DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ADB: Ngân hàng phát triển châu Á BQL: Ban quản lý CNS: Cấp nước sạch CT: Công trình CT135: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng
Trang 1-
NGUYỄN XUÂN TÂN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60620115
Người hướng dẫn khoa học:TS Trần Thị Thu Hà
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày …… tháng …… năm 2017
Tác giả luận văn
NGUYỄN XUÂN TÂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Khoa sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đển TS Trần Thị Thu Hà đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ SNN&PTNT tỉnh Hoà Bình,
Sở tài nguyên và môi trường Hoà Bình, Sở KH&ĐT Hoà Bình, Cục thống kê Hoà Bình, Trung tâm nước sạch và VSMTNT Hoà Bình, UBND huyện Lạc Sơn, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Lạc Sơn, phòng Giáo dục và đào tạo huyện Lạc Sơn, phòng Y tế huyện Lạc Sơn, phòng thống kê huyện Lạc Sơn, Ban quản lý dự án 135 huyện Lạc Sơn, UBND xã và các hộ dân các xã Tân Mỹ, Nhân Nghĩa, Ân Nghĩa đã giúp đỡ tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Qua đây, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3.2.1 Phạm vi không gian 4
3.2.2 Phạm vi thời gian 4
1.3.2 Phạm vi nội dung 4
4 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nước sinh hoạt nông thôn 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Quan điểm về vai trò quản lý nước sinh hoạt nông thôn 6
1.1.3 Vai trò, vị trí của quản lý nước sinh hoạt nông thôn 6
Trang 51.1.4 Các vấn đề liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn 8
1.1.5 Chiến lược quản lý nước sinh hoạt nông thôn của Việt Nam 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Kinh nghiệm và bài học quốc tế về quản lý nước sinh hoạt 13
1.2.2 Tình hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn ở Việt Nnam 19
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 40
2.2.2 Thu thập thông tin, số liệu 41
2.2.3 Xử lý và phân tích thông tin, số liệu 42
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Sơn 45
3.1.1 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt nông thôn 45
3.1.2 Tình hình khai thác và sử dụng nước sinh hoạt nông thôn 45
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Sơn 59
3.2.1 Các yếu tố về kinh tế xã hội 59
3.2.2 Các yếu tố về cơ chế, chính sách, chủ trương của Nhà nước 69
3.2.3 Các yếu tố khác 71
3.3 Đánh giá các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện 72
3.3.1 Mô hình UBND xã quản lý 72
3.3.2 Mô hình HTX quản lý 74
Trang 63.3.3 Mô hình cộng đồng quản lý 77
3.4 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện 81
3.4.1 Định hướng 81
3.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
4.1 Kết luận 98
4.2 Kiến nghị 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á BQL: Ban quản lý
CNS: Cấp nước sạch CT: Công trình CT135: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc
biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi HTX: Hợp tác xã
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NS&VSMTNT: Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
NSH&VSMTNT: Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn
SHNT: Sinh hoạt nông thôn PTNT: Phát triển nông thôn SH: Sinh hoạt
TW: Trung ương UNICEF: Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc UBND: ủy ban nhân dân
VSMTNT: Vệ sinh môi trường nông thôn VSMT: Vệ sinh môi trường
WHO: Tổ chức y tế thế giới WB: Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2016 19 Bảng 1.2 Tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch qua từng năm 20 Bảng 3.1 Thống kê các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa
Bảng 3.2 Thống kê các công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa
Bảng 3.3 Hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung
Bảng 3.5 Số lượng các công trình cấp nước SHNT có sự đóng góp xây
Bảng 3.6 Khả năng chi trả tiền sử dụng nước SHNT của người dân 60 Bảng 3.7 Khả năng và sự sẵn sàng đóng góp của người dân vào sửa
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự hiểu biết về
nước sạch, hợp vệ sinh và tác dụng của nó 63 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự quan tâm sử
dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày 63 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nguồn gốc dân tộc chủ hộ đến sự quan tâm sử
dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày 64 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của giới tính đến sự quan tâm sử dụng nước sạch,
nước hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày 65 Bảng 3.12 Tỷ lệ số hộ tham gia các lớp tập huấn về NSH & VSMTNT 66 Bảng 3.13 Đánh giá chung của người dân và chính quyền xã về quản lý
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình UBND xã quản lý 49
Sơ đồ 3.2 Cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình HTX quản lý 50
Sơ đồ 3.3 Cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình cộng đồng quản lý 51
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt đời sống của con người và mọi loài động thực vật trên trái đất Có thể khẳng định rằng nước là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được của sự sống, nó liên quan đến mọi vấn
đề của đời sống xã hội Tuy nhiên nguồn nước sạch quý báu đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người
mà còn ảnh hưởng đến các loài sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt Chính vì thế nước sạch đang là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia, khu vực mà đang là vấn
đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu
Do tác động của quá trình phát triển với nhu cầu ngày càng tăng của con người về nước sinh hoạt và sản xuất, nguồn tài nguyên nước đang bị khai thác tới mức dần cạn kiệt Chính vì vậy vấn đề quản lý trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp bách Nếu việc quản lý khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước không hợp lý sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, gây những tác động xấu không chỉ cho hiện tại mà
cả tương lai sau này
