Tuy nhiên với diện tích trồng rừng lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài, cách chăm sóc cây trồng người dân còn ở mức độ thấp nên ở giai đoạn cây phát triển thường bị sâu bệnh hại,
Trang 1-
NGUYỄN VĂN XUYỂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ DỐC TỚI MỨC ĐỘ
BỊ BỆNH DO NẤM CERATOCYSTISSP HẠI TRÊN KEO LAI (ACACIA HYBRID) TẠI XÃ VĂN HÁN
HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, 2015
Trang 2-
NGUYỄN VĂN XUYỂN
Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ DỐC TỚI MỨC ĐỘ
BỊ BỆNH DO NẤM CERATOCYSTISSP HẠI TRÊN KEO LAI (ACACIA HYBRID) TẠI XÃ VĂN HÁN
HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận hoàn toàn trung thực, không sao chép ai Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, tạp trí, trang web theo doanh mục tài liệu tham khảo
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Giáo viên hướng dẫn Tác giả khóa luận
ThS Trịnh Quang Huy SV Nguyễn Văn Xuyển
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian rất quan trọng đối với mỗi sinh viên Đây là thời gian để củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, nghiên cứu khoa học
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá ảnh hưởng của độ
dốc tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystissp Hại trên keo lai Acacia hybrid
tại xã Văn hán huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Với lòng biết ơn vô hạn Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp đã truyền cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường, giúp em hoàn thiện năng lực công tác, nhằm đáp ứng yêu cầu của người cán bộ khoa học sau khi ra trường
Em xin trân thành cảm ơn Thầy giáo Th.S Trịnh Quang Huy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ tại UBND xã Văn Hán đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực tập
Do thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế nên bản luận văn không thể tránh khỏi những thiết sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để bản luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Văn Xuyển
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình khí hậu thủy văn của xã Văn Hán năm 2014 20
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất của xã Văn Hán năm 2014 như sau 22
Bảng 2.3: Tình hình dân số, dân tộc của xã Văn Hán năm 2014 23
Bảng 2.4: Tình hình dân số và lao động của xã Văn Hán năm 2014 24
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng xã Văn Hán năm 2014 25
Bảng 3.1: Bảng phân cấp mức độ bị bệnh 32
Mẫu bảng 3.2: Bảng điều tra bệnh hại keo do nấm Ceratocystissp 33
Bảng 4.1:Tỷ lệ bệnh và mức độ bệnh nấmCeratocystis sp Hại keo lai phân cấp theo độ dốc tại khu vực điều tra 37
Bảng 4.2: Tính giá trị trung bình tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh 38
Bảng 4.3: Bảng tỷ lệ bị bệnh và mức độ trung bình bị bệnh do nấm Ceratocystissp hại keo theo các cấp độ dốc 40
Bảng 4.4: Bảng tỷ lệ bệnh, mức độ trung bình giữa các cấp độ dốc 41
Bảng 4.5: Thể hiện kết quả kiểm định ANOVA 42
Bảng 4.6: Bảng thể hiện kết quả kiểm định lenvenne 42
Bảng 4.7: Bảng thể hiện kết quả kiểm định ANOVA ( dùng kiểm định LSD, Dunnett3 ) 43
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.5: Biểu đồtỷ lệ bị bệnh trung bình % bệnh nấm Ceratocystissp gây hại
trên keo lai 39
Hình 4.6: Biểu đồ mức độ bị bệnhtrung bình do nấm Ceratocystissp hại keo
lai 39 Hình 4.7: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ bệnh trung bình % giữa các cấp độ dốc 40 Hình 4.8: Biểu đồ biểu diễn mức độ bị bệnh trung bình % giữa các cấp độ dốc 41
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Thông tin chung về keo lai 7
2.3 Tình hình nghiên cứu Keo lai và nấm Ceratocystis 9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9
2.3.1.1 Nghiên cứu về gây trồng keo lai 9
2.3.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo 10
2.3.1.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis 12
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
2.3.2.1.Nghiên cứu về gây trồng keo lai 12
2.3.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo 13
2.3.2.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis 14
2.3.2.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh 15
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 18
2.4.1 Điều kiện tư nhiên 18
