Những công tác đạt được trong quản lý Nhà nước về đất đai và sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa .... Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của nông hộ sau k
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ0 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Cảnh Tùng
Trang 3Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đ0 nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của cô giáo TS
Vũ Thị Thanh Thuỷ là người đ0 hướng dẫn cho tôi thực hiện những định hướng của đề tài và hoàn thiện luận văn này
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đ0 nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của UBND x0 Tu Vũ, UBND x0 Xuân Lộc, UBND huyện Thanh Thuỷ, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, các phòng ban và nhân dân các x0 của huyện Thanh Thuỷ; các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp; sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý
Tác giả luận văn
Nguyễn Cảnh Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Lêi cam ®oan i
Lêi c¶m ¬n ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ 4
1.1.1 Giai đoạn 1945-1981 4
1.1.2 Giai đoạn 1981-1988 5
1.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới 6
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa 7
1.2.1 Vấn đề manh mún đất đai 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 12
1.2.3.1 Nguyên nhân tiến hành dồn điền đổi thửa 12
1.2.3.2 Thực trạng về manh mún ruộng đất tại Đồng bằng sông Hồng 15
1.2.3.3 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương 17
1.2.3.4 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa 18
1.2.3.5 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh 20
Trang 51.2.3.6 Những công tác đạt được trong quản lý Nhà nước về đất đai và sản
xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa 22
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 24
1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên 24
1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Thanh Thuỷ 27
2.2.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Thủy 27
2.2.3 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Thanh Thuỷ 27
2.2.4 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh tác trên địa bàn nghiên cứu 27
2.2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi thực dồn điền đổi thửa trên cơ sở các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường 28
2.2.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp chọn điểm để nghiên cứu 28
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 28
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Thuỷ 31
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 31
3.1.1.1 Vị trí địa lý 31
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 31
3.1.1.3 Khí hậu 32
3.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
Trang 63.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 37
3.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 38
3.1.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 38
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 42
3.1.2.5 Văn hoá - xã hội 43
3.1.2.6 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 44
3.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Thủy 45 3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 45
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 45
3.3 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Thanh Thuỷ 49
3.3.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 49
3.3.2 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa 50
3.3.3 Kết quả thực hiện dồn đổi ruộng đất ở huyện Thanh Thủy 54
3.3.3.1 Tình hình chung trong toàn huyện 54
3.3.3.2 Tình hình thực hiện dồn đổi ruộng đất tại các xã nghiên cứu 56
3.4 Ảnh hưởng của công tác DĐĐT đến sản xuất nông nghiệp 57
3.4.1 Sự thay đổi về các loại hình sử dụng đất 57
3.4.2 Ảnh hưởng của công tác DĐĐT đến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 60
3.4.3 Ảnh hưởng của công tác DĐĐT đến hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng 62
3.4.4 Một số kiểu sử dụng đất trước và sau chuyển đổi ruộng đất 64
3.4.5 Ảnh hưởng của công tác DĐĐT đến việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp 64
3.4.6 Ảnh hưởng của DĐĐT đến việc hình thành các trang trại sản xuất nông nghiệp 65
3.4.7 Ảnh hưởng của DĐĐT đến việc quản lý và sử dụng đất công ích 68
3.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa 69
Trang 73.5.1.Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính của 2 xã nghiên cứu trước và
sau DĐĐT 69
3.5.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của 2 xã nghiên cứu trước và sau DĐĐT 71
3.5.3 Dồn đổi ruộng đất góp phần làm nâng cao hiệu quả xã hội 74
3.5.4 Dồn đổi ruộng đất góp phần bảo vệ môi trường 76
3.5.5 Phản ứng của nông dân đối với việc thực hiện chính sách DĐĐT 77
3.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của nông hộ sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
VA : Giá trị gia tăng XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 14
Bảng 1.2: Số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phân theo quy mô sử dụng của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH 15