Ở nước ta, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng Nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trong những năm qua Đảng và nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản về chủ trương, định hướng, đề ra các mục tiêu cần đạt được đối với công tác này như: Nghị quyết Trung ương VIII, IX; Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ
Trang 11sinh môi trường nông thôn đến năm 2020; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo…
Nhìn chung vấn đề nước sinh hoạt ẩn chứa nhiều tồn tại dù rằng những năm trở lại đây Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã và đang được Chính phủ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư mạnh mẽ Thông qua đó đã có hàng loạt các dự án, chương trình nhằm nâng cao năng lực cho chương trình nước sinh hoạt nhất là cơ sợ hạ tầng và dịch vụ Thế nhưng cơ chế và công tác quản
lý còn thiếu đồng bộ ẩn chứa nhiều bất cập, hạn chế, làm giảm tác dụng của các chương trình, dự án Thực tế cho thấy công tác quản lý nước sinh hoạt ở nước ta hiện nay còn nhiều thách thức cho dù đã có nhiều tiến bộ Mặc dù trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Quốc gia đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp nước tự chảy”, tuy nhiên nó chưa đáp ứng được những yêu cầu vô cùng phong phú của thực tiễn về công tác quản lý; nhiều vùng, miền, địa phương đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô hình quản lý phù hợp với điều kiện đặc thù của mình
Không nằm ngoài tình hình chung nêu trên, tỉnh Hoà Bình nói chung, huyện Lạc Sơn nói riêng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nước sinh hoạt nông thôn Nhiều công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn được đầu tư xây dựng với nguồn vốn hàng tỷ đồng nhưng hiều quả sử dụng lại rất thấp Có những công trình sau khi xây dựng, bàn giao đưa vào sử dụng lại thiếu nước hoặc không có nước; có công trình giai đoạn đầu hoạt động rất hiệu quả song trong quá trình quản lý còn nhiều bất cập, cộng với sự thiếu ý thức trong sử dụng và bảo vệ công trình dẫn đến xuống cấp, không thể
sử dụng được
Trang 12Trên cơ sơ tồn tại những vấn đề đã nêu trên ở trên, nhằm hệ thống hoá
cơ sở lý luận về quản lý nước sinh hoạt nông thôn, xây dựng một góc nhìn tổng quan về công tác quản lý nước sinh hoạt nông thôn và đề xuất một số mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà
Bình, tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình” làm đề tài tốt
nghiệp thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng về mô hình quản lý nước sạch sinh hoạt nông thôn, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc, nội dung, phương thức hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Sơn
Trang 134 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn;
Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nước sinh hoạt nông thôn
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Nước được cung cấp tại các khu vực nông thôn đã qua xử lý, sau hệ thống phân phối, dùng cho sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt nông thôn.[1]
Nước cấp cho sinh hoạt tại khu vực nông thôn nêu tại đây bao hàm nước cấp ở những vùng nông thôn thuần túy cùng các đô thị loại V với số dân
không quá 20.000 người[1]
1.1.1.2 Khái niệm về quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức nâng cao điều kiện sống cho người dân thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt; nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường Giảm tác động xấu do điều kiện tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn [5]
1.1.1.3 Mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, mô hình được hiểu:
- Nghĩa hẹp là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt
- Nghĩa rộng là hình ảnh (hiện tượng, sơ đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng) Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học…
Trang 15Trong kinh tế học, mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu
tố của một hệ thống thực tế trong thiên nhiên, xã hội ……
Như vậy, mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn có thể hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả…) mang tính chất quy ước của một hệ thống quản lý nước sinh hoạt nông thôn cụ thể trong thực tiễn
1.1.2 Quan điểm về vai trò quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đông thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt Người
sử dụng quyết định mô hình cấp nước sinh hoạt phù hợp với khả năng cung cấp tài chính, hỗ trợ, có chính sách giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, người nghèo, vùng dân tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác để họ được tiếp cận với các nguồn cung cấp nước sạch nông thôn [5]
1.1.3 Vai trò, vị trí của quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn; xem việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí để phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và nhà nước, của các ngành các cấp và chính quyền địa phương Công trình cấp nước còn được xác định là một trong 8 loại công trình cần xây dựng ở các vùng nông thôn và là một trong 6 loại hạ tầng cơ bản nhất
để đánh giá điều kiện thoát nghèo ở các xã khó khăn (điện, đường, trường học, trạm xá, nước sạch và chợ) Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ rất sớm và ký hàng loạt cam kết và tuyên bố Quốc tế về xoá đói giảm nghèo
và cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống và vệ sinh môi trường thế giới, Tuyên bố Dudlin, Mục tiêu thiên niên
Trang 16kỷ,… Chính vì lẽ đó, việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn được xác định có những vai trò, vị trí quan trọng sau:
- Vai trò đối với kinh tế: Phát triển và quản lý có hiệu quả các hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống, đảm bảo sức khoẻ, nâng cao thể chất cho người dân nông thôn Từ đó đảm bảo nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
- Vai trò đối với xã hội: Tăng cường sức khỏe cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước nhờ cải thiện việc cấp nước sinh hoạt và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng
- Vai trò đối với môi trường: Chống cạn kiệt nguồn nước, bảo vệ chất lượng nguồn nước và nước mặt tại các hồ, đầm, sông suối, chống ô nhiễm môi trường