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22
2.4.2.1.Dân tộc, dân số và lao động 22
2.4.2.2 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội 25
2.4.3 Cơ sở hạ tầng của địa phương 28
Trang 9PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2.Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai 30
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của bệnh do nấm Ceratocystis theo cấp độ dốc đến sự phát triển của bệnh hại cây Keo lai 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai trồng tại xã Văn Hán,huyện Đồng Hỷ,tỉnh Thái Nguyên 31
3.4.2 Mô tả các triệu chứng bệnh 31
3.4.3 Phương pháp phân lập và mô tả đặc điểm hình thái của bệnh 31
3.4.4 Phương pháp giám định nấm gây bệnh bằng đặc điểm hình thái 31
3.4.2.Phương pháp đánh giá thiệt hại của bệnh đối với rừng trồng keo lai 32
3.4.2.1 Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh theo độ dốc 32
3.4.2.2 Phương pháp nội nghiệp 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1.Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai 35
4.1.1 Mô tả các triệu chứng của nấm bệnh 35
4.1.3 Đặc điểm hình thái của nấm bệnh 36
4.1.4 Kết quả giám định nấm gây bệnh bằng hình thái 36
4.2.1 Tỷ lệ bị bệnh (P%), mức độ bị bệnh (R%) trung bình của nấm Ceratocystics sp Hại cây Keo lai 37
4.2.2 Đánh giá thiệt hại của bệnh nấm Ceratocystis sp.đối với cây Keo lai theo cấp độ dốc 38
4.2.3 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ chung đối với nấm Ceratocystissp.Gây hại trên Keo lai 43
Trang 10PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2.Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế của nước ta cũng thay đổi từng ngày từng giờ theo chiều hướng đi lên Sự thay đổi
đó diễn ra ở nhiều ngành nghề khác nhau, các lĩnh vực khác nhau Xã hội càng phát triển thì nhu cầu con người càng cao hơn Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý nghiên cứu khoa học phải đáp ứng được nhu cầu của người dân
Cùng với sự phát triển chung của nhiều ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Hiện nay diện tích rừng đang được ngành lâm nghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường sinh thái rừng nước ta đã góp phần tăng trưởng nền kinh tế của đất nước, đồng thời cung cấp cho chúng ta lượng lâm sản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt đời sống của người nông dân Một trong những lâm sản rừng mang lại là gỗ, gỗ được sự dụng nhiều trong các ngành xây dựng, chế biến giấy, đồ dùng trong gia đình… Nhưng hiện nay diện tích rừng nước ta đang bị thu hẹp ở mức báo động Trước thực trạng đó đảng và nhà nước đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm mức khái thác rừng một cách bừa bãi, tiếp tục thực hiện kế hoạch phủ xanh đồi núi trọc, tăng độ % tre phủ, tiến hành trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập chung phục vụ nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất giấy, nhà máy sợi và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác
Tuy nhiên với diện tích trồng rừng lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài, cách chăm sóc cây trồng người dân còn ở mức độ thấp nên ở giai đoạn cây phát triển thường bị sâu bệnh hại, để rừng trồng phát triển tốt và đạt năng suất cao thì phải biết được các loại nấm hại cây, đểngười trồng tiến hành phòng trừ nấm hại cây một cách hiệu quả
Trang 12Trên thực tế tổn thất do nấm, sâu bệnh hại gây nhiều tổn thất hơn nhiều
so với các thiên tai khác trong tự nhiên, theo thống kê kết quả điều tra các nguyên nhân gây bệnh ở rừng nhiệt đới của Browm năm 1968 trong tổng số
772 loài cây ở rừng nhiệt đới khi điều tra mắc bệnh cho thấy: bệnh do nấm gây ra chiếm 83%, bệnh do cây kí sinh 12%, bệnh do vi khuẩn 3,4%, bệnh do
vi rút chiếm 1%, còn lại là các nguyên nhân khác Trong các rừng trồng cây Keo, thường bị nấm bệnh hại ở các giai đoạn phát triển làm cho rừng trồng bị chết hoặc kìm hãm sự phát triển của cây trồng Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra mầm bệnh, các tác nhân gây hạinấm hay sâu bệnh hại từ đó tìm ra giải pháp diệt trừ bệnh hại cho cây trong rừng trồng
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Keo lai (acaci hybrid) là
những cây trồng chính, được trồng với diện tích lớn và tập chung Để có thể góp phần cho quá trình chăm sóc rừng trồng và để rừng trồng đạt năng suất cao, thì việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, quá trình phát sinh và phát triển của bệnh và đề xuất giải pháp phòng trừ cho cây trồng là phải có, vừa có