Bảng 1.3: Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH 16
Bảng 1.4: Đặc điểm manh mún ruộng đất của các kiểu hộ 17
Bảng 1.5: Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương 22
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Thủy giai đoạn 2005 – 2010 38
Bảng 3.2:Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính của huyện Thanh Thủy, giai đoạn 2005 – 2010 39
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất, chăn nuôi qua các năm từ 2005 – 2010 40
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Thủy năm 2010 46
Bảng 3.5: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2010 47
Bảng 3.6: Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Thanh Thủy trước và sau dồn điền đổi thửa 55
Bảng 3.7: Thực trạng ruộng đất nông nghiệp của 2 xã điều tra trước và sau khi dồn điền đổi thửa 56
Bảng 3.8: Quy mô, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau ĐĐT 60
Bảng 3.9: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 61
Bảng 3.10: Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT .62
Bảng 3.11: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa 64
Bảng 3.12: Một số kiểu sử dụng đất chính trước và sau DĐĐT 65
Bảng 3.13: Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa 66
Bảng 3.14: Số trang trại sản xuất nông nghiệp sau chuyển đổi ruộng đất 67
Bảng 3.15: Giá thầu đất công ích thực tế trước và sau dồn điền đổi thửa 69
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của hai xã nghiên cứu 71
Bảng 3.17: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại 2 xã điều tra 74
Bảng 3.18: Hiệu quả xã hội của các LUT 76
Bảng 3.19: Hiệu quả môi trường của các LUT 78
Bảng 3.20: Kết quả phỏng vấn nông hộ sau dồn điền đổi thửa 79
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế năm 2010 38 Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu các loại đất năm 2010 47 Hình 3.3: Đồng đất huyện Thanh Thủy sau khi đã DĐĐT 54 Hình 3.4: Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản
tại xã Xuân Lộc 58
Hình 3.5: Nghiệm thu các ao ở thực địa 59 Hình 3.6: Hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng sau DĐĐT 62 Hình 3.7: Trang trại chăn nuôi lợn của gia đình ông Nguyễn Văn Thanh
(khu 2 xã Tu Vũ) 66
Hình 3.8: Trang trại nuôi trồng thuỷ sản của gia đình ông Đỗ Văn Quân
(khu 8 xã Xuân Lộc) 67
Hình 3.9: Biểu đồ so sánh giá thầu đất công ích bình quân trước và sau
dồn điền đổi thửa 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn
là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt nhất đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình là Luật đất đai năm 1993 Ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân Có thể nói rằng, với chính sách mới về quyền sử dụng đất đai như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất riêng của mình Đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phòng miền Nam Điều đó đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, chè, tiêu, thuỷ sản…
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên
đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu Như vậy đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng thật hiệu quả Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh
Trang 12thần của Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính Phủ, chúng
ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội: ruộng tốt cũng như ruộng xấu, ruộng xa cũng như ruộng gần đều được chia đều tính trên một nhân khẩu cho các gia đình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán nên không đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghịêp trong hoàn cảnh mới Vậy nên nó đã cho thấy một số hạn chế, điển hình là tình trạng manh mún ruộng đất
Khái niệm manh mún ruộng đất trong nông nghiệp được hiểu trên hai khía cạnh: Một là sự manh mún về kích thước ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) Hai là sự manh mún thể hiện về quy mô đất đai trên một đơn vị sản xuất, diện tích ruộng đất quá ít không tương thích với số lượng lao động lớn và các yếu tố sản xuất khác Cả hai kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như nói trên, thì việc dồn đổi ruộng đất từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn; liền khu, liền khoảnh là việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng cơ giới hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng; đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện cho các hộ nông dân trong việc yên tâm
sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài và hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Nắm bắt được tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ chương “Dồn đổi ruộng đất” để việc sử dụng đất có hiệu quả hơn
Trên thực tế, một số tỉnh đã triển khai làm điểm, thậm chí có những nơi đã đưa ra những chính sách riêng để triển khai dồn điền đổi thửa giữa các hộ xã viên Việc dồn điền đổi thửa cũng đã thành công ở nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng cũng có những địa phương không thành công Mặt khác
Trang 13mức độ thành công ở mỗi nơi là khác nhau: có nơi công việc chỉ diễn ra nhanh chóng trong một vài tháng, nhưng có nơi kéo dài hàng năm, gây tốn kém sức người và tiền của