* Một số đặc điểm của việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Chính phủ xác định, đó là: “Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống và tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn”
Để triển khai thực hiện giải pháp trên cần áp dụng phương thức quản lý cộng đồng trong việc quản lýcác công trình nước sinh hoạt nông thôn với nguyên tắc là: cộng đồng phải tự vận hành và bảo dưỡng công trình cấp nước
Theo phương thức quản lý này, công tác quản lý nước sinh hoạt nông thôn sẽ bao gồm các đặc điểm sau:
- Do tập thể cộng đồng kiểm soát công trình
Trang 17- Tập thể cộng đồng vận hành và bảo dưỡng công trình
- Tập thể cộng đồng làm chủ công trình
- Tập thể cộng đồng đóng góp chi phí
1.1.4 Các vấn đề liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn
1.1.4.1 Các yêu cầu của quản lý nước sinh hoạt nông thôn
- Nâng cao nhận thức của người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc sử dụng nước sinh hoạt nông thôn Đây là cơ sở hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về nước sinh hoạt, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người dân nông thôn nhận thức rõ được vấn đề thì với
sự trợ giúp của Chính phủ, họ có thể vượt lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi trường sống của mình tốt hơn Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục và truyền thống có tầm quan trọng lớn đối với thành công của chiến lược phát triển
- Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và sắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với
Trang 18cấp nước sinh hoạt nông thôn; huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi
ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò mới của mình
- Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý Cấp nước sinh hoạt nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho mọi gia đình Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho cấp nước sinh hoạt nông thôn
- Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp Đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn Giới thiệu các công nghệ khác nhau cho người sử dụng giúp cho họ có kiến thức cần thiết để quyết định lựa chọn loại công nghệ phù hợp
1.1.4.2 Đối tượng của quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Hiểu biết tường tận về các nguồn nước và tăng cường công tác quản lý nguồn nước, coi nước là loại tài nguyên quí hiếm Hiện nay đã có nhiều thông tin về các nguồng nước ở các Bộ: Công nghiệp, Nông nghiệp & PTNT, Xây dựng ban chỉ đạo Quốc gia về nước sạch và VSMT và các tỉnh Những thông tin này cần được hệ thống hóa, giúp cho việc quản lý nguồn nước được thống nhất và chặt chẽ ở Trung ương cũng như cấp cơ sở Luật tài nguyên nước quy định rõ nước sử dụng cho sinh hoạt cần được ưu tiên hơn nước sử dụng cho các mục đích khác và điều này phải được đưa vào qui chế quản lý và sử dụng các nguồn nước
Cấp nước sinh hoạt cho nông thôn chỉ là một bộ phận sử dụng nước với khối lượng nhỏ nhưng lại rất quan trọng vì đòi hỏi chất lượn cao Bởi vậy chú
Trang 19trọng chống ô nhiễm nguồn nước, cần thiết lập hệ thống hóa theo dõi nguồn nước, sử dụng các số liệu được thu nhập từ quá trình thực hiện Chương trình Nước sạch- Vệ sinh môi trường Như vậy phái có kế hoạch điều tra, quản lý
và bảo vệ nguồn nước
1.1.4.3 Vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các giải pháp khắc phục
Cùng với xu thế công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần đề ra một
số giải pháp chủ yếu để khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường và thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn bao gồm:
* Đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh thị trường nước sinh hoạt nông thôn, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội, các thành phần kinh tế nhằm huy động các nguồn lực để đẩy nhanh tỷ lệ người dân nông thôn được hưởng nước nhằm cải thiện điều kiện sống góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Để đẩy mạnh xã hội hoá, một số nhiệm vụ cần triển khai bao gồm:
- Ban hành các cơ chế chính sách thuận lợi để khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nước sinh hoạt theo định hướng của nhà nước
+ Chính sách về đất đai: giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân xây dựng cấp nước sinh hoạt phục vụ cộng đồng
+ Chính sách khuyến khích đầu tư: bình đẳng về cơ chế hỗ trợ, nguồn vốn vay tín dụng để đầu tư cho công trình cấp nước sinh hoạt Nhà nước bảo
hộ quyền lợi hợp pháp đối với cộng đồng, tổ chức, cá nhân khi đầu tư
+ Chính sách về thuế, phí, lệ phí: bảo đảm các tổ chức dịch vụ cấp nước sinh hoạt có khả năng chủ động và tự cân đối tài chính
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng và quản lý khai thác công trình
Trang 20- Tăng cường tính pháp lý và chế tài sử phạt đối với các vi phạm trong hoạt động cấp nước sinh hoạt
* Giải pháp về thông tin – giáo dục – truyền thống và tham gia của cộng đồng Nâng cao hiểu biết của người dân về mối liên quan giữa nước sạch với sức khoẻ; vận động, khuyến khích người dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Cung cấp thông tin để người dân có thể tự lựa chọn loại hình cấp nước sinh hoạt phù hợp; khuyến khích người dân tự nguyện đóng góp tài chính hoặc công sức để xây dựng cộng trình cấp nước sinh hoạt
* Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch
Xây dựng, rà soát, đánh giá, bổ sung quy hoạch cấp nước sinh hoạt là nhiệm vụ thường xuyên trong công tác quản lý nhà nước
Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá Tăng cường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tính chủ động trong việc lập kế hoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt Việc xây dựng kế hoạch của chương trình được tiến hành theo lịch trình 5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở
* Giải pháp về tài chính
Cơ cấu huy động và phân bổ vón hợp lý đối với từng mục tiêu, từng vùng khác nhau
* Giải pháp về khoa học công nghệ
Phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc, bền vững, ưu tiên tìm kiếm và tận dựng các nguồn nước ổn định đối với các vùng đặc biệt khó khăn (như vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng mnúi cao, hải đảo, …)
