Việc phân tích tình hình tài chính nhằm mục đích cung cấp thông tin về thực trạng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn trở thành công cụ hết s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
MẠC THỊ THU HUYỀN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
LIÊN DOANH TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG – COFEC
QUẬN ĐỐNG ĐA - TP.HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
MẠC THỊ THU HUYỀN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
LIÊN DOANH TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG – COFEC
QUẬN ĐỐNG ĐA - TP.HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUANG HÀ
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá kết quả học tập của học viên theo chương trình đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Lâm Nghiệp, nhà trường đã tổ chức cho học viên cuối khóa đi thực tập tốt nghiệp Được sự đồng ý của Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa đào tạo sau đại học và thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quang
Hà, tôi đã tiến hành làm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC”
Sau 5 tháng nghiêm cứu tích cực tôi đã hoàn thành đề tài này, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quang Hà, các thầy cô giáo trong Khoa Đào tạo sau đại học, đồng thời cũng chân thành gửi lời cám ơn tới tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC, ban giám hiệu tập thể cán bộ công nhân viên Trường Đại học Lâm Nghiệp, các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ kinh nghiệm
và thời gian thực tập có hạn nên bản luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu thu thập trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng năm 2013
Học viên
Mạc Thị Thu Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Các quan hệ tài chính trong doanh nghiệp 4
1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 8
1.1.4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 11
1.2 Nội dung cơ bản của quản lý tài chính doanh nghiệp 13
1.2.1 Tham gia thẩm định, dưới góc độ phân tích kinh tế và tài chính những dự án về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 13
1.2.2 Xây dựng hệ thống kế hoạch tài chính và tổ chức các biện pháp thực hiện kế hoạch 14
1.2.3 Phân tích, kiểm tra và đánh giá kết quả tài chính 15
1.3 Kiểm tra, nguyên tắc tổ chức hoạt động tài chính doanh nghiệp 15
1.3.1 Kiểm tra và đặc điểm kiểm tra tài chính 15
1.3.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động tài chính 16
1.4 Quản lý vốn 19
1.4.1 Quản lý vốn lưu động 19
1.4.2 Quản lý vốn cố định ( Vốn đầu tư dài hạn) 21
1.4.3 Quản lý vốn đầu tư tài chính 21
1.5 Phân tích tài chính doanh nghiệp 21
1.5.1 Ý nghĩa của phân tích tài chính 22
Trang 51.5.2 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp 22
1.5.3 Nội dung phân tích tài chính 23
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 24
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 24
2.2.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất kĩ thuật của công ty 26
2.2.2 Đặc điểm lực lượng lao động tại công ty 28
2.3 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.4.2 Phương pháp so sánh 37
2.4.3 Phương pháp tài chính DUPONT 37
2.4.4 Phương pháp thay thế liên hoàn 38
2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài: 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Thực trạng tài chính tại Công ty CP liên doanh tư vấn và XD -COFEC 51
3.1.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 51
3.1.2 Đặc điểm vốn sản xuất kinh doanh tại công ty 54
3.1.3 Đánh giá khả năng độc lập tự chủ về tài chính 57
3.1.4 Đánh giá khả năng thừa (thiếu) vốn của Công ty 59
3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn 61
3.2.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định 61
3.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động 64
3.2.3 Vòng quay các khoản phải thu 67
3.2.4 Vòng quay hàng tồn kho 68
3.3 Phân tích khả năng thanh toán của Công ty 69
Trang 63.3.1 Phân tích khả năng thanh toán bằng phương pháp hệ số 69
3.3.2 So sánh tổng các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả 72
3.3.3 Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của Công ty 73
3.4 Phân tích tài chính bằng sơ đồ DUPONT 77
3.5 Đánh giá về tình hình tài chính của công ty 81
3.5.1 Mặt đạt được 81
3.5.2 Những mặt hạn chế 82
3.6 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính của công ty Cổ phần Liên Doanh tư vấn và xây dựng COFEC 82
3.6.1 Một số giải pháp về vốn 83
3.6.2 Giải pháp về sản phẩm sản xuất kinh doanh dở dang và hàng tồn kho 87
3.6.3 Giải pháp về các khoản phải thu của khách hàng 88
3.6.4 Giải pháp về khả năng sinh lời: 90
3.6.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 91
3.6.6 Giải pháp về công tác tiếp thị đấu thầu và đầu tư tăng năng lực sản xuất 93
3.7 Kiến nghị 94
3.7.1.Đối với công ty 94
3.7.2 Đối với Nhà nước 95
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7θ LH (%) Tốc độ phát triển liên hoàn
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
PM Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Trang 8
(năm 2009 – 2011)
58
3.4 Tình hình thừa thiếu vốn của công ty trong 3 năm 2009 -2011 60 3.5 Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty trong 3 năm 63 3.6 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trong 3 năm 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ bộ máy tỏ chức quản lý của công ty 32
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản là ngành tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, cũng là ngành mũi nhọn trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước Thành công của ngành xây dựng cơ bản trong những năm qua là điều kiện thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Để đầu tư xây dựng cơ bản đạt được hiệu quả cao doanh nghiệp phải có biện pháp thích hợp quản lý nguồn vốn, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát trong sản xuất Quá trình xây dựng cơ bản bao gồm nhiều khâu (thiết kế, lập dự án, thẩm tra, thi công, nghiệm thu…), địa bàn thi công luôn thay đổi, thời gian thi công kéo dài nên công tác quản lý tài chính thường phức tạp, có nhiều điểm khác biệt so với các ngành kinh doanh khác
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nhất là khi Luật Doanh nghiệp được sửa đổi, trong khi các doanh nghiệp nhà nước phải thực sự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình, cụ thể là phải tự hạch toán
lỗ lãi thì các doanh nghiệp tư nhân cũng trở nên năng động hơn, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh Việc phân tích tình hình tài chính nhằm mục đích cung cấp thông tin về thực trạng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn trở thành công cụ hết sức quan trọng trong quản lý kinh tế Phân tích về tài chính cung cấp cho nhà quản lý cái nhìn tổng quát về thực trạng của doanh nghiệp hiện tại, dự báo các vấn đề tài chính trong tương lai, cung cấp cho các nhà đầu tư tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động, giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra biện pháp quản lý hữu hiệu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
là nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế mở, muốn khẳng định được vị trí của riêng mình trên thị trường, muốn chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh
Trang 11phần lớn phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả đó sẽ được đánh giá qua việc phân tích tình hình tài chính Các chỉ tiêu phân tích sẽ cho biết bức tranh về hoạt động của doanh nghiệp giúp tìm ra hướng đi đúng đắn,
có các chiến lược và quyết định kịp thời nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất
Trong luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Phân tích tình hình tài chính và
một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Công ty CP liên doanh
tư vấn và xây dựng – COFEC” tôi muốn đề cập đến vấn đề mang tính lý
thuyết, từ đó nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Công ty CP liên doanh tư vấn và xây dựng - COFEC