ý nghĩa khoa học và ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn
Xuất phát từ những vẫn đề trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân về bệnh hại cây rừng nói chung và bệnh hại trong rừng trồng
nói riêng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của độ dốc tới
mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystissp Hại trên Keo lai Acacia hybrid tại
xã Văn Hán huyện ĐồngHỷ tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Xác định được nấm gây hại ở cây keo
Điều tra đánh giá được mức độ bệnh nấm Ceratocystis sp Hại ở cây
keo trong rừng trồng
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nấm Ceratocystis sp Và tìm các
biện pháp phòng trừ và quản lí bệnh hại
Trang 131.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Nghiên cứu đề tài giúp cho học sinh củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học, từ đó vận dụng vào thực tiến sản xuất Đồng thời có cơ hội làm quen với một số phương pháp sự dụng ngoài thực tế, cũng như trong nghiên cứu đề tài,
cụ thể cũng như điều tra đánh giá bệnh hại do mấn ceratocystis sp Gây ra ở
rừng trồng Đồng thời đây cũng là cơ hội để giúp chúng em học tập tích lũy kinh nghiệm, nâng cao rèn luyện kỹ năng làm đề tài cho bản thân
Nghiên cứu và phát hiện thêm các đặc điểm hình thái nấm hại keo lai
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Từ những kết của nghiên cứu tìm ra được bệnh nấm hại cây Keo tìm giải pháp phòng trừ bệnh hại giúp cho người trồng cây tìm ra giải pháp phòng bệnh nấm hại cây keo trên rừng trồng
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật.Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão,1997) [5].Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những
lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng
cá thể Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ cây làm cho năng suất cây trồng ở mức cao và
ổn định
Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật độ cao… Trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch.Giải quyết vấn đề bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Trang 15Để có thể hoàn thành được các nhiệm vụ trên đây, khoa học bệnh cây
có các nội dung:Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây bệnh thường rất nhiều và rất phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại cónhững trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau Một biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu và một số nguyên nhân thứ yếu.Nhầm lẫn vai trò
và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm.Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc chắn và chính xác.Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thànhdịch của bệnh cây Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định Các quy luật đó phụ thuộc vào tình trạng và đặc điểm của tập đoàn vi sinh vật gây bệnh, cây chủ và điều kiện bên ngoài Khoa học bệnh cây phải nắm được các quy luật đó.Công tác dự tính, dự báo và phòng trừ bệnh đều phải dựa trên quy luật này mới đảm bảo kết quả tốt được (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của bệnh cây Nói chung, khi cây bị nguồn bệnh xâm nhập thường có những biểu hiện phản ứng và hoạt động chống lại để tự vệ Trong tự nhiên hiện tượng này thường xảy ra và đó là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài giữa vi sinh vật gây bệnh và cây chủ Nắm được các đặc điểm chống chịu bệnh của cây ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để không ngừng củng cố, làm tăng lên để ngăn ngừa mọi tác hại của bệnh, đồng thời tìm cách đưa ra các đặc điểm đó vào các giống cây mới.Các đặc điểm chống chịu bệnh thường chỉ được pháthuy trong những điều kiện chăm sóc, kỹ thuật canh tác và khí hậu, đất đai
Trang 16nhất định Công tác chọn lọc, lai tạo các giống chống bệnh cũng như tiến hành các biện pháp phòng trừ chỉ có thể đạt kết quả thật tốt khi nắm được các quy luật này (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Nghiên cứu, xác định các phương pháp phòng trừ bệnh: Phòng trừ bệnh cây có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách có những ưu điểm
