tổ chức nhiều điểm sản xuất ở các địa phương trong và ngoài huyện
Trang 14Hướng đi này không chỉ nhằm bảo đảm tiến độ, thời gian, số lượng hàng cho khách
mà còn giải quyết việc làm cho nhân dân các địa phương trong thời điểm nông nhàn Dọc hai bên đường vào làng là các cửa hàng san sát bày bán các sản phẩm như khăn tay, áo, tranh… đều được những người thợ tỉ mỉ thêu từng đường kim mũi chỉ với những hình ảnh đẹp, bắt mắt Trong đó độc đáo nhất phải kể đến sản phẩm tranh thêu, chủ yếu là tranh về phong cảnh, quê hương, đất nước Chỉ bằng cây kim, sợi chỉ, miếng vải, những người thợ thêu tay đã biến những chất liệu đơn giản thành những sản phẩm độc đáo với những mảng hoa văn mềm mại, đan xen kỳ lạ, đẹp mắt
và đầy mầu sắc Các sản phẩm thêu ren của các làng nghề đã được thị trường chấp nhận, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần vào chương trình quốc gia là giảm hộ nghèo trong huyện xuống Với xu hướng phát triển kinh tế thị trường như hiện nay thì sự phát triển về nghề thêu ren chưa tương xứng với tiềm năng của nó
Do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề thêu ren truyền thống và các vấn đề liên quan;
- Đánh giá thực trạng phát triển nghề thêu ren truyền thống tại huyện Hoa
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu các vấn đề kinh tế có liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động nghề thêu trong các làng gắn với sự phát triển trên địa bàn huyện Hoa Lư
Chủ thể nghiên cứu: nghiên cứu các tác nhân tham gia sản xuất bao gồm hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp, người tiêu dùng, cán bộ quản lý tại địa bàn
Trang 15+ Số liệu thứ cấp: 3 năm (năm 2016- 2018)
+ Số liệu điều tra năm 2018
+ Các giải pháp luận văn đề xuất thúc đẩy phát triển nghề thêu ren trên địa bàn huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
4.3 Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả của đề tài luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có luận cứ khoa học vững chắc giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các chủ TT,
Trang 16các doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản và những người quan tâm đến phát triển làng nghê thêu ren huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong giảng dạy tại các trường chuyên nghiệp và là tài liệu tham khảo của các sinh viên, học viên và các nghiên cứu sinh về phát triển làng nghê thêu ren
Trang 17Xét theo góc độ kinh tế thì Dương Bá Phượng cho rằng “Làng nghề là làng
ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi khu công nghiệp và kinh doanh độc lập Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” [18]
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có mộthay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng nhưvề mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng [6]
Theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ Về việc phát triển ngành nghề nông thôn quy định “Làng nghề được công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a)
Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn; b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận; c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành” [18]
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Làng nghề truyền thống phải có các yếu tố sau: Hình thành và phát triển lâu đời, có nhiều
Trang 18nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu, sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hóa tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, là nghề nuôi sống phần lớn bộ
phận dân cư trong làng Thông tư số 116/2018/TT-BNN “Nghề được công nhận là
nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương
từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề” [6]
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề truyền thống Dương Bá Phượng (2001);
Đỗ Quang Dũng (2006)) Tuy nhiên, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: “
Nghề được gọi là nghề truyền thống là nghề xuất hiện rất lâu năm, nghề mang bản sắc văn hóa địa phương và được gắn với nhiều nghệ nhân Làng nghề truyền thống mang lại giá trị kinh tế cao, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
1.1.1.3 Khái niệm làng nghề thêu truyền thống
Nghề thêu là một ngành nghề truyền thống có từ rất lâu đời Đó là nghệ thuật dùng chỉ xuyên qua xuyên lại trên mặt vải để tạo ra một sản phẩm mỹ nghệ Lịch sử nghề thêu truyền thống gắn liền với lịch sử tâm linh của người Việt Nam trong quá khứ Sử cũ ghi chép lại rằng, ông tổ nghề thêu là Lê Công Hành tại xã Văn Lâm, huyện Hoa Lư, Hà Nội [27]
1.1.1.4 Khái niệm về phát triển, phát triển làng nghề
Phát triển
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu [15]
Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố
Trang 19niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với nhà nước, với cộng đồng” [9]
Phát triển là một quá trình tăng trưởng gồm nhiều yếu tố cấu thành như kinh
tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa [19]
Phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên và cũng là thước đo chủ yếu về sự tiến
bộ xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội
Đó là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, là sự kết hợp một cách chặt chẽ, hoàn thiện cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội Muốn phát triển kinh tế trước hết phải
có sự tăng trưởng, nhưng không phải tăng trưởng nào cũng dẫn tới phát triển [26]
Khái niệm phát triển làngnghề
Trên cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển, tôi cho rằng phát triển làng nghề là sự tăng lên về quy mô làng nghề truyền thống và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của làng nghề [28]
Sự tăng lên về quy mô làng nghề được thể hiện là sự mở rộng về sản xuất của từng làng nghề và số lượng làng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian, trong đó làng nghề cũ được củng cố, làng nghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng của làng nghề không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của làng nghề Sự phát triển làng nghề truyền thống phải đảm bảo hiệu quả