* Quản lý đầu tư – xây dựng, khai thác và quản lý công trình cấp nước
Trang 21* Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: đào tạo phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng được các cách tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thực thi cho các cấp
* Mở rộng hợp tác Quốc tế: tăng cường hợp tác thông qua nhiều hình thức khác nhau như đa phương, song phương …
1.1.5 Chiến lược quản lý nước sinh hoạt nông thôn của Việt Nam
Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được soạn thảo trong bối cảnh có một số chương trình và dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã được thực hiện trong nhiều năm nay và Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường đã được chính phủ phê duyệt ngày 03/12/1998 được thực hiện giai đoạn I từ 1999-2005 và giai đoạn 2 từ 2006-
- Cần điều chỉnh các chương trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn hiện có như chương trình WATSAN, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn do Ngân hàng Phát triển châu Á tài trợ và các dự án cấp nước sạch
và vệ sinh nông thôn khác sao cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung của chiến lược quốc gia Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường cũng cần được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản của Chiến lược quốc gia
- Thực hiện tốt các chương trình hiện có và các chương trình thí điểm
về cấp nước sinh hoạt và mở rộng việc thực hiện chương trình cấp nước sinh
Trang 22hoạt nhằm nâng cao tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch như mục tiêu đã đề ra Cần kết hợp các Chương trình thí điểm để giải quyết yêu cầu bức bách nhất về cấp nước cho nhân dân ở những vùng bị hạn hán và các vùng khác đang bị thiếu nước nghiêm trọng Đồng thời rút ra các bài học về công tác thông tin – giáo dục – truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hệ thống tổ chức, xây dựng các cơ chế tài chính để bổ sung và hoàn thiện Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn
Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn sẽ hướng dần những nguyên tắc cơ bản: phát triển bền vững, cách tiếp cận dựa trên nhu cầu
và xã hội hoá công tác Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn để chỉ đạo toàn
bộ lĩnh vực cũng như các chương trình và dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm và bài học quốc tế về quản lý nước sinh hoạt
1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý nước sạch sinh hoạt của Trung Quốc
Chìa khoá thành công của Trung Quốc là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành của TW và địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ ba nguồn:
Từ vốn của chính phủ TW và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đống góp của người hưởng lợi từ chương trình
Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ chương khuyến khích hình thức cấp nước bằng đường ống và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống cho phù hợp Hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật cho từng loại hình cấp nước khác nhau, ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống Trong khoảng thời gian 20 năm Trung Quốc đã có bốn giai đoạn vay vốn của WB cho lĩnh vực phát triển hệ thống cấp nước cho 17
Trang 23tỉnh điểm Trung bình 4 – 5 tỷ nhân dân tệ/năm Giai đoạn đầu tập trung vốn cho các tỉnh có điều kiện kinh tế giầu có Sau đó người dân trả lại vốn thông qua trả tiền nước; giai đoạn hai tập trung cho các tỉnh nghèo Trong số người thụ hưởng có khoảng 30% người nghèo sẽ hỗ trợ 100% vốn góp, 70% số còn
lại trả vốn qua tiền nước sử dụng [13]
Quản lý chất lượng nước: năm 1985 ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống
áp dụng cho toàn Trung Quốc Tiêu chuẩn quốc gia là tiêu chuẩn nước uống duy nhất cho toàn Trung Quốc Năm 1991 do nhiều vùng nông thôn khó đạt được tiêu chuẩn này quốc gia do vậy Trung Quốc đã ban hành hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nước
Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước nông thôn: Trung Quốc đã lập Uỷ ban phát triển chiến dịch y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước Uỷ ban này có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 2 tổ chức lớn nhất Trung Quốc là thanh niên và phụ nữ Trong đó thanh niên là lực lượng trẻ, thích tiếp cận các vấn đề mới và thường cập nhật thông tin mới Phụ nữ thường hay quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ và gia đình đặc biệt là vấn đề vệ sinh nông thôn và nước sạch Các địa phương cũng
có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như Trung ương, hợp tác theo cấp với
2 tổ chức quần chúng ở cấp mình quản lý (Y tế - Nông nghiệp – Thanh niên - Phụ nữ)
Nước sạch - Vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình hay dự án riêng về dự án này Nhưng các can thiệp đầu tiên ở địa phương thuộc lĩnh vực NS – VSMT là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi do học sinh vừa là đối tượng được truyền thông vừa là
Trang 24các truyền thông viên về NS- VSMT cho cộng đồng Trường học là nơi có độ tập trung đông người, nếu các điều kiện vệ sinh không đảm bảo sẽ xảy ra dịch
và lan nhanh do đó cần quan tâm và đầu tư các điều kiện vệ sinh cho nhà trường Năm 2004, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục phối hợp nghiên cứu để đưa ra thiết kế NS-VSMT trong trường học
Bài học kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên
và phụ nữ
1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Israel
Hiện nay, tổng trữ lượng khai thác các nguồn nước tự nhiên ở đất nước Israel khoảng 2 tỷ m3/năm, trong đó 63% là nguồn nước ngầm chủ yếu khai thác từ Địa Trung Hải; còn 33% trữ lượng nước là nguồn nước mặt lấy từ hồ kinnerret (nằm ở phía Bắc của cao nguyên Goland) Ngoài ra, khoảng 4% nước được khai thác theo cách thu nước chảy bề mặt
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt, công nông nghiệp … ngoài việc sử dụng nguồn nước mặt ra, nhà nước Israel luôn chú trọng đến việc tăng cường tìm kiếm các nguồn nước mới, sử dụng triệt để các giải pháp bảo vệ nguồn nước ngọt Đó là lý do mà nước này cho xây dựng hệ thống chuyển quốc gia như một “động mạch chính”, được dẫn từ hồ Kinnerret tới hàng ngàn trang trại, khu dân cư, thành phố, các nhà máy công nghiệp suốt từ miền trung, đến miền nam đất nước