và nhược điểm của nó Vì vậy, mỗi phýõng pháp thýờng chỉ phát huy tác dụng cao nhất trong những ðiều kiện nhất ðịnh.Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thýờng không ðảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết ðýợc bệnh.Nhiệm vụ của khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Ðường Hồng Dật, 2004) [3]
Thực chất công tác phòng trừ bệnh cây không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh.Việc làm đó chỉ có ý nghĩa khi bảo vệ được cây, góp phần làm tăng năng suất, giữ năng suất cây ở mức cao nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Phương hướng chủ yếu của công tác bảo vệ thực vật là tác động các biện pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý có cơ sở và căn cứ đầy đủ, nhằm điều khiển toàn bộ sinh quần đồng ruộng, rừng cây, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt nhất, bệnh hại không thể phát triển được, đảm bảo tạo ra khối lượng nông lâm sản cao nhất, có phẩm chất tốt nhất Cho đến nay, khoa học bệnh cây đã đạt được nhiều kết quả lớn, và đã có hệ thống kiến thức có khả năng hạn chế đến mức thấp những tác hại của bệnh cây Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ có thể trở thành sức mạnh thực tế, khi những người trực tiếp sản xuất nắm vững được nó, và vận dụng tốt trong hoạt động sản xuất hàng ngày (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến, bệnh hại thường làm cho cây rừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng của cây gỗ hàng năm giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cây chết, thậm chí có thể
Trang 17gâychết hàng loạt Nước ta đã từng xảy ra các loại bệnh hại như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế
5800 ha, ở Quảng Trị trên 50 ha Bệnh khô Keo lai, bệnh khô ngọn Keo, bệnh thối cổ rễ Keo, bệnh vàng lá Keo lai… Đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất Lâm nghiệp ở nước ta Hàng năm chúng gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế, không những thế chúng còn gây ra ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (Trần Văn Mão,2003) [6]
Mục đích cuối cùng của khoa học bệnh cây là tìm ra những biện pháp
có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây, làm cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và phẩm chất tốt Trên ý nghĩa đó, công tác phòng trừ bệnh cây không thể chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh mà việc tiêu diệt nguồn bệnh chỉ có ý nghĩa khi làm cho năng suất cây trồng không bị ảnh hưởng, giải phóng được nguồn bệnh và giữ được mức ổn định trong mọi trường hợp (Roger L, 1973) [12]
2.2 Thông tin chung về keo lai
- Keo (Acacia) là một chi thực vật thuộc họ Đậu (Legumisosae), họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae) Theo đánh giá hiện nay trên toàn thế giới chi keo
Acacia có khoảng 1200 loài (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [10] Keo lai (A,
mangium x A auriculiformis) được gây trồng chủ yếu ở Việt Nam Diện tích
trồng Keo tính đến nay theo số liệu tổng hợp từ các công văn của 42 tỉnh trên
cả nước là hơn 990 nghìn ha, dẫn đầu về diện tích trong các loại cây được chọn trong trồng rừng Keo là loài cây được ưu tiên lựa chọn bởi nhiều đặc tính vượt trội như sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, cải thiện được tính chất của đất…Đặc biệt gỗ Keo rất phù hợp cho sản xuất nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu… Ở nước ta Keo được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Miền Bắc, Miền Trung,Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với mục đích chủ yếu làm nguyên liệu
Trang 18cho công nghiệp sản xuất giấy Tuy nhiên gần đây tại một số vùng trồng Keo trọng điểm trên đã xuất hiện những cây Keo bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tượng cây chết ngược, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu Các mẫu bệnh đã được phòng bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp
giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystissp.Gâyra
- Keo lai là sự kết hợp giữa hai loài: keo lá tràm (Acacia Auriculiormis)
và Keo tai tượng (Acacia Mangium) và được tuyển chọn từ những cây đầu
dòng có năng suất cao Cây có nguồn gốc ở Australia, được trồng phổ biến ở Đông Nam Á, ở Việt Nam cây được trồng rộng rãi trên toàn quốc trong những năm gần đây Cây có thể cao đến 25 - 30m, đường kính lên đến 60 - 80cm
Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng
Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt, kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu
Đặc điểm sinh thái:
Keo lai là cây ưa sáng sinh trưởng, phát triển mạnh trên những nơi đất tốt, có lượng mưa trên 1.500mm/năm, độ cao dưới 500m Cây thích hợp với
Trang 19tầng đất dầy, đất chủ yếu trồng trên các loại đất feralis, tầng dày tối thiểu 75
cm, tối ưu: 4 - 50 cm Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều có thể trồng được Tuy nhiên trên các loại đất nghèo dinh dưỡng cây vẫn có thể phát triển tốt.Nhiệt độ bình quân: 220C, tối thích từ
24 – 280C, giới hạn 400
C
2.3 Tình hình nghiên cứu Keo lai và nấm Ceratocystis
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn Năm 1874 ở châu Âu Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940 -1970) Đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh
Năm 1961 – 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo (John Boyce,1961) [11]
2.3.1.1 Nghiên cứu về gây trồng keo lai
Giống keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messirherbern
và shim vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở SookTelupid thuộc bang Sabah, Malaysia Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản
Trang 20tại ph ̣ong tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia).Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của papua New Guynea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988), của Malaysia,
ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992) Giống lai tự nhiên gữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn cả rừng trồng và đều có đạc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn
2.3.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo
- Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi keo acacia là một chi thực vật
quan trọng đối với đời sống xã hội ở nhiều nước (Bo land,1989) Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia(Maslin và Mcdonald,
1996) thì các loài Keo acacia của Ôxtrâylia được giao trồng trên 70 quốc
gia trên thế giới với diện tích khoảng 1.750.000 ha Nhiều loài trong số đó
đã đáp ứng được nhu cầu sự dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường Các loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là keo
lá tràm (A.auriculiformis), keo lá liềm (A crassicarpa), keo tai tượng (A mangium), keo đa thân (A aulacocarpa) v.v còn các loài khác như: A.colei, A tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987 House and Harwood, 1992)
G.F Browm (người anh 1968) [10] đã đề cập đến một số bệnh hại keo: Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới do nấm hại lá Glomerllacingulata, giai đoạn vô tính là nấm (Colletotrichumgleosporioides) đó
là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hai đối với loài keo acacia mangium trong
vườn giống ở Papua New Guinea (Fao 1981) và ấn độ theo nghiên cứu của lee
và Goh năm 1989 loài nấm này còn gây hại với các loài acacia ssp Đặc biệt
dưới điều kiện tự nhiên khí hậu ẩm ướt
Trang 21- Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn đô, Malaysia, philipin và Trung Quốc cũng công bố nhiều loài nấm bệnh gậy hại đối với keo như các công trình của vannhin.Rogen L (1953) [12]
- Tại hội nghị thứ 3 nhóm tư vấn và phát triển của các loài acacia,họp
tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức quốc tế như CIFOR (trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cũng đã đề cập đến
các bệnh hại loài acacia
- Năm 1988 - 1990 Benergee R, (Ấn độ) đã nghiên cứu vùng trồng keo
lá tràm ở kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidiumsp Gây hại trên
cây non từ 1 - 15 tuổi Florece E,J và đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do
nấmCorticiumsalmonicolorgây hại trên vùng trồng A, auricuformis bang
Kerela, tỷ cây chết khoảng 10%
Ganapathy N, và các đồng nghiệp ở trung tâm nghiên cứu quốc gia cây họ
đậu ở VambanẤn Độ, phát hiện sự rụng lá nghiêm trọng của cây non Acacia spp
trồng tại vùng đất khô hạn và vùng đất đỏ đá ong (pH = 5,5 - 6,0) tại Tamilladu do
nấm Corticiumsp, gây ra ở 4 loạiA.Auriculiformis,A Mangium,A.crassicarpa và
A holosericea.Meshram P Và đồng nghiệp ở viện cây rừng Madhya Pradesh Ấn
Độ nghiên cứu về sâu và bệnh gây thiệt hại cho cây A auriculiformis vườn ươm.Lucgo J.N Thuộc phòng môi trường và tài nguyên thành phố Cebu.Philippin