Thanh Thuỷ là một huyện của tỉnh Phú Thọ đã thực hiện công tác dồn điền đổi thửa bắt đầu từ năm 2005 kết thúc năm 2008, xong công tác dồn điền đổi thửa có ảnh hưởng đến sử dụng đất của các hộ nông dân hay không thì chưa đánh giá và tổng kết lại để đưa ra các kinh nghiệm, những vấn
đề tồn tại trong việc thực hiện dồn điền đổi thửa và những khuyến nghị hữu ích cho các địa phương khác thực hiện dồn điền đổi thửa được hiệu quả hơn
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất của hộ nông dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005-2010”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Thanh Thủy và rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự
- Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ
3 Ý nghĩa của đề tài
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp từ đó
đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao và bền vững, phù hợp với điều kiện của địa phương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ 1.1.1 Giai đoạn 1945-1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Những mâu thuẫn trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu
và sử dụng đất đai) đã diễn ra trong suốt thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp; trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính phủ
từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và
đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ
Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân
và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản
Trang 15xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2% Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2-2,35%/ năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói [26]
1.1.2 Giai đoạn 1981-1988
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100 Dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công đóng góp trong 3 khâu của quá trình sản xuất Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị trường Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/năm trong suốt giai đoạn 1981-1985 Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-1988 chỉ là 2,2%/năm Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc Ở miền Nam một
Trang 16loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp
đã được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng
4 năm 1988 Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975 [26]
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một
số quyền sử dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa
và thừa nhận Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp Để giải quyết các vấn đề này Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời
1.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất đai đã ra đời Những chính sách quan trọng nhất đó là Luật Đất đai năm 1993, sau đó là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai mới năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn
đề về đất đai
Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng
Trang 17ruộng đất lâu dài với 5 quyền: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng Luật Đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là 2ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30ha đối với vùng trung du và miền núi [10] Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các nông hộ Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% [3] Đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục thực hiện Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai [11]
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp
và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003 An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng
nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi [1]
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.2.1 Vấn đề manh mún đất đai
Khái niệm manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: một là
sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở
Trang 18nhiều xứ đồng Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác [18]
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục tình trạng này
Manh mún đất đai xẩy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý,
do sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm
lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của công tác địa chính,
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 thửa Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
Trang 191.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới Để khắc phục tình trạng này, từ nhiều năm nay người ta đã tiến hành dồn điển đổi thửa, tích tụ đất đai, để việc sử dụng đất được hiệu quả hơn
* Ở Nhật Bản: Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ
Nhật Bản đã ban hành chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy
mô nhỏ lên quy mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra
"sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu"
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3ha
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết
kế xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc cho thuận lợi
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dầy khoảng 1m