về kinh tế, xã hội và môitrường
Trên quan điểm phát triển làng nghề còn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất… đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người dân lao động, không gây ô nhiễm, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…
Qua đó, chúng ta đúc kết được khái niệm phát triển làng nghề như sau: “Phát triển làng nghề là sự phát triển về kinh tế và quan tâm tới giải quyết vấn đề xã hội
Trang 20Việc phát triển làng nghề không những thu hút được lực lượng lớn lao động địa phương mà còn thu hút được lượng lao động của các địa phương khác Phát triển làng nghề ở nông thôn có thuận lợi là sử dụng được thời gian lao động dư thừa
và thời gian nhàn rỗi trong dân khi nông nhàn, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp Tạo công ăn việc làm không chỉ cho nhân dân trong làng mà còn thu hút hoặc lan tỏa sang vùng, làng khác giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sản xuất mới
Khi thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống được mở rộng, đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm là nhân tố quan trọng kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi
Có thể thấy ở nhũng nơi có làng nghề phát triển không những góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời còn góp phần tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống người dân [29]
1.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trong quá trình phát triển cơ cấu kinh tế nông thôn thì các làng nghề có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là vì: sự phát triển của các làng nghề tiểu thủ công nghiệp làm cho tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng dần trong tổng thu nhập của địa phương Nó đã xóa bỏ tình trạng độc canh cây lúa, kinh tế thuần nông ở nông thôn, làm tăng nhanh khối lượng sản phẩn hàng hóa cho tiêu dùng, xuất khẩu, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn [28]
Bên cạnh đó làng nghề tiểu thủ công nghiệp cung cấp sản phẩm cho khu vực nông thôn, nông nghiệp, đồng thời tạo vốn, phát triển ngành nghề Thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp trong dân cư tăng nhanh; từ đó kích thích nông dân đầu tư vốn vào thay đổi, mở rộng quy mô sản xuất và mở xưởng để làm nghề tiểu thủ công nghiệp Khi đó khối lượng sản phẩm hàng hóa tăng nhanh, thị trường mở rộng kinh
tế dịch vụ phát triển [29]
Trang 21Khi làng nghề mới hình thành thì phần lớn các nghề thủ công chỉ là công việc tăng thu nhập cho thời kỳ nông nhàn, nhưng trước những biến đổi của nền kinh
tế đời sống xã hội phát triển, đặc biệt là nhu cầu thị trường tăng, nhiều nghề thủ công là nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình trong làng nghề thay vì nghề nông có thu nhập thấp Chính thu nhập đã thu hút tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu nghề một cách nhanh chóng Làng nghề phát triển đã tạo ra cơ hội cho dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động không chỉ những lao động dôi dư, nhàn rỗi trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn làng nghề
mà còn thu hút lao động từ địa phương khác tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động trông và ngoài vùng sản xuât
Nếu sản xuất của nông nghiệp là quá trình ngắt quãng theo mùa vụ thì sản xuất trong làng nghề là một quá trình liên tục đòi hỏi thường xuyên trong vấn đề cung ứng lao động, dịch vụ, vật liệu và tiêu thụ sản phẩm từ đó các loại hình dịch
vụ ra đời phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú mang lại thu nhập cao cho người lao động Sự phát triển của làng nghề đã có tác động rõ rệt đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.2.3 Tăng tính cộng đồng trong việc gìn giữ và phát huy làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống thường có tính chất gia đình, dòng họ, phường hội
để giữ nghề và phát triền nghề trước áp lực cạnh tranh của thị trường Do vậy tính cộng đồng trong các làng nghề là rất cao Việc phân công lao động thông qua các giai đoạn trong dây chuyền sản xuất sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn thiện đòi hỏi sự liên kết, phối hợp cao Các gia đình, phường hội có chung một tổ nghề nên họ gắn bó với nhau không chỉ trong đời sống lao động sản xuất mà còn gắn bó mật thiết với nhau trong đời sống tinh thần ở làng xã trong mối tương giao nghề nghiệp - tổ nghề của cả truyền thống và đương đại Cha ông ta quan niệm “Buôn có bạn, bán có phường” nên các cơ sở sản xuất, kinh doanh một nghề hay sản xuất một mặt hàng nào đó thường có chung một địa bàn hoạt động và tồn tại Điều này không chỉ có tác động tương trợ, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà sẽ điều kiện cho sự quy tụ khách hàng, tìm kiếm hàng hóa và đối tác trong kinh doanh
Trang 22Do có chung nghề nên nếp sống sinh hoạt, lao động sản xuất khá giống nhau nên tính cộng đồng phường hội, làng nghề ở các làng nghề thủ công là rất cao tạo nên những đặc trưng riêng có ở các làng nghề
1.1.2.4 Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc
Có thể thấy lịch sử phát triển làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc và nó góp phần tạo nên văn hóa ấy, làng nghề phản ánh dòng chảy văn hóa của dân tộc Các sản phẩm của làng nghề truyền thống không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là sự kết tinh của sự sáng tạo trong lao động, chứa đựng những giá trị văn hóa vật chật, tinh thần của người dân, mang đậm phong tục, tập quan, tín ngưỡng, mang giá trị bản sắc văn hóa của mỗi địa phương và của dân tộc Việt Nam Nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị nghệ thuật cao chứa đựng nét tinh hoa của dân tộc, những sắc thái, đặc tính riêng của làng nghề là biểu tượng truyền thống của dân tộc, đồng thời minh chứng cho sự thịnh vượng của quốc gia cũng như những thành tựu phát minh mà con người đạt được [18]
Nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa quý báu của dân tộc được ông cha ta sáng tạo ra và truyền lại cho con cháu thế thệ sau Cho đến ngày nay nhiều sản phẩm nghề thủ công truyền thống độc đáo, tinh xảo, đạt trình độ cao về nghệ thuật còn được lưu giữ và trưng bày ở nhiều bảo tàng trong và ngoài nước
1.1.3 Nội dung về phát triển làng nghề thêu ren
1.1.3.1 Phát triển về quy mô làng nghề qua các năm
Phát triển quy mô làng nghề là sự gia tăng về số lượng các hộ làm nghề, số lao động làm nghề, diện tích làm nghề qua các năm Số lượng các hộ kinh doanh lớn và số hộ kinh doanh nhỏ Giá trị sản xuất tại các làng nghề là sự gia tăng về số lượng sản phẩm, thể hiện ở quy mô sản xuất, năng suất lao động tạo ra giá trị sản xuất ngày càng tăng Đây là tiêu chí biển hiện về mặt số lượng của tăng trưởng Vốn
là yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ quá trình sản xuất nào, đối với sự phát triển của làng nghề Vốn đối với sản xuất tại các làng nghề thường là vốn tự có của các gia đình hoặc các cơ sở sản xuất nhỏ, nên vấn đề vốn đối với phát triển làng nghề càng quan trọng hơn trong quá trình mở rộng quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm Lực lượng lao động có tay nghề ổn định là một yếu tố trong quá trình sản
Trang 23xuất, lực lượng lao động tại các làng nghề tác động rất nhiều đến chất lượng sản phẩm Làng nghề chủ yếu là lao động thủ công nên trình độ tay nghề của lao động càng đóng vai trò quan trọng hơn Vì vậy cần đảm bảo ổn định lực lượng lao động làng nghề cả về số lượng và chất lượng để góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
1.1.3.2 Phát triển về cơ cấu làng nghề
Cơ cấu hay chỉ tiêu kết cấu là chỉ tiêu biểu hiện tỷ trọng từng mức độ khối lượng tuyệt đối của từng đơn vị, từng bộ phận trong mức độ khối lượng tuyệt đối của tổng thể hiện tượng nghiên cứu [18]
Cơ cấu thực tế các hộ làm nghề là số lượng, tỷ lệ các hộ làm nghề trên địa bàn huyện, xã tại một thời điểm nhất định nào đó Cơ cấu tổ chức làng nghề là tỷ lệ hợp lý các hộ làm nghề Xây dựng cơ cấu các loại sản phẩm gỗ mỹ nghệ hợp lý
Phát triển cơ cấu sản phẩm làng nghề là sự gia tăng về số lượng, tỷ lệ các loại sản phẩm ở các làng nghề qua các năm Việc gia tăng về số lượng, tỷ lệ các loại sản phẩm ở các làng nghề qua các năm cần phải dựa trên cơ sở: Nhu cầu của thị trường về sản phẩm, giá thành nguyên vật liệu làm sản phẩm, nhân công lành nghề, giá cả các sản phẩm theo từng năm
Phát triển cơ cấu các hộ làm nghề qua các năm là sự phát triển về số lượng,
tỷ lệ các hộ làm nghề trên địa bàn qua các năm
Trang 24- Phát triển về hiệu quả kinh tế trong làng nghề thêu ren qua các năm: Hiệu quả kinh tế có thể tính bằng hiệu quả tương đối hoặc hiệu quả tuyệt đối Trong đó hiệu quả tương đối là tỷ số tính theo phần trăm giữa kết quả sản xuất mà xã hội nhận được với toàn bộ lao động mà xã hội đã bỏ ra Hiệu quả kinh tế tuyệt đối là hiệu số giữa kết quả sản xuất và chi phí sản xuất (Nguyễn Văn Hảo, 2006) Phát triển về hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh các sản phẩm gỗ mỹ nghệ qua các năm có thể được hiểu là sự gia tăng về hiệu quả tuyệt đối hoặc hiệu quả tương đối từ sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ thông qua việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, phương pháp sản xuất, sử dụng đồng vốn,… để tạo ra nhiều kết quả trong kinh doanh và giảm chi phí sản xuất [21]
- Phát triển làng nghề về thị trường tiêu thụ các sản phẩm làng nghề: Thị trường là tổng thể tất cả các mối quan hệ cạnh tranh, cung cầu, giá cả, giá trị… mà trong đó giá cả và sản lượng hàng hóa tiêu thụ được xác định [13] Phát triển thị trường
là việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ qua các năm Việc mở rộng ở đây cần quan tâm tới 02 yếu tố: Yếu tố chiều sâu và yếu tố chiều rộng Yếu tố chiều rộng: Được hiểu là tăng thêm số lượng khách hàng và nơi bán hàng hóa; yếu tố chiều sâu được hiểu là tăng khối lượng hàng hóa bán ra của sản phẩm trên mỗi một khách hàng, đơn hàng
Đây là một tiêu chí quan trọng đảm bảo tính bền vững cho việc tăng trưởng của các làng nghề Với vai trò là khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất, nó quyết định đến quy mô sản xuất và doanh thu
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề thêu ren
1.1.4.1 Chính sách cơ chế quản lý của địa phương về làng nghề
Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu nhằm tạo lập môi trường kinh doanh, định hướng, tạo động lực cho làng nghề phát triển bền vững Nhà nước đã ban hành một số luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của làng nghề có bước phát triển tốt, như các chính sách hỗ trợ cho làng nghề về các yếu tố đầu vào (đất đai, vốn…) và cả những yếu tố đầu ra (thị trường, xuất khẩu…) Tuy vậy vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ và trên thực tế triển khai còn nhiều vướng mắc
Trang 25Mặt khác, các hộ còn thiếu thông tin, chưa nắm bắt và hiểu biết các thủ tục cần thiết
để hưởng các chính sách khuyến khích [1]
1.1.4.2 Chất lượng lao động
Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, dựa vào trình độ tay nghề, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Vì vậy chất lượng lao động quyết định đến kết quả và hiệu quả khả năng sản xuất Do nhu cầu phát triển của làng nghề ngày càng lớn nên lao động dần dần mở rộng ra khỏi phạm vi hộ gia đình
và một phần thuê ngoài, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn do lực lượng lao động trong sản xuất làng nghề còn nhiều yếu kém và hạn chế về kiến thức kinh tế thị trường [28]