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu phân tích hiệu quả tài chính của Công ty CP liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Công ty
2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của Công ty
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Công ty CP Liên doanh tư vấn và xây dựng -COFEC
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng công tác quản lý tài chính của Công ty CP liên doanh tư vấn và xây dựng - COFEC
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu là các vấn đề có liên quan đến công tác quản lý
tài chính
Trang 12- Nghiên cứu tại Công ty CP liên doanh tư vấn và xây dựng - COFEC
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố
trong khoảng thời gian 2009 - 2011, số liệu khảo sát điều tra năm 2012
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sơ lý luận về quản trị tài chính
- Nghiên cứu tình hình vốn, nguồn vốn của công ty COFEC
- Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của công ty
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
- Các nhân tố ảnh hưởng tới tài chính của Công ty
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính của Công ty
CP Liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh nghiệp mà cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia mà tại đây diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh: Đầu tư, tiêu thụ và phân phối, trong đó sự tru chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hoá
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh
tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn một cách có hiệu quả
Để nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng như tình hình tài chính của các đối tượng quan tâm thì việc phân tích tài chính là rất quan trọng Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người ta có thể sử dụng thông tin đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai và triển vọng của doanh nghiệp
Trên cơ sở đó, có thể định nghĩa tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, được thực hiện thông qua các quá trình huy động và sử dụng các loại vốn, quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Các quan hệ tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
Trang 14- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc
và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận Đồng thời, các mối quan hệ tài chính này còn phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh khi thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp Điều này được thể hiện thông qua các khoản thuế
mà doanh nghiệp có nghĩa vụ pháp lý phải nộp cho ngân sách nhà nước Lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được phụ thuộc rất lớn vào chính sách thuế Mặt khác, sự thay đổi về chính sách tài chính vĩ mô của nhà nước sẽ làm thay đổi môi trường đầu tư, từ đó cũng ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh, chi phí hoạt động của từng doanh nghiệp, chẳng hạn như chính sách đầu tư , hỗ trợ tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp
- Quan hệ doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường
mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động, Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó,
Trang 15doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị thoả mãn nhu cầu của thị trường
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt các chính sách của doanh nghiệp như: chính sách phân phối thu nhập, chính sách đầu tư chính sách về cơ cấu vốn và chi phí vốn,
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, cần phải có một lượng tài sản phản ánh bên tài sản của Bảng cân đối kế toán Nếu như toàn bộ tài sản do doanh nghiệp nắm giữa được đánh giá tại một thời điểm nhất định thì sự vận động của chúng - kết quả của quá trình trao đổi - chỉ
có thể xác định tại một thời điểm nhất định và được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh Quá trình hoạt động của doanh nghiệp có sự khác biệt đáng
kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động Sự khác biệt này phần lớn
do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng doanh nghiệp quyết định Cho dù vậy, người ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp bằng hàng hoá dịch vụ đầu ra và hàng hoá dịch vụ đầu vào
Một hàng hoá dịch vụ đầu vào hay một yếu tố sản xuất là hàng hoá hay dịch vụ mà các nhà doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất - kinh doanh Các hàng hoá dịch vụ đầu vào kết hợp với nhau tạo ra hàng hoá dịch vụ đầu ra - đó là hàng loạt các hàng hoá dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc được sử dụng trong quá trình sản xuất - kinh doanh khá Như vậy trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hoà hàng hoá dịch
vụ đầu vào thành hàng hoá dịch vụ đầu ra để trao đổi Mối quan hệ giữa tài sản hiện có và hàng hoá dịch vụ đầu vào, hàng hoá dịch vụ đầu ra (tức quan
Trang 16hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh) có thể mô tả như
sau:
Hàng hoá dịch vụ sản xuất-chuyển hoá Hàng hoá dịch vụ
(mua vào) (bán ra)
Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một loại tài sản đặc
biệt - đó là tiền Chính dự trữ tiền cho phép các doanh nghiệp mua các hàng
hoá dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hoá dịch vụ để phục vụ cho mục
đích trao đổi Mọi quá trình trao đổi đều được thực hiện qua trung gian là tiền
và khái niệm dòng vật chất và dòng tiền phát sinh từ đó, tức sự dịch chuyền
hàng hoá, dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị và tổ chức kinh tế
Như vậy ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là
dòng tiền đi ra; ngược lại, tương ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch
vụ đầu ra) là dòng tiền đi vào Quy trình này được mô tả theo sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)
Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (xuất quỹ)
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ Một mặt, nó được đặc
trưng bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc trưng bởi
yếu tố cần thiết cho sự vận hành - đó là tư liệu lao động và sức lao động Quá trình
công nghệ này có tác dụng quyết định đến cơ cấu vốn và hoạt động trao đổi của
doanh nghiệp
Doanh nghiệp thực hiện trao đổi hoặc với thị trường cung cấp hàng hoá
dịch vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đầu
ra và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh
Sản xuất
chuyển hoá
Trang 17nghiệp Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó Quá trình này quyết định đến sự vận hành của sản xuất làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp Phân tích các quan hệ tài chính của doanh nghiệp cần dựa trên hai khái niệm căn bản là dòng và dự trữ Dòng chỉ xuất hiện trên cơ sở tích luỹ ban đầu mỗi hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền trong mỗi doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lượng tài sản tích luỹ của doanh nghiệp Một khối lượng tài sản, hàng hoá, hoặc tiền được đo tại một thời điểm
là một khoản dự trữ Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền tảng của tài chính doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào bản chất khác nhau của các dòng dự trữ
mà người ta phân biệt dòng tiền đối trọng và dòng tiền độc lập
1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Bản chất của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các quan
hệ tài chính trong quá trình tái sản xuất và biểu hiện ngay trong các chức năng vốn có của chúng Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng:
- Phân phối dưới hình thức giá trị của cải xã hội
- Giám đốc bằng đồng tiền mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.3.1 Chắc năng phân phối :
Chức năng phân phối là chức năng vốn có khách quan của tài chính doanh nghiệp nó thể hiện công dụng và khả năng của tài chính trong việc phân phối dưới hình thức giá trị của các khâu trong quá trình tái sản xuất và cần làm rõ 2 vấn đề sau:
- Tại sao chức năng phân phối lại được coi là chức năng vốn có của phạm trù tài chính ?