Bí quyết của sự thành công:
Đối với từng người dân Israel, một giọt nước cũng rất quý và tuyệt đối không được lãng phí Nhận thấy sự khan hiếm nguồn nước, nhằm thực hiện
Trang 25việc kiểm soát, mở rộng khai thác nguồn nước ngầm, Israel đã xây dựng hẳn một bộ luật về đo lường mức nước tiêu thụ, Luật về kiểm soát khai thác nước ngầm và thành lập Uỷ ban nhà nước, nhằm ngăn cấm khai thác nước ngầm
“lậu” làm suy thoái và ô nhiễm các mạch nước ngầm, ảnh hưởng tới việc cung cấp nước cho hệ thống
Để nâng cao chất lượng nguồn nước cung cấp, hiện nay Israel chủ yếu
sử dụng phương pháp sinh học để sử lý và bảo vệ, mục đích tránh ô nhiễm do tảo, các loài sinh vật độc hại gây nên Ngoài ra, nước này còn áp dụng phương pháp nuôi các loài cá làm sạch nước như các loài cá chép bạc, chép đầu to, kết hợp sử dụng các loài cá tầng đáy như cá Talapia (rô phi), cá đồi… ăn các loài thực vật và tảo tầng đáy, một số loài cá ăn cá con, điều chỉnh lượng cá trong
hồ Đối với đất nước này, luật đã quy định rõ, nước thải cũng là nguồn tài sản quốc gia, mọi đối tượng phải hoàn trả lại sau khi sử dụng nước tại các trạm xử
lý tập trung Hiện cả nước có trên 600 trạm sử lý nước thải, đảm bảo sử lý 100% tổng lượng nước thải sinh hoạt của toàn quốc, vào khoảng trên 380 triệu m3, trong tổng số 685 triệu m3 nước cung cấp Trong đó, lượng nước thải sử dụng lại trong nông nghiệp chiếm 24,4% tổng lượng nước cấp cho nông nghiệp Hiện nay, nhà nước Israel vẫn đang kêu gọi toàn dân phải lưu ý đến lượng nước thải và tận dụng để sử dụng rộng rãi hơn, tức là cần phải sử dụng nước quay vòng trong các xí nghiệp Tưới đúng mục địch nhu cầu của cây; dung nước quay vòng trong các xi nghiệp, các khu công nghiệp cũng đang được đề cao Như vậy, sẽ ngăn chặn được việc sử dụng nước lãng phí và
tăng hiệu quả sử dụng nước cao hơn [11]
1.2.1.3 Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Indonesia
Đến năm 1990, Indonesia đã phát hiện phương pháp kế hoạch hoá từ trên xuống dưới không hiệu quả và nhiều hệ thống cấp nước không được sử dụng hoặc bảo dưỡng kém Chính phủ đã quyết định chuyển giao trách nhiệm
Trang 26dần cho cấp tỉnh và địa phương thực hiện, vận hành và bảo dưỡng gắn với sử dụng trong đó sự tham gia của người dân đóng vai trò quan trọng
Ví dụ về thực hiện các dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn của Ban cấp nước CARE tại 4 tỉnh ở Indonesia đã thay đổi rõ rệt kể từ khi bắt đầu công việc tại nước này Ban đầu, CARE kiểm soát và quản lý tất cả các giai đoạn của các dự án Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy rằng nếu không có sự tham gia của cộng đồng vào việc kiểm soát và chịu trách nhiệm
về tài chính và quản lýcác hệ thống cấp nước thì không có thể có được sự bền vững Các dự án sau đó, bao gồm cả dự án hiện nay về cấp nước và vệ sinh dựa trên sự tài trợ của cộng đồng, tập trung vào nhu cầu của cộng đồng và coi
đó là tiêu chuẩn lựa chọn chủ yếu với sự kiểm soát được chuyển cho cộng đồng
Một chỉ thị quan trọng của sự thành công của phương pháp tiếp cận mới là dịch chuyển trong nguồn đóng góp tiền mặt trong thời kỳ hơn 11 năm,
1979 – 1990 Năm 1979, những đóng góp kết hợp của CARE và chính phủ Indonesia tạo được 80% chi phí dự án Cho đến năm 1990, đóng góp của CARE và chính phủ Indonesia hạ xuống còn khoảng 30%, những đóng góp của cộng đồng nâng lên đến 70% chi phí của dự án Các cộng đồng đã cung cấp tất cả những đóng góp tiền mặt cho xây dựng các công trình đối với hơn
- Lựa chọn cộng đồng: chính phủ và CARE phối hợp chọn các huyện
có tiềm năng, tuyên truyền về dự án, và tiếp xúc với các lãnh đạo địa phương Các cộng đồng xin các dự án đã được thông qua các cuộc khảo sát, CARE đánh giá về sự chuẩn bị và khả năng trả tiền của các cộng đồng Người ta tổ
Trang 27chức các cuộc hợp với các cộng đồng được lựa chọn để giải thích và thảo luận chi tiết về các điều kiện của dự án
- Thành lập hội đồng và thương thuyết: tại phiên họp, cộng đồng lựa chọn một ban công tác về nước, sau đó ban này sẽ thảo luận với chính quyền
và CARE về trách nhiệm của họ
- Lập kế hoạch: trong số những công nghệ do CARE đưa ra, ban công tác về nước chọn công nghệ thích hợp Ban này sẽ thiết kế và tính toán giá thành của hệ thống cấp nước, cùng với sự giúp đỡ của CARE, phát triển việc huy động các nguồn tài chính, nhân lực và kế hoạch xây dựng Sau đó họ sẽ
đệ trình các thiết kế và các kế hoạch này cho cộng đồng, chính phủ và CARE
sẽ ký kết một hợp đồng chính thức
- Thực hiện: CARE đào tạo nhân lực cho ban công tác về nước về kế toán và các hệ thống kiểm soát, xây dựng các điều kiện thuận lợi cho công việc Khi đã có hệ thống kiểm soát, ban này bắt đầu huy động các nguồn tiền mặt, nhân lực, vật liệu Các chi phí được tính toán kỹ lưỡng từ các nguồn đóng góp về tiền mặt của các thành viên được sắp xếp theo khả năng chi trả Phương pháp phổ biến để huy động tiền mặt từ bên ngoài phương là tín dụng
từ những nhà cung cấp đường ống và các ngân hàng địa phương
- Vận hành và bảo dưỡng: cộng đồng chọn ra một ban vận hành và bảo dưỡng, ban này sẽ thảo ra các quy định và các luật lệ của mình và trình các qui định, luật lệ này trước cộng đồng Ban vận hành và bảo dưỡng công trình này sẽ xây dựng ngân sách, hệ thống kế toán và kế hoạch đào tạo CARE cung cấp việc đào tạo tiếp theo
- Đánh giá và quan trắc: CARE tiếp tục hỗ trợ Ban vận hành và bảo dưỡng công trình trong 1 năm sau khi xây dựng
Trang 281.2.2 Tình hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn ở Việt Nnam
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Số dân nông thôn được
sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tính đến cuối năm 2016 ước đạt gần 15 triệu hộ người, tương đương 89,8% dân số sử dụng nước HVS, có khoảng 35% từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại từ các công trình nhỏ lẻ, như giến đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa [7]
Bảng 1.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2016
rõ hơn nếu so sánh giữa các tỉnh Điều đáng nói là những vùng có tỷ lệ dân cư được cấp nước thấp lại là những vùng khó khăn cả về điều kiện tự nhiên lẫn kinh tế xã hội