Truyền nghề và học nghề: Lao động trong làng nghề chủ yếu là lao động sáng tạo Các sản phẩm của làng nghề là nơi gửi gắm tâm hồn, sự sáng tạo của các nghệ nhân Các sản phẩm vừa đảm bảo phải có giá trị sử dụng nhưng phải có tính nghệ thuật cao, chứa đựng phong cách riêng Ngoài năng khiếu bẩm sinh, người lao động cần trải qua một thời gian đào tạo lâu dài, bên cạnh đó với phương thức đào tạo theo kiểu truyền thống hiện nay, kỹ năng bí quyết nhiều khi chỉ truyền lại trong gia đình… [1]
1.1.4.3 Nguồn nguyên liệu
Cũng như bất kỳ quá trình sản xuất, khối lượng, chủng loại nguyên vật liệu
và khoảng cách giữa nguồn cung cấp nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nguồn nguyên liệu chính tại địa phương trong nước, đây chính là lợi thế của làng nghề Thị trường nguyên liệu không chính thức, phương thức thanh toán do hai bên tự thỏa thuận, phụ thuộc thời
vụ do tư thương cung cấp nên giá cả lên xuống theo mùa Sử dụng nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cần được quan tâm để làng nghề phát triển bền vững [18]
1.1.4.4 Nguồn vốn sản xuất
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng, nó quyết định có tổ chức sản xuất hay không, vốn quyết định quy mô sản xuất của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề Cơ cấu nguồn vốn tại các làng nghề bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở làng nghề là
Trang 26rất ít, còn chủ yếu là nguồn vốn trong nước như vốn tự có, nguồn vốn tín dụng phi chính bao gồm vốn vay mượn trong gia đình, dòng họ, bạn bè người thân, nguồn vốn tín dụng chính thức vay từ các quỹ tín dụng địa phương, ngân hàng thương mại, tuy nhiên do thủ tục cho vay phức tạp, lượng vốn cho vay còn ít, thời gian vay ngắn nên thực tế hiệu quả của nguồn vốn này còn thấp so với nhu cầu [18]
1.1.4.5 Nhân tố kết cấu hạ tầng
Hạ tầng ở các làng nghề tuy đã được đầu tư nhưng vẫn còn nhiều cản trở cho
sự phát triển làng nghề, giao thông còn khó khăn, ách tắc do vậy việc giao lưu kinh
tế phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương mà còn vươn tới thị trường gặp nhiều cản trở hơn nữa nguồn nguyên liệu phải vận chuyển từ các nơi
xa về thì hệ thống giao thông quyết định trực tiếp chi phí hạ giá thành Hệ thống điện nước tốt, giá rẻ sẽ giúp làng nghề sản xuất liên tục, giảm chi phí, tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm Hệ thống dịch vụ thông tin sẽ giúp nắm bắt kịp thời những thông tin về nhu cầu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, thị hiếu để có sự điều chỉnh kịp thời nhanh nhạy, đáp ứng yêu cầu thị trường [1]
1.1.4.6 Thương hiệu sản phẩm
Thương hiếu sản phẩm làng nghề không những góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tăng giá trị kinh tế mà còn bảo đảm sự bình đẳng, tăng sức cạnh tranh cho làng nghề Tuy nhiên, ngày nay các làng nghề phảo đối mặt với nguy cơ phát triển thiểu bền vững và đánh mất uy tín vốn có từ lâu đời vì chưa đăng kí thương hiệu Bên cạnh đó, nếp nghĩ của phần lớn các cơ sở sản xuất tại các làng nghề hiện nay đều cho rằng sản phẩm đã có truyền thống lâu đời thì ắt sẽ được mọi người công nhận nên chưa quan tâm đến việc đăng ký thương hiệu Có chăng chỉ là xây dựng logo, giới thiệu chỉ giới địa lý, mã số mã vạch nên tiềm năng làng nghề chưa được đánh thức Do vậy, nhằm biến những lợi thế cạnh tranh này trở thành những yếu tố phát triển bền vững, bên cạnh việc quy hoạch, phát triển nhân lực và chính sách bảo vệ môi trường, còn có một nhân tố quyết định: Thương hiệu Một thương hiệu chung cho các làng nghề là điều kiện cần thiết giúp sản phẩm vươn xa, tránh bị sao chép và cạnh tranh thiếu lành mạnh [18]
Trang 27Tiêu cực là do sự thay đổi của nền kinh tế, sự phát triển của công nghệ khoa học trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có những con người có đầu óc kinh doanh năng động, sáng tạo Điều đó nhiều khi yếu tố truyền thống, những kinh nghiệm chủ nghĩa cản trở sự phát triển của nền kinh tế nói chung, làng nghề nói riêng Đồng thời những quy định ngặt nghèo, hạn chế trong luật nghề, lệ làng đã làm cản trợ không nhỏ tới việc mở rộng SXKD của làng nghề Trong điều kiện kinh
tế thị trường không chỉ có kinh nghiệm mà phải có khoa học công nghệ kết hợp
1.1.4.8 Ô nhiễm môi trường
Vấn đề này không chỉ mang tính chất nhỏ trong khu vực làng nghề, xã huyện hay quốc gia mà vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề mà toàn nhân loại đang quan tâm [1]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề thủ công ở một số nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, tuy CNH diễn ra nhanh và phát triển mạnh, song làng nghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công vẫn được phát triển Họ không những chỉ duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một số nghề mới Đồng thời, Nhật Bản cũng rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn,thị tứ
ở nông thôn để làm vệ tinh cho những xí nghiệp lớn ở đô thị
Ngành nghề TTCN của Nhật Bản bao gồm: chế biến lương thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề dệt lụa, nghề rèn nông cụ… Đầu thế kỷ thứ XX, Nhật Bản còn 867 nghề thủ công cổ truyền hoạt động Năm 2007 đã có 2.640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Malaysia, Anh, Pháp tới thăm LNTTcủa Nhật
Trang 28Trong các ngành nghề nổi lên có nghề rèn là nghề thủ công cổ truyền phát triển ở nhiều làng nghề và thị trấn của Nhật Thị trấn Takeo tỉnh GiFu là một trong những địa phương có nhiều nghề cổ truyền từ 700 đến 800 năm, đến nay vẫn tiếp tục hoạt động, hiện nay cả thị trấn có khoảng 200 hộ gia đình với 1.000 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hằng năm sản xuất ra 9 - 10 triệu nông cụ các loại, với chất lượng cao, mẫu mã đẹp Điều đáng chú ý là công nghệ chế tạo nông cụ của Nhật từ thủ công dần dần được HĐH với các máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiên tiến Thị trấn Takeo có trung tâm nghiên cứu mẫu mã và chất lượng công cụ với đầy
đủ thiết bị đo lường hiện đại theo tiêu chuẩn quốc gia Mặc dù, hiện nay Nhật Bản