đã phát hiện thấy một số bệnh trên A mangium
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài Keo,
đó là nấm Glomerellacingulata gây bệnh đốm lá ở A.simsii, nấm Oidiumsp Có trên các loài A.mangium và A.auriculiformisở Trung Quốc nhưng loài A.confusa (Đài Loan tương tư) địa phương lại không bị bệnh.[9]
Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng đã được tập hợp
khá đầy đủ vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia Đông Nam Á và ấn Độ” (A Manual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, South -east Asia and India, Old et al… 2000) trong đó có các bệnh khá quen
Trang 22thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng (Powdery mildew)
Bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và bệnh nấm
2.3.1.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Năm 1874 ở châu Âu Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970),
đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh
Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một
số bệnh hại lá của keo, bạch đàn, do nấm kí sinh gây ra (Roger.1953) [12]
John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology)
đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada(John Boyce,1961) [11]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.2.1.Nghiên cứu về gây trồng keo lai
Trang 23Diện tích trồng keo lai hiên nay của việt nam là hơn 1triệu ha (chiếm hơn 30% diện tích rừng trồng toàn quốc) là nguồn nguyên liệu chính cho các ngành công nhiệp giấy bột giấy, ván nhân tạo, dăm gỗ và sản phẩm gỗ phục vụ xuất khẩu Loài Keo đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng.Loài Keo
đã và đang tính toàn cầu với hơn 3,5 triệu ha, bao gồm các loại hình rừng trồng kinh tế tập trung, rừng phòng hộ, nông lâm kết hợp và hộ gia đình
Ở Việt Nam các loài keo được gây trồng rộng rãi, các hoạt động nghiên cứu và phát triển đối với nhóm loài cây này cũng triển khai rất thành công
Những năm qua, với sự quan tâm của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo ra trên 90% số giống trong tổng số 164 giống quốc gia và gống tiến bộ kỹ thuật được công nhận cho các loài Keo Trong số các giống được công nhận, có 47 giống tiến bộ kỹ thuật là xuất xứ tốt, 70 giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng tốt và 19 giống quốc gia là các dòng tốt Thông qua trồng rừng keo, nhiều hộ nông dân Việt Nam
đã từng bước thoát nghèo và làm giàu.Rừng trồng keo đã góp phần cải tạo đất
và bảo vệ môi trường sinh thái
2.3.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo
- Từ đầu năm 1980 trở lại đây, nhiều loài Keo đã được nhập về thử
nghiệm ở nước ta như Keo tai tượng (A mangium) Keo lá liềm (A
crasscarpa).Keo lá sim (A holosericea) và sau này Keo lai tự nhiên được phát
hiện và chủ động lai tạo (Nguyễn hoàng nghĩa, 2003) [8]
Mùa xuân năm 1990, các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá tràm trồngtại
rừng trồng Từ Liêm, Hà Nội bị bệnh phấn hồng do nấm Corticiumsalmonicolor, bệnh loét thân do nấmBotryosphaeria sp Bệnh rỗng ruột do nấm Ganodermaspp
với các mức độ khác nhau Nhìn bề ngoài, lá keo bị héo vàng và thân khô đen lại Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếp theo thứ tự nặng hay nhẹ Nhìn chung bệnh đã chưa gây nên ảnh hưởng gì lớn tới sinh trưởng của cây tại rừng trồng và tác giả cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu
Trang 24hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1993) [7]
2.3.2.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
Khí hậu Việt Nam cũng đưa đến không ít những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp như: Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm cổ rễ…Phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất Lâm nghiệp
Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh.Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng nước ta lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới Mặc dù trong thời kỳ thuộc Pháp, một
số nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Lầm, 2003) [4]
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm bồ hóng… Có thể nói từ sau cách mạng tháng 8/1945 nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945) Nước ta xây dựng một nền nông - lâm nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm
Trang 25gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng: trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ: trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp pḥng trừ Ceratocystis sp
Là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài cây, là nguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều loài cây trồng nhiệt đới (Kile, 1993)
Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm
phát triển đặc biệt là nấmCeratocystissp Đã bắt đầu xuất hiện trên cây Keo tại
một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa
mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng Keo Việc nghiên cứu và phát hiện sớm bệnh ở một số vùng trồng keo trọng điểm nước ta là rất quan trọng nhằm lập
kế hoạch ngăn chặn bệnh dịch phát triển và lan rộng giảm nguy cơ thiệt hại về kinh tế và môi trường Bài báo này trình bày kết quả về phân lập, đặc điểm của nấm gây bệnh, kết quả bước đầu giám định và đánh giá hoạt tính gây bệnh đối với
Keo tai tượng của các chủng nấm Ceratocystissp Phân lập được
2.3.2.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh
Phòng trừ bệnh cây phải được thực hiện trên nguyên tắc tổng hợp, toàn diện và chủ động.Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý Trong hệ thống đó các biện pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên những tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây, loại trừ tác hại của bệnh Tổng hợp còn nhằm phát huy đến mức cao mọi điều kiện
có thể có ở các cơ sở sản xuất, không tự giới hạn trong những loại biện pháp
Trang 26nhất định nào đó Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường sống của cây và vi sinh vật gây bệnh Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây chống bệnh cần được áp dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi và từng lúc.Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Phòng trừ bệnh cây bao gồm nhiều biện pháp khác nhau.Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một loại bệnh cụ thể Chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: Kỹ thuật Lâm nghiệp (gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng), chọn giống cây chống chịu bệnh, kiểm dịch thực vật, sinh vật học, vật lý cơ giới và hoá học (Đặng Vũ Cẩn và cs, 1992) [1]
Hệ thống tổng hợp phòng trừ bệnh cây phải mang tính chất toàn diện.Tuy nhiên, từng thời gian, ở từng địa phương thường có một số loại bệnh hại giữ vị trí chủ yếu, gây hại lớn nhất Vì vậy cần xác định các loại bệnh chủ yếu và hệ thống tổng hợp các biện pháp phải tập chung giải quyết các loại bệnh chủ yếu, đồng thời kết hợp giải quyết các loại bệnh hại khác một cách hợp lý, khoa học Tính chất toàn diện không những không thể hiện ở đối tượng tác động mà các biện pháp bảo vệ cây không những đòi hỏi phải tiến hành ngoài đồng mà còn phải được thực hiện ở cả trong kho tàng, trong quá trình cất trữ, chế biến bảo quản, chuyên chở… Các biện pháp bảo vệ cây không những phải tiến hành trực tiếp trên cây mà còn phải thực hiện cả trong đất, trong không khí và trong môi trường sống của cây (Đường Hồng Dật, 1979) [2].Công tác phòng trừ bệnh cây chỉ có thể đảm bảo mang lại kết quả tốt khi
Trang 27được tiến hành một cách chủ động.Chủ động trước hết có nghĩa là dùng nhiều biện pháp tác động khác nhau, điều khiển toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng, làm sao loại trừ được tác hại của bệnh cây, tạo ra được năng suất cây trồng cao nhất Cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, để điều khiển cây trồng Muốn điều khiển được phải nắm chắc các đặc điểm của cây, nắm đầy đủ các đặc điểm tốt cũng như nhược điểm Trên cơ sở đó dùng các biện pháp khác nhau: Chế độ canh tác, phân bón, chế độ nước… Phát huy đến mức cao nhất các đặc tính chống chịu bệnh của cây Cần điều khiển quá tŕnh sinh trưởng phát triến của cây, làm sao để cho giai đoạn yếu chống chịu bệnh của cây không trùng với thời gian nguồn bệnh sinh sản và phát triển mạnh Tùy theo tình hình phát sinh
và tích lũy của nguồn bệnh mà điều khiển tốc độ cũng như quá trình phát triển của bệnh cây, làm sao tạo ra những trạng thái quan hệ giữa cây và ký sinh dẫn tới năng suất cây trồng cao nhất (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Bên cạnh việc điều khiển cây trồng áp dụng nhiều biện pháp điều hòa
