1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện mỹ đức tp hà nội

102 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 17,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền

Trang 1

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP Hµ NéI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Lâm Thị Đào Nguyên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Nguyễn Văn Dung, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Mỹ Đức các phòng ban và nhân dân các xã trong huyện, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Tác giả luận văn

Lâm Thị Đào Nguyên

Trang 4

MỤC LỤC

2.1 Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4 2.2 Khái niệm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

2.3 Nhũng nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội 32

Trang 5

4.4.2 Tình hình bố trí các công thức luân canh cây trồng của huyện 53

4.5 Định hướng sử dụng đất canh tác huyện Mỹ Đức trong thời

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Chú giải

CPTG Chi phí trung gian

GTGT Giá trị gia tăng

Trang 7

4.7 Các công thức luân canh trên đất canh tác 55

4.9 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng II 59 4.10 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng III 59 4.11 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất vùng I 60 4.12 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất vùng II 62 4.13 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất vùng III 62 4.14 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các kiểu sử dụng đất tính trung

4.15 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công 64 4.16 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân theo quy

4.17 So sánh lượng thuốc BVTV phun thực tế cho cây rau với lượng

4.18 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trên một số công thức luân canh

Trang 8

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, sử dụng đất (đặc biệt là đất canh tác) bền vững, tiết kiệm và

có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, bởi nhiều lẽ:

Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá: Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân

Hai là, tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi: Toàn lục chỉ còn 13.340 triệu ha Trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất

do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu ha Hiện chúng ta mới khai thác được 1.500 triệu ha đất canh tác

Ba là, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm

do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng

kỹ thuât: Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có

đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác

Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác

(Nguồn: Theo tapchicongsan.org.vn)

Trang 9

Chỉ tính đến ngày 1/1/2008, Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống

kê, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.997,2 nghìn ha, chiếm 75,49 % Bình quân đất tự nhiên trên đầu người là 0,38 ha/người bằng 1/7 mức bình quân thế giới Bình quân đất

nông nghiệp trên đầu người là 0,29 ha bằng 1/3 mức bình quân thế giới

Theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) của thành phố Hà Nội

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Hà Nội sẽ chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng công nghiệp hóa, tăng diện tích đất phi nông nghiệp, giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp Theo kế hoạch, tổng diện tích đất còn lại của thành phố là 92.180 ha sẽ giảm khoảng hơn 3.300 ha đất nông nghiệp, (từ 44.168 ha năm 2008 xuống còn 40.805 ha năm 2010) Trong nội

bộ đất nông nghiệp cũng có sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng Trước hết sẽ chuyển 798 ha đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm và đất

nuôi trồng thủy sản (Theo báo điện tử - VnEconomy ngày 10/12/2008)

Mỹ Đức là một huyện nằm phía Tây Nam tỉnh Hà Tây cũ cách thủ đô

Hà Nội 54 km về phía Tây Nam Cũng giống như những huyện khác Mỹ Đức đang ngày một chuyển mình thay đổi, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh Do vậy diện tích đất canh tác sẽ bị giảm đi nhiều do chuyển sang những mục đích khác Nhưng Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn xác định nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu của huyện Vì vậy vấn đề đặt ra là phải đánh giá được hiệu quả sử dụng đất canh tác trên địa bàn tính tới thời điểm hiện tại

và định hướng cho tương lại

Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài (ở đây

chũng tôi chỉ xin đánh giá ở lĩnh vực đất canh tác) “Đánh giá hiệu quả sử

dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất canh tác và xác định các yếu

Trang 10

- Đề xuất giải pháp nhằm xử dụng đất canh tác hợp lý, đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng

sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

- Việc phân tích, xử lý số liệu phải trên cơ sở khoa học, có định tính và định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu phù hợp

- Đánh giá đúng thực trạng và đề xuất hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và chính sách của Nhà nước

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nuớc trên thế giới

Trước hết hãy làm rõ hiệu quả là gì? Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá

chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn [36]

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn

là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình

sản xuất nông nghiệp [31]

Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững, đồng thời phát

Trang 12

huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi

trường cao nhất [20]

* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất hiệu quả được thể hiện:

- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất

- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất

- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh

Việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều các yếu tố liên quan Vì vậy, xác định bản chất và khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống:

- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài

- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích chung của cả cộng đồng

- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác

- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành

Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và

hiệu quả về mặt môi trường [23]

* Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực

Trang 13

sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể

là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau trên cơ sở thực hiện vấn đề “tiết kiệm

và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác, đó là qui luật “tiết kiệm”, là

“tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng:

“Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là

cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn,…So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:

Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết

hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Việc tận dụng khai thác các

Trang 14

của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội

Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra

là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư

Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

* Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế

và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân

Trang 15

Trong sử dụng đất canh tác, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất canh tác Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất canh tác là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm

* Hiệu quả môi trường

Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay

có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái

Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh

tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững

2.2 Khái niệm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

2.2.1 Đất canh tác và quan điểm sử dụng đất canh tác

2.2.1.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả sử dụng đất canh tác

Hiệu quả sử dụng đất canh tác là một bộ phận kinh tế sản xuất nói chung Vì thế hiểu quả sử dụng đất canh tác cao góp phần nâng cao hiệu quả

Trang 16

sản xuất của toàn xã hội Đây là một chỉ tiêu khác so với các ngành sản xuất khác ở chỗ nó được tính trên một đơn vị diện tích đất canh tác

Việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả cao hay không là nhờ vào sự phát triển cân dối của các ngành trồng trọt, chăn nuôi và ngành công nghiệp chế biến nông sản trong đó ngành trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất vật chất và tác động trực tiếp vì ngành chế biến là ngành tiếp tục sau khi quá trình sản xuất của hai ngành đã hoàn thành Vì vậy trong quá trình sản xuất nông nghiệp cần phải đầu tư đúng múc giữa các ngành này tạo điều kiện cho ngành kia phát triển từ đó phát huy hiệu quả sử dụng đất canh tác

Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất canh tác có nghĩa là đất cần sử dụng hết và mọi diện tích cần được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng vùng để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, vừa giữ gìn và bảo vệ

độ phì của đất nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất

Muốn thu được hiệu quả về sử dụng đất đai nói chung và đất canh tác nói riêng cần phái tính năng suất đất đai, áp dụng đồng bộ hệ thống các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất Vấn đề đặt ra trong điều kiện có thị trường đất đai diện tích nông trại cần được mở rộng đến mức nào cho phù hợp phương hướng sản xuất từng vùng vào yêu cầu sản phẩm ở thị trường

Nhận thức đúng đắn các vấn đề trên sẽ giúp người sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất đất canh tác, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái

Xét cho cùng, đất chỉ có giá trị thông qua quá trình sử dụng của con người, giá trị đó tuỳ thuộc vào sự đầu tư trí tuệ và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất Hiệu quả của việc đầu tư này sẽ phụ thuộc rất lớn vào những lợi thế của quỹ đất đai hiện có và các điều kiện KT-XH cụ thể

Trang 17

2.2.1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất canh tác

* Nguyên tắc sử dụng đất canh tác

Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất canh tác ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái

và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất

Do đó, đất canh tác cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả kinh tế cao

Thực hiện sử dụng đất canh tác đầy đủ và hợp lý là cần thiết vì:

- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo

vệ độ phì đất

- Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ

đó nâng cao đời sống của nông dân

- Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác và phát triển nền nông nghiệp bền vững

* Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác:

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

Trang 18

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất canh tác

* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

Sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với các ngành khác là đối tượng sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, chúng có quả trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật nhất định trong điều kiện ngoại cảnh khác nhau nên điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng, ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này

là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi nuôi trồng một loại cây con nào trước hết cần xem xét điều kiện tự nhiên của một vùng một cách

tỷ mỉ để xác định đúng mô hình sản xuất mới mang lại hiệu quả kinh tế cao Nói đến sản xuất nông nghiệp trước hết phải nói đến đất đai, đặc biệt là đặc điểm sử dụng đất trong nông nghiệp Đất đai là nguồn lực có hạn cho nên cần phải sử dụng đầy đủ, hợp lý vừa khai tác độ phì của đất vừa có phương pháp bảo vệ và cải tạo đất để bổ xung chất mùn cho đất có như vậy mới mang lại hiệu quả cao mà vẫn giữ được độ phì của đất

Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang, người được giải Nobel về giải quyết lương thực tại các nước phát triển cho rằng yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất

* Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, vào cây trồng nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm

Trang 19

đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất

Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một biện pháp đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, quy trình kỹ thuật có thể góp đến 30 % năng suất kinh tế trong nền nông nghiệp nước ta Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức

Nhóm yếu tố này bao gồm:

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất

Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng hợp lý, nhằm khai thác đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

- Hình thức tổ chức sản xuất

Cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng

cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó

* Nhóm các yếu tố xã hội

Nhóm yếu tố này bao gồm:

- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất canh tác, thị

Trang 20

trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra

Thị trường là khâu quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh do đó phải nghiên cứu cung cầu của một số sản phẩm hàng hoá trong không gian và thời gian nhất định Sản xuất nông nghiệp thì mỗi nơi lại có lợi thế so sánh về một số loại nông sản khác nhau nên các cấp chính quyền có những định hướng về thị trường cho các đơn vị sản xuất để các đơn vị sản xuất bán được giá cao hơn góp phần nông cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

- Hệ thống chính sách: Đây là nhân tố lớn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất đai Có thể nói chính sách đất đai của Việt Nam đã có những thành công nổi bật Những năm gần đây Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp trong đó có chính sách giao đất cho các cơ quan kinh tế, lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức xã hội … hộ gia đình, cá nhân

sử dụng lâu dài đã góp phần nâng cao trách nhiệm cho chủ sở hữu và quá trình sử dụng bảo dưỡng cho đất được nâng lên

- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước

- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư

2.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

* Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Diện tích đất đai có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau:

- Quá trình sản xuất trên đất canh tác phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí, ) Chính vì vậy, khi

Trang 21

đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác, trước tiên phải xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 công lao động đầu tư

- Trên đất canh tác có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,

do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất

- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất canh tác theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất canh tác trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước)

- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ đến môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ, gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác, cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất canh tác có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?

* Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu, xuyên suốt mọi quá

Trang 22

chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu

xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự

ổn định lâu dài của hiệu quả

Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác có thể xem xét ở các mặt sau:

+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt đ-ược các mục tiêu KT-XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất canh tác nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao

+ Các tiêu chuẩn đó được xem xét với sự ứng dụng lý thuyết sản xuất

cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất canh tác và các yếu tố đầu vào khác

Trang 23

+ Hiệu quả sử dụng đất canh tác có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:

 Bền vững về mặt kinh tế

Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm

Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước

và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

 Bảo vệ môi trường

Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái

Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý

và sử dụng đất canh tác bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, )

Trang 24

 Bền vững về mặt xã hội

Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội Đáp ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường, ) Sản phẩm thu được phải thoã mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân

+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lí chất thải có hiệu quả

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Phương pháp xác định với chỉ tiêu đánh giá đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh hiệu quả

- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác:

+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất canh tác

+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó

- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác:

+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc

+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

Trang 25

+ Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật

và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng

sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế

+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu

+ Phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

* Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phức tạp được thể hiện rất đa dạng, phong phú Hiệu quả kinh tế việc sử dụng đất canh tác là một bộ phận của nền sản xuất sã hội Vì vậy, ngoài đặc điểm chung, việc sử dụng đất canh tác và đánh giá có những đặc thù

+ Giá trị sản xuất (GO): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ

sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)

+ Chi phí trung gian (IE): là toàn bộ chi phí vật chất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu,…)

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:

+ Giá trị gia tăng (VA): là giá trị mới tạo ra trong qúa trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian

VA = GO – IE Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả: VA/ 1ha đất ; VA/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD…) ; VA/ 1 công lao động

Trang 26

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Trong phạm vi nghiên cứu

đề tài, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến các nội dung sau:

- Mức độ thu hút lao động, giải quyết việc làm cho nông dân của các kiểu sử dụng đất

- Giá trị ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất

- Vấn đề đảm bảo an ninh lương thực đồng thời phát triển sản xuất hàng hoá

- Mức độ phù hợp với năng lực sản xuất của nông hộ, việc nâng cao trình độ và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất

* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:

- Mức đầu tư phân bón và ảnh hưởng của nó đến môi trường

- Ý kiến chung của nông dân về mức độ ảnh hưởng của các cây trồng hiện tại đối với đất

- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất canh tác là rất phức tạp, khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế- xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau

Trang 27

2.2.5 Sự cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác là một việc làm hết sức quan trọng của mỗi quốc gia vì diện tích đất có hạn, nhưng nhu cầu lương thực của

xã hội ngày một tăng Khối lượng đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp không tương xứng với khối lượng đầu ra nên nâng cao hiểu quả sản xuất phụ thuộc vào cây giống, con giống Vì thế chúng ta phải tìm cách để có được những cây giống tốt phù hợp với điều kiện từng vùng để hiệu quả đật được cao

Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn do

đó đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến thu nhập, mức sống của người dân Vì vậy các cấp, các ngành có liên quan phải tìm ra phương án tác động tốt nhất đến quá trình sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi và đó chính là nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

2.3 Nhũng nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác trên thế

giới và Việt Nam

2.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong nông nghiệp mà nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất như lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và làm nền tảng cho các quá trình sản xuất khác phát triển Vì thế trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đề ra các phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhà khoa học đều tập trung hướng nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế đối với từng loại cây trồng vật nuôi để từ đó có thể sắp xếp bố trí lại một số công thức luân canh mới phù hợp với điều kiện của từng vùng, nhằm khai thác một cách tối ưu tiềm năng đất nông nghiệp Hàng năm Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đã nghiên cứu và đưa ra những giống cây trồng, vật

Trang 28

nuôi mới giúp cho việc tạo ra một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu cao Đặc biệt viện lúa quốc tế IRRI đã có những đóng góp lớn về giống lúa hệ thống luân canh trên diện tích đất canh tác

Xu hướng chung của các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới đang

nỗ lực nghiên cứu việc bố trí luân phiên các cây trồng hợp lý bằng cách đưa một số giống cây trồng mới vào hệ thống luân canh nhằm làm tăng năng suất lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích

Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác được tiến hành ở các nước Đông Nam Á như phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia, Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp,

bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp, nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng

Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt

là của Nhật

Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, KT-XH Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các

Trang 29

cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai,

ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác

Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới, ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu á

đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác Một mặt, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường Những kết quả đạt được trong việc nghiên cứu và áp dụng những hình thức sử dụng đất suy cho cùng là nhằm thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, đó là sự thay đổi theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp một cách tương đối nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp để chuyển một bộ phận lớn loa động sang làm việc ngành nghề khác thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất

Trang 30

Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức sử dụng đất theo hướng hiện đại và chuyển sang hướng công nghiệp hoá nông nghiệp đặc biệt

là các nước châu Á trong việc sử dụng đất canh tác Chính vì vậy mà việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học tiến bộ về giống phân bón các công thức luân canh tiến bộ đẻ ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất Những hiệu quả đạt được hay không một phần là nhờ vào môi trường sinh thái nhằm để sản xuất nông nghiệp đạt cả hiệu quả xã hội và xây dựng nền nông nghiệp bền vững

2.3.2 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác tại

Từ cuối những năm 80 đến cuối những năm 90, nông nghiệp Việt Nam

đã có bước phát triển rõ rệt về nhiều mặt, từ tổ chức lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ đến các chỉ số phát triển nông nghiệp