Trang 29Bảng 1.2 Tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch qua từng năm
(Nguồn: Trung tâm Quốc gia NS $VSMTNT)
Về nguồn vốn đầu tư, đến cuối 2016, tổng mức đầu tư toàn xã hội cho Chương trình ước đạt khoảng 12.063 tỷ đồng, vượt 25% so kế hoạch trong đó Ngân sách Trung ương và 3 nhà tài trợ là 786 tỷ đồng,đạt 100% kế hoạch , ngân sách lồng nghép: 1083 tỷ đồng vượt 70% so kế hoạch, Viện trợ quốc tế: 1.187 tỷ đồng vượt 15% so kế hoạch, dân và tư nhân tham gia 980 tỷ đồng vượt 48% so kế hoạch, tín dụng ưu đãi 8.026 tỷ đồng vượt 24% so kế hoạch Đây là một biểu hiện tích cực chứng tỏ sự nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường của người dân ngày càng nâng lên và là một biểu hiện sinh động chứng tỏ người sử dụng ngày càng có sự tham gia nhiều hơn đối với việc cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh Nguồn vốn này chủ yếu là được đầu tư trực tiếp cho xây dựng, nâng cấp công trình và một phần chủ yếu là được đầu
tư trực tiếp cho xây dựng, nâng cấp công trình và một phần được tính là khoản đóng góp bằng công lao động [7]
Đã có các mô hình để huy động vốn đầu tư cho công trình đạt hiệu quả bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, lồng ghép từ các Chương
Trang 30trình khác (Chương trình 135, Chương trình xóa đói giảm nghèo …), các thành phần kinh tế, sự hỗ trợ của tổ chức quốc tế và sự đóng góp của nhân dân; nhiều tỉnh đã ban hành cơ chế thực hiện Chương trình phù hợp nên đã mang lại hiệu quả tốt như:
+ Tỉnh Ninh Bình, Đắc Lắc đã làm tốt việc huy động vốn đầu tư, tổ chức quản lý khai thác các công trình sau xây dựng, đặc biệt là kiểm soát chất lượng nước; tỉnh Ninh Thuận đã tạm ứng ngân sách cho nhân dân vay tiền để lắp đạt đường ống cung cấp nước vào các hộ gia đình, không tính lãi và trả chậm trong vòng 2 năm Ngoài ra, một số tỉnh có chính sách lồng ghép vốn các dự án hợp tác quốc tế và dự án trong nước ở tỉnh Trà Vinh, Thanh Hóa; lập Quỹ đoàn kết phát triển ngành nước ở tỉnh Nam Định [2]
+ Tại Sơn La đã xây dựng Chương trình hành động về nước sinh hoạt cho nhân dân (Chương trình 925) với việc huy động và lồng ghép nhiều nguồn lực từ Chương trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, kết quả
là ngoài sự hỗ trợ của chương trình 7 tỷ đồng đã huy động từ các Chương trình khác, viện trợ nước ngoài là 6,6 tỷ đồng [2]
Tổng mức đầu tư toàn xã hội cho Chương trình trong 5 năm 2003) là 4.795 tỷ đồng Hàng năm, tổng mức đầu tư đều tăng lên, năm sau cao hơn năm trước Cơ cấu tổng mức đầu tư đã thực hiện như sau:
(1995 Tổng nguồn vốn đầu tư cho Chương trình MTQGNS tính đến năm 2016là 286,694 tỷ đồng trong đó:
- Ngân sách Trung ương hỗ trợ: 854 tỷ đồng (18%)
- Ngân sách địa phương hỗ trợ: 500 tỷ đồng (10%)
- Vốn tài trợ từ các dự án Quốc tế: 787 tỷ đồng (16%)
- Vốn đóng góp và tự đầu tư của dân: 2089 tỷ đồng (44%)
Cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn toàn quốc, chi tiết cụ thể cho từng vùng [2]
Trang 31Một số địa phương đã và đang triển khai quy hoạch đến cấp huyện Các quy hoạch này làm căn cứ để làm kế hoạch hàng năm, 5 năm phù hợp với từng vùng trong tỉnh về số lượng và quy mô các công trình, xác định nguồn vốn đầu tư, danh mục dự án và khu vực ưu tiên, công trình cần ưu tiên xây dựng trong thời gian tới
Qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 1995 - 2005 đã cho thấy:
* Những mặt đạt được:
Đối với công trình cấp nước: Theo thống kê sơ bộ hiện nay có khoảng
16 loại công nghệ cấp nước khác nhau, trong đó có 6 mô hình cấp nước phân tán (giếng khoan, giếng đào lắp bơm tay hoặc bơm điện, bể lu chứa nước mưa ) và 10 mô hình cáp nước tập trung (hệ thống nước tự chảy, cấp nước bơm dẫn, cấp nước bằng bơm thủy luân, cấp nước vai địa kỹ thuật )
Các địa phương đã lựa chọn và áp dụng mô hình thích hợp đẻ nâng cao
số dân được sử dụng nước ở một số vùng nông thôn rất khó khăn về nước (như Lục Khu của tỉnh Cao Bằng, vùng núi đá của tỉnh Hà giang, các vùng nhiễm mặn ở ven biển, vùng ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long )
Hiện nay bộ phận dân cư nông thôn là những người làm ăn nhỏ, sống trong các thôn xóm, làng bản tương đối tập trung, có tổ chức hành chính tương đối vững chắc và truyền thống cộng đồng lâu đời với cơ cấu hạt nhân
là hộ gia đình bình quân cso 5 người Nhưng mức sống còn thấp, một bộ phận đáng kể dân cư nông thôn còn nghèo, thu nhập chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu vè
ăn mạc không còn kinh phí cho các việ khác, nhận thức về cấp nước và vệ
sinh môi trường còn rất hạn chế [3]
* Những hạn chế, tồn tại
- Tính bền vững của các thành quả đã đạt được về cấp nước chưa cao
Số lượng và chất lượng nước cung cấp từ nhiều công trình cấp nước hiện
Trang 32đang bị giảm sút nên hàng năm sẽ có một số người đã được hưởng nước sạch
sẽ trở thành người chưa được hưởng nước sạch Thêm vào đó là việc giám sát
và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ Quản lý bền vững công trình CN&VSNT sau khi xây dựng còn yếu, các mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung mới là thử nghiệm, chưa có tổng kết, đánh giá tính phù hợp[4]
- Công tác chỉ đạo thực hiện chương trình; sự phối hợp, lồng ghép còn nhiều hạn chế Giữa các Bộ, Ngành, Đoàn thể quần chúng chưa có sự phối hợp tổ chức thực hiện chặt chẽ Ở một số tỉnh chưa phân định cụ thể nhiệm vụ của NN&PTNT, Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường trong quá trình theo dõi thực hiện Chương trình Việc phối hợp, lồng ghép dự án hợp tác quốc tế với nhau và với các dự án trong nước trên cùng một địa bàn còn lúng túng [4]
- Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu từ và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân[4]
* Những thách thức trong thời gian tới
Đến nay vẫn còn 38% dân số nông thôn chưa được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh nhưng phần lớn trong số này lại tập trung ở những khu vực, những địa bàn khó khăn nhất về nguồn nước và kinh tế, đó là chưa kể đến điều kiện địa hình và phong tục tập quán còn nhiều hạn chế Do đó, nếu chỉ duy trì mức độ đầu tư thấp như hiện nay thì mục tiêu 85% dân cư nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2010 có thể đạt được