đã trang bị đầy đủ máy móc nông nghiệp và đạt trình độ cơ giới hoá các khâu canh tác dưới 95%, nhưng nghề sản xuất nông cụ cũng không giảm sút nhiều Nông cụ của Nhật Bản với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài [11]
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Ở Thái Lan có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Các ngành nghề thủ công truyền thống như chế tác vàng bạc, đá quý, đồ trang sức Để phát triển những ngành nghề và làng nghề này Thái Lan đã tích cực tăng cường công tác hỗ trợ phát triển như: Mời các nghệ nhân tay nghề giỏi giảng dạy cho các công nhân,và những người có nhu cầu học nghề Công việc này được tổ chức thường xuyên hàng năm và thu được hiệu quả cao Bên cạnh đó, Thái Lan áp dụng chính sách đổi mới các khâu sản xuất dựa trên nền tảng những công nghệ truyền thống Kết quả của những chính sách này đã tạo ra nhiều hàng hóa xuất khẩu đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới Do kết hợp tay nghề của người nghệ nhân tài hoa với công nghệ kỹ thuật tiên tiến, mà sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, cạnh tranh được trên thị trường Nghề gốm sứ cổ truyền của Thái Lan trước đây chỉ sản xuất để đáp ứng tiêu dùng trong nước Nhưng gần đây, ngành này đã phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ đứng thứ 2 sau gạo (xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ và Châu Âu) Vùng gốm truyền thống ở Chiêng Mai đang được xây dựng thành trung tâm gốm quốc gia với 3 mặt hàng: gốm truyền thống, gốm công nghiệp, gốm mới được sản xuất trong 21 xí nghiệp
Trang 29chính và 72 xí nghiệp lân cận Cho đến nay 95% hàng xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và quà lưu niệm [11]
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Inđônêxia
Chương trình phát triển ngành nghề TTCN được Chính phủ Inđônêxia hết sức
quan tâm bằng việc lần lượt đề ra các kế hoạch 5 năm
- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: Xây dựng các xưởng và trung tâm để bán các sản phẩm TTCN của các làngnghề
- Kế hoạch 5 năm lần thứ hai: Thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triển công nghiệp nhỏ nhằm giáo dục, đào tạo, mở mang các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của những doanh nghiệpnhỏ
- Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan để quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề
Chính phủ đã thiết lập chương trình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống Các trung tâm công nghiệp có trách nhiệm giúp đỡ làng nghề truyền thống nâng cao năng lực quản lý, quy trình công nghệ marketing, cung cấp tài chính, mua nguyên liệu thô và đứng ra đảm bảo cho làng nghề truyền thống vay vốn ngân hàng, còn làng nghề truyền thống có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, đồng thời làm nhiệm vụ gia công cho trung tâm công nghiệp lớn Thậm chí có lúc trung tâm công nghiệp lớn còn đứng ra giúp đỡ làng nghề truyền thống bán sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế hoặc thường xuyên trao đổi cung cấp thông tin cần thiết về thị trường xuất khẩu, những mặt hàng đang được ưa chuộng và có nhu cầu lớn trên thị trường Có thể nói, sự nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển ngành nghề TTCN ở nông thôn đã đem lại những hiệu quả thiết thực ở Inđônêxia [1]
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số tỉnh ở ViệtNam
1.2.2.1 Bắc Ninh
Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 60 LNTT và đặc biệt có những LNTT phát triển mạnh như làng nghề sản xuất sắt thép Đa Hội và Trịnh Xá (xã Châu Khê, Từ Sơn), làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (xã Đồng Quang, Từ Sơn), giấy Phong Khê, gốm Phù Lãng Các sản phẩm của làng nghề truyền thống được tiêu thụ khắp
Trang 30thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu, tập trung vào các mặt hàng: đồ gỗ mỹ nghệ, gốm, tre trúc Để phát triển LNTT, Bắc Ninh đã có một số giải pháp sau:
Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành nhiều nghị quyết chỉ đạo việc xây dựng, phát triển làng nghề, ngành nghề TTCN, ban hành nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp như: Nghị quyết số 12 – NQ/TU, Nghị quyết số 04 – NQ/TU, Nghị quyết số 02 –NQ/TU
Quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất, xây dựng mô hình khu công nghiệp LNTT đạt tiêu chuẩn môi trường Khuyến khích phát triển các cụm công nghiệp LNTT và đa nghề, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất trong khu công nghiệp
Ưu tiên sử dụng quỹ khuyến công cho các cơ sở sản xuất trong các LNTT, nhất là chương trình nhân cấy nghề mới Thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ cho các LNTT về các lĩnh vực như vốn, thị trường, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhânlực
Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Quan tâm, hỗ trợ các doanh nghiệp LNTT đổi mới thiết bị công nghệ, kết hợp cổ truyền với hiện đại và đã thực hiện hơn 10 chương trình với vốn vay từ nguồn vốn khoa học công nghệ do ngân sách nhà nước cấp
Thành lập và tạo điều kiện cho hoạt động các hội, hiệp hội nghề nghiệp theo nhóm sản phẩm, tạo liên kết giữa các doanh nghiệp,cơ sở sản xuất
Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương và các tổ chức nước ngoài, huy động nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế trong nước hỗ trợ các chương trình,
dự án giải quyết ô nhiễm môi trường trong các LNTT
Ngoài chính sách của tỉnh, các huyện còn có những giải pháp riêng hỗ trợ LNTT phát triển [13]
1.2.2.2 Hà Tây
Hà Tây là đất trăm nghề, là tỉnh có nhiều làng nghề nhất của cả nước với nhiều nghề truyền thống lâu đời như: lụa Vạn Phúc, rèn Đa Sỹ, sơn mài Duyên Thái Với hơn 1000 làng có nghề và ơn 200 làng nghề ở địa phương đã góp phần
Trang 31làm cơ cấu kinh tế của tỉnh có bước chuyển dịch tích cực Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 20,5%, cao hơn mặt bằng chung cả nước, giải quyết công ăn việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn Nhiều biện pháp được Hà Tây đặt ra và thực hiện có hiệu quả như sau:
Một là, khôi phục và phát triển làng nghề: Tỉnh đã có nhiều chính sách
khuyến khích, hỗ trợ các nghề thủ công bị mai một trong thời ký bao cấp như các nghề: dệt, thêu ren, sơn mài, khảm trai, điêu khắc, đồ mộc, tơ tằm, và nhiều nghề khác Bên cạnh việc khôi phục, duy trì làng nghề, nhân cấy nghề mới, đặc biệt là việc đưa nghề vào các làng nghề, tiến tới làng nghề Với cách làm như vậy, số lượng làng nghề và làng có nghề ở Hà Tây được tăng lên nhanh chóng Hiện nay,
Hà Tây có hơn 1160 làng có nghề, 201 làng nghề và số lượng làng nghề, lanhg có nghề chiếm 80% số làng của tỉnh [13]
Hai là, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực: Việc dạy nghề, truyền nghề
cho người lao động để họ có được một trình độ tay nghề nhất định làm ra sản phẩm được thị trường chấp nhận và sau khi học họ có thể trở thành một thợ thủ công độc lập là một nhân tố quan trọng trong phát triển làng nghề, Tỉnh Hà Tây đã
mở hàng trăm lớp học nghề với hàng chục ngàn học viên theo học Khoảng 80%
số học viên sau khi học xong được bố trí việc làm ngay tại các cơ sở sản xuất ở các làng nghề và họ thường trở thành những hạt nhân trong các nghề mới hình thành
Ba là, chính sách khuyến công: Hà Tây đã chi hỗ trợ mỗi năm khoảng 1,5 tỷ
cho các chương trình khuyến công để hỗ trợ phát triển công nghiệp, TTCN Trong
đó, trên 50% dành cho hỗ trợ mở lớp truyền dạy nghề, nhân cấy nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các địa phương, đặc biệt là tại các làng xã không có nghề Quỹ khuyến công còn được hỗ trợ sử dụng vào các dự án áp dụng công nghệ mới, thiết bị mới, làm ra các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, bồi dưỡng kiến thức cho các chủ doanh nghiệp, các cán bộ quản lý ở các cơ sở, tổ chức tham quan học tập các tỉnh bạn
Trang 321.2.2.3 Hải Dương
Hải Dương là tỉnh vốn có nhiều LNTT nổi tiếng như nghề mộc Cúc Bồ, gỗ Đồng Giao, vàng bạc Châu Khê, bánh đậu xanh Hải Dương nhưng qua các thời kỳ của lịch sử, một số nghề đã bi mai một Thực hiện chính sách đổi mới, tỉnh đang có những bước tiến nhanh chóng trong việc khôi phục làng nghề, du nhập nghề mới là bước đi cần thiết trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích mỗi làng đều có nghề để giải quyết kinh tế hộ gia đình, tiến tới mỗi làng có một công ty sản xuất, kinh doanh mặt hàng làng nghề truyền thống Hải Dương đã có nhiều chính sách nhằm khôi phục nghề truyền thống, du nhập nghề mới Tỉnh có 51 làng nghề (năm 2011), trong đó 32 làng nghề truyền thống và 19 làng nghề mới với trên 60 nghề khác nhau như sản xuất cơ khí nhỏ, sản xuất nông cụ, dệt vải, tơ lụa, chế biến thực phẩm [13]
Tỉnh đã xác định trước hết phải củng cố, nâng cao chất lượng, mẫu mã trong mỗi sản phẩm làng nghề, trang bị máy móc, thiết bị hiện đại với những quy trình công nghệ mới làm cho cơ cấu sản phẩm thủ công truyền thống của Hải Dương đã
và đang chiếm lính không những thị trường trong nước mà còn xuất khẩu Họ đã hoạt động theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, đó là luôn luôn quan tâm tới lợi ích của người tiêu dùng Để có “thị trường đầu ra” ổn định cho sản phẩm, hàng năm thông qua Sở Khoa học và Công nghệ, tỉnh đã dành một phần kinh phí nghiên cứu phục vụ cho sản xuất và đặc biệt là kinh phí chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao năng suất và chất lượng hàng hóa
Mặt khác, để người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất, có điều kiện mua sắm thêm các phương tiện, công cụ sản xuất Hải Dương chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp có những biện pháp cụ thể giúp đỡ nông dân Các ngành tài chính và thuế đang dần từng bước đưa ra những quy định hợp pháp về chứng từ, hóa đơn để giúp cho các hộ làm nghề nhập thiết bị nước ngoài đầu tư vào sản xuất theo các dự
án vay vốn tín dụng ưuđãi
Trang 33Hiện nay, tỉnh đang xúc tiến xây dựng các Trung tâm hỗ trợ tư vấn cho các làng nghề và tiến tới hòa nhập với các hội làng nghề để huy động các nguồn lực của Nhà nước vào sự phát triển của làng nghề Đồng thời có quy hoạch để phát triển làng nghề trong toàn tỉnh tới từng huyện, thị xã [13]
1.2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các tỉnh
- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích tư nhân
và các tổ chức xã hội mở cơ sở đào tạo nghề cho nông dân
- Phải xây dựng quy hoạch phát triển LNTT và tổ chức tốt công tác triển khai thực hiện quy hoạch
- Thành lập và tạo điều kiện cho hoạt động các hội, hiệp hội nghề nghiệp theo nhóm sản phẩm, tạo liên kết giữa các nhóm sản xuất-tiêu thụ
- Kết hợp phát du lịch với làng nghề truyền thống
- Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền phải quan tâm, chỉ đạo và ban hành các chủ trương, chính sách thiết thực, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương để khai thác tốt các nguồn lực
- Ngoài các chính sách của tỉnh thì các huyện, các xã phải có những giải pháp của riêng mình hỗ trợ LNTT phát triển [1]
1.2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển làng nghề thêu ren truyền thống tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Một là, muốn phục hồi và phát triển ngành nghề, làng nghề TTCN thực sự
có hiệu quả trước hết phải có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước Chính phủ cần có những hỗ trợ toàn diện đối với hoạt động của các làng nghề, từ đảm bảo nguồn nguyên liệu, đào tạo lao động đến cung cấp thông tin, quảng bá sản phẩm Những chương trình hỗ trợ toàn diện này sẽ tạo điều kiện cho hoạt động của các làng nghề
có thể phát triển một cách bền vững
- Hai là, việc sản xuất các loại hàng phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của thị trường Cải tiến mẫu mã bằng việc mời các chuyên gia của những nước nhập khẩu chính để tư vấn