Trong những năm gần đây ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Các nhà khoa học đều chú trọng đến phương pháp lai tạo giống cây trồng vật nuôi, phương thức chăm sóc mới có năng suất chất lượng cao để đưa vào sản xuất Nhờ đó hàng năm nước ta có nhiều giống và cây con mới được đưa vào sản xuất làm phong phú thêm hệ thống cây trồng, vật nuôi góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất đất đai

Trang 31

Do tổ chức sản xuất nông nghiệp được đổi mới và khoa học công nghệ được tăng cường, trong 10 năm (1989-1998), sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,3%/năm, sản lượng lương thực bình quân đạt 23,08 triệu tấn/năm (mỗi năm tăng bình quân trên 1 triệu tấn, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng dân số) Khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục trong 10 năm qua, từ năm 1997, Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Rau quả, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu đều tăng về sản lượng, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu nông sản trong 10 năm gần đây bình quân tăng mỗi năm 20% đã đạt và vượt 11 tỷ USD

Trong những năm qua, Việt Nam đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề

kỹ thuật và kinh tế, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn

đề như lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên

cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

Hiện nay do tác động của cơ chế thị trường đã xuất hiện nhiều mô hình canh tác mới, những công thức luân canh đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được một lượng lớn lao động dư thừa trong nông nghiệp

Ngay từ những năm 1960, GS Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra

sự chuyến biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen

để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do GS Đào Thế Tuấn chủ trì và

Trang 32

hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửu Long do GS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác

sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao

Chương trình đồng trũng 1985- 1987 do Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chủ trì, Chương trình bản đồ canh tác 1988- 1990 do Uỷ ban khoa học Nhà nước chủ trì cũng đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau

Những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng

Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN-01 (1991- 1995) do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó

Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng - 1997 cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 - 4 vụ/ năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở các vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh

tế cao đã được bố trí trong các phương thức luân canh: cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp, đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30- 35 triệu đồng/năm Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp Việt Nam còn tồn tại và phát sinh một số vấn đề, ảnh hưởng đến nông nghiệp nước ta trong thế kỷ XXI:

Trang 33

- Quỹ rừng, quỹ đất, quỹ nước, quỹ gien của nông nghiệp Việt Nam đang bị thu hẹp đến thời hạn thấp, ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp

- Môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ở một số địa phương do chất thải công nghiệp, do sử dụng bừa bãi phân hoá học, hoá chất trừ sâu, diệt cỏ, gây ô nhiễm đất canh tác, nguồn nước mặt, nước ngầm và để

dư lượng chất độc hại trong nông sản thực phẩm

- Đói nghèo đang còn tồn tại ở nhiều vùng miền núi cũng như vùng nông thôn đồng bằng Khi người dân chưa có đủ việc làm, không có thu nhập thấp Nhìn chung qua các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn khai thác tiềm năng đất đai Hiện nay mới chỉ giúp giải quyết một phần không nhỏ trong lĩnh vực sinh học và kỹ thuật canh tác, các công trình khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này Vì thế nhiều mô hình canh tác mới có năng suất cao bảo vệ được môi trường sinh thái nhưng hiệu quả kinh tế lại thấp Trái lại có nhứng nơi đạt hiệu quả kinh tế rất cao song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định Đặc biệt có những nơi với mục tiêu kinh

tế đã làm cho đất đai bị khai thác không đúng mức dẫn đến hậu quả không tốt như rửa trôi, xói mòn vì chúng ta chưa có hệ thống đánh giá hiệu quả sử dụng đất cho mỗi vùng gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng

và cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung

Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ 21

Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh

tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GNP và

Trang 34

trong lao động xã hội Trong đó đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản… Hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá… Việt Nam là một nước đang phát triển, nông nghiệp mới bắt đầu có sự chuyển dịch từ sản xuất tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa Là nước đi sau, nhưng Việt Nam có thuận lợi là có điều kiện tham khảo kinh nghiệm của những nước đi trước trong khu vực và trên thế giới về con đường phát triển nông nghiệp trong thời đại hiện nay, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm tốt, tránh được những sai lầm của các nước đi trước trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp

Bước vào thế kỷ 21, nông nghiệp Việt Nam phải phát triển theo con đường là thu hút được hiệu quả kinh tế- xã hội tối ưu, với tốc độ nhanh trong điều kiện điểm xuất phát thấp và cơ sở vật chất kỹ thuật hạn chế, trình độ sản xuất nông sản hàng hoá chưa cao?