- Xu hướng tất yếu trong những năm tới là phát triển mạnh các công trình cấp nước tập trung để thay thế dần các công trình cấp nước tập trung
Trang 33như thế nào là phù hợp Tuy thế việc quản lý các công trình cấp nước tập trung như thế nào là vấn đề đến nay vẫn chưa có phương án trả lời thích hợp, tính nhân văn nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo nguyên tắc “nước là một loại hàng hoá kinh tế xã hội”
- Một thách thức nữa không thể không nới đến đó là tình hình thời tiết theo dự báo sẽ có diễn biến phức tạp trong những năm tới, do đó cần phải có những biện pháp dự phòng
* Các mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn
Qua thực tế triển khai Chương trình cho thấy, hiện nay nước ta đang tồn tại các loại hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn sau:
- Hộ gia đình trực tiếp quản lý(công trình cấp nước riêng lẻ cấp hộ)
- Tổ hợp tác quản lý
- Loại hình do doanh nghiệp Nhà nước quản lý
- Loại hình do DN tư nhân bỏ vốn xây dựng, quản lý, vận hành
- Loại hình do UBND các tác xã vận hành, quản lý
Mặc dù công tác tuyên truyền đã được các cấp chính quyền quan tâm thực hiện, nhưng đến nay phần lớn cư dân nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự giúp đỡ của Chính phủ, họ có thể vươn lên, khắc phục khó khăn, cải thiện môi trường sống cho mình tốt hơn
Sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình đã có nhiều tiến bộ, vai trò của người sử dụng và của phụ nữ tham gia vào quá trình quyết định về đầu tư
và quản lý được tăng cường hơn nhiều, từ việc đề xuất nhu cầu, lựa chọn quy
mô, loại hình công trình, hình thức tham gia vốn đầu tư, giới thiệu người thay
Trang 34mặt cộng đồng để quản lý đầu tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản
và thời gian nên hiện có một số vùng rất khan hiếm về nguồn nước Bên cạnh
đó, việc sử dụng ngày càng nhiều nguồn nước mặt vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; nạn phá rừng diễn ra hết sức phức tạp làm suy giảm nghiêm trọng rừng phòng hộ đầu nguồn… đã làm xuất hiện nguy cơ cạn kiệt nguồn nước Các vùng đồng bằng, trung du và ven biển, sự ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng do sự yếu kém trong kiểm soát, sử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt
- Tình hình cấp nước sinh hoạt: Phần lớn các hộ dân sử dụng 2 nguồn
nước, một nguồn nước để ăn uống thường là nước mưa và một nguồn để tắn giặt Các hệ thống cấp nước công cộng bằng đường uống dùng chung cho nhiêu hộ chưa phổ biến Các hộ thường cso công trình cấp nước riêng như giếng đào, lu hay bể chứa nước mưa Hơn 50 % số hộ nông thôn sử dụng giếng đào, 25 % sử dụng nước sông suối, hồ ao và hơn 10 % sử dụng nước mưa Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và rất ít hộ được cấp nước bằng
hệ thống đường ống
- Tình hình xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn: Chương trình Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn của Chính phủ được Unicef tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh là một đóng góp quan
Trang 35trọng cho sự phát triển của lĩnh vực CNS & VSNT Hàng trăm ngàn giếng bơm tay Unicef và các nhà vệ sinh đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu
tư xây dựng số lượng công trình CNS và vệ sinh lớn hơn 2 3 lần số lượng công trình do chương trình Unicef tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện CNS và vệ sinh cho các vùng nông thôn Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả nhà nước và nhân dân cho CNS & VSNT còn rất nhỏ bé so với yêu cầu cải thiện điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở nước ta
* Những bài học kinh nghiệm
- Khi xây dựng kế hoạch, mục tiêu, về CNS & VSMTNT phải xuất phát
từ nhu cầu của người dân nông thôn, gắn liền với các mục tiêu Chiến lượng phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Bên cạch đó chú trọng liên kết, lồng ghép các Chương trình, dự án phát triển nông thôn với các dự án cụ thể để thực hiện mục tiêu CNS & VSMTNT Không nên xem mục tiêu của Chương trình chỉ là vấn đề cấp nước cho nông thôn, thậm chí chỉ là vấn đề cung cấp nguồn lực để xây dựng mới các công trình cấp nước tập trung
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp về công nghệ, tài chính và thông tin giáo dục truyền thông mang lại chất lượng, hiệu quả và bền vững của Chương trình Vì vậy, cần chú trọng phát triển công nghệ, hoàn thiện cơ chế tài chính song song với tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thống để đưa các thông tin cần thiết đến cộng đồng những người hưởng lợi
- Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền các cấp và sự tham gia, giám sát của người dân là ba nhân tố cơ bản để đảm bảo thắng lợi Chương trình Thực tiễn đã chứng minh, địa phương nào làm tốt các mục tiêu và và nội dung của Chương trình và tạo nhiều tiền đề cần thiết để thực hiện Chiến lược trong thời kỳ tới
- Quy hoạch là công cụ quan trọng để thực hiện Chương trình Vì vậy, phải luôn luôn coi trọng công tác lập kế hoạch, rà soát lại các quy hoạch CNS
Trang 36&VSMTNT không chỉ ở cấp tỉnh, mà cần triển khai quy hoạch đến cấp huyện, xã Sự tham gia đầy đủ của cộng đồng gắn với thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện, quản lý và giám sát xây dựng … là nền tảng vững chắc để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các công trình cấp nước và vệ sinh nông thôn
- Việc phân cấp thực hiện Chương trình cho cấp tỉnh và các cấp thấp hơn là một chủ trương đúng đắn, tuy thế để thực hiện tốt hơn phải gắn liền với công tác đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ cấp cơ sở Đây là một bài học rất quan trọng, vì kết quả quả những năm qua đã cho thấy, những địa phương làm tốt công tác này đã đều vượt qua mục tiêu về cấp nước và vệ sinh
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
* Vị trí địa lý
Tên gọi Lạc Sơn có từ năm 1887, thuộc đất động Lạc Thổ (1466), châu Lạc Yên (1836) Trong khoảng 1886-1975, Lạc Sơn là một huyện của tỉnh Hoà Bình, rồi thuộc tỉnh Hà Sơn Bình từ năm 1975- 1991 và trở lại tỉnh Hoà Bình từ năm 1991 đến nay Huyện Lạc Sơn nằm ở phía Nam của tỉnh Hòa Bình, cách thị xã Hoà Bình 56 km Phía Bắc giáp với huyện Kim Bôi và huyện Cao Phong, phía Nam giáp với huyện Thạch Thành của tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp huyện Yên Thủy, phía Tây giáp huyện Tân Lạc Huyện Lạc Sơn có độ dốc theo hai hướng Tây Bắc xuống Đông Nam và hướng Bắc xuống hướng Nam
Đất đai, nguồn nước
Đất là tài nguyên tự nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được và bị giới hạn về mặt không gian Muốn có một phương án quy hoạch sử dụng đất hợp
lý, trước hết phải nắm vững tài nguyên đất cả về số lượng và chất lượng Xét về quỹ đất: Tổng diện tích tự nhiên 58.746,19 ha, được phân bổ như sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 13.022,41 ha chiếm 22,16% tổng diện tích
tự nhiên; Đất lâm nghiệp: 36.856,58 ha, chiếm 62,7% tổng diện tự đất tự nhiên; Đất chuyên dùng: 2.389,44 ha chiếm 4,06% tổng diện tích đất tự nhiên; Đất ở: 2.619,97 ha, chiếm 4,56% tổng diện tích đất tự nhiên; Đất chưa sử dụng: 1.651,49 ha (bao gồm cả đất sông suối và mặt nước), chiếm 2,81% tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 38Số liệu trên cho thấy đất lâm - nông nghiệp ở Lạc Sơn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 80% tổng diện tích đất tự nhiên), thể hiện thế mạnh về phát triển lâm nghiệp và nông nghiệp ở Huyện Đất nông nghiệp tập trung ở vùng thấp, còn đất lâm nghiệp ở hai vùng còn lại, đây là điều kiện tốt để hình thành đặc trung nông nghiệp của mỗi vùng trong huyên Tuy vậy diện tích đất chưa
sử dụng vẫn còn khá nhiều, trong đó chủ yếu là đất bằng và đất đồi núi Điều này cho phép chúng ta có thể tăng cường sử dụng đất nhiều hơn nữa, đặc biệt
là cho nhu cầu phát triển chăn nuôi và các ngành phi nông nghiệp trên địa bàn
Nguồn nước: Tài nguyên nước của Lạc Sơn được cung cấp chủ yếu bằng
3 nguồn chính: nước mặt, nước ngầm và nước mưa tự nhiên
- Nước mặt: có nguồn chính từ con sông Bưởi và suối nhánh sông Bưởi, với diện tích là 1.040,53 ha, trữ lượng nước lớn về cả mùa mưa và mùa khô Đây thực sự là nguồn cấp nước quan trọng cho sản xuất và đời sống của nhân dân các xã ven sông Đồng thời với 413,88 ha diện tích đất mặt nước ao,
hồ, đầm và diện tích mặt nước chuyên dùng là nguồn cung cấp nước quan trọng của các xã trong huyện Bên cạnh việc cung cấp nước cho sản xuất, phục vụ đời sống, nước mặt còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản
- Hệ thống hồ đập: do điều kiện địa hình dốc khá rõ ràng từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Bắc xuống Nam, nên hệ thống hồ đập được xây dựng khá nhiều trên toàn huyện, nhất là các xã như: Quý Hoà, Miền Đồi, Tự Do, Xuất Hoá, Định Cư Hệ thống hồ là nguồn nước chưa quan trọng bảo đảm cho sản xuất và đời sống sinh hoạt dân cư Một số đập đã và sẽ được xây dựng, nhất là đập Khả (xã Quý Hoà), đập Nại (sông Bưởi – Tân Mỹ), một số đập ở Định Cư, Miền Đồi, Xuất Hoá là điều kiện để Lạc Sơn có thể phát triển thuỷ điện nhỏ
Trang 39- Nước ngầm: trên địa bàn Lạc Sơn, có mỏ nước khoáng trên địa bàn xã Quý Hoà, độ khoáng hoá thấp, không chứa độc tố và các kim loại nặng, có thể dùng làm nước uống, phát triển du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng khá tốt được Nguồn nước ngầm khác hiện được khai thác chủ yếu cho các ngành công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong toàn huyện thông qua hệ thống giếng đào, giếng khoan Đối với Lạc Sơn, đây cũng là nguồn nước tương đối sạch,
dễ khai thác và sử dụng khá nhiều Tuy vậy, đây là nguồn khá quý hiếm, có trữ lượng dồi dào nhưng không phải là vô tận, cần nghiên cứu trữ lượng để có
kế hoạch sử dụng hợp lý Nguồn nước ngầm của huyện chưa có điều kiện thăm dò, khảo sát đầy đủ Qua thực tế sử dụng của các hộ trong huyện cho thấy mực nước ngầm có độ sâu trung bình từ 13m - 20m, chất lượng nước tốt,
có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tưới cho cây trồng tại các vườn gia đình
- Nước mưa: với lượng nước mưa trung bình 1.950 mm trong năm, đây
là nguồn nước bổ sung cho các ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân Nước mưa là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các cây trồng lâu năm và rừng có diện tích lớn, địa hình phức tạp, khó tưới nhân tạo
Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, cũng như cải tạo đất
Trang 40lớn các xã thuộc vùng này có đường quốc lộ, đường tỉnh lộ chạy qua, lại nằm trong khu vực nhiều sông suối lớn, vì vậy nhìn chung giao thông vận tải đường bộ và đường sông thuận lợi cho giao lưu trao đổi hàng hoá với thành phố Hoà Bình cũng như các địa phương khác trong và ngoài huyện cũng như với Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, và các tỉnh vùng Tây Bắc bộ
- Vùng cao bao gồm 5 xã là: các xã nằm ở phía Tây huyện: Tự do, Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và một số xã nằm ở phía Bắc huyện là: Quý Hoà, Miền
Đồi Đặc điểm chung của các xã này là nằm ở vị trí cao so với mặt nước, xa
trung tâm huyện, xa hệ thống giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, địa hình hiểm trở, đồi núi cao Tuy vậy địa hình của các xã vùng này lại có độ dốc cao (từ 700 đến 300m so với mặt nước biển) nên có điều kiện hình thành hệ thống hồ đập lớn
- Vùng sâu - xa: bao gồm 8 xã là: Phú Lương, Phúc Tuy, Chí Thiện, Chí Đạo (phía Tây huyện), Bình Chân, Bình Hẻm, Mỹ Thành, Văn Nghĩa
(phía Đông huyện) Đặc điểm chung của vùng này là sâu: thấp nhưng nằm giữa hệ thống núi đá cao; xa: nằm xa trung tâm huyện, xa hệ thống giao thông
quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nội bộ rất khó khăn
Như vậy, Lạc Sơn là huyện có địa hình bị chia cắt bởi nhiều đồi, núi, sông, suối, nhiều xã trong huyện nằm xa trung tâm, sâu xen kẽ trong khu vực núi đá cao, xa hệ thống giao thông Điều này dẫn đến nhiều địa phương trong huyện gặp khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế, giao lưu trao đổi mua bán hàng hoá cũng như phát triển các lĩnh vực xã hội Tuy vậy, địa hình có
độ dốc cao là một thuận lợi cho việc tổ chức hệ thống hồ đập thuỷ lợi và phát triển du lịch sinh thái Một số xã lại có vị trí địa lý thuận lợi, địa hình thấp thung lũng bằng phẳng, rộng, gần sông suối, gần hệ thống giao thông, có khả năng phát triển nông nghiệp, giao lưu hàng hoá Nếu biết đầu tư kỹ thuật và