- Quan niệm về đối tượng phân phối và phân phối
Trong nền sản xuất hàng hoá, sự xuất hiện của phạm trù tài chính doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần phải có
Trang 18một lượng vốn ban đầu nhất định Lượng vốn này được phân chia thành những lượng vốn nhỏ hơn ( vốn cố định, vốn lưu động ) tương ứng với các quá trình sản xuất kinh doanh Khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh, thu nhập tiền tệ sẽ được trang trải các chi phí ban đầu đã bỏ ra và tiếp tục cho chu kỳ mới Như vậy, phân phối đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách quan của mọi quá trình sản xuất kinh doanh Tính vì vậy chức năng phân phối
có thể coi là thuộc tính khách quan của phạm trù tài chính doanh nghiệp
Cũng từ đó ta thấy, chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp được quan niệm cả về phương thức phân phối và đối tượng phân phối Tài chính ở doanh nghiệp có thể diễn ra trong từng khâu của quá trình tái sản xuất, trong sản xuất, trong trao đổi và cũng có thể diễn ra trong một phạm vi cùng một hình thức sở hữu hoặc nhiều hình thức sở hữu
Mặt khác, đối tượng phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra ở nhiều khâu trên phạm vi toàn xã hội Thể hiện ở các nguồn vốn dùng trong sản xuất kinh doanh đã được đa dạng hoá
Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện trước
ở việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp Thu nhập của doanh nghiệp trước hết được phân phối để bù đắp các yếu tố vật chất bị tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như: chi phí vật tư, nhiên liệu, khấu hao máy móc thiết bị, trả công lao động, chi phí marketing, trả lãi vay phần còn lại của thu nhập sau khi bù đắp này lại tiếp tục được phân phối: một phần nộp cho nhà nước (thuế thu nhập doanh nghiệp), phần còn lại trích lập các quỹ của doanh nghiệp và chia lợi tức cổ phần
Chức năng tài chính doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở phân phối “ thu nhập và lợi nhuận” mà nó còn hiện diện ở tất cả các khâu của quá trình tuần hoàn vốn kinh doanh Như điều chỉnh từ vốn cố định sang vốn lưu động, thu hút các nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp Như vậy, nhờ chức năng
Trang 19phân phối mà các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp được tạo lập và linh hoạt trong việc huy động và sử dụng vốn để đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn
1.1.3.2 Chức năng giám đốc:
Chức năng giám đốc cũng là một thuộc tính vốn có khách quan của phạm trù tài chính doanh nghiệp Nó biểu hiện trong việc giám sát tạo lập và sử dụng các quỹ, mục đích sử dụng và tính hiệu quả trong quá trình sản xuất và kinh doanh Tính khách quan của chức năng giám đốc xuất phát từ mục đích doanh nghiệp là nhằm bỏ vốn kinh doanh nhằm thu lại lợi nhuận càng cao càng tốt Vì vậy phải giám sát quá trình chi tiêu, quá trình đầu tư sao cho có hiệu quả tốt nhất
Chức năng giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính Bởi các chỉ tiêu tài chính phản ánh trung thực và toàn diện quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó đánh giá được thực trạng về năng lực tài chính của doanh nghiệp tại các kỳ nhất định, giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp tăng cường quản lý, điều chỉnh hoạt động tài chính của doanh nghiệp Biểu hiện tập chung nhất của chức năng giám đốc tài chính là giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Quá trình phân phối sẽ tạo ra hàng loạt các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, nhưng các quỹ này phải được hình thành từ các nguồn tài chính hợp lý và sử dụng phải có hiệu quả do vậy đây chính là công việc của chức năng giám sát
Ví như: Vốn doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác và trong quá trình sản xuất kinh doanh nó thường xuyên biến động và được bổ sung như vốn vay, phát hành trái phiếu, cổ phần hoặc có thể điều chỉnh từ nguồn vốn cố định sang nguồn vốn lưu động trong nội bộ Khả năng giám đốc tài chính cho phép người quản lý lựa chọn những quyết định tài chính đúng đắn trong việc hình thành và sử dụng các nguồn tài trợ và các quỹ của doanh nghiệp Cho phép lựa chọn những dự án đầu tư có hiệu quả và hạn chế được
Trang 20rủi ro trong kinh doanh Chức năng giám đốc tài chính trong doanh nghiệp còn giúp cho các nhà quản lý ở các cấp có biện pháp làm lành mạnh hoá quan
hệ tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hai chức năng tài chính doanh nghiệp là phân phối và giám đốc có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nhờ có phân phối mà tài chính phải có giám đốc và ngược lại nhờ có giám đốc thì phân phối mới đúng hướng và có hiệu quả và cũng nhờ hai chức năng sẽ làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.1.4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ Sự vận động của nó một mặt phải tuân theo những quy luật kinh tế khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp
là các quan hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu sự chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp Nhưng đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh doanh Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp được xem là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh
Vai trò của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua các mặt sau:
- Tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả
Đối với một doanh nghiệp, vốn là yếu tố vật chất cho sự tồn tại và phát triển Do vậy, vấn đề tổ chức huy động và phân phối sử dụng sao cho có hiệu quả trở thành nhiệm vụ rất quan trọng đối với công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vốn cũng là một loại hàng hoá, cho nên việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đều phải trả giá một khoản chi
Trang 21phí nhất định Vì thế, doanh nghiệp cần phải chủ động xác định nhu cầu vốn cần huy động, từ đó có kế hoạch hình thành cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả
Song song với quá trình huy động vốn, đảm bảo vốn tài chính doanh nghiệp cũng có vai trò tổ chức phân phối sử dụng để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất - đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh khắc nghiệt theo cơ chế thị trường trong kinh doanh, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được biểu hiện ra là:
+ Về mặt kinh tế: lợi nhuận tăng, vốn của doanh nghiệp không ngừng được bảo toàn và phát triển
+ Về mặt xã hội: các doanh nghiệp không chỉ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước mà còn không ngừng nâng cao mức thu nhập của người lao động
Để đạt được các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt tín hiệu của thị trường, lựa chọn phương án kinh doanh thích hợp và hiệu quả Trên cơ sở phương án kinh doanh đã được xác định, doanh nghiệp tổ chức bố trí sử dụng vốn theo phương châm: Tiết kiệm, nâng cao vòng quay và khả năng sinh lời của đồng vốn
- Tạo lập các đòn bẩy tài chính để kích thích điều tiết các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều người, nhiều bộ phận với nhau đặt trong các mối quan hệ kinh tế Vì vậy, nếu sử dụng linh hoạt, sáng tạo các quan hệ phân phối của tài chính để tác động đến các chính sách tiền lương, tiền thưởng và các chính sách khuyến khích vật chất khác sẽ có tác động tích cực đến việc tăng năng suất; kích thích tiêu dùng, tăng vòng quay vốn và cuối cùng là tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu người quản lý phạm phải những sai lầm trong việc sử dụng các đòn bẩy tài chính và tạo nên cơ chế quản lý tài
Trang 22chính kém hiệu quả, thì chính tài chính doanh nghiệp lại trở thành “vật cản” gây kìm hãm hoạt động kinh doanh
- Kiểm tra đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất phát từ vấn đề có tính nguyên lý là: khi đầu tư vốn kinh doanh bất
kỳ nhà doanh nghiệp nào cũng đều mong muốn đồng vốn của mình mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, do vậy với tư cách là một công cụ quản lý hoạt động kinh doanh tài chính nhất thiết phải có vai trò kiểm tra để nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả của đồng vốn
Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường xuyên liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thể các chỉ tiêu đó là chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu về các khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguốn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lời,… Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2 Nội dung cơ bản của quản lý tài chính doanh nghiệp
Tổ chức công tác tài chính trong doanh nghiệp chính là xây dựng nội dung của công tác tài chính, hình thức và phương pháp thực hiện Đây là vấn
đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp gồm những nội dung sau :
1.2.1 Tham gia thẩm định, dưới góc độ phân tích kinh tế và tài chính những dự án về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển người quản lý cần phải vạch ra những định hướng trước mắt và lâu dài cho sự sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những định hướng chủ yếu là:
Trang 23- Quy mô và tốc độ phát triển của doanh nghiệp
- Phương hướng quy mô của doanh nghiệp
- Vấn đề quảng cáo tiếp thị
- Vấn đề trang thiết bị kỹ thuật
Thực chất của các quyết định tài chính là hệ thống các biên pháp tài chính nhằm để thực hiện phương hướng và mục tiêu đã định Những quyết định về tài chính thường là:
- Các quyết định về tài trợ cho phương án kinh doanh ngắn hạn
- Các quyết định về tài trợ cho đầu tư dài hạn
- Các quyết định về điều chỉnh quy mô, kết cấu của doanh nghiệp
- Các quyết định về phân phối lợi nhuận, tạo lập và sử dụng các quỹ của
Việc xác định những luận cứ chính xác cho các quy định tài chính được coi là một nhiệm vụ then chốt để giúp đỡ quản lý doanh nghiệp có được những quyết định tài chính đúng đắn thì bộ phận tài chính phải có đầy đủ các
dữ kiện về tình hình và kết quả thực hiện hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.2.2 Xây dựng hệ thống kế hoạch tài chính và tổ chức các biện pháp thực hiện kế hoạch
Hệ thống kế hoạch tài chính trong doanh nghiệp bao gồm kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch tác nghiệp
- Kế hoạch ngắn hạn (Hàng quý, năm) gồm: Việc xác định kế hoạch vốn và nguồn vốn lưu động, lợi nhuận và phân phối lợi nhuận, sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, lập bảng tổng hợp và cân đối các nguồn ngân quỹ
- Kế hoạch dài hạn: Xác định chủ yếu các nguồn tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn, khả năng trả nợ và lợi nhuận dự kiến Hệ thống kế hoạch tài chính của doanh nghiệp phản ánh một cách cụ thể các quyết định về tài chính
Trang 24của doanh nghiệp và đưa ra những phương án để thực hiện các quyết định đó Việc xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm là khâu cơ bản của công tác kế hoạch hoá tài chính doanh nghiệp
