CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ XDCB từ NSNN
1.1.1.1 Khái niệm, phân loại dự án đầu tư
Theo Luật Xây dựng ban hành ngày 18/6/2014, dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất liên quan đến việc sử dụng vốn cho hoạt động xây dựng, bao gồm xây dựng mới, sửa chữa, và cải tạo công trình Mục tiêu của dự án là phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Trong giai đoạn chuẩn bị, dự án được thể hiện qua các báo cáo như nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Theo Luật Đầu Tư được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014, dự án đầu tư được định nghĩa là tập hợp các đề xuất về việc bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh tại một địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Điều 4, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, "Dự án đầu tư phát triển" bao gồm nhiều loại hình như chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án hiện có, mua sắm tài sản và thiết bị không cần lắp đặt, cũng như các dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các chương trình đầu tư phát triển khác.
Theo Điều 3 của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, "Dự án đầu tư mở rộng" là dự án nhằm phát triển các hoạt động đầu tư hiện tại thông qua việc mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường Ngược lại, "Dự án đầu tư mới" là dự án được thực hiện lần đầu hoặc hoạt động độc lập với các dự án đầu tư hiện có.
Dự án được định nghĩa là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ độc đáo, từ góc độ quản lý.
Nhƣ vậy chúng ta có thể rút ra một số đặc trƣng cơ bản của dự án nhƣ sau:
Dự án được xác định bởi mục đích và kết quả rõ ràng, có thể là công trình hoặc dịch vụ cụ thể Mỗi dự án thường bao gồm nhiều nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ lại có kết quả độc lập, dẫn đến việc một dự án có thể có nhiều kết quả khác nhau Để quản lý hiệu quả, dự án cần được phân chia thành các bộ phận và phân hệ riêng biệt, nhưng việc quản lý tổng thể phải thống nhất nhằm đạt được các mục tiêu chung đã đề ra.
Dự án đầu tƣ có thể đƣợc xem xét từ nhiều góc độ:
Dự án đầu tư là một bộ hồ sơ tài liệu chi tiết, hệ thống hóa các hoạt động và chi phí theo kế hoạch nhằm đạt được các kết quả và mục tiêu cụ thể trong tương lai.
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong tương lai, với nguồn lực và thời gian được xác định.
Nhƣ vậy, một dự án đầu tƣ bao gồm các thành phần chính nhƣ sau:
Mục tiêu phát triển của dự án phản ánh sự đóng góp của nó vào việc đạt được các mục tiêu chung của quốc gia Điều này được thực hiện thông qua những lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và xã hội.
Các hoạt động trong dự án bao gồm những nhiệm vụ và hành động cần thực hiện để đạt được các kết quả nhất định Các nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận sẽ hình thành kế hoạch làm việc cho toàn bộ dự án.
Các nguồn lực cần thiết cho dự án bao gồm vật chất, tài chính và con người Giá trị hoặc chi phí của những nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án.
Theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015, quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng, dự án đầu tư được phân loại thành các nhóm cụ thể, thay thế cho Nghị định số 12/2009.
Dự án đầu tư xây dựng được phân loại dựa trên quy mô, tính chất và loại công trình chính, bao gồm các loại như dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và dự án nhóm B.
Dự án nhóm B và nhóm C được xác định theo các tiêu chí pháp luật về đầu tư công, cụ thể được quy định trong Phụ lục I của Nghị định này.
Dự án đầu tư xây dựng công trình cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư khi đáp ứng các yêu cầu sau: a) Công trình phục vụ mục đích tôn giáo; b) Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không tính tiền sử dụng đất); c) Dự án được phân loại theo nguồn vốn sử dụng.
Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án sử dụng vốn khác [4]
1.1.1.2 Ý nghĩa và sự cần thiết phải đầu tư theo dự án:
Cơ sở thực tiễn về quản lý các dự án đầu tƣ XDCB từ NSNN
1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý DA đầu tư từ NSNN của một số địa phương của Việt Nam
Nhìn lại 30 năm đổi mới, từ những thành tựu cũng nhƣ những hạn chế, khuyết điểm, rút ra một số bài học sau:
Trong quá trình đổi mới, cần phải chủ động và sáng tạo, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc là rất quan trọng Ngoài ra, cần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và áp dụng kinh nghiệm quốc tế một cách phù hợp với thực tiễn Việt Nam Đây chính là bài học quý giá về sự “chủ động” và “sáng tạo”.
Đổi mới cần quán triệt quan điểm "dân là gốc", nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và dựa vào sức mạnh của họ Điều này bao gồm phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, đồng thời tăng cường sự đoàn kết toàn dân tộc.
Đổi mới cần phải toàn diện, đồng bộ và có bước đi phù hợp, tôn trọng quy luật khách quan Quá trình này phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn và coi trọng việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cũng như nghiên cứu lý luận Điều quan trọng là tập trung giải quyết kịp thời và hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra Đây là bài học quan trọng về sự đổi mới toàn diện và đồng bộ, đồng thời tôn trọng quy luật khách quan và thực tiễn.
Lợi ích quốc gia - dân tộc cần được đặt lên hàng đầu, kiên định với độc lập và tự chủ, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế trên nền tảng bình đẳng và hợp tác cùng có lợi Việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đây chính là bài học quý giá về “lợi ích dân tộc” và “phát huy sức mạnh tổng hợp”.
Năm là, Đảng cần tự đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược có phẩm chất, đảm bảo hiệu quả hoạt động của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội Đồng thời, cần tăng cường mối quan hệ với nhân dân, từ đó nâng cao sức chiến đấu của Đảng và hệ thống chính trị.
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đảng bộ xác định tầm quan trọng của công tác quy hoạch và đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện trong thời gian qua Kể từ năm 1995, đồ án quy hoạch chung 1/10.000 đã được phê duyệt và điều chỉnh vào các năm 2003 và 2012 Thành phố cũng đã triển khai các quy hoạch chi tiết 1/500, 1/1000 và 1/2000, bao phủ toàn bộ 11 phường, xã Hiện nay, toàn thành phố đã có 53 đồ án quy hoạch được thực hiện.
Thành phố Bà Rịa đã xây dựng hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh trong quản lý quy hoạch và xây dựng, dựa trên đồ án 1/10.000 và các đề án quy hoạch chi tiết đã được thực hiện, cùng với các quy định của Nhà nước.
Quy hoạch cần được thực hiện trước để tăng cường quản lý xây dựng giao thông nông thôn (GTNT) theo đúng quy định, nhằm tránh tình trạng xây dựng lại không cần thiết Cần lựa chọn quy mô đầu tư hợp lý, phù hợp với quy hoạch và đảm bảo hiệu quả khai thác.
- Phải xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính đầu tƣ cho xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT;
Để khuyến khích phát triển và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng, cần thực hiện phân cấp rõ ràng trong xây dựng và quản lý công trình cho từng cấp chính quyền và đối tượng cụ thể.
Cần chú trọng công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, ý thức bảo vệ các công trình hạ tầng này và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến hành lang an toàn giao thông.
Để xây dựng đường giao thông nông thôn (GTNT), việc vận động nhân dân đóng góp và tổ chức cần tuân thủ nghiêm ngặt quy chế dân chủ Điều này nhằm tránh xảy ra khiếu kiện và bảo đảm sự đoàn kết trong cộng đồng.
Bài học thứ nhất nhấn mạnh rằng công trình xây dựng (CTXD) là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt, có những đặc trưng như gắn liền với đất, giá trị tài chính lớn, thời gian chuẩn bị và thi công dài, cùng với tính xã hội hóa phức tạp Sản phẩm này không thể chấp nhận thứ phẩm, do đó, tất cả những người tham gia từ thiết kế, thi công, sản xuất vật tư, đến quản lý và khai thác công trình cần nhận thức rõ trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp và xã hội của mình Các nhà đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công, và các cơ quan chức năng phải nâng cao vai trò trách nhiệm trong việc quản lý và tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo chất lượng công trình và luôn phấn đấu đạt được chất lượng tốt nhất.