Qua đúc kết kinh nghiệm trong nửa sau của thế kỷ 20 và tham khảo kinh nghiệm một số nước trong khu vực và thế giới, chúng ta có thể khẳng định con đường phát triển nông nghiệp Việt Nam từ thế kỷ 20 bước vào thế

kỷ 21 là: nông nghiệp sản xuất hàng hoá trên cơ sở CNH-HĐH với mức độ phù hợp yêu cầu của nông nghiệp bền vững

2.3.3 Vấn đề nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất huyện Mỹ Đức – Hà Nội

Sản xuất và phát triển kinh tế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mặt vật chất, tinh thần của toàn xã hội Khi nguồn lực sản xuất xã hội

Trang 35

ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất Ngày nay, sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững cũng là xu thế tất yếu đối với các quốc gia, các vùng,…Vì vậy, đất đai hay bất

cứ nguồn lực nào cũng cần được sử dụng một cách có hiệu quả, đầy đủ và hợp

lý Trên thực tế, Đảng và nhà nước cũng ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp nông thôn

Nông nghiệp huyện Mỹ Đức có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Nền nông nghiệp của huyện trong những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng Giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn năm qua (tính theo giá hiện hành) đạt 514.758 triệu đồng trong tổng giá trị sản xuất là 922.210 triệu đồng (chiếm hơn 50 %), trong đó trồng trọt đạt 349.256 triệu đồng Ngành nông nghiệp đã giải quyết được căn bản lương thực cho nhu cầu tiêu dùng trong huyện và một phần cung cấp cho thị trường, lương thực bình quân đầu người năm 2008 đạt kg/người/ năm

Nền kinh tế của Mỹ Đức là nền kinh tế thuần nông, huyện có tiềm năng đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên khá dồi dào Tuy nhiên, từ trước đến nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào có quy mô lớn và có ý nghĩa thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất.Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác của huyện là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn và bền vững hơn nền kinh tế nông nghiệp của huyện Mỹ Đức cần phải nghiên cứu

và triển khai có hiệu quả các giải pháp đất đai phù hợp, thiết thực với điều kiện cụ thể của huyện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cả trước mắt và lâu dài

Trang 36

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu:

Đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất chính trên địa bàn huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất canh tác, các yếu

tố liên quan đến quá trình sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện

3.2 Nội dung nghiên cứu

* Đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội có liên quan đến sử dụng đất canh tác

- Đánh giá điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, thủy văn, địa hình, địa mạo, tài nguyên đất

- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai, cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, công trình phúc lợi công cộng…)

- Rút ra thuận lợi và hạn chế trong việc sử dụng đất canh tác

* Thực trạng sử dụng đất canh tác và sản xuất ngành trồng trọt

- Hiện trạng sử dụng đất chung theo 3 nhóm đất chính

- Hiện trạng sử dụng đất canh tác

- Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp trên đất canh tác

- Đánh giá khả năng đáp ứng của quỹ đất nói chung và quỹ đất canh tác nói riêng với sự phát triển KT-XH và nhu cầu lương thực của người dân trên địa bàn huyện

Trang 37

* Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên đất canh tác

- Phân vùng đất canh tác trên địa bàn huyện: cao, vàn, trũng

- Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất vùng nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

+ Hiệu quả kinh tế: tính toán tổng vốn đầu tư, tổng thu nhập, thu nhập thực của người dân từ các loại hình sử dụng đất

+ Hiệu qủa xã hội: đó là mức độ thu hút lao động, giải quyết việc làm cho nông dân, giá trị ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực đồng thời phát triển sản xuất hàng hoá, việc nâng cao trình độ và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất

+ Hiệu quả môi trường: mức độ đầu tư phân bón và ảnh hưởng của nó đến môi trường, ý kiến chung của nông dân về mức độ ảnh hưởng của các cây trồng

* Đề xuất giải pháp sử dụng đất canh tác hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững

So sánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất, từ đó tìm ra loại hình sử

dụng đất hiệu quả nhất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát

- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, thực trạng sử dụng đất canh tác, các loại hình sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện

- Khảo sát thực địa, đối chiếu với kết quả điều tra, thu thập, phát hiện

và xử lý những sai lệch để nâng cao độ chính xác của dữ liệu

3.3.2 Phương pháp thống kê

Phân tích, xử lý số liệu theo chuỗi thời gian để nhận biết quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất và hiệu quả kinh tế sử dụng

Trang 38

đất, làm cơ sở đưa ra những giải pháp sử dụng đất hiệu quả hơn Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

3.3.3 Phương pháp điều tra nhanh nông hộ có sự tham gia của người dân

Phương pháp này được sử dụng cho các bên được hưởng lợi từ tài nguyên đất Phương pháp thực hiện thông qua việc phỏng vấn các thành viên đại diện cho các bên có liên quan (hộ gia đình, các cá nhân tập thể, )

3.3.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Các điểm nghiên cứu phải đại diện được cho các vùng sinh thái và các vùng kinh tế của huyện

3.3.5 Các phương pháp khác

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp sử dụng phần mềm tin học như: Excel, Microstation để

xử lý số liệu, xây dựng các bảng biểu và xây dựng bản đồ,…

- Phương pháp dự báo, các đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật canh tác

Trang 39

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Mỹ Đức là huyện nằm phía tây nam tỉnh Hà Tây cũ, trung tâm huyện lỵ cách thủ đô Hà Nội 54 km về phía Tây Nam Toạ độ địa lý từ: 20o35’40” đến

20o 43’40” vĩ độ bắc và 105o38’44” đến 105o49’33” kinh độ Đông

- Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ;

- Phía đông có sông Đáy là gianh giới tự nhiên với huyện ứng Hoà;

- Phía tây giáp huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi (Hoà Bình);

- Phía nam giáp huyện Kim Bảng (Hà Nam)

Thị trấn Tế Tiêu, trung tâm kinh tế - hành chính huyện - cách quận Hà Đông 38 km và cách thị xã Hà Nam 37 km, điều kiện giao lưu với các địa phương tương đối thuận lợi

Do giáp ranh giữa đồng bằng và miền núi lại có dãy núi đá vôi chạy dọc ở phía tây nên có vị trí rất quan trọng về an ninh – quốc phòng và coi đây như tuyến phòng thủ phía tây nam đối với thủ đô Hà Nội

Về mặt kinh tế, Mỹ Đức có vị trí tương đối thuận lợi do ở gần các trung tâm kinh tế và thị trường lớn như trung tâm thủ đô Hà Nội, khu công nghệ cao Hoà Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai – Miếu Môn – Hoà Lạc – Sơn Tây

Mỹ Đức trong tương lai sẽ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp rau, thực phẩm chất lượng cao và hoa cây cảnh cho các thị trường lớn này Vị trí địa lý cũng tạo tiềm năng cho Mỹ Đức phát triển công nghiệp du lịch, dịch vụ với các định hướng: du lịch tâm linh, du lịch sinh thái kết hợp nghỉ cuối tuần

…thu hút khách du lịch từ các khu đô thị lân cận Đây là đặc điểm cần hết sức chú ý trong quy hoạch sử dụng đất đai

Trang 40

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Mỹ Đức nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng với miền núi Huyện có hai dạng địa hình chính:

+ Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực úng trũng bao gồm 10 xã phía Tây huyện Độ cao trung bình so với mặt biển của dãy núi đá phía tây huyện

từ 150 m đến hơn 300 m Do phần lớn đá Kast bị nước xâm thực qua quá trình kiến tạo lâu dài nên khu vực này hình thành nhiều hang động thiên nhiên đẹp, giá trị du lịch và lịch sử lớn Điển hình là các động Hương Tích, Đại Binh, Người Xưa, Hang Luồn,…