1.2.3 Phân tích, kiểm tra và đánh giá kết quả tài chính
Qua từng thời kỳ phải tổ chức phân tích, kiểm tra và đánh giá kết quả tài chính của doanh nghiệp Thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính như: Hệ thống thanh toán, hệ số sinh lời cho phép những nhà quản lý doanh nghiệp thấy toàn cảnh bức tranh về tài chính của doanh nghiệp mình trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng của doanh nghiệp và qua việc phân tích, kiểm tra, các nhà quản lý tìm thấy những biện pháp hữu hiệu để bảo toàn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng thông qua việc phan tích, kiểm tra, lãnh đạo doanh nghiệp có những căn cứ chính xác để xây dựng các dự án về sản xuất kinh doanh cũng như các quyết định tài chính
1.3 Kiểm tra, nguyên tắc tổ chức hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Kiểm tra và đặc điểm kiểm tra tài chính
* Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là chỉ hoạt động giám sát, kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch tài chính Kiểm tra tài chính là một hệ thống quá trình hoạt động, thông thường bao gồm bốn:
- Xác lập tiêu chuẩn kiểm tra tài chính, bao gồm tiêu chuẩn chiếm dụng vốn, tiêu chuẩn chi phí và tiêu chuẩn giá thành
- Quá trình thực hiện của kế hoạch giám sát tài chính, phát hiện những khác biệt xa rời tiêu chuẩn và kế hoạch
- Phân tích nguyên nhân, thiết lập những biện pháp sửa chữa sai lệch đối với những khác biệt xuất hiện
- Thực hiện những biện pháp sửa chữa sai lệch hoặc tiến hành hiệu đính
Trang 25những tiêu chuẩn và kế hoạch
* Đặc điểm của kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền, thông qua các chỉ tiêu tài chính ( chỉ tiêu giá trị)
Phạm vi của kiểm tra tài chính có thể bao những điểm khác nhau của hoạt động kinh tế, tài chính, của lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất
1.3.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động tài chính
Để sử dụng tốt các công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trong sản xuất kinh doanh, cần thiết phải tổ chức tài chính Tổ chức tài chính là việc hoạch định chiến lược về sử dụng tài chính và hệ thống các biện pháp để thực hiện chiến lược đó nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định Tổ chức tài chính doanh nghiệp phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Nguyên tắc tôn trọng pháp luật
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều hướng đến lợi nhuận tối đa Lợi nhuận tối đa, một mặt, là một động lực mạnh
mẽ để thúc đẩy cạnh tranh tăng trưởng kinh tế Mặt khác, để đạt được lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp có thể không từ bỏ bất kỳ một điều kiện gì, kể
cả điều đó có hại đến lợi ích quốc gia, đến lợi ích của cả doanh nghiệp khác
Từ đó sẽ dẫn đến sự hỗn loạn trật tự xã hội và đó cũng chính là dấu hiệu của
sự suy thái kinh tế Vì vậy, song song với bàn tay vô hình của nền kinh tế thi trường, dứt khoát phải có “một bàn tay vô hình” của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế Một nền kinh tế thi trường hoàn hảo cần thiết phải tồn tại cả hai
cơ chế thị trường và sự quản lý của nhà nước, cũng ví như để có tiếng vỗ tay thì không thể thiếu thiếu một bàn tay
Trang 26Những phân tích trên đây cho thấy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay không thể vắng mặt sự quản lý của nhà nước Để quản lý thị trường nói chung, các doanh nghiệp nói riêng, nhà nước phải sử dụng các công cụ vĩ mô như luật pháp, các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả Các công cụ quản lý
vĩ mô của nhà nước, một mặt tạo điều kiện kích cầu mở rộng đầu tư, tạo môi trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuân khổ luật pháp kinh doanh rất chặt chẽ Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp là phải tôn trọng pháp luật Người cán bộ tài chính cần phải hiểu luật để làm đúng pháp luật, đồng thời hiểu luật để hướng kinh doanh đầu tư vào những nơi được nhà nước khuyến khích (như giảm thuế, có tài trợ tín dụng ) Đó chính
là một hướng đi khôn ngoan của các nhà doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Thứ hai, tài chính tài chính doanh nghiệp phải tôn trọng nguyên tắc hoạch toán kinh doanh:
Hoạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định tới sự sống còn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trong cơ chế bao cấp cũ ở nước ta, vấn đề hoạch toán kinh tế đã được đề cập rất nhiều và được coi là một phương thức quản lý quan trọng Tuy nhiên do khuân khổ chật hẹp, cứng nhắc của cơ chế bao cấp đã không tạo ra môi trường cũng như nhu cầu cấp bách để các doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc này Vì vậy, trên thực tế, hạch toán kinh doanh ở thời kỳ bao cấp chỉ mang tính hình thức Hoạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụng trong môi trường đích thực của
nó là nền sản xuất hàng hoá thực thụ, mà đỉnh cao của nó là cơ chế thị trường
Sở dĩ như vậy là do: Yêu cầu tối cao của nguyên tắc này (lấy thu bù chi, có doanh lợi) đã hoàn toàn trùng hợp với mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa Do có sự thống nhất đó, nên trong nền kinh tế thị trường, hoạch toán kinh doanh không chỉ có điều kiện thực hiện,
Trang 27mà còn là một nhu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện, nếu như không muốn doanh nghiệp của mình bị phá sản.