Bài học thứ hai là do đặc thù của công trình không cho phép sử dụng thứ phẩm, đòi hỏi sự chuyên nghiệp cao trong quản lý và thực hiện từng công đoạn Sản phẩm không chỉ có kỹ thuật phức tạp mà còn đa dạng, phong phú, yêu cầu thẩm mỹ cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn Điều này khiến nhà đầu tư phải kiểm soát năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia, đồng thời khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân hành nghề tự học tập và rèn luyện để nâng cao tay nghề, từ đó tạo ra những công trình chất lượng tốt hơn.
Bài học thức ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định rõ trách nhiệm của từng khâu, bộ phận và cá nhân trong công trình, đặc biệt là trách nhiệm của chủ đầu tư, người quản lý trực tiếp và toàn diện Mặc dù vấn đề này đã được luật định, nhưng thực tế cho thấy không phải ai cũng nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình Thực tế cũng chỉ ra rằng nhiều chủ đầu tư yếu kém thường đổ lỗi cho thiếu chuyên môn hoặc nghề nghiệp Bài học này là rất cần thiết cho công tác quản lý, nhất là với vai trò của chủ đầu tư như một "Nhạc trưởng".
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Quốc Oai
1 Quản lý đầu tƣ XDCB từ NSNN huyện Quốc Oai cần nâng cao chất lƣợng quy hoạch, kế hoạch, thiết kế, thẩm định, đấu thầu, phê duyệt và quản lý cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tƣ các dự án đầu tƣ XDCB từ NSNN
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN QUỐC OAI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đặc điểm cơ bản của huyện Quốc Oai
Trước ngày 1/8/2008, Quốc Oai là huyện phía Tây của tỉnh Hà Tây, với diện tích 129,54 km² và 19 xã cùng 1 thị trấn Sau khi Hà Tây và Hà Nội hợp nhất vào ngày 1/8/2008, Quốc Oai trở thành huyện ngoại thành của Hà Nội, đồng thời tiếp nhận toàn bộ diện tích xã Đông Xuân từ huyện Lương Sơn, Hòa Bình Hiện nay, diện tích huyện Quốc Oai là 147,01 km², chiếm 4,4% tổng diện tích của Hà Nội.
Hình 2.1: Bản đ hành chính huyện Quốc Oai
Phía Đông giáp Hoài Đức
Phía Tây giáp Lương Sơn Hoà Bình
Phía Nam giáp huyện Chương Mỹ
Phía Bắc giáp Thạch Thất
- Quốc Oai nằm trong vùng phát triển của Hà Nội với việc xây dựng các cụm điểm công nghiệp, phát triển đô thị Hoà Lạc - Xuân Mai
Quyết định 145/2004/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010, với tầm nhìn đến năm 2020, nhấn mạnh vai trò quan trọng của khu vực Hà Tây cũ, đặc biệt là huyện Quốc Oai, trong sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng Thủ đô Hà Nội.
Huyện Quốc Oai, với lợi thế về vị trí địa lý và hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm Đại lộ Thăng Long, đường Hồ Chí Minh, cùng các tỉnh lộ 421A và 421B, đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng về kinh tế Nhờ đó, Quốc Oai đã sớm trở thành một trong những huyện phát triển khá của thành phố Hà Nội.
Với vị trí này đã tạo thuận lợi cho Quốc Oai:
Thành phố Hà Nội là một thị trường lớn, nơi tiêu thụ đa dạng các sản phẩm nông - lâm - thủy sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng và hàng thủ công mỹ nghệ Ngoài ra, Hà Nội còn sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với kiến thức kỹ thuật phong phú.
Quốc Oai đang trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, với chuỗi đô thị Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là vành đai phát triển của Thủ đô Hà Nội vào năm 2020 Huyện Quốc Oai cũng là khu vực xây dựng mới, nơi di chuyển các xí nghiệp công nghiệp từ tỉnh và Thủ đô Hà Nội.