số lượng và mật độ vi sinh vật gây bệnh, giữ chúng dưới mức có khả năng gây ra những thiệt hại có ý nghĩa kinh tế Đối với một số loại vi sinh vật gây bệnh, khi điều kiện cho phép, cần áp dụng những biện pháp điều khiển cho giai đoạn yếu chống chịu của cây không gặp giai đoạn sinh sản và lây lan mạnh của vi sinh vật gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Để chủ động phòng trừ bệnh cây cần điều khiển các yếu tố trong môi trường sống tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây phát triển và tạo điều kiện ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh Có thể dùng các biện pháp như: Mật độ, khoảng cách, hướng luống, tỉa cành, bấm ngọn… Để điều khiển
độ thoáng, dùng chế độ nước… Để điều khiển độ ẩm, dùng phân hữu cơ, vôi… Để điều khiển chế độ nhiệt (Đường Hồng Dật, 1979) [1]
Như vậy, để loại trừ tác hại của bệnh cây phải tiến hành trên các hướng: Phòng bệnh, tránh bệnh, tiêu diệtvi sinh vật gây bệnh, bồi dưỡng cây sau khi
Trang 28bị bệnh Các biện pháp phòng bệnh là những biện pháp được áp dụng để bảo
vệ cây chống sự sâm nhiễm và gây hại của bệnh trước khi bệnh xất hiện trên cây "trị" bệnh hay là" chữa" là những biện pháp nhằm tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh khi chúng đã xuất hiện trên cây để giải phóng cho cây khỏi nguồn bệnh và cứu chữa các bộ phận cây đã bị bệnh (Đường Hồng Dật, 2004) [3]
Nên phòng trừ bệnh ngay tại vườn ươm, phát hiện biểu hiện cây bị bệnh trước tiên nên sịt Rovral từ 2-3 lần, nhất là giai đoạn gần xuất cây đi trồng
Nên tiến hành gieo hạt thẳng vào túi bầu thay vì gieo trực tiếp rồi mới tiến hành nhổ cây vì làm như vậy để tránh nguồn bệnh có thể có sẵn trong líp gieo, gieo thẳng trong túi bầu có bệnh cũng sẽ dễ phòng ngừa
Tăng cường bón phân P và K (P phải có tỷ lệ nhất định trong hỗn hợp ruột bầu) để tăng tính kháng bệnh Đặc biệt là K để chống sự sâm nhiễm qua vách tế bào Tuyệt đối không nên dùng đơn phân nhất là N (Urê) ở lần bón thứ nhất (7 -
10 ngày sau khi trồng)vì khi phát bệnh bón N thì lá non sẽ phát triển mạnh, ngọn rất mềm và yếu, tạo ra môi trường xâm nhiễm nấm dễ thường xuyên theo dõi giao đoạn đầu sau khi trồng nếu thấy xuất hiện bệnh với tỷ lệ 5% thì nên tiến hành nhổ bỏ và đi đốt nơi khác Nếu nhiều hơn thì sẽ cắt những lá bị bệnh nhưng không quá 1/3 lá trên cây và tiến hành cắt từng đợt (đem đốt nơi khác) kết hợp với khâu làm cỏ bón phân đúng biện pháp lâm sinh
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tư nhiên
Vị trí địa
Xã Văn Hán là một xã miền núi của huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện khoảng 15km Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 65,141 ha
Về ranh giới xã Văn Hán có các vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai
Phía Nam giáp xã Nam Hòa
Trang 29Phía Đông giáp xã Cây Thị
Phía Tây giáp xã Khe Mo
Xã còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt giao thông, đường vẫn là hệ thống đường đất chưa được bê tông hóa do vậy đi lại gặp nhiều khó khăn, buôn bán với bên ngoài còn hạn chế
Địa hình xã Văn Hán huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Do cấu trúc địa chất nên địa hình của xã nghiêng dần từ đông sang tây,
độ cao trùng bình khoảng 150m, phía đông là những dãy núi đất có độ cao trung bình từ 200 - 300m, tầng đất dày, tuy nhiên lớp phủ thực vật kém nên hiện tượng xói mòn rửa trôi diễn ra phổ biến Phía Nam là dãy núi đất xen với những đồi thấp có độ cao trung bình từ 100 - 250m.Các dãy núi trên địa bàn
xã nằm trải dài nên tạo ra các thung lũng rộng, xen kẽ là những cánh đồng có khả năng phát triển nông nghiệp tốt
Đặc điểm khí hậu
Xã Văn Hán huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên ở vùng núi phía Bắc Việt Nam mang đặc trưng của khí hậu vùng trung du bán trung địa, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên đặc điểm khí hậuchia làm hai mùa rõ rệt:
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 240
C Nhiệt độ tối cao trung bình là 290
C Nhiệt độ tối thấp trung bình là 16,20
C Mùa khô: kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hướng gió chủ yếu
là hướng Bắc và hướng Đông Bắc Mùa này thường có rét kéo dài, nhiệt độ thấp, lượng nước bốc hơi lớn
Mùa mưa: kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, hướng gió chính là Nam và Đông Nam, mùa này lượng mưa lớn, gần nhưlượng mưa tập chung vào cả mùa nóng