Để thực hiện được nhu cầu lấy thu bù chi, có doanh lợi của nguyên tắc hoạch toán kinh doanh, việc tổ chức công tác tài chính và doanh nghiệp phải hướng vào hàng loạt các biện pháp như: chủ động tận dụng khai thác các nguồn vốn; bảo toàn và phát huy hiệu quả đồng vốn; việc đầu tư vốn phải bám sát những yêu cầu của thị trường tất cả các biện pháp trên đây đều nhằm thực hiện một mục đích là kinh doanh phải có hiệu quả Đó là mục tiêu
số một bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động tài chính của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Ba là, công tác tổ chức tài chính phải luôn luôn giữ chữ tín:
Giữ chữ tín không phải là một tiêu chuẩn đạo đức trong đời thường, mà còn là một nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung, trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói chung Trong các hợp đồng kinh tế, các quan hệ tài chính, nếu vì một lời hứa mà chúng ta bị thô lỗ thì tốt nhất là chúng ta chịu mất tiền, còn hơn là mất danh dự, mất uy tín để làm ăn Trong thực tế kinh doanh đã cho thấy: kể làm mất chữ tín, chỉ tham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng
Bốn là, công tác tổ chức tài chính cần phải giữ nguyên tắc an toàn, phòng ngừa những rủi ro bất trắc:
Trang 28Đảm bảo an toàn, đề phòng rủi ro bất trắc cũng được coi là một trong những nguyên tắc kinh doanh nói chung, trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh có hiệu quả
Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của nguyên tắc
tổ chức tài chính doanh nghiệp: an toàn trong việc chọn nguồn vốn, an toàn trong việc góp vốn đầu tư liên doanh, an toàn trong sử dụng vốn Để đảm bảo được an toàn, trước khi ra một quyết đinh tài chính, cần cân nhắc, xem xét trên nhiều phương án, nhiều góc độ khác nhau Có thể chấp nhận một phương án đầu tư mang lại mức lợi nhuận vừa phải còn hơn là một phương án
có lợi nhuận cao nhưng lại phưu lưu, mạo hiểm Ngoài biện pháp lựa chọn các phương án, để đảm bảo an toàn trong kinh doanh, cần thiết phải tạo lập các quỹ dự phòng ( quỹ dự trữ tài chính ) hoặc mua bảo hiểm Trong việc thành lập công ty, hình thức phát hành cổ phiếu cũng là một biện pháp vừa để tập chung vốn, rồi để san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông, nhằm làm tăng độ an toàn cho vốn kinh doanh
Trên đây là những nguyên tắc hết sức cơ bản cần được quán triệt trong công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp Để tổ chức tốt công cụ tài chính doanh nghiệp, điều cần thiết tiếp theo là phải tìm hiểu những nội dung hoạt động của tài chính doanh nghiệp.
1.4 Quản lý vốn
1.4.1 Quản lý vốn lưu động
Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liên với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông, vì vậy nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh
Qua một chu kỳ sản xuất, kinh doanh vốn lưu động chuyển hóa thành
Trang 29nhiều hình thái khác nhau Đầu tiên khi tham gia vào quá trình sản xuất vốn lưu động thể hiện dưới trạng thái sơ khai của mình là tiền tệ, qua các giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được chuyển hóa sản phẩm cuối cùng Khi sản phẩm này được bán trên thị trường sẽ thu về tiền tệ hay hình thái ban đầu của vốn lưu động
Vốn lưu động bao gồm bốn thành phần chính là: vốn tiền mặt, chứng khoán khả nhượng, các khoản phải thu, hàng tồn kho
- Vốn tiền mặt: là tài sản mang hình thái tiền tệ của doanh nghiệp, bao gồm tiền mặt ( tiền mặt trong két), tiền gửi ngân hàng và các khoản tiền mặt khác Mục tiêu của quản lý vốn tiền mặt là khống chế lượng vốn tiền mặt ở mức độ thấp nhất có thể trong trường hợp kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp vận hành bình thường, đồng thời có được thu nhập lãi suất cao nhất có được từ phần vốn tiền mặt này
- Chứng khoán khả nhượng không hoàn toàn giống tiền mặt nhưng chúng có thể được chuyển thành tiền mặt một cách dễ dàng bằng cách gọi điện tới trung tâm môi giới Hơn nữa trong khi tiền mặt và các loại tín phiếu thương mại không sinh lời, chứng khoán khả nhượng vẫn đem lại một mức lợi nhuận nhất định mặc dù không cao lắm
- Các khoản phải thu: là những khoản nên thu mà chưa thu hoặc những khoản đã chi trước hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh, thuộc về loại tài sản dành cho người cho vay của doanh nghiệp Bao gồm các khoản như chứng từ khoản cần thu, công nợ cần phải thu, và các khoản thu khác, các khoản tiền hàng thanh toán trước, chi phí chờ phân bổ
- Hàng tồn kho là chỉ những tài sản được dự trữ để tiêu thụ và sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh Bao gồm thành phẩm, nguyên vật liệu, nhiên liệu và những đồ đóng gói…
Trang 301.4.2 Quản lý vốn cố định ( Vốn đầu tư dài hạn)
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Vốn cố định trong doanh nghiệp bao gồm: giá trị tài sản cố định, số tiền đầu tư tài chính dài hạn, chi phí XDCB dở dang, giá trị TSCĐ thế chấp dài hạn
Vốn cố định luân chuyển và vận động theo đặc điểm của TSCĐ được
sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất
Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển vào cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển
1.4.3 Quản lý vốn đầu tư tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ đầu tư trong phạm vi nội bộ mà cũng có thể đầu tư một số vốn kinh doanh của mình ra bên ngoài Phần vốn của doanh nghiệp được đầu tư dài hạn ra bên ngoài nhằm mục tiêu sinh lời và đảm bảo an toàn về vốn, được gọi là đầu tư tài chính
Có rất nhiều hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài, nhưng biện pháp thường được sử dụng là: mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc liên doanh liên kết Đây cũng là những biện pháp để có thể kéo dài chu kỳ sống của tổ chức, phân tán rủi ro, bảo toàn và phát triển vốn
1.5 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên báo cáo tài chính,