Trang 34- Ba là, tăng cường việc đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, trình độ tay nghề cho người lao động của làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các viện nghiên cứu Bên cạnh đó, cần giáo dục thế hệ trẻ biết giữ gìn văn hoá truyền thống cũng như tôn vinh nghệ nhân, những người trực tiếp làm nên những sản phẩm thủ công độc đáo
- Bốn là, thành lập các tổ chức, hiệp hội ngành nghề và phát huy vai trò của
nó trong việc hỗ trợ các vấn đề về vốn, tiêu thụ sản phẩm, đào tạo…
- Năm là, áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
- Sáu là, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng (kỹ thuật, hành chính, nghiên cứu
và phát triển) tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tại làng nghề tiếp cận với các điều kiện sản xuất kinh doanh hiện đại và mở rộng thịtrường
- Bảy là, phát triển làng nghề phải xuất phát từ những chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống; phát triển làng nghề truyền thống gắn với phát triển
du lịch làng nghề Các sản phẩm thủ công ở các làng nghề, đặc biệt là ở các làng nghề thủ công thêu ren truyền thống luôn chứa đựng những giá trị văn hoá của dân tộc
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều tác giả và nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát triển làng nghề truyển thống và làng nghề thêu ren… trong đó có một số công trình khoa học tiêu biểu như:
1 Nguyễn Thị Trâm Anh (2014), Phát triển làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm tại Bản Hoa Tiến- Xã Châu Tiến- Huyện Quỳ Châu- Tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sĩ - trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
2 Thôn Văn Lâm, Báo cáo tổng kết của Hiệp hội làng nghề thêu ren Văn Lâm từ năm 2015-2017
3 Nguyễn Thu Hương (2018) Phát triển các sản phẩm truyền thống phục vụ
du lịch
4 Quách Thị Hương, Bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thêu ren Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Trường ĐH Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương, Hà Nội 2018
Trang 35Nhìn chung các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến tình hình phát triển, vai trò và hiệu quả của làng nghề truyền thống một số địa phương Tuy nhiên, tại huyện Nho Quan, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đưa ra giải pháp phát triển làng nghề thêu ren truyền thống tại huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Huyện Hoa Lư được thành lập vào ngày 27-4-1977 trên cơ sở hợp nhất huyện Gia Khánh và thị xã Ninh Bình, khi đó thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Thị xã Ninh Bình chuyển thành thị trấn Ninh Bình - thị trấn huyện lỵ huyện Hoa Lư
- Phía bắc giáp huyện Gia Viễn;
- Phía tây giáp thị xã Tam Điệp;
- Phía nam giáp huyện Yên Mô;
- Phía đông giáp huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và thành phố Ninh Bình
b Đặc điểm khí hậu
Hoa Lư mang những đặc điểm khí hậu của tiểu vùng đồng bằng sông Hồng mùa hè nắng nóng mưa nhiều đầu vụ có những đợt gió Tây Nam khô nóng gay gắt, mùa đông lạnh và ít mưa Nhiệt độ trung bình năm từ 22oC - 27oC Nhiệt độ trung bình mùa đông là 20oC Tháng lạnh nhất là tháng 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống dưới 10oC
Hoa Lư là một huyện nằm trong khu vực tiếp giáp giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Trung Bộ, có địa hình khá phức tạp, mang tính chất đặc trung của vùng núi cao và vùng bán sơn địa, đồng thời cũng là vùng đất trũng thuộc hai khu vực phân lũ của sông Hoàng Long Địa hình của huyện mang đặc điểm của ba tiểu vùng rõ rệt
c Các nguồn tài nguyên của huyện
Địa hình Hoa Lư thấp dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông, độ cao trung bình so với mặt biển từ 3 đến 5 m Hoa Lư có nhiều núi, có những dãy núi kéo dài hàng chục cây số Có hai dãy núi chính Dãy Thạch Bình xuống Yên Quang, Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, Quảng Lạc Dãy từ Xích Thổ xuống Gia Sơn, Gia Tường, Lạc Vân, Thượng Hòa
Trang 37Là vùng đất được hình thành bởi sự bồi lấp của phù sa sông Hồng đồng thời
là vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên thành phần đất đai của vùng quy hoạch tương đối phong phú Bao gồm các loại sau:
Hệ thống sông: Sông Đáy: Là chi lưu của sông Hồng bắt nguồn từ Hát Môn (Phú Thọ) đi qua địa phận Gia Viễn từ cầu Khuất đến cầu Gián dài 8 km Dòng chảy của sông Đáy ở vùng quy hoạch chịu ảnh hưởng của dòng chảy sông Hồng qua sông Đào - Nam Định, vào mùa cạn khi lưu lượng sông Đáy kiệt thì được bổ xung nguồn nước từ sông Hồng qua sông Đào Sông Hoàng Long: là phụ lưu của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi gần thị xã Hoà Bình chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ xuống sông Đáy tại cửa Gián Khẩu Mạng lưới sông chính ở lưu vực sông Hoàng Long có dạng rẻ quạt chế độ dòng chảy rất khác nhau giữa vùng núi và vùng đồng bằng Thượng nguồn có độ dốc lớn nên khi có lũ nước ở các sông cùng đổ về vùng đồng bằng gây ra lũ lụt nghiêm trọng Đây là trục tiêu nước chính của vùng, nó nhận nước trong nội vùng và lượng nước từ vùng đồi núi Hoà Bình, Hoa Lư chảy ra sông Đáy đổ ra biển
Rừng đặc dụng Hoa Lư có tên gọi đầy đủ là khu rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư, được thành lập ngày 19/05/1995 Hoa Lư có trong danh lục các khu rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2010 được xây dựng bởi Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT với diện tích 5.624 ha Khu văn hóa lịch sử Hoa Lư khi thành lập gồm phần đất thuộc các xã Ninh Hải, Trường Yên, Ninh Xuân, Ninh Hoà và Ninh Nhất, huyện Hoa Lư cũ Hiện nay khu vực này đã được mở rộng về phía tây đến tận sông Bến Đang Địa hình của khu văn hóa lịch sử này điển hình là một vùng cát-tơ đá vôi trồi lên giữa vùng đồng bằng ven biển tương đối bằng phẳng của Miền Bắc Việt Nam Vùng đá vôi nổi lên này nằm xen kẽ với hàng loạt các khe suối có nước thường xuyên và các thung lũng ngập nước theo mùa Độ cao tuyệt đối của vùng từ
10 đến 281 m.[8]
Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi đá vôi và rừng thường xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng đá vôi Theo kết quả điều tra của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng (FIPI) và Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình trong các năm 1999-2000, tổng số có 577 loài thực vật bậc cao có mặt đã được ghi nhận
Trang 38Có 10 loài thực vật quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam đã ghi nhận trong thời gian điều tra trong đó có Tuế đá vôi
Khu Văn hóa Lịch sử Hoa Lư có hàng loạt các giá trị lịch sử, văn hoá và du lịch Dưới triều đại nhà Đinh vào thế kỷ X, Hoa Lư đã được chọn là kinh đô của Việt Nam, khu vực này sau đó vẫn tiếp tục là kinh đô dưới thời Tiền Lê Có rất nhiều đền chùa ở khu vực này, chủ yếu là thời các vua của Việt Nam trong giai đoạn này Có khá nhiều hang động ở khu vực trong đó có Tràng An, Tam Cốc, Bích Động Có những con sông chảy qua vùng Tam Cốc và Tràng An để du khách có thể
đi thăm khu vực này bằng thuyền Trên thực tế, Tam Cốc, Tràng An và các di tích lịch sử khác là những tuyến du lịch nổi tiếng
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Hoa Lư có tổng diện tích tự nhiện là 21.124 ha bằng 15% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, dân số 203.652 người với 30 đơn vị hành chính Theo quy hoạch thành phố Ninh Bình mới sẽ bao gồm: Toàn bộ thành phố Ninh Bình và huyện Hoa
Lư hiện tại; Xã Gia Sinh của huyện Gia Viễn; Xã Sơn Lai và một phần diện tích của
xã Sơn Hà của huyện Nho Quan; Một phần diện tích của xã Yên Sơn và phường Tân Bình thuộc thị xã Tam Điệp; Xã Mai Sơn của huyện Yên Mô; Xã Khánh Hoà, Khánh Phú của huyện Yên Khánh Gần như thành phố Ninh Bình nằm trong ranh giới của ba con sông: sông Đáy ở phía đông, sông Hoàng Long ở phía bắc, sông Chim và sông Bến Đang ở phía Tây
Huyện Hoa Lư có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Thiên Tôn và
10 xã: Ninh An, Ninh Giang, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Khang, Ninh Mỹ, Ninh Thắng, Ninh Vân, Ninh Xuân, Trường Yên
Tổng dân số toàn huyện theo số liệu của chi cục thống kê huyện Hoa Lư tính đến tháng 12/2018 là 263.650 người, mật độ dân số là 332 người/ km2 trong đó độ tuổi lao động chiếm 66,57% điều này cho thấy huyện Hoa Lư có nguồn lao động dồi dào và cần phải có chương trình đào tạo việc làm cho lực lượng lao động này
Giao thông: Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành và đặc biệt là sự góp sức đáng kể của nhân dân địa phương, hệ thống giao thông trên toàn huyện phát triển khá mạnh Phát triển đồng bộ cùng với ngành du lịch Hiện tại, 11/11
Trang 39xã thị trấn có đường ô tô trải nhựa đến trung tâm xã và tỷ lệ cứng hóa đường giao thông theo chủ trương nông thôn mới đạt 80,30%
Hệ thống giao thông đường bộ của huyện gồm: Quốc lộ 12, quốc lộ 45, tỉnh
Tổng diện tích đất thuỷ lợi của huyện là 958,38 ha, chiếm 2,1% so với tổng diện tích tự nhiên, bao gồm diện tích chiếm đất của các công trình thuỷ lợi, kênh mương, đê điều, sông ngòi và các công trình phục vụ thuỷ lợi như trạm bơm, dự trữ phòng chống bão lụt Hiện tại, hệ thống thủy nông và hệ thống công trình hiện
có phục vụ tưới cho 10.326,88 ha đất lúa đạt 100% diện tích lúa được tưới và loại cây khác được tưới gần 96% diện tích; tiêu cho diện tích lưu vực đã được xác định đạt 100%
Tuy nhiên vào mua mưa bão lớn, địa hình thì phức tạp vẫn còn gây ra nhiều úng lụt trên quy mô lớn, gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực đem lại hiệu quả cao giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành, đã tạo thêm việc làm cho người lao động
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã có
sự tăng trưởng khá từ năm 2016 - 2018 tăng trưởng bình quân đạt khoảng 15% Cụ thể như sau: Về nông nghiệp, nếu như năm 2015 tỷ trọng nông nghiệp là 30,4%, năm 2016 là 23,5%, năm 2017 là 16% thì đến năm 2018 chỉ còn là 11% Theo đó ty trọng ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 29,5% năm 2015 lên 34,5% năm 2016, 39% năm 2017 và 38% năm 2018 Tỷ trọng ngành thương mại-dịch vụ cũng tăng từ 42,6% năm 2016, 45% năm 2017 và 51% năm 2018 Rõ ràng rằng kinh tế huyện
Trang 40Hoa Lư tiếp tục phát triển tương đối toàn diện qua các năm, tốc độ tăng trưởng khá cao, ngành sản xuất nông nghiệp giảm tương đối mạnh trong các năm gần đây, ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - thương mại phát triển theo hướng tăng dần, đặc biệt là dịch vụ - thương mại cùng với sự phát triển của các làng hoa, cây cảnh, cây ăn quả
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững
* Những thuận lợi
Huyện Hoa Lư có những thuận lợi cơ bản sau:
- Điều kiện tự nhiên nhìn chung thuận lợi cho việc phát triển đa dạng về cây trồng và vật nuôi
-Tài nguyên đất còn có thể đưa vào sử dụng với hệ số cao để nâng cao sản lượng cây trồng và vật nuôi
- Tài nguyên rừng là một tài nguyên quý, phong phú và đa dạng
- Giao thông đi lại và vị thế của vùng tương đối thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, kinh tế hàng hóa với các tỉnh lân cận
- Kinh tế huyện có xu hướng chuyển dịch tốt, tốc độ tăng trưởng khá với nguồn lao động dồi dào và trẻ
- Di tích lịch sử và phát triển du lịch rất thuận cho việc phát triển các làng nghề truyền thống, trong đó là sản phẩm thêu ren
* Những khó khăn
- Địa hình miền núi bị chia cắt mạnh gây khó khăn cho việc triển khai
KH-CN với quy mô của sản xuất lớn ở vùng nông thôn
- Trình độ nguồn nhân lực của huyện không cao
- Phong tục tập quán của người dân vùng cao vẫn còn lạc hậu
- Cơ sở hạ tầng ở khu vực vùng sâu trong nông thôn vẫn còn thấp
Những yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn về các điều kiện tự nhiên và con người của huyện Hoa Lư là những thông tin đầu vào quan trọng cho việc cân nhắc lựa chọn ưu tiên phát triển KT-XH nói chung và KTTT nói riêng Nghiên cứu lựa chọn loại hình KTTT phù hợp với điều kiện của huyện Hoa Lư là hết sức quan