+ Địa hình đồng bằng gồm 13 xã, thị trấn ven sông Đáy Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thuỷ lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh Độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng

từ 3,8 đến 7 m so với mặt biển Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ, tiêu biểu là Đầm Lai, Thài Lài…

Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía Tây và đồng bằng phía Đông là vùng úng trũng: vùng này có nhiều khu vực độ cao địa hình thấp tạo thành các

hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai , hồ Cầu Giậm, Bán Nguyệt, Ngái Lạng, Đồng Suối với diện tích hàng ngàn ha Khu vực này có nhiều lợi thế phát triển du lịch, nuôi thả thuỷ sản kết hợp trồng một số loại cây ăn quả,…

4.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá

rõ nét với các đặc trưng khí hậu chính như sau:

- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 23,10C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 13,60C (vào tháng 1) Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là tháng 7 trên 33,20C, mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10

Ngày đăng: 17/05/2021, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Bình (1993), “Hiệu quả sử dụng đất canh tác trên đất phù xa sông Hồng huyện Mỹ Văn – Hải Hưng”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, (10), tr. 391 – 392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng đất canh tác trên đất phù xa sông Hồng huyện Mỹ Văn – Hải Hưng
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 1993
2. Hà Thị Thanh Bình (2000), Bài giảng hệ thống canh tác nhiệt đới, Trường ĐHNNI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng hệ thống canh tác nhiệt đới
Tác giả: Hà Thị Thanh Bình
Năm: 2000
3. Nguyễn Văn Bộ (2000), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
4. Chu Văn Cấp (2001), “Một vài vấn đề cơ bản trong phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta hôm nay”, tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (1), tr. 8 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài vấn đề cơ bản trong phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta hôm nay
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2001
5. Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994), Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đường Hồng Dật và các cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
6. Vũ Năng Dũng (2001), “Quy hoạch nông nghiệp nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21”, Nông dân nông thôn Việt Nam, tr. 301 – 302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch nông nghiệp nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21”, "Nông dân nông thôn Việt Nam
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Năm: 2001
7. Vũ năng Dũng, Lê Hồng Sơn, Lê Hùng Tuấn và cộng sự (1996), Đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSH, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSH
Tác giả: Vũ năng Dũng, Lê Hồng Sơn, Lê Hùng Tuấn và cộng sự
Năm: 1996
8. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1998), kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
9. Nguyễn Điền (2001), “Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đầu thế kỷ XXI”
Tác giả: Nguyễn Điền
Năm: 2001
10. Quyền Đình Hà (1993), Đánh giá đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, ĐHNNI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Quyền Đình Hà
Năm: 1993
11. Đỗ Nguyên Hải (1999), “Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp”, Khoa học đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp”
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 1999
12. Đỗ Nguyên Hải (2000), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, ĐHNNI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2000
13. Nguyễn Văn Hoan (1996), Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế vụ đông ở hyện Nam Thanh – tỉnh Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp, ĐHNNI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế vụ đông ở hyện Nam Thanh – tỉnh Hải Hưng
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Năm: 1996
15. Hội khoa học đất (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học đất
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
16. Nguyễn thị Vòng và các cộng sự (2001), Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu cấp Tổng cục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Tác giả: Nguyễn thị Vòng và các cộng sự
Năm: 2001
17. Lân Hùng (1998), Khoa học để nông dân tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật, Báo nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học để nông dân tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật
Tác giả: Lân Hùng
Năm: 1998
18. Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990), Phân vùng sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng, Đề tài 52D.0202, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà
Năm: 1990
19. Nguyễn Thị Hồng Phấn (2001), “Cơ cấu nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Phấn
Năm: 2001
20. Nguyễn Đình Hợi (1993), Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Hợi
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1993
21. Trần An phong và cộng sự (1996), “Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 – 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam”, "Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 – 1996
Tác giả: Trần An phong và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w