Trang 31đồng thời đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ
sở đó kiến nghị những biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu
Hay nói cách khác, phân tích tài chính doanh nghiệp là làm sao cho các con số trên báo cáo tài chính “ biết nói” để người sử dụng chúng có thể hiểu
rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp và các mục tiêu, các phương pháp hành động của những nhà quản lý doanh nghiệp đó
1.5.1 Ý nghĩa của phân tích tài chính
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế cần phải thường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó công tác phân tích tài chính giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau:
- Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp củng cố tốt hơn hoạt động tài chính của mình
- Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của nhà nước, xem xét việc cho vay vốn
1.5.2 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với những ý nghĩa trên nhiệm vụ phân tích tài chính bao gồm:
Trang 32- Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân
bổ vốn, nguồn vốn có hợp lý hay không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa, thiếu vốn
- Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của nhà nước
- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn
Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
1.5.3 Nội dung phân tích tài chính
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
- Đánh giá khả năng độc lập tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Đánh giá tình trạng cân đối (thừa, thiếu) vốn
- Đánh giá tình hình đầu tư của doanh nghiệp
- Phân tích cơ cấu vốn và nguồn vốn
- Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng - COFEC là doanh nghiệp cổ phần hoá, được đăng kí lại và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ Công ty liên doanh về Kĩ thuật Nền móng và Công trình
COFEC tiền thân là Công ty chuyên ngành về tư vấn xây dựng được thành lập trên cơ hợp tác khoa học và công nghệ, liên doanh giữa Trung tâm triển khai kỹ thuật thuộc viện Khoa học kỹ thuật xây dựng - Bộ xây dựng (Việt Nam) và Công ty A B V Engineering Pte.Ltd (Thụy Điển) đăng ký chi nhánh tại Singapore theo quyết định số 226/GP ngày 14 tháng 08 năm 1991
do Ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư cấp (nay là Bộ kế hoạch và dâud tư)
Ngày đầu mới thành lập Công ty liên doanh và Kỹ Thuật và Nền Móng và Công Trình thực hiện các dịch vụ tư vấn thiết kế, khảo sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng, đào tạo đội ngũ kỹ thuật và công nhân trong lĩnh vực nền móng
Ngày 22 tháng 11 năm 1996 Công ty được cấp giấy phép đầu tư theo quyết định số 226/GPDDC1 ngày 26 tháng 12 năm 1995 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ sung lĩnh vực hoạt động cho công ty là: Tư vấn đấu thầu và lập hợp đồng kinh tế, lập dự án đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng; Tư vấn thiết kế quy hoạch chi tiết và lập tổng dự toán; Tư vấn xác định đánh giá nguyên nhân gây sự cố và các yếu tố liên quan để lập phương án sửa chữa; Đồng thời đào tạo đội ngũ kỹ thuật và công nhân trong lĩnh vực nền móng
Ngày 15 tháng 12 năm 2010 công ty chính thức được đăng kí lại và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo Giấy chứng nhận đầu tư số:
Trang 34011032001056 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư thành công ty cổ phần và chính thức lấy tên là Công ty cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng - COFEC
* Các thông tin giao dịch chính của công ty
Tên giao dịch chính thức của công ty là:
Tên tiếng Việt: “Công ty cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC” Tên tiếng Anh: “John stock company for civil engineering consultant
and construction”
Tên viết tắt: COFEC, JSC
Địa chỉ đăng kí: 64/49/6 Nguyễn Lương Bằng - Quận Đống Đa - TP Hà Nội Văn phòng đại diện tại Hà Nội: Tầng 4 toà nhà N4B khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính - Đường Lê Văn Lương - Phường Nhân Chính - Quận Thanh Xuân - TP
- Thiết kế quy hoạch chi tiết khu dân cư, khu công nghiệp
- Thiết kế và lập tổng dự toán các công trình dân dụng, các công trình xây dựng nhóm B,C và hạng mục nhóm A
- Thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng
dự toán công trình xây dựng
Trang 35- Lập hồ sơ mời thầu, tư vấn đấu thầu và hợp đồng kinh tế về thiết kế, quản lý dự án, xây lắp các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp
- Xác định hiện trạng, đánh giá nguyên nhân sự cố các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp và các yếu tố khác liên quan để lập phương án gia cố sửa chữa
- Kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp chất lượng công trình xây dựng
2.2 Đặc điểm các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh của công ty
2.2.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất kĩ thuật của công ty
Công ty cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng COFEC có đầy đủ cơ
sở vật chất trang thiết bị hiện đại nhằm phục vụ cho công tác tư vấn và kiểm định triển khai các hoạt động khoa học trong ngành xây dựng thiết kế, thẩm định các dự án công trình Hàng năm máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều được bảo dưỡng, sửa chữa để đảm bảo
an toàn trong lao động cho công nhân và nâng cao hiệu quả làm việc của máy móc thiết bị Cơ cấu tài sản cố định của công ty tính đến 31/12/2011 được thể hiện qua biểu 2.1:
Cơ sở vật chất của Công ty hiện nay gồm có:
- Nhà cửa, vật kiến trúc gồm có nhà 3 tầng là trụ sở trung tâm của Công
ty và các khu làm việc của các đội sản xuất
- Máy móc thiết bị phục vụ cho thi công các công trình như máy phát điện, máy siêu âm, máy cắt uốn thép, các loại kích thủy lực, máy toàn đạc, máy ép bê tông … và các thiết bị khác phục vụ cho xây dựng
- Thiết bị quản lý như: máy vi tính, máy in, máy phô tô…