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất mới phát huy hiệu quả trong sử dụng đất Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở Nhật Bản đã được chuyển đổi Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa/hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa/hộ Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân; việc áp dụng máy móc vào sản
Trang 20xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000kg gạo/ha/năm năm 1992 [12]
* Ở Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ
lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy
mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29ha/trang trại Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù
có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy
mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất [2]
Trang 21* Ở Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị
manh mún Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5ha Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó Ở Indonesia nói riêng và Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xẩy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu
tư thêm lao động giảm xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê đất Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế [5]
* Ở Châu Âu và các nước phát triển khác: kể từ sau cách mạng nông
nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông
hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô
35 ha/hộ Ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 [5]
Trang 221.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.3.1 Nguyên nhân tiến hành dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn [20]
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tuỳ tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế [19]
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành dồn đổi ruộng đất Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành công tác dồn đổi ruộng đất Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân và những hạn chế do tình trạng manh mún ruộng đất gây trở ngại cho sản xuất, công tác quản lý Nhà nước về đất đai như thế nào
* Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân đầu tiên và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình, nhất là các vùng đồi núi, trung du Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương hầu như đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp, trũng
- Nguyên nhân thứ hai là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả
Trang 23con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ
- Nguyên nhân thứ ba là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ
Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất
- Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực hiện Nghị định 64/CP năm 1994 Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ + Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều cho các hộ
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu
đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng
Trang 24* Mức độ manh mún ruộng đất hiện nay thể hiện ở một số điểm:
- Tình trạng manh mún hiện nay tập trung vào đất cây hàng năm như: đất trồng lúa, đất trồng rau màu, đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày
và các loại đất trồng cây hàng năm khác Loại đất càng tốt, có điều kiện thâm canh càng cao thì càng bị phân tán manh mún
- Biểu hiện đặc trưng của sự manh mún là ruộng đất bị "chia nhỏ" để chia đều theo nguyên tắc "tốt có, xấu có, xa có, gần có" cho các hộ gia đình Vì vậy một hộ sử dụng rất nhiều thửa đất nằm rải rác trên tất cả các xứ đồng của mỗi thôn xóm, làng bản , kích thước rất đa dạng, diện tích bình quân /thửa đất lúa phổ biến là từ 200-400m2; diện tích đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày bình quân/thửa phổ biến từ 100-300m2 Riêng các tỉnh nam bộ bình quân/thửa phổ biến đất lúa là từ 2000-4000m2; đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày bình quân lên đến hàng nghìn m2
- Mức độ manh mún các vùng miền có sự khác nhau, số liệu minh hoạ được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa (m 2 )
TT Vùng sinh thái
Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau
1 Trung du miền núi Bắc Bộ 10 - 20 50 150 - 300 100 - 150
2 Đồng bằng sông Hồng 7- 10 47 300 - 400 100 - 150
3 Duyên hải Bắc Trung Bộ 7 - 10 30 300 - 500 200 - 300
4 Duyên hải Nam Trung Bộ 5 - 10 30 300- 1000 200 - 1000
5 Tây Nguyên 5 25 200 - 500 1000- 5000
6 Đông Nam Bộ 4 - 5 15 1000- 3000 1000- 5000
7 Đồng bằng sông Cửu Long 3 10 3000 - 5000 500 - 1000
(Nguồn: Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình
trạng manh mún ruộng đất trong sản xuất, năm 1998 [20])
Trang 251.2.3.2 Thực trạng về manh mún ruộng đất tại Đồng bằng sông Hồng
- Tình trạng manh mún ruộng đất ở cấp nông hộ
Ở Đồng bằng sông Hồng sự manh mún ruộng đất ở cấp nông hộ thể hiện ở các đặc điểm sau:
+ Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (khoảng 0,25ha/hộ)
+ Số lượng các hộ có diện tích từ 02 ha trở lên không đáng kể (khoảng 2116 hộ) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,20ha (1.731.533 hộ)
+ Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm
do mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Bảng 1.2: Số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phân theo quy mô sử
dụng của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH
Phân theo quy mô sử dụng
TT Tên địa danh Tổng số dưới 0,2
ha
Từ 0,2 ha đến dưới 0,5 ha
Từ 0,5 ha đến dưới 2
ha
Từ 2 ha trở lên
Trang 26100m2 chiếm đến 5 - 10% tổng số thửa, đặc biệt có những thửa đất mạ < 10m2 hoặc có những thửa chiều dài vài chục m nhưng chiều rộng chỉ từ 30 - 50cm [19]
+ Số thửa/hộ: Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất
thuộc 1 số tỉnh Đồng Bằng sông Hồng rất khác nhau, các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức độ manh mún càng cao; trung bình số thửa/hộ thấp nhất 5,7 thửa (Nam Định) và cao nhất là 11 thửa/hộ (Hải Dương), cá biệt có hộ quản lý 47 thửa/ hộ (Vĩnh Phúc); về diện tích sử dụng cũng có sự khác nhau, diện tích thửa lớn nhất là 5968m2 (Vĩnh Phúc), thửa nhỏ nhất là 5m2 (Ninh Bình) đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất Trung bình
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2003 [2])
* Các đặc điểm manh mún ruộng đất ở ĐBSH:
Hàng thế kỷ trước đây, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH đã được miêu tả khá cụ thể, với những đặc điểm như sau:
Thứ nhất: sự manh mún ruộng đất không có mối quan hệ nào với mật độ dân
Trang 27số Nói cách khác, không phải ở đâu đông dân thì ở đó ruộng đất manh mún
Thứ hai: sự manh mún ruộng đất thể hiện sự khác biệt giữa các
vùng Dường như ở các vùng có độ chênh cao so với mực nước biển thấp thì địa hình ít bị chia cắt nên đất đai ít bị xé nhỏ Các vùng có độ chênh cao
so với mực nước biển lớn hơn, địa hình bị chia cắt nhiều hơn thì ruộng đất lại manh mún hơn, hoặc càng ra gần biển, các ô thửa của ruộng càng lớn hơn
Thứ ba: ngay trong cùng một vùng, hiện tượng manh mún cũng
không giống nhau; đất trũng bị ngập nước thường xuyên hay các ruộng ngoài đê, ô thửa ít bị xé nhỏ hơn là ruộng đất cao được đê che chắn
Thứ tư: sự manh mún ruộng đất còn phụ thuộc vào đối tượng quản lý
ruộng đất Những nơi tỷ lệ diện tích đất công điền thấp thì mức độ manh mún càng cao Nói cách khác, là đất đai càng bị tư hữu triệt để thì tình trạng manh mún ô thửa càng lớn
Hiện nay, sự manh mún ruộng đất ở Đồng bằng sông Hồng không khác biệt nhiều theo quy mô thu nhập của hộ Số thửa/hộ của các loại hộ
trung bình chỉ cao hơn đôi chút so với hộ nghèo và giàu (Bảng 1.4) Sự
khác biệt không nhiều một phần là do chính sách chia đều ruộng đất/khẩu khi chia ruộng năm 1993, phần khác là do thị trường trao đổi mua bán ruộng đất nông nghiệp hoạt động còn hạn chế
Bảng 1.4: Đặc điểm manh mún ruộng đất của các kiểu hộ
(Nguồn: Tổng cục địa chính 1997[19])
1.2.3.3 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản
xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi phí lao động đầu vào
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến
Trang 28bộ kỹ thuật (TBKT) để tăng năng suất Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể
- Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có sự biến động bất ổn định
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều
bờ ngăn, tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa
- Nhà nước cũng tiết kiệm được một khoản tiền khá lớn cho quá trình lập
hồ sơ ruộng đất (ruộng đất manh mún như trước đây chỉ tăng 30 - 50%)
1.2.3.4 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn
vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân
có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên
Trang 29miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 - 8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10 - 20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm
1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng ĐBSH đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700 xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng
Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 - 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm
từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa
ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có
Trang 30nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất [26]
1.2.3.5 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
- Đến nay đã có 18 tỉnh, thành phố, gần 80 huyện và trên 700 xã, phường, thị trấn tiến hành vận động nhân dân thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa [19]
- Đã có 11 tỉnh vùng ĐBSH với 50/69 huyện, thị (52,1%) với 766/2001 xã, phường thị trấn (38,1%) tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa;
Ở Phú Thọ đã có 13/13 huyện, thị với 253/274 xã, phường, thị trấn tiến hành dồn điền đổi thửa [2]
- Về số thửa: hầu hết ở các địa phương sau thực hiện DĐĐT, số thửa đều có sự thay đổi theo chiều hướng giảm Hà Nội, trước dồn đổi bình quân có 6 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hà Tây, trước dồn đổi bình quân có 9,5 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hải Dương, trước dồn đổi bình quân có 9,2 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 3,7 thửa/hộ [2]