Quốc Oai, nằm trong khu vực phát triển kinh tế công nghiệp sôi động của Hà Nội, đang tận dụng cơ hội và động lực để thúc đẩy các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp và phát triển đô thị.
Khu đô thị sinh thái Quốc Oai và đô thị Ngọc Liệp sẽ là nền tảng quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội tại huyện Quốc Oai.
Quốc Oai giữ vị trí chiến lược quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, đóng góp vào an ninh và quốc phòng của khu vực.
Quốc Oai nằm trong đới khí hậu miền Bắc Việt Nam, là khu vực chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa hè ( từ tháng 4 đến tháng 10): nóng ẩm và mƣa nhiều
- Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau : khô, lạnh, ít mƣa
Do đặc điểm địa hình, Quốc Oai đƣợc chia thành hai vùng khác nhau:
- Vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng chủ yếu khí hậu đồng bằng sông Hồng, nhiệt độ trung bình năm 23,8 o C , lƣợng mƣa trung bình 1700 m m – 1800 mm
- Vùng đồi, độ cao trung bình từ 15 m – 50 m chịu ảnh hưởng khí hậu “lục địa”, nhiệt độ, trung bình 24,5 o C,
Quốc Oai nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, với địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi phức tạp Tổng thể, địa hình huyện Quốc Oai có độ cao giảm dần từ Tây sang Đông và được phân chia thành ba vùng chính.
Vùng đồi thấp Bán sơn địa nằm ở phía Tây huyện, bao gồm 5 xã: Phú Cát, Phú Mãn, Hòa Thạch, Đông Xuân và Đông Yên Khu vực này kéo dài từ Trung Hà qua Xuân Mai đến Miếu Môn, với độ rộng trung bình từ 4 đến 5 km, có nơi lên đến 8 km Địa hình không đồng đều, bao gồm những đồi thấp xen kẽ các dốc trũng, và đất đai chủ yếu nằm trên nền đá phong hóa với lớp sỏi ong Tầng đất canh tác ở đây tương đối thấp.
Vùng bán sơn địa huyện có đặc điểm thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Đến năm 2004, một phần lớn diện tích của khu vực này đã được quy hoạch cho các vùng phát triển đô thị và công nghiệp của Trung ương và tỉnh Hà Tây cũ, hiện nay thuộc Hà Nội.
- Vùng nội đồng: Gồm 7 xã Ngọc Mỹ, Thạch Thán, Nghĩa Hương, Cấn Hữu, Ngọc Liệp, Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết
Vùng bãi ven sông bao gồm 8 xã và một thị trấn: Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn, Đông Quang, Cộng Hoà, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành và thị trấn Quốc Oai, với độ dốc cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đặc biệt, khu vực Cộng Hoà có những ô trũng với độ cao tuyệt đối từ 1,5 đến 3m Trên bề mặt của vùng bãi này còn xuất hiện một số núi sót, điển hình là quần thể đá vôi Sài Sơn.
Với đặc điểm địa hình trên cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi song lại gây khó khăn cho công tác thuỷ lợi
Quốc Oai sở hữu địa hình phong phú với vùng núi đồi Gò ở phía Tây và cụm "núi sót" Thập Lục Kỳ sơn nằm ở phía Đông Bắc huyện Khu vực đồng bằng phía Đông có độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tạo nên sự đa dạng trong cảnh quan.
Thống kê loại đất, thổ nhƣỡng Quốc Oai bao gồm 6 loại đất sau:
Đất phù sa sông Hồng, với diện tích 740ha, chủ yếu tập trung ở vùng bãi sông Đáy, có đặc điểm là ít được bồi đắp Loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, trong đó cát pha chiếm hơn 80% diện tích.