- Phương tiện vận tải: các loại xe ô tô…
Trang 36Biểu 2.1: Cơ cấu tài sản cố định của công ty tính đến ngày 31/12/2011
(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế toán)
Về mặt giá trị, cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 được tổng hợp qua biểu 2.1 Từ biểu 2.1 ta thấy, tỷ lệ phần trăm giá trị còn lại của toàn bộ tài sản cố định trong Công ty chỉ còn 48,83% Điều này chứng tỏ tài sản cố định của Công ty đều đã cũ và đã khấu hao gần hết Đặc biệt là thiết bị quản lý và phương tiện vận tải tỷ lệ phần trăm giá trị còn lại chỉ còn 36,98% và 39,19% Không chỉ thế, máy móc thiết bị cũng chỉ còn lại 45,09% giá trị Đặc thù của đơn vị là xây dựng nên việc đầu
tư thêm máy móc thiết bị cho thi công xây dựng công trình phải là điều đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế Công ty lại không chú ý đến điều này
Trang 37Nguyên nhân là do Công ty có thể thuê ngoài các tài sản cố định rất dễ dàng (thuê tài chính) nhưng điều này khiến tính chủ động không cao trong sản xuất kinh doanh của Công ty
2.2.2 Đặc điểm lực lượng lao động tại công ty
Lao động là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất Quản lý lao động giữ vai trò trọng yếu trong tất cả các hoạt động kinh doanh Tình hình lao động của công ty trong những năm qua thể hiện qua biểu 2.2 sau đây:
Tính đến ngày 31/12/2011 Tổng số cán bộ công nhân viên của COFEC bao gồm 186 người, trong đó số lao động có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 136 người, còn lại là công nhân lành nghề và lao động phổ thông Tại các phòng ban quản lí thì số lượng lao động là 29 người chủ yếu là trình độ cao đẳng và đại học, trong khi đó tại các bộ phận sản xuất kinh doanh lực lượng lao động chiếm 157 người
Qua biểu 2.2 cho thấy đối tượng lao động chính mà công ty sử dụng là những đối tượng có trình độ từ cao đẳng và trung cấp trở lên và chủ yếu là trình độ đại học Do đặc điểm hoạt động của công ty nên đòi hỏi đối tượng lao động đều phải có trình độ nhất định trong từng lĩnh vực mà công ty yêu cầu Lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, công nhân lành nghề và lao động phổ thông chủ yếu làm việc và phân bố tại phòng kỹ thuật thi công công trình, phòng kiểm định chất lượng nền móng và công trình, phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng và cơ học đất
Phân theo trình độ ta thấy tỷ lệ lao động từ đại học và trên đại học là chủ yếu, tỷ lệ lao động này chiếm tới 54,84% trong tổng số lao động của công
ty, tương ứng là 102 người Còn tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm tỷ lệ 18,27% tương ứng là 34 người
Trang 38Biểu 2.2: Tình hình kết cấu lao động tại công ty
(Nguồn: Phòng Tài chính- Kế toán)
Tỷ lệ lao động công nhân lành nghề chiếm 19,89% tương ứng là 37 người, lực lượng lao động phổ thông là 13 người chiếm 7,00% Đặc điểm tỷ
lệ lao động có trình độ đại học trở nên chiếm tỷ lệ lớn là do công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chủ yếu là tư vấn thiết kế, Lập và quản lý dự án đầu
tư, tư vấn giám sát thi công; Đánh giá nguyên nhân và sự cố công trình; Thí nghiệm kiểm tra chất lượng nền móng và công trình Do đặc thù công việc đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao được đào tạo đúng chuyên ngành Tuy vậy trong những năm gần đây công ty vẫn không
Trang 39ngừng tổ chức các lớp huấn luyện để nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên và tiếp tục cử cán bộ đi bồi dưỡng và hàm thụ các lớp chuyên môn ngắn hạn
2.3 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty
COFEC trong 20 năm qua, đã tham gia tư vấn khảo sát và thi công xây dựng nhiều công trình lớn đạt chất lượng cao, không chỉ trong phạm vi cả nước từ Bắc tới Nam được các chủ đầu tư đánh giá cao, được các đồng nghiệp
và cộng sự gắn bó, mà cả các đối tác nước ngoài tin cậy và hứa hẹn…
Hiện nay công ty có các địa bàn hoạt động rộng khắp các tỉnh trong cả nước, đã và đang tham gia tư vấn nhiều công trình lớn đạt chất lượng cao như:
tư vấn khảo sát địa chất công trình trụ sở làm việc Bộ tài nguyên và môi truờng, Thiết kế công trình khu kí túc xá sinh viên trường ĐH Quốc Gia Hà Nội, công trình thủy điện A Lưới, thiết kế bản vẽ thi công cơ sở 2 Trường ĐH Lâm Nghiệp, tư vấn đầu tư xây dựng Cao ốc văn phòng tại 20 Phạm Ngọc Thạch TP Hồ Chí Minh…
Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hợp lý, gọn nhẹ, song phải đạt được mục đích tối ưu trong kinh doanh Công ty chủ trương sắp xếp bộ máy quản lý có chất lượng và đạt hiệu quả cao
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận chức năng
* Hội đồng thành viên:
Hội đồng thành viên của Công ty là cơ quan quản lý của Công ty, hội đồng quản trị có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của Công ty như:
+ Quyết định chiến lược phát triển của Công ty
+ Ban hành quy chế làm việc của hội đồng quản trị, quy chế điều hành doanh nghiệp của ban giám đốc và các cơ chế quản lý nội bộ khác
Trang 40+ Bổ nhiệm các phó giám đốc và quyết định cơ cấu tổ chức của Công ty + Trình bày các quyết toán tài chính hàng năm trước đại hội cổ đông
+ Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn, thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý các khoản lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh
* Ban giám đốc gồm có Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc:
- Tổng giám đốc: là đại diện pháp nhân của Công ty và phụ trách toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của Công ty trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình
- Phó tổng giám đốc: thay mặt tổng giám đốc tổ chức điều hành hoạt
động sản xuất tại tất cả các bộ phận thuộc khối sản xuất của Công ty Trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện các quy trình về quản lý chất lượng, báo cáo định
kỳ và kịp thời tình hình sản xuất với TSCĐ