- Về diện tích mỗi thửa: ở Hà Nội, trước dồn đổi bình quân diện tích/thửa là 286,9m2, sau dồn đổi là 357m2/thửa; Hà Tây chỉ số này là 216m2 và 425m2; Hải Dương là 283m2 và 684m2; Thái Bình là 320m2 và 960m2 Kết quả trên cho thấy, diện tích thửa đất lớn đã tiết kiệm được diện tích đắp bờ, chia ranh giới thửa đất [4]
- DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của
hộ xã viên, giải quyết tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, những
Trang 31nghi kỵ, ngờ vực do việc giao đất không công bằng; tạo được không khí
hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm, khích lệ sản xuất, làm giàu chính đáng
- DĐĐT đã tạo động lực cho sản xuất phát triển; huy động được nguồn lực kinh tế của hộ nông dân; phát huy tính tự chủ của đơn vị cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau thực hiện dồn điền đổi thửa một vài vụ, năng suất cây trồng tăng từ 15 - 20%, giá trị thu nhập tăng từ 13 triệu đồng/ ha/năm lên 18 triệu đồng/ ha/năm và có nhiều diện tích đạt tới 25 - 30 triệu đồng/ ha/năm Nhiều địa phương sau thực hiện dồn điền đổi thửa đã sắp xếp lại lực lương lao động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thọ Xuân (Thanh Hoá), Từ Sơn, Tiên Du (Bắc Ninh) [19]
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công "chạy đồng" trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp [20]
Tóm lại: Chính sách DĐĐT đã làm cho đồng ruộng được cải thiện, tạo
được những thửa ruộng lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hoá, nông dân có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, giải phóng sức lao động, nhất là những khâu lao động nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa và dịch vụ phục vụ sản xuất trong nông thôn có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, dồn đổi ruộng đất thành công đã làm thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều hộ nông dân: trước đây họ còn do dự, chần chừ với thói quen canh tác trên những thửa ruộng nhỏ lẻ, chật hẹp, nay chuyển sang sản xuất, canh tác
Trang 32trên những thữa ruộng có quy mô lớn hơn khiến cho nếp nghĩ, cách làm cũng vượt khỏi tầm suy nghĩ " tự túc, tự cấp" để vươn lên sản xuất hàng hoá, vươn lên làm giàu phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đaị hoá nông nghiệp nông thôn
1.2.3.6 Những công tác đạt được trong quản lý Nhà nước về đất đai và
sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa
* Chuyển đổi ruộng đất khắc phục cơ bản tình trạng manh mún
Từ bảng 1.5 cho thấy: hầu hết các địa phương đã thực hiện DĐĐT với phương án phù hợp, với mục đích chống manh mún và tạo ra những ô thửa lớn Phần lớn tổng số thửa đất đều giảm từ 40 - 84% so với trước dồn đổi, bình quân số thửa từ 2 - 5 thửa/hộ, diện tích bình quân/thửa lớn hơn 600m2
Bảng 1.5: Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương
Tổng số thửa Bình quân số Thửa/ hộ Diện tích thửa nhỏ nhất (m 2 )
Diện tíchbình quân/thửa (m 2 ) Đơn vị
(Nguồn: Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, khắc phục
tình trạng manh mún trong sản xuất năm 1998 [20])
* Dồn điền đổi thửa gắn liền với công tác quản lý Nhà nước về đất đai
DĐĐT là dịp để kiểm tra lại quỹ đất nông nghiệp, công tác lập hồ sơ địa chính được nhanh chóng, chính xác Ở Ninh Bình, qua chuyển đổi ruộng đất, các huyện đã đo đạc rà soát lại quỹ đất phát hiện diện tích đất dôi dư: qua báo cáo của 22 xã phát hiện dôi dư 491,93 ha, trong đó: xã Sơn
Trang 33Hà (Nho Quan) 200ha, Yên Thắng (Yên Mô) 36,86 ha Bên cạnh đó đã có
53 xã lập hồ sơ địa chính để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý lâu dài về đất đai Điều đó đã góp phần làm cho việc quản lý Nhà nước về đất đai được chặt chẽ, nề nếp, hiệu quả hơn
DĐĐT có điều kiện tốt để rà soát, bổ sung, xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công tác quy hoạch xây dựng cơ bản, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi được gắn với quá trình thực hiện chuyển đổi ruộng đất
DĐĐT đã làm cho diện tích đất công ích của xã được dồn gọn vùng, gọn thửa để tiện quản lý, canh tác và sử dụng vào mục đích chung của xã
DĐĐT tạo các ô thửa lớn, tiết kiệm diện tích đắp bờ, phát hiện diện tích giao thiếu công bằng ở một số nơi và giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong sử dụng đất đai
* Dồn điền đổi thửa góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
Sau DĐĐT có thể nói hầu hết đồng ruộng đã được quy hoạch đảm bảo việc sử dụng lâu dài và hiệu quả Đất giao thông nội đồng, hệ thống thuỷ lợi, đất vùng chuyển đổi đều rõ ràng, đất công điền được tập trung, có thể đa dạng về hình thức và mục đích sử dụng Ở Hải Dương, sau khi chuyển đổi ruộng đất người dân đã phấn khởi, thể hiện ngay bằng việc tích cực đóng góp công sức, tiền của xây dựng mương máng, đường giao thông nội đồng ước tính lên tới hàng vạn ngày công và hàng tỷ đồng Sau DĐĐT, bà con hạch toán qua một vài vụ sản xuất thấy năng suất lúa tăng 5-
10 tạ/ha; chi phí điện nước, công lao động tiết kiệm được 10-15% Thu hoạch vụ đông, thương nhân ghé đuôi xe tận ruộng
DĐĐT đã phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong đầu tư thâm canh cây trồng, vật nuôi Có điều kiện để bố trí cơ cấu sản xuất, thời vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, tăng