Đất phù sa không được bồi hàng năm có diện tích lớn và phân bố rộng, bao gồm toàn bộ khu vực đồng kẹp giữa Tà Tích và Hữu Đáy Các khu vực chính tập trung ở Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn, Thị Trấn, Tân Phú, Đại Thành và Thạch Thán.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ, diện tích thên 2000ha, tập trung hai bên bờ sông Tích
+ Đất phù sa cổ trên phiến Thạch, diện tích trên 270ha, tập trung ở vùng bán sơn địa
+ Đất phù sa cổ phát triển trên dá macma bazơ, diện tích khoảng 360ha, tập trung ở vùng núi Phú Mãn
+ Đất phù sa sông suối và dốc tụ: là Đất trong các thung lũng, dưới chân đồi vùng bán sơn địa Diện tích trên 800ha
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát Đề tài đánh giá tình hình quản lý các dự án do Ban Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng huyện Quốc Oai quản lý, số liệu về các dự án lấy từ số liệu báo cáo của các dự án đã thực hiện từ 2014 - 2016 Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, đề tài dự kiến điều tra mẫu các dự án căn cứ vào tính chất và nguồn vốn các dự án với số lƣợng các dự án nhƣ sau:
- Dự án hạ tầng đường giao thông, chọn 03 dự án là:
Dự án cải tạo và nâng cấp đường giao thông liên xã Yên Sơn, Đồng Quang sẽ tập trung vào đoạn đường từ điểm canh đê số 5 thôn Quảng Yên đến trại Ba Nhà xã Yên Sơn, kết nối với đê thôn Yên Nội và Đồng Quang.
+ Đường giao thông xã Đông Xuân
+ Đường giao thông thôn Đồng Âm
- Dự án xây dựng trường học, chọn 01 dự án là Dự án xây dựng trường mầm non xã Tân Hòa
- Dự án cải tạo nhà làm việc, chọn 01 dự án là Dự án cải tạo nhà làm việc Phòng Quản Lý Đô thị, Kinh tế, Nội Vụ
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Quốc Oai, việc thu thập báo cáo dự án bao gồm thông tin quan trọng về nguồn vốn, quản lý vốn và chi phí, cũng như tình hình lập dự toán và quyết toán công trình Bên cạnh đó, các số liệu liên quan đến quản lý thời gian, chất lượng công trình, mua sắm và quản lý tài sản cố định cũng được ghi nhận đầy đủ.
Đề tài cũng thu thập số liệu và thông tin về bài học quản lý dự án từ cả trong và ngoài nước, dựa trên các báo cáo chuyên đề và tài liệu từ ấn phẩm cũng như internet.
Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập bằng khảo sát trực tiếp tại các điểm nghiên cứu thông qua các phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn
Tại mỗi dự án luận văn chọn 30 người để phỏng vấn, trong đó:
+ 5 cán bộ địa phương cấp xã
Khảo sát tập trung vào các yếu tố liên quan đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước tại huyện Quốc Oai.
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả:
Bài viết mô tả các đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập từ số liệu thứ cấp và sơ cấp liên quan đến quản lý dự án của Ban quản lý Qua đó, các số liệu được trình bày dưới dạng bảng biểu, giúp làm nổi bật các nội dung nghiên cứu của Ban quản lý.
Các phương pháp này giúp đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu theo thời gian, từ đó phân tích tình hình thay đổi và xác định nguyên nhân.
Phân tích tỷ trọng là phương pháp đánh giá mức độ của một yếu tố trong tổng thể, chẳng hạn như tỷ lệ vốn của một nguồn so với tổng số vốn, số lượng dự án theo từng nguồn vốn, và tình hình sử dụng vốn trong từng dự án.
Phương pháp này nhằm phân tích quan điểm của các chuyên gia và nhà chuyên môn về quản lý dự án tại Ban quản lý, đồng thời đánh giá những khó khăn và hạn chế trong thực tiễn quản lý tại đây.
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân tích số lượng dự án theo nguồn vốn và tính chất đầu tư, đồng thời đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch về vốn của các dự án Cuối cùng, chúng tôi sẽ trình bày kết quả thực hiện các dự án, bao gồm cả những ảnh hưởng tích cực về kinh tế và xã hội.