vụ, tăng năng suất lao động Bước đầu hình thành các trang trại nông
Trang 34nghiệp, hiệu quả kinh tế đạt cao hơn
DĐĐT đã tác động tích cực tới nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở; từ
mô hình hợp tác, mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng.Từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản xuất hàng hoá nông sản
DĐĐT thành công giúp người nông dân tiết kiệm được thời gian lao động, chi phí sản xuất ở các khâu canh tác, giảm hẳn công "chạy đồng" ở các xứ đồng, nhiều thửa, thửa nhỏ nay tập trung đầu tư vào 2,3,4 thửa/hộ
sẽ có nhiều điều kiện để làm kỹ hơn, dự đoán và có biện pháp kịp thời, hợp
lý để giải quyết úng, hạn, sâu bệnh , hộ nông dân có vốn đầu tư mua máy móc nông nghiệp vừa phục phụ cho hộ và các hộ khác góp phần giải phóng sức lao động làm cho hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất cao hơn
Khi có thửa ruộng lớn cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và những chính sách khuyến nông, khuyến ngư .phù hợp của các cấp chính quyền đã làm nếp nghĩ của bà con thay đổi theo chiều hướng tích cực của tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
Sau DĐĐT đã hình thành những vùng chuyên canh lớn, tạo thành vùng sản xuất hàng hoá gắn với phát triển kinh tế trang trại trên các lĩnh vực: chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản Ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) sau khi thực hiện chuyển đổi ruộng đất sản xuất nông nghiệp có bước ổn định khá vững chắc, đã có nhiều địa phương có cánh đồng quy mô 5-7ha đạt giá trị 50 triệu đồng (Quỳnh Lương, Quỳnh Văn, Quỳnh Bản ) Các mô hình 50 triệu/ha/năm chủ yếu vẫn là chuyên màu với cơ cấu sử dụng 3-5 vụ lúa, màu, rau vụ đông có giá trị kinh tế cao hoặc nuôi trồng thuỷ sản
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp [7] Cần phải đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định trong sản xuất
Trang 35- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Các yếu tố như: tổng tích ôn, số giờ nắng, lượng mưa, độ
ẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí cơ cấu và năng suất của cây trồng
- Điều kiện đất đai: tính chất đất đai được quyết định bởi nguồn gốc
đá mẹ và độ phì của lớp đất bề mặt được quyết định bởi lớp phủ thực vật, cách thức sử dụng của người sử dụng đất Độ phì của đất và cách thức bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với tính chất đất có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và sử dụng cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên để mang lại hiệu quả sử dụng đất
1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
* Biện pháp kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật của con người tác động vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động có hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được mục tiêu đề ra [7]
ë các nước phát triển khi có sự tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Đến thể kỷ XXI, nông nghiệp nước ta ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần tăng cao đến 30% năng suất kinh tế [2] Như vậy nhóm các yếu tố kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, các biện pháp kỹ thuật gồm:
- Biện pháp kinh tế: vay vốn, đầu tư, hỗ trợ giá nông sản
- Biện pháp sinh học: thay đổi giống, bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên
- Biện pháp kỹ thuật: các biện pháp cải tạo đất, chăm sóc cây trồng, gieo trồng, xây dựng hệ thống thuỷ lợi
Trang 36- Biện pháp quản lý: định hướng trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng diện tích, các chính sách
* Nhóm các yếu tố tổ chức
- Công tác quy hoạch bố trí sản xuất: thực hiện công tác phân vùng quy hoạch sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển các khu công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế pháp luật bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý
- Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [6] Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó Trong tương lai hình thành nên quy mô sản xuất trên ô thửa lớn bằng việc tích tụ ruộng đất và chuyển đổi ruộng đất, đồng thời với việc xác lập các hệ thống tổ chức sản xuất như hợp tác xã, từng bước hình thành các trang trại tập trung phát triển sản xuất
* Nhóm các yếu tố xã hội
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản Có 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới sử dụng đất là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra [23]
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chính sách thuế xuất nhập khẩu nông sản, chính sách tín dụng và ngân hàng
- Sự ổn định chính trị xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của cả nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ, năng lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, trình độ đầu tư
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trước và sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ (tập chung nghiên cứu 2 xã tiêu biểu, đại diện cho 2 vùng sinh thái trong huyện Thanh Thuỷ) Xã Tu Vũ đại diện cho tiểu vùng 1: gồm 11 xã miền núi; xã Xuân Lộc đại diện cho tiểu vùng 2: gồm 4 xã trung du của huyện
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Thanh Thuỷ
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, tài nguyên đất
- Tình hình phát triển kinh tế: Cơ cấu các ngành kinh tế; cơ sở hạ tầng; lao động; dân số; giáo dục; truyền thông
2.2.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Thủy
+ Tình hình quản lý đất đai
+ Hiện trạng sử dụng đất năm 2010
2.2.3 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Thanh Thuỷ
- Cơ sở pháp lý tiến hành dồn điền đổi thửa
- Thực trạng ruộng đất trước và sau khi dồn điền đổi thửa
- Quá trình tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa
- Đánh giá kết quả đạt được của công tác dồn điền đổi thửa
2.2.4 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh
tác trên địa bàn nghiên cứu
- Sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu cây trồng của hộ nông dân
- Khả năng phát huy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; khả năng đầu tư cho sản xuất; áp dụng các phương tiện máy móc vào đồng ruộng của các hộ nông dân
- Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn nghiên cứu
Trang 382.2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi thực dồn điền đổi
thửa trên cơ sở các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường
* Chỉ tiêu về kinh tế
* Các chỉ tiêu về xã hội
* Các chỉ tiêu về môi trường
2.2.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm để nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu có các đặc điểm đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của huyện
*Xã Tu Vũ được chọn làm điểm nghiên cứu với những đặc trưng của vùng 1
- Vùng 1: gồm 11 xã miền núi của huyện, với diện tích tự nhiên 10.038,31ha, chiếm 80,24% đất tự nhiên toàn huyện, các xã này gồm: Tu
Vũ, Đào xá, Thạch Đồng, Tân Phương, Sơn Thủy, Hoàng Xá, Trung Thịnh, Trung Nghĩa, Phượng Mao, Yến Mao, thị trấn Thanh Thuỷ Đây là vùng
có địa hình đất đai tương đối phức tạp, bao quanh đồng ruộng chủ yếu là đồi, núi, ruộng đồng không được bằng phẳng nên sản xuất nông nghiệp không thuận lợi, hiệu quả kinh tế chưa cao
* Xã Xuân Lộc được chọn làm điểm nghiên cứu với những đặc trưng của vùng 2
- Vùng 2: gồm 4 xã thuộc vùng trung du, với diện tích tự nhiên 2.472,11ha, chiếm 19,76% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, các xã này gồm: Xuân Lộc, Bảo Yên, Đoan Hạ, Đồng Luận Đây là vùng đất có địa hình tương đối thấp, đất đai màu mỡ hơn vùng 1 nên sản xuất nông nghiệp
có phần thuận lợi và cho năng xuất cao hơn vùng 1
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất của huyện, xã từ các cơ quan hữu quan có liên quan như: phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê…
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thông qua phiếu điều tra phỏng vấn nông
Trang 39hộ về tình hình sử dụng đất của hộ nông dân trên địa bàn 2 xã nghiên cứu khoảng 100 hộ, được chia đều ra các khu, với tiêu chí hộ có ruộng xa, gần, thuận lợi, không thuận lợi
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế [27]
- Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chúng tôi tiến hành phân tích hiệu quả trong quá trình sản xuất các cây, con chính trên đồng đất Thanh Thuỷ thông qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu sau:
+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Nó phản ánh năng xuất đất đai trên khía cạnh lượng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
GO = ∑ Qi*Pi Trong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra
- Pi là giá của đơn vị sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch
vụ sử dụng trong quá trình sản xuất, như: chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, vận chuyển, chi phí khác Chỉ tiêu này phản ánh mức đầu tư chi phí trên một đơn vị diện tích gieo trồng
IC = ∑ Cj
Trong đó: Cj là khoản chi phí thứ j
+ Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa GO và chi phí trung gian IC;
là giá trị sản phẩm xã hội được tạo thêm trong một thơì kỳ sản xuất đó Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng đất ở khía cạnh giá trị sản phẩm mới tạo gia trên một đơn vị diện tích
Trang 40từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính (tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh
tế càng lớn
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Do điều kiện về thời gian và phạm vi nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi đánh giá hiệu quả xã hội theo một số chỉ tiêu mang tính định tính như sau:
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ ý kiến của hộ
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Khả năng sản xuất hàng hoá thể hiện ở chủng loại sản phẩm, số lượng tiêu thụ, giá cả, thị trường tiêu thụ
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất rất phức tạp, khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài để có thể kiểm chứng và đánh giá Vậy nên đề tài chỉ đánh giá hiệu quả môi trường theo một số chỉ tiêu mang tính định tính như sau:
- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì của đất, hạn chế ô nhiễm do sử dụng thuốc vệ thực vật
- Hạn chế thoái hoá đất do xói mòn, mặn hoá, mất kết cấu thông qua việc sử dụng đất thích hợp
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất, thâm canh cân